3.22 Sức sinh sản và tỷ lệ sống của loài rệp xơ trắng nuôi bằng giống 3.23 Sức sinh sản và tỷ lệ sống của loài rệp xơ trắng nuôi bằng giống 3.28 Diễn biến tỷ lệ lá bị nhiễm rệp xơ trắng
Trang 1BÔ GIÁO DỤC VÀ ðÀO TẠO
TRƯỜNG ðẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
LÊ VĂN NINH
NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN RỆP HẠI MÍA,
ðẶC TÍNH SINH HỌC, SINH THÁI CỦA RỆP XƠ TRẮNG
Ceratovacuna lanigera Zehntner VÀ BIỆN PHÁP QUẢN LÝ
TỔNG HỢP CHÚNG TẠI THỌ XUÂN, THANH HÓA
Trang 2LỜI CAM ðOAN
- Tôi xin cam ñoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận án là trung thực và chưa ñược sử dụng ñể bảo vệ một học vị nào
- Tôi xin cam ñoan rằng, mọi sự giúp ñỡ cho việc thực hiện luận án ñã ñược cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận án ñều ñược chỉ rõ nguồn gốc
Tác giả luận án
Lê Văn Ninh
Trang 3LỜI CÁM ƠN
để hoàn thành tốt luận án này, tôi ựã nhận ựược sự giúp ựỡ của các thầy
cô, gia ựình, bạn bè và ban lãnh ựạo Công ty trách nhiệm hữu hạn Lam Sơn, Sao Vàng, Thanh Hóa, Tôi xin chân thành bày tỏ lòng kắnh trọng và biết ơn ựến
- Tập thể các thầy cô Bộ môn Côn trùng Khoa Nông học, Viện đào tạo sau đại học trường đại học Nông nghiệp Hà Nội ựã tạo mọi ựiều kiện giúp ựỡ và
có những góp ý sâu sắc trong thời gian thực hiện luận án
- Tôi xin chân thành biết ơn PGS TS Nguyễn Thị Kim Oanh người ựã tận tình hướng dẫn, ựộng viên, giúp ựỡ tôi trong suốt thời gian thực hiện luận án
- Ban lãnh ựạo Công ty trách nhiệm Lam Sơn, Sao Vàng, Thanh Hóa, đảng ủy UBND xã Thọ Tiến, huyện Triệu Sơn, Thanh Hóa ựã tận tình giúp ựỡ, tạo ựiều kiện tốt nhất cho tôi trong quá trình thực hiện luận án
- Tôi cũng bày tỏ lòng biết ơn ựến bạn bè ựồng nghiệp, những người thân trong gia ựình, ựã giành nhiều tình cảm và tạo ựiều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình thực hiện luận án
Tôi xin chân thành cảm ơn những tình cảm sâu sắc ựó!
Tác giả luận án
Lê Văn Ninh
Trang 4
Chương 2 ðỊA ðIỂM, THỜI GIAN, VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ
Trang 52.3 Nội dung nghiên cứu 39
Trang 63.2.3 Ký chủ phụ của rệp xơ trắng C lanigera hại mía tại Thọ
hại của rệp xơ trắng C lanigera tại Thọ Xuân, Thanh Hóa
C lanigera hại mía tại Thọ Xuân, Thanh Hóa và phụ cận 130
Trang 73.7 Quy trình phòng trừ rệp xơ trắng C lanigera hại mía tại Thọ
Danh mục các công trình ñã công bố có liên quan ñến luận án 147
Trang 8CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN
BNN và PTNT Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
IPM Quản lý dịch hại tổng hợp
IPM Quản lý dịch hại tổng hợp
TNHH Trách nhiệm hữu hạn
Q Tổng tích ôn cả năm của Thanh Hóa
r Tỷ lệ gia tăng tự nhiên
RH Ẩm ñộ tương ñối của không khí (%)
R0 Hệ số nhân của một thế hệ
Trang 9TT Thứ tự
Tc Thời gian một thế hệ tính theo mẹ
t0 Nhiệt ñộ khởi ñiểm phát dục
t0C Nhiệt ñộ không khí (ñộ C)
Y Số lứa lý thuyết trong 1 năm của rệp xơ trăng
λ giới hạn tăng tự nhiên
Trang 10DANH MỤC BẢNG
3.10 Các chỉ tiêu sinh học của loài rệp xơ trắng C lanigera hại mía
3.11 Các chỉ số sinh học của loài rệp xơ trắng hại mía nuôi trên 3
3.12 Sự phân bố của rệp xơ trắng C lanigera trên cây mía tại Thọ
3.13 Mật ñộ rệp xơ trắng C lanigera trên ké hoa ñào tại Thọ Xuân,
3.14 Tỷ lệ lá bị nhiễm rệp xơ trắng trên các chân ñất khác nhau tại
Trang 113.15 Tỷ lệ lá bị nhiễm rệp xơ trắng trên các phương thức trồng xen
3.16 Tỷ lệ lá bị nhiễm rệp xơ trắng trên 2 khoảng cách hàng trồng
3.17 Mức ñộ bị nhiễm rệp xơ trắng trên các giống mía khác nhau tại
3.18 Mức ñộ bị nhiễm rệp xơ trắng trên các mức bón Kali khác nhau
3.19 Thành phần bắt mồi của rệp xơ trắng C lanigera hại mía tại Thọ
3.20 Kích thước các pha phát dục của ruồi Episyrphus balteatus
3.21 Thời gian phát dục các pha của ruồi E balteatus nuôi bằng rệp
3.22 Sức sinh sản và nhịp ñiệu ñẻ trứng của ruồi E balteatus nuôi
3.24 Tỷ lệ nhộng vũ hoá và tỷ lệ ñực cái của ruồi E balteatus trong
3.25 Mức ñộ nhiễm rệp xơ trắng C lanigera và tỷ lệ ấu trùng ruồi ăn
rệp trên mía trồng xen lạc và trồng thuần tại Thọ Xuân, Thanh
3.27 Mức ñộ bị nhiễm rệp xơ trắng ở các phương thức tưới nước khác
3.28 Mức ñộ bị nhiễm rệp xơ trắng các phương thức vệ sinh ñồng ruộng,
Trang 123.29 Mức ñộ bị nhiễm rệp xơ trắng ở lô bóc lá và không bóc lá già khô
3.30 Mức ñộ nhiễm rệp xơ trắng C lanigera trên lô mía che phủ và
ñốt ngọn, lá sau thu hoạch tại Thọ Xuân, Thanh Hóa và phụ cận
3.31 Diễn biến của một số loại thiên ñịch chính trên lô mía che phủ và ñốt
3.32 Hiệu lực của một số loại thuốc BVTV trừ rệp xơ trắng
3.33: Hiệu lực của 4 loại thuốc BVTV trừ rệp xơ trắng C lanigera ngoài
3.34 Ảnh hưởng của thuốc BVTV trừ rệp xơ trắng ñến ruồi
3.35 Ảnh hưởng của thuốc BVTV trừ rệp xơ trắng ñến ruồi
3.37 Mức ñộ bị nhiễm rệp xơ trắng ở các mô hình canh tác khác nhau
3.38 Chi phí trên 1 ha sản xuất theo mô hình IPM rệp xơ trắng hại mía
3.39 Chi phí cho 1ha mía là theo mô hình FP tại Thọ Xuân, Thanh
3.40 Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất mía trên 2 mô hình
3.41 Hiệu quả kinh tế của hai mô hình IPM và mô hình FP tại Thọ
Trang 13DANH MỤC HÌNH
3.21 Sức sinh sản và tỷ lệ sống của loài rệp xơ trắng nuôi bằng giống
Trang 143.22 Sức sinh sản và tỷ lệ sống của loài rệp xơ trắng nuôi bằng giống
3.23 Sức sinh sản và tỷ lệ sống của loài rệp xơ trắng nuôi bằng giống
3.28 Diễn biến tỷ lệ lá bị nhiễm rệp xơ trắng tại Thọ Xuân, Thanh Hóa
3.32 Diễn biến tỷ lệ nhiễm rệp xơ trắng trên lá mía tại Thọ Xuân,
3.34 Tỷ lệ lá bị nhiễm rệp xơ trắng trên 2 chân ñất khác nhau tại Thọ
3.35 Tỷ lệ lá bị nhiễm rệp xơ trắng trên hai lô mía trồng xen và trồng
3.36 Tỷ lệ lá bị nhiễm rệp xơ trắng trên 2 khoảng cách trồng tại Thọ
3.37 Tỷ lệ diện tích trồng các giống mía tại Thọ Xuân, Thanh Hóa và
Trang 153.38 Mức ñộ nhiễm rệp xơ trắng trên 3 giống mía trồng tại Thọ Xuân,
3.39 Mức ñộ nhiễm rệp xơ trắng trên 3 liều lượng bón Kali khác nhau
3.40 Các loài thiên ñịch của rệp xơ trắng hại mía tại Thọ Xuân, Thanh
3.42 Mức ñộ nhiễm rệp xơ trắng trên lô mía tưới nước nhỏ giọt và lô
3.45 Mức ñộ nhiễm rệp xơ trắng trên lô ñược dọn sạch bờ lô và lô
3.46 Mức ñộ nhiễm rệp xơ trắng trên 2 lô mía ñược bóc và không
3.48 Hiệu lực của 4 loại thuốc BVTV trừ rệp xơ trắng ngoài ñồng
3.50 Mức ñộ nhiễm rệp xơ trắng trên mô hình (IPM) và mô hình (FP)
3.51 Diễn biến mật ñộ rệp xơ trắng, ấu trùng ruồi ăn rệp, bọ rùa 13
3.52 Diễn biến mật ñộ rệp xơ trắng, ấu trùng ruồi ăn rệp, bọ rùa 13
Trang 16MỞ ðẦU
1 Tính cấp thiết của ñề tài
Cây mía (Saccharum oficinarum L.) chiếm một vị trí quan trọng trong
việc chuyển ñổi cơ cấu cây trồng Thanh Hoá và ña dạng hoá sản phẩm nông nghiệp phục vụ cho Công nghiệp hoá - Hiện ñại hoá nông nghiệp nông thôn
Bộ NN& PTNT, (2000) [1] Trong những năm qua, cây mía giải quyết việc làm cho hàng trăm ngàn lao ñộng nông nghiệp ñặc biệt là ở khu vực ñồi núi, góp phần tích cực trong việc giải quyết công ăn việc làm và ổn ñịnh kinh tế xã hội của ñất nước
Việt Nam là nước có khí hậu thích hợp cho cây mía sinh trưởng phát triển tốt Năng suất tiềm năng có thể ñạt trên 200 tấn mía cây/ha và có trữ ñường cao, do có mùa khô lạnh trùng vào thời gian mía chín Vì vậy cây mía
là cây trồng ñem lại hiệu quả kinh tế cao Tính ñến vụ mía 2006 diện tích mía của vùng Thọ Xuân, Thanh Hoá và phụ cận ñạt 15.295 ha, năng suất bình quân 50,3 tấn/ha, sản lượng 7.693.385 tấn (ðoàn Khảo sát thiết kế qui hoạch Nông nghiệp Thanh Hoá, 2008) [3]
Tuy nhiên trong thực tế sản xuất và kết quả nghiên cứu cho thấy: sâu, bệnh cỏ dại và chuột hại mía là những nguyên nhân gây nên tổn thất rất lớn năng suất, chất lượng mía, ảnh hưởng ñến hiệu quả chế biến ñường của các nhà máy, trong ñó riêng thiệt hại do nhóm sâu hại gây ra chiếm 19% Ở nước ta theo ñánh giá của (Viện nghiên cứu mía ñường Bến Cát, 2002) [2] trong mấy năm qua thiệt hại do sâu ñục thân gây ra ước tính khoảng 20 - 40% năng suất
mía, bên cạnh ñó rệp xơ trắng Ceratovacuna lanigera Zehntner hại mía là dịch
hại chủ yếu tại các vùng trồng mía từ giai ñoạn mía vươn lóng ñến thu hoạch làm cho trữ ñường giảm, ñó là mối nguy hại lớn cho ngành mía ñường
Thanh Hoá là một trong những tỉnh có ngành công nghiệp chế biến mía
Trang 17ựường phát triển Vụ mắa 2008-2009 trong toàn tỉnh có 32058 ha mắa, năng suất bình quân 50,3 tấn/ha, sản lượng ựạt 1.657200 tấn, cung cấp nguyên liệu cho 3 nhà máy chế biến ựường thuộc 3 Công ty mắa ựường ựó là Công ty ựường Lam Sơn thuộc huyện Thọ Xuân, Công ty ựường Việt-đài thuộc huyện Thạch Thành và Công ty ựường Nông Cống thuộc huyện Nông Cống
Trong ựó, Công ty mắa ựường Lam Sơn có diện tắch trồng mắa lớn nhất
là 15295 ha, năng suất bình quân 55,3 tấn/ha, sản lượng ước ựạt 845.000 tấn Nếu so sánh với các vùng trồng mắa trong toàn quốc, thì năng suất mắa của Thanh Hoá ở mức thấp, các yếu tố cần cho sự phát triển và ổn ựịnh bền vững vùng nguyên liệu mắa Thọ Xuân, Thanh Hóa chưa ựược ựầu tư ựúng mức
Theo qui hoạch phát triển vùng mắa của tỉnh Thanh Hóa ựến năm 2015
và ựịnh hướng tới năm 2020, tổng diện tắch quỹ ựất giành cho vùng nguyên liệu mắa là 54.314 ha (đoàn Khảo sát thiết kế qui hoạch Nông nghiệp Thanh Hoá, 2008) [3] Thanh Hóa nằm trong vùng khắ hậu của khu vực Bắc miền Trung nắng mưa xen kẽ, quá trình xói mòn, rửa trôi xảy ra mạnh làm cho ựất vùng trồng mắa bị cạn kiệt và nghèo dinh dưỡng, tình hình dịch hại phát sinh
và gây hại nặng, trữ lượng ựường trong mắa giảm, dẫn ựến tỷ lệ tạp chất trong quá trình chế biến ựường tăng, ựó là mối nguy hại lớn cho vùng mắa Thọ Xuân, Thanh Hóa Rệp xơ trắng hại mắa là ựối tượng xuất hiện và gây hại khá phổ biến ở Thanh Hoá, mắa bị rệp xơ trắng gây hại ở thời kỳ vươn lóng làm ảnh hưởng ựến năng suất và chất lượng mắa Trong những năm qua các nghiên cứu về rệp xơ trắng hại mắa tại vùng mắa Thọ Xuân, Thanh Hóa chưa nhiều, mới chỉ tập trung vào việc nghiên cứu khảo nghiệm, sử dụng thuốc hoá học ựể trừ rệp xơ trắng hại mắa, ựiều này ựã làm ô nhiễm môi trường, tăng dư lượng thuốc trong sản phẩm, làm gia tăng sự gây hại của rệp xơ trắng
Xuất phát từ những vấn ựề trên, việc nghiên cứu các biện pháp quản lý
tổng hợp rệp xơ trắng C lanigera hại mắa nhằm hạn chế tác hại do chúng gây ra
ựảm bảo sản xuất mắa ổn ựịnh và phát triển bền vững vùng nguyên liệu mắa,
Trang 18phục vụ công nghiệp chế biến ñường là vấn ñề cấp thiết Chính vì vậy, chúng tôi thực hiện ñề tài “Nghiên cứu thành phần rệp hại mía, ñặc tinh sinh học, sinh thái
học của rệp xơ trắng Ceratovacuna lanigera Zehntner và biện pháp quản lý tổng
hợp chúng tại Thọ Xuân, Thanh Hoá và phụ cận” là rất cần thiết
2 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của ñề tài
2.1 Ý nghĩa khoa học của ñề tài
Những kết quả nghiên cứu của ñề tài bổ sung dẫn liệu khoa học mới về thành phần rệp hại mía, các loài thiên ñịch và ký chủ thường gặp của loài rệp
xơ trắng tại Thọ Xuân, Thanh Hóa, lần ñầu tiên ñề tài ñã nghiên cứu và cung cấp những dẫn liệu khoa học mới một cách chi tiết về ñặc tinh sinh vật học,
sinh thái học của loài rệp xơ trắng C lanigera và loài ruồi bắt mồi Episyrphus balteatus De Geer ăn rệp xơ trắng trên cây mía tại Thọ Xuân, Thanh Hóa
ðề tài ñã cung cấp những dẫn liệu khoa học mới về ảnh hưởng của ñiều kiện khí hậu thời tiết, chân ñất trồng, giống mía, công thức luân canh, xen canh, khoảng cách hàng trồng, liều lượng bón Kali và các loài thiên ñịch tới biến ñộng
số lượng của rệp xơ trắng C lanigera trên cây mía tại Thọ xuân, Thanh Hóa
ðề tài còn cung cấp những dẫn liệu mới về hiệu quả của một số biện pháp
quản lý tổng hợp rệp xơ trắng C lanigera hại mía tại Thọ xuân, Thanh Hóa
2.2 Ý nghĩa thực tiễn của ñề tài
Kết quả nghiên cứu của ñề tài cung cấp cơ sở khoa học ñể xây dựng quy
trình quản lý tổng hợp loài rệp xơ trắng C lanigera có hiệu quả kinh tế và môi
trường góp phần giải quyết những khó khăn trong phòng trừ rệp xơ trắng hại mía tại Thọ Xuân, Thanh Hoá và những vùng trồng mía có ñiều kiện tương ñồng
3 Mục ñích, yêu cầu của ñề tài
3.1 Mục ñích của ñề tài
Nghiên cứu xác ñịnh ñược thành phần loài rệp hại mía, ñặc tinh sinh học, sinh thái học của loài rệp xơ trắng hại mía và các biện pháp phòng chống chúng Trên cơ sở ñó ñưa ra quy trình quản lý tổng hợp rệp xơ trắng
Trang 19C lanigera hại mía tại Thọ Xuân, Thanh Hoá và phụ cận
3.2 Yêu cầu của ñề tài
- Xác ñịnh ñược thành phần rệp hại mía, ñặc ñiểm phân bố, mức ñộ gây hại của chúng tại Thọ xuân, Thanh Hóa và phụ cận
- Xác ñịnh ñược những ñặc tính sinh học, sinh thái học, ñặc ñiểm hình
thái của loài rệp xơ trắng C lanigera hại mía tại Thọ Xuân, Thanh Hóa và
phụ cận
- Xác ñịnh ñược diễn biến số lượng của rệp xơ trắng trên cây mía và mối quan
hệ của chúng với thiên ñịch, môi trường và cây trồng tại Thọ Xuân, Thanh Hóa
- Nghiên cứu các biện pháp phòng chống loài rệp xơ trắng C lanigera từ
ñó xây dựng ñược quy trình quản lý tổng hợp loài rệp xơ trắng C lanigera hại
mía tại Thọ Xuân, Thanh Hóa và phụ cận
4 ðối tượng và phạm vi nghiên cứu của ñề tài
4.1 ðối tượng nghiên cứu của ñề tài
ðề tài nghiên cứu các loài rệp hại mía thuộc bộ Homoptera Trong ñó
tập trung nghiên cứu loài rệp xơ trắng C lanigera, các loài thiên ñịch của chúng và ñi sâu nghiên cứu loài ruồi ăn rệp E balteatus
4.2 Phạm vi nghiên cứu của ñề tài
ðề tài nghiên cứu ñặc tính sinh học, sinh thái học và các yếu tố ảnh hưởng ñến biến ñộng số lượng và hiệu quả của biện pháp quản lý tổng hợp rệp xơ trắng
C lanigera hại mía tại Thọ Xuân, Thanh Hoá và phụ cận
- Xác ñịnh ñược 5 loài rệp hại mía tại vùng nghiên cứu
- Bổ sung một số dẫn liệu về ñặc tính sinh vật học và sinh thái học của
rệp xơ trắng Ceratovacuna lanigera Zehntner hại mía và ñặc ñiểm sinh vật học loài ruồi bắt mồi Episyrphus balteatus De Geer ăn rệp xơ trắng hại mía
- Xây dựng và áp dụng quy trình quản lý tổng hợp loài rệp xơ trắng
Ceratovacuna lanigera Zehntner hại mía ñạt hiệu quả
Trang 20Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
1.1 Cơ sở khoa học của ñề tài
Trong 5 năm gần ñây ngành mía ñường trong cả nước ñang có bước tiến ñáng kể về diện tích, năng suất và sản lượng Tuy nhiên, ñể phát triển sản xuất mía ổn ñịnh và bền vững thì vấn ñề giải quyết bọ hung ñen, rệp xơ trắng ñang là câu hỏi và thách thức lớn cho người trồng mía, các nhà khoa học và quản lý của nước ta hiện nay cho rằng trên cây mía rệp xơ trắng làm giảm năng suất, chất lượng mía thương phẩm Theo Lương Minh Khôi, (1997) [14]
ở vùng nguyên liệu mía ñường Lam Sơn, Thanh Hoá, rệp xơ trắng gây hại vào tháng 8 và tháng 9, diện tích mía bị hại vào khoảng 22,9% Ở vùng mía Vạn ðiển, Hà Tây mức ñộ rệp xơ trắng hại thấp nhất là 69,2%, Nông trường
Hà Trung, Thanh Hoá có tỷ lệ diện tích mía bị rệp xơ trắng hại cao nhất 100% ðiều này ñòi hỏi cần có những nghiên cứu sâu hơn ñể quản lý rệp xơ
trắng C lanigera hại mía một cách có hiệu quả về kinh tế và môi trường
Trong các thập niên 80 và 90 của thế kỷ XX, sản xuất mía của Thanh Hoá phát triển mạnh, ñời sống của người nông dân trồng mía ñược nâng lên
rõ rệt Tuy nhiên ở thời kỳ ñó các loài sâu hại mà ñặc biệt là rệp xơ trắng, sâu ñục thân và bọ hung ñen cũng ñã làm thiệt hại ñáng kể ñến năng suất và chất lượng mía, nhiều diện tích mía ñã bị mất trắng Theo ñánh giá của Trung tâm nghiên cứu Mía ñường Miền Nam, (2007) [5] trong một số năm gần ñây thiệt hại do nhóm sâu ñục thân gây ra ước tính chiếm khoảng 20-40% năng suất mía, bên cạnh ñó rệp xơ trắng hại mía cũng ñược ghi nhận là dịch hại chủ yếu tại các vùng trồng mía vào giai ñoạn cây mía vươn lóng ñến thu hoạch làm trữ ñường giảm nặng Theo Trần Văn Sỏi, (1999) [35] thì những ruộng mía bị rệp
xơ trắng hại nặng ñã làm giảm năng suất từ 20-30%, mía lưu gốc bị rệp xơ trắng hại nặng không thể tái sinh ñược, ngọn mất khả năng nảy mầm Vào thời
Trang 21gian ñó “Trồng mía ñến ñâu thuốc sâu ñến ñó”, nhiều vùng trồng mía ñã sử dụng lượng thuốc sâu trung bình từ 55-70 kg/ha/năm, số lần phun thuốc trung bình một năm lên ñến 20 lần Tác giả Lê Song Dự, (1997) [8] ñã viết trong kết quả ñiều tra của ngành mía ñường khi cây mía bị rệp xơ trắng gây hại làm giảm 35-40% trữ lượng ñường, 10-20% năng suất mía cây, ngọn mất khả năng nảy mầm, gốc mất khả năng tái sinh Trong sản xuất mía cần phải ñiều khiển ñược quần thể dịch hại và thiên ñịch trên ñồng ruộng theo hướng có lợi ñể làm giảm số lượng thuốc trừ sâu sử dụng trên lô mía, giảm chi phí trên một ñơn vị diện tích và tăng lợi nhuận cho người trồng mía ðể tăng ñược sản lượng mía Công ty ñường Lam Sơn, Thanh Hóa ñã có các giải pháp như ñầu tư thâm canh, ñưa giống mía mới
có năng suất cao, chất lượng tốt vào sản xuất Song các biện pháp kỹ thuật thâm canh tiên tiến chưa ñược người trồng mía tiếp nhận và áp dụng có hiệu quả, nên năng suất mía trung bình toàn vùng còn thấp (dưới 57 tấn mía cây/ha, trữ ñường CCS khoảng 9,5) Trong khi ñó thì năng suất mía bình quân toàn quốc ñạt 60,5 tấn/ha và trữ lương ñường bình quân là 9,8 CCS Vì vậy, phát triển sản xuất mía
ở Thọ Xuân, Thanh Hóa và phụ cận như hiện nay sẽ không ñủ khả năng cung cấp nguồn nguyên liệu cho Công ty ñường Lam Sơn sản xuất trong vòng 6 tháng Mấy năm qua thường xẩy ra hạn hán vào ñầu vụ nên việc trồng mía gặp nhiều khó khăn Mưa nhiều vào cuối vụ ảnh hưởng lớn ñến công tác thu hoạch làm cho chất lượng mía bị giảm sút (Hiệp hội Mía ñường Lam Sơn, 2007) [4]
Hiện nay, cùng với kết cấu hạ tầng phục vụ sản xuất, các thành tựu khoa học áp dụng vào sản xuất mía ñã nâng ñời sống của người trồng mía lên cao hơn so với trồng các cây trồng khác, nên diện tích mía trong vùng luôn ñược ổn ñịnh ðể phòng trừ rệp xơ trắng hại mía, người trồng mía vẫn dựa chủ yếu vào thuốc hoá học, việc sử dụng thuốc hoá học với số lần và liều lượng ngày càng cao làm tổn hại ñến môi trường sinh thái, tạo ñiều kiện thuận lợi cho rệp xơ trắng nhanh chóng hình thành tính kháng thuốc, chống thuốc
ðể sản xuất mía ở tại Thọ Xuân, Thanh Hoá và vùng phụ cận không bị biến
Trang 22ựộng về diện tắch và nâng cao sản lượng và trữ lượng ựường, công ty ựường Lam Sơn ựã cải tạo hạ tầng phục vụ sản xuất mắa như tưới nước nhỏ giọt, xây dựng nhà máy sản xuất phân bón cho mắa Khi ựã ựầu tư thâm canh cao vào sản xuất thì cũng ựồng nghĩa với sự xuất hiện rệp xơ trắng ngày càng nhiều, với số lượng ngày càng lớn, vì thế ựể kiểm soát ựược rệp xơ trắng gây hại thì người trồng mắa phải thường xuyên thăm ựồng và có một quy trình quản lý tổng hợp rệp xơ trắng một cách hiệu quả, ựem lại sự ổn ựịnh
và bền vững của hệ sinh thái vùng mắa
Theo Lương Minh Khôi, (1997) [15], [16] ựể thực hiện kế hoạch nâng diện tắch mắa lên trên 331 nghìn ha, ựủ nguyên liệu cho sản xuất 1-1,5 triệu tấn ựường thì cần sử dụng các giống mới có năng suất cao, kết hợp với thâm canh cao và sử dụng phân bón hợp lý Tuy nhiên, kinh nghiệm cho thấy càng thâm canh cao thì yêu cầu về bảo vệ thực vật càng lớn
Trên cơ sở các thành tựu khoa học công nghệ ựã ựạt ựược như sử dụng giống mắa chống sâu bệnh, trồng mắa che phủ nilon, ươm hom một mầm trong bầu nilon, sử dụng các chể phẩm sinh học BT, NPV trừ sâu Như vậy vấn ựề nghiên cứu thành phần rệp hại mắa, ựặc ựiểm sinh học, sinh thái và biện pháp quản lý tổng hợp rệp xơ trắng hại mắa tại Thọ Xuân, Thanh Hoá và phụ cận là
cơ sở vững chắc ựể xây dựng vùng mắa phát triển an toàn và bền vững
1.2 Khái quát tình hình khắ hậu thời tiết vùng sản xuất mắa và phòng
chống rệp hại mắa tại vùng Thọ Xuân, Thanh Hóa
* Khái quát một số ựặc ựiểm khắ hậu thời tiết vùng nghiên cứu
Vùng mắa Thọ Xuân, Thanh Hóa gồm 9 huyện miền Tây của tỉnh Thanh Hóa, mắa ựược trồng ở cả vụ đông-Xuân và vụ Hè-Thu và ựã trở thành cây hàng hoá chắnh, cây mắa là cây công nghiệp thu hoạch hàng năm, qúa trình sinh trưởng của cây mắa từ khi trồng ựến khi thu hoạch là 1 năm (trừ mắa Hè -Thu trồng làm mắa giống cho vụ đông -Xuân năm sau), do cây mắa sinh trưởng phát triển trong suốt một năm nên sự phát triển của cây mắa phụ thuộc rất chặt chẽ
Trang 23vào ựiều kiện thời tiết, khắ hậu Khắ hậu Thanh Hóa một năm chia làm bốn mùa
rõ rệt, mùa mưa kéo dài từ tháng 8 ựến tháng 11, tháng 5 và tháng 6 thường có ựợt mưa lụt tiểu mãn làm cho tốc ựộ mắa vươn lóng mạnh (Phụ lục 1) Sự thay ựổi về khắ hậu theo mùa gắn với mưa bão thất thường trong năm nên tình hình rệp xơ trắng hại mắa cũng thay ựổi theo Mắa trồng ở vụ đông-Xuân rệp xơ trắng thường gây hại từ tháng 7 ựến tháng 11 ựó là thời kỳ mắa vươn lóng mạnh, khắ hậu nóng ẩm rất thắch hợp cho rệp xơ trắng gia tăng về số lượng Thanh Hoá hàng năm có tổng số giờ nắng là khoảng: 1.668 giờ, nhiệt
ựộ trung bình 280C, lượng mưa trung bình 1.749 mm; ựộ ẩm khoảng 85%; lượng nước bốc hơi 820 mm (phụ lục 1) Lượng mưa hàng năm lớn, phân bổ không ựều, mưa chủ yếu tập trung từ tháng 8 ựến tháng 11 chiếm trên 65% lượng mưa cả năm, trong thực tế thời ựiểm trồng mắa từ tháng 12 ựến tháng 2 năm sau là lúc cần nước lại là những tháng khô hạn (đoàn khảo sát thiết kế qui hoạch Thanh Hoá, 2008) [3]
Thanh Hoá trong những năm gần ựây ựã ựưa cây mắa vào cơ cấu cây trồng chắnh tại Thọ xuân, Thanh Hóa và phụ cận, người dân ựã áp dụng công nghệ cao sản xuất mắa, ngoài ra công ty ựường Lam Sơn còn mở các lớp kỹ thuật trồng mắa cho nhân dân trong vùng, góp phần thúc ựẩy phát triển sản xuất mắa
Ngành công nghiệp chế biến ựường mắa của tỉnh Thanh Hóa trong những năm qua rất phát triển Niên vụ mắa 2008-2009, cả tỉnh có 32058 ha mắa, năng suất trung bình 50,3 tấn/ha, sản lượng ựạt 1.657200 tấn, cung cấp nguyên liệu cho 3 công ty chế biến ựường ựó là Công ty mắa ựường (Lam Sơn huyện Thọ Xuân), Công ty mắa ựường Việt-đài (thuộc huyện Thạch Thành) và Công ty mắa ựường Nông Cống (thuộc huyện Nông Cống) Trong ựó, vùng nguyên liệu của Công ty mắa ựường Lam Sơn là 15295ha, năng suất bình quân 56,44 tấn/ha, sản lượng dự kiến 845.000 tấn, Công ty mắa ựường Việt đài là 11100 ha, năng suất
Trang 2452,25 tấn/ha, sản lượng dự kiến 580.000 tấn; Công ty mía ñường Nông Cống là 5.664 ha, năng suất bình quân 41,0 tấn/ha, sản lượng dự kiến 232216 tấn (ðoàn khảo sát thiết kế qui hoạch Thanh Hoá, 2008) [3]
Vùng nguyên liệu mía ñường Thọ Xuân, Thanh Hóa theo qui hoạch ñến năm 2015 và ñịnh hướng tới năm 2020, tổng diện tích ñất có khả năng trồng mía
là 54.314 nghỉn ha, trong ñó ñất ñồi khoảng 36.640,62 ha, chiếm 67,46% (còn lại
là ñất bãi và ñất sản xuất một vụ lúa cho năng suất thấp) Trong ñiều kiện khí hậu nhiệt ñới nóng ẩm (nắng lắm, mưa nhiều), quá trình xói mòn, rửa trôi mạnh làm cho tỷ lệ chất hữu cơ trong ñất giảm nhanh Tình hình dịch hại phát sinh và phát triển nhiều ảnh hưởng ñến năng suất chất lượng mía Kết quả ñiều tra năng suất mía toàn vùng Lam Sơn từ năm 2003 ñến năm 2009 cho thấy, năng suất mía trung bình mới chỉ ñạt 56,44 tấn/ha (ðoàn khảo sát thiết kế qui hoạch Thanh Hoá, 2008) [3] nhưng trong vùng mía Thọ Xuân, Thanh Hóa có một số diện tích mía ñược ñầu tư thâm canh cao, thì năng suất có thể ñạt từ 100 tấn ñến 120 tấn/ha ðiều này cho thấy tiềm năng, năng suất mía của vùng Thọ Xuân, Thanh Hóa và phụ cận là rất lớn Tuy nhiên, cần có các nghiên cứu về kỹ thuật canh tác
và bảo vệ thực vật phù hợp ñể thúc ñẩy quá trình sản xuất mía ñạt hiệu quả cao Phần lớn diện tích mía của vùng Thọ Xuân, Thanh Hóa và phụ cận tập trung tại các huyện Thọ Xuân, Ngọc Lặc và Yên ðịnh, ñây là những huyện có năng suất mía cao nhất trong vùng Vì ở những huyện này người dân ñầu tư thâm canh cao, áp dụng các tiến bộ mới vào trong sản xuất mía Năng suất mía có thể ñạt ñến 100-120 tấn/ha, với ñộ ñường ñạt 12-14 CCS (khoảng 7 ñến 9 tấn mía nguyên liệu ñưa vào ép sẽ thu ñược 1 tấn ñường) Thời vụ trồng mía thường kéo dài 2 ñến 3 tháng, từ tháng 11 năm trước ñến hết tháng 2 năm sau Vùng nguyên liệu mía ñường Thọ Xuân, Thanh Hoá và phụ cận theo quy hoạch năm 1995 ñược phân bố trên 4 huyện và 4 nông trường quốc doanh Nhưng ñến năm 2004 (sau 9 năm) phạm vi vùng mía Lam Sơn, Thọ Xuân, Thanh Hóa
Trang 25ñã ñược mở rộng trên 9 huyện, các huyên ñược mở rộng thêm ñó là: Yên ðịnh, Như Thanh, Lang Chánh, Cẩm Thủy và Như Xuân Do nhu cầu của mía nguyên liệu tăng cao nên sau nhiều lần ñiều chỉnh, hiện nay công suất nhà máy ñường Lam Sơn là 650 tấn mía/ngày, nhu cầu nguyên liệu cần cho nhà máy là trên 100.000 tấn mía/ngày Trong năm 2008 sản lượng mía trong toàn vùng ñạt 1.000000 tấn/năm ñã ñạt công suất 6.500 tấn mía/ngày Diện tích toàn vùng nguyên liệu mía cần là khoảng 17.000-18.000 ha mía Nhưng thực tế vùng nguyên liệu mía năm 2008 mới ñạt tổng diện tích toàn vùng là 15295 ha, ñáp ứng ñủ nguyên liệu cho chế biến ñường trong vòng 4 tháng/năm (ðoàn khảo sát thiết kế qui hoạch Thanh Hoá, 2008) [3]
* Mức ñộ gây hại và tình hình phòng chống rệp xơ trắng C lanigera
hại mía tại Thọ Xuân, Thanh Hoá
Các giống mía mới ñược ñưa vào trồng tại Thọ xuân, Thanh Hoá vừa có năng suất cao, vừa giảm ñược sự gây hại của sâu ñục thân mía, nhưng mức ñộ gây hại của rệp xơ trắng vẫn có xu hướng gia tăng về số lượng Hàng năm tại vùng mía Thọ Xuân, Thanh Hóa, rệp xơ trắng thường xuyên xuất hiện và gây hại
từ tháng 7 ñến tháng 11, nhưng hại nặng từ tháng 8 ñến tháng 10 Theo Trần Văn Sỏi, (1999) [35]các vùng trồng mía ở miền Bắc, rệp xơ trắng là ñối tượng gây hại lớn nhất ñối với nghề trồng mía Các lô mía bị rệp hại nặng làm giảm năng suất từ 20-30%, mía không thể ñưa vào chế biến ñường ñược, vì ñộ ñường chỉ còn 6-7 ñộ CCS Tạp chất và keo nhiều nên khó lắng ñọng và kết tinh ñường Mía lưu gốc khi bị rệp hại không còn khả năng nẩy mầm Theo Lương Minh Khôi và CTV, (1994) [14] Ở vùng Lam Sơn, Thanh Hoá, rệp xơ trắng gây hại chủ yếu vào tháng 8 ñến tháng 9
Việc phòng chống rệp xơ trắng hại mía tại các tỉnh miền Bắc còn mang tính thụ ñộng và chủ yếu dựa vào thuốc hoá học Theo tác giả Lương Minh Khôi, (1997) [15] dùng một số loại thuốc hoá học có hiệu quả cao như:
Trang 26Supracid 40EC; Bi58 40EC; Ofatox 40EC; Bassa 50EC và Trebon 10 EC pha
ở nồng ñộ 0,1- 0,15%, mỗi ha dùng 1-1,5 lít thuốc ñể trừ rệp xơ trắng hại mía ñều cho hiệu quả cao, tuy nhiên ñây là nhóm thuốc ñộc và ñang dần bị hạn chế trong sản xuất Biện pháp duy nhất ñang ñược áp dụng ñể trừ rệp xơ trắng hại mía là sử dụng thuốc hoá học, nhưng do hiểu biết về ñối tượng này còn rất
ít nên hiệu quả phòng trừ thấp Ở vùng Lam Sơn nhiều vụ mía ñã phải phun thuốc từ 3-5 lần trong năm ñể trừ rệp xơ trắng hại mía, hàng năm có khoảng 60-70% diện tích mía phải phun thuốc trừ rệp xơ trắng, nhiều lô mía do trừ rệp xơ trắng không kịp thời nên ñã bị rệp gây hại nặng, nấm muội ñen phát triển mạnh làm cho mía không còn khả năng quang hợp gây ảnh hưởng ñến năng xuất và chất lượng mía
Nhìn chung, ñiều kiện tự nhiên của vùng mía Thọ Xuân, Thanh Hoá và phụ cận rất phù hợp cho sự phát triển của rệp xơ trắng hại mía Với ñặc trưng
về ñất ñai, nhiệt ñộ, ẩm ñộ, lượng mưa của vùng là ñiều kiện thuận lợi cho rệp
xơ trắng tăng nhanh về số lượng, ñặc biệt là thời tiết từ tháng 8 ñến tháng 10, ñúng vào thời kỳ vươn lóng cao của cây mía Hơn nữa, do chưa có những nghiên cứu sâu về các biện pháp quản lý loài rệp xơ trắng hại mía nên trong những năm qua và nguy cơ của những năm tới thiệt hại do rệp xơ trắng gây ra cho cây mía tại Thọ Xuân, Thanh Hoá và phụ cận là rất cao
1.3 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài và trong nước
1.3.1 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
1.3.1.1 Những nghiên cứu về thành phần loài, ñặc ñiểm gây hại và tác hại của
rệp hại mía
* Những nghiên cứu về thành phần loài của rệp hại mía
Theo Blackman et al., (1984) [52], thì thành phần rệp muội hại mía
gồm 10 loài: Ceratovacuna lanigera Zehntner, Geioca lucifuga Zehntner, Forda orientalis George, Tetraneura javensis Van der Goot, T hirsuta Baker,
Trang 27Sipha flava Forbes, Rhopalosiphum maidis Fitch, Melanaphis sacchari Zehntner, Sitobion miscanthi Takahashi, Hysteroneura setariae Thomas
Theo Zhou Zhihong et al., (1998) [104], trên cây mắa có 4 loài rêp gây
hại ựó là Ceratovacuna lanigera Zehntner, Melanaphis sacchari Zehntner, Tetraneura hirsuta Baker (gây hại ở rễ mắa), Saccharicoccus sacchari Cockerell (gây hại ở phần ựốt mắa) trong 4 loài này thì rệp xơ trắng Ceratovacuna lanigera Zehntner là loài gây hại chủ yếu tại các vùng mắa của Trung Quốc
Cây mắa bị tấn công bởi một số loài rệp hại tại Ấn độ Theo Raychaudhuri, (1984) [97] ựã phát hiện ựược 17 loài rệp gây hại trên mắa, trong ựó có 7 loài thuộc họ phụ Aphidinae, 5 loài thuộc họ phụ Pemphiginae,
2 loài thuộc họ phụ Drepanosiphinae và 3 loài thuộc họ phụ Hormaphidinae
Trong số 3 loài thuộc họ phụ Hormaphidinae, trong giống Ceratovacuna, thì loài rệp xơ trắng Ceratovacuna lanigera Zehntner là loài rệp hại nguy hiểm
nhất trên cây mắa ở một số vùng phắa đông Ấn độ
Theo Anonymous, (1963) [41] trong số 14 loài thuộc giống Ceratovacuna
ựã ựược biết ựến ở trên thế giới thì có 7 loài ựã xuất hiện ở một số vùng của Ấn
độ như: Silvestrii takahashi, Perglandulosa basun Ghosh & Raychaudhura indica Ghosh, Pal & Raychaudhura spinulosa Ghosh & Raychaudhura lanigera Zehntner, Graminum Van der Goot & nekoashi (Sasaki) Trong ựó indica,
glandulosa & spinulosa là những loài ựặc hữu của Ấn độ và chỉ thấy có dạng rệp không cánh ựẻ con C.nekoashi (Sasaki) chỉ thấy xuất hiện ở phắa tây bắc dãy Himalaya (Anonymous,1963) [41] ựó là loài silvestrii, perglandulosa, indica, spinulosa, lanigera and nekoashi ựược ghi nhận ở vùng Tây bắc Ấn độ
(Anonymous, 2002) [42] ựã ghi nhận sự có mặt của C.graminum van der Goot ở
Ấn độ đoàn ựiều tra của các nhà nghiên cứu về rệp của Mỹ cũng ựã xác ựịnh
loài C.graminum van der Goot có nguồn gốc ở Ấn độ Mặc dù vậy chưa có tài
liệu nào chỉ ra rằng sự xuất hiện và sự phân bố của loài rệp này ở miền Nam hay
Trang 28Bắc ấn ðộ Trong số tất cả các loài ñược phát hiện ở Ấn ðộ thì loài rệp xuất hiện
phổ biến nhất và gây hại nặng ở một số vùng mía là loài C lanigera Vào năm
1897 Zehntner ñã ñặt giống Ceratovacuna dưới tộc Cerataphidinae với tên loài
là C lanigera Việc ñặt tên rệp là C lanigera ñược các nhà khoa học ñồng thuận hơn khi ñặt tên chúng là Oregma lanigera van Deventer hoặc Cerataphis saccharivora Matsumura và ñây chính là tên khác của loài này Giống này có
ñặc ñiểm: trán của rệp có cánh và không cánh ñều phẳng, không có ống bụng Rệp không cánh thường tuyến sáp xếp thành hàng khoảng từ 7- 8 lỗ xếp dọc theo rìa 2 bên lưng Tuyến sáp không xuất hiện ở cơ thể rệp có cánh Rệp không cánh có ñầu và ñốt ngực trước nối liền thành một khối Cánh trước có mạch Media chỉ có 1 nhánh và cánh sau có 2 vân xiên chéo
* Những nghiên cứu về ñặc ñiểm gây hại và tác hại của các loài rệp
xơ trắng hại mía
Rệp xơ trắng ñã ñược ghi nhận lần ñầu tiên ở Tây Bengal và sau ñó là
ở các vùng khác thuộc phía Bắc của Ấn ðộ và ñược ghi nhận là dịch hại ít
quan trọng ở Maharashtra, mật ñộ của rêp C lanigera ñược ghi nhận lần ñầu
vào tháng 8 năm 2002 ở tỉnh Sangli Sau ñó rệp lan nhanh tới Konhapua, Satara, Pune, Solapur và Ahmednagar 15,5% tổng diện tích trồng mía của các vùng ñã bị nhiễm rệp xơ trắng, nhiễm rệp nặng ở một số vùng như Sangli (25,29% tổng diện tích trồng mía của vùng) tiếp ñến là vùng Kolhapur (21,27% tổng diện tích trồng mía của vùng) Tại Karmataka mía nhiễm rệp xơ trắng ñược ghi nhận ñầu tiên ở Athana taluk, thuộc tỉnh Belgaum vào tháng 9 năm 2002 Sau ñó ghi nhận ñược sự gây hại của rệp ở Raibag, Chikkodi, Hukkeri và Gokak taluks Tiếp ñó ñã ghi nhận thêm sự gây hại của rệp ở 5 tỉnh ñó là: Bagalkot, Bijapur, Bellary, Bidar và Belgaum Vùng mía có mật ñộ rệp cao nhất là Belgaum với 51,55% diện tích mía bị nhiễm rệp, tiếp ñến là Bagalkot có 31,90% diện tích mía bị nhiễm rệp Nơi có rệp hại thấp nhất là Bidar chỉ có 0,43% diện tích mía bị nhiễm rệp (Arakaki, 1988) [43].Hiệnnay rệp xơ
Trang 29trắng ựã lan rộng sang một số tỉnh khác của Karnataka như: Koppaalo, Davangere, Haveri, Shimoga và Raichur (kết quả ựiều tra của C.A.V)
Trong vùng từ Maharashtra và Karnataka, rệp xơ trắng ựã lây lan tới Uttar Pradesh, Andhra Pradesh, Bihar và Uttaranchal đã có những kết quả ựáng tin cậy trong việc thử nghiêm dự ựoán khả năng lây lan của rệp dựa trên lĩnh vực ựịa lý ựã ựược sử dụng như: phương pháp GARP và DIVA- GIS Kết quả nghiên cứu ựã chỉ ra rằng rệp rất ắt có khả năng lây lan tới vùng phắa ựông của Maharashtra và Andhra Pradesh và nó không giống như sự lây lan tới Tamil Nadu, Kerala và các vùng bờ biển mặc dù vậy ở Karnataka thì rệp hầu như xuất hiện dọc theo vành ựai chuyển tiếp và ở phắa bắc và phắa nam của vùng khắ hậu khô, ựiều này thì ắt giống với sự xuất hiện của rệp khu vực phắa Nam của Karnataka
Kết quả ựiều tra cùng chỉ ra rằng sự lan rộng của rệp ở trong làng Vadakala, Lingapura và Anegula, Kekkeritaluk, thuộc tỉnh Mandya và Dodamalugu, Narasipura Taluk, tỉnh Mysore Một phần của tỉnh Mandya & tỉnh Mysore thuộc Karnataka, rệp chắc chắn ựã ựi vào Tamil Nadu và cả Kerala
để xác ựịnh sự gây hại nguy hiểm của rệp xơ trắng hại mắa thì khoa Nông nghiệp và Hợp tác, Bộ Nông nghiệp, Chắnh phủ Ấn độ ựã thành lập một Trung tâm nghiên cứu ựiều tra nguyên nhân bùng phát dịch, ảnh hưởng của rệp tới năng suất và chất lượng mắa và chiến lược ựể phòng chống loài rệp này
Theo Kurosu et al., (1986) [90] vòng ựời của rệp xơ trắng kéo dài một tháng phụ thuộc vào ựiều kiện khắ hậu, thời tiết và ựặc tắnh của các giống mắa, rệp xơ trắng xuất hiện nhiều trên mắa trồng vụ Thu hơn mắa trồng vụ Xuân và rệp gây hại chủ yếu trên mắa vào tháng 8 và tháng 9 Quần thể rệp có thể giảm xuống khi nhiệt ựộ, lượng mưa và kẻ thù tự nhiên trong lô mắa lên cao
Theo Hartley et al., (1991) [80] loài rệp bông xơ trắng hại mắa là một trong những loài gây hại nguy hiểm ựối với cây mắa, các ựiều tra, khảo sát hiện nay cho thấy, những thay ựổi sinh hoá xẩy ra trong quá trình nhiễm rệp bông xơ
Trang 30trắng của cây mía Ở mức ñộ nhiễm rệp bông xơ trắng thấp thì chất diệp lục trên
lá mía cao, khi lá mía bị nhiễm rệp bông xơ trắng nặng thì hàm lượng chất diệp lục trên lá mía giảm mạnh và hàm lượng polyphenol tăng lên ñạt 41% quan sát ñược ở những cây mía nhiễm rệp xơ trắng rất nặng Các nghiên cứu về rệp xơ
trắng C lanigera hại mía ñến khả năng phòng vệ và hoạt ñộng quang hợp của
cây mía Trong nghiên cứu này ñã xác ñịnh ñược cơ chế sinh hoá dẫn ñến giảm năng suất và chất lượng mía do rệp xơ trắng hại mía gây ra
Theo Maizawan et al., (1995) [92] rệp bông hại mía C lanigera là loại
dịch hại thuộc nhóm chích hút, thường sống ở mặt dưới của lá và hút nhựa cây Theo Joshi et al., (2004) [88] Sản phẩm bài tiết chủ yếu của rệp xơ trắng hại
mía C lanigera là Hydratcacbon ñược tích luỹ trên bề mặt lá ñó là môi trường
thích hợp cho nấm muội ñen phát triển Hiên nay, thuốc trừ sâu là lưa chọn tốt nhất ñể kiểm soát rệp hại mía, mặc dù có nhiều ñánh giá cao về tính hiệu quả của thuốc hoá học trừ sâu hại, nhưng thuốc trừ sâu cũng ít phổ biến trong cộng ñồng nông dân trồng mía vì mối nguy hại liên quan ñến và sức khoẻ cũng như tính chống thuốc, kháng thuốc của các loài dịch hại
Theo kết quả nghiên cứu của Sadasivam et al., (2004) [98] rệp xơ trắng
C lanigera hại mía làm ảnh hưởng ñáng kể ñến khả năng quang hợp của cây,
trên những cây mía bị nhiễm rệp xơ trắng, ñặc biệt là các cây bị hại nặng hàm lượng chất diệp lục giảm 37% Qua quá trình nghiên cứu cho thấy hàm lượng chất diệp lục tỷ lệ thuận với sản lượng của cây mía Người nông dân trồng mía ñể sản xuất ñường mà chất diệp lục là các thành phần không thể thiếu của quá trình sinh tổng hợp ñường của cây mía
Theo Joshi et al., (2004) [88] rệp xơ trắng hại mía C lanigera lần ñầu
tiên xuất hiện gây hại ở Ấn ðộ vào năm 1958, nhưng dần dần trở thành nguyên nhân chính làm giảm năng suất mía Trong những năn gần ñây khoảng 16% diện tích mía trồng tại (Maharashtra) khu vực phia Tây của Ấn
ðộ nơi mà ñược gọi là vùng sản xuất ñường chủ yếu bị rệp xơ trắng gây hại
Trang 31Các mẫu phân tích CCS cho thấy trên những cây mía mức ñộ nhiễm rệp xơ
trắng C lanigera hàm lượng ñường cũng bị giảm ñáng kể so với cây mía
không bị nhiễm rệp Khi cây mía trrồng ñược 3-6 tháng bị rệp xơ trắng gây hại nặng, cây trở nên còi cọc và yếu ớt Nấm muội ñen cộng sinh trên chất thải của rệp xơ trắng làm ñen các lá mía và làm giảm khả năng quang hợp của cây mía dẫn ñến làm mất 20% sản lượng và chất lượng mía (CCS) Khi rệp xơ trắng xuất hiện trên lô mía, tạo ra một tâm lý sợ hãi cho người trồng mía Những người ñi vào khu vực mía bị rệp bông xơ trắng gây hại cảm thấy khó chịu do thấy số lượng số lượng quần thể rệp quá nhiều Các ngọn mía bị rệp
xơ trắng gây hại mất ñi giá trị về mặt thẩm mỹ và giá trị thương phẩm
Theo Gupta et al., (1995) [78] thì rệp xơ trắng C lanigera và rệp cây (Aulacaspi ssp) gây hại và làm giảm năng suất mía ở hầu hết các vùng trồng
mía của Indonesia Theo Shankar et al., (2004) [99] thì rệp xơ trắng hại mía là một trong những côn trùng gây hại nguy hiểm nhất ñối với mía, hàng năm rệp
xơ trắng không những làm giảm năng suất mía mà còn làm cho công nghiệp chế biến ñường còn gặp nhiều khó khăn trong khâu tinh lọc và chế biến ñường, ngoài ra còn làm giảm tỷ lệ nẩy mầm của giống mía
Rệp thường bắt ñầu xuất hiện ở mặt dưới của lá dọc theo gân chính, sau ñó phát triển thành từng ñám ở dưới mặt lá và phía trên nó ñược bao phủ bằng lớp bông sáp trắng do rệp tiết ra Lớp sương mật do rệp tiết ra thường tạo ñiều kiện cho lớp nấm muội ñen phát triển (Avasthy, 1973) [47] Rệpchích hút nhựa cây làm cho cây còi cọc (Cheu et al., 1946) [65] và tiếp tục gây hại dẫn tới giảm ñộ dài lóng, chu vi thân cây, trọng lượng cây và hàm lượng ñường trong thân và mía thường có trữ ñường thấp nên bị giảm giá bán Theo Cheng et al., (1994) [61] ñã ñánh giá sự sai khác của 2 công thức thí nghiệm là của 25% và 100% lá nhiễm rệp xơ trắng kết quả ở công thức 100% lá nhiễm rệp có ñộ dài cây giảm 11,6%, chu vi thân giảm 3,5%, trọng lượng giảm 16,6%, ñộ dài lóng giảm 18,4%, ñộ rộng lá giảm 4,9% Chất
Trang 32lượng dịch (ñộ brix) cũng vì vậy mà bị giảm rất nhiều Giảm tỷ lệ ñường saccharo, brix, glucose, ñộ tinh khiết và giá trị thương mại trong cây mía (CSS) là 53,3; 23,3; 25,3; 31,7 và 64,0 Những nghiên cứu ban ñầu về sự thiệt hại ñược thực hiện tại trường ðại học khoa học Nông nghiệp Dharwad
ñã chỉ ra ảnh hưởng có hại của rệp ñến năng suất và chất lượng mía (Arakaki, 1988) [43]
Theo nghiên cứu của Tamhane et al., (2005) [101] rệp xơ trắng hại mía
C lanigera, xuất hiện tại Vellore ở Tamilnadu (Ấn ðộ) trong tháng 3 năm
2004 và ñã lan ñến tất cả các huyện giáp biên giới Karnataka và Andhra Pradesh trong vòng 6 tháng kể từ khi rệp xơ trắng bắt ñầu xuất hiện ở vùng Tamilnadu Vì vậy việc theo dõi thường xuyên diễn biến rệp xơ trắng
C lanigera trên cánh ñồng trồng mía là cần thiết và bắt buộc Việc ñiều tra dự
tính dự báo diễn biết các loại dịch hại trên cây mía mà ñặc biệt là rệp xơ trắng
C lanigera hại mía cần có sự tham gia ñắc lực của ngành công nghiệp chế
biến ñường và cộng ñồng nông nghiệp là hết sức cần thiết Rệp bông xơ trắng hại mía gây hại cây mía ở mọi lứa tuổi, thường rệp xơ trắng xuất hiện và gây hại ở mặt dưới của lá, khi gặp thời tiết thuận lợi rệp xơ trắng lan rộng ñến toàn bộ diên tích mía trong vùng Rệp non và trưởng thành xâm nhập vào mặt dưới của lá và hút dịch của cây Trên các cây mía khi bị rệp xơ trắng gây hại trên các lá xuất hiện các ñám màu trắng Khi rệp xơ trắng xuất hiện và gây hại nặng chúng sẽ thải ra sương mật, nhớt và không màu giống như hầu hết các loài côn trùng thuộc bộ cánh ñều (Homoptera) khác Nguồn chất thải của rệp
xơ trắng là môi trường thích hợp cho nấm muội ñen phát triển và làm cho các
lá mía nơi có rệp xơ trắng hại chuyển từ màu xanh sang màu ñen và lá mất khả năng quang hợp Các tua sáp bông trắng của rệp xơ trắng rơi xuống tạo thành một lớp trắng xóa trên mặt ñất, những lô mía bị rệp xơ trắng hại nặng thì chất lượng mía bị giảm, khả năng tái sinh của mía lưu gốc kém
Trang 331.3.1.2 Những nghiên cứu về ựặc ựiểm hình thái, sinh học, sinh thái của loài rệp
xơ trắng hại mắa
* Những nghiên cứu về ựặc ựiểm hình thái của loài rệp xơ trắng hại mắa
Trưởng thành không cánh có kắch thước nhỏ tới trung bình 2,3mm), màu xanh tái tới màu nâu nhạt ựược phủ lớp bông xơ màu trắng, hình thành các quần thể ở các là phắa dưới của cây, thường ựược phát tán nhờ kiến Trưởng thành có cánh ựầu và ngực có mầu nâu ựen, phần lưng bụng có những vân ngang màu tối (2,0-2,5mm)
(1,4-đầu mùa mưa là nguyên nhân chắnh của sự bùng phát số lượng rệp ở Indonesia và mùa khô với ẩm ựộ cao cũng là ựiều kiện thuận lợi cho sự phát sinh (Blackman et al., 2000) [54] Thời gian dài của mùa khô và mùa ẩm ướt hạn chế
sự phát sinh gây hại của rệp, sự xen kẽ mưa và nóng ựã làm gia tăng số lượng rệp (Blackman et al., 2000) [54] và (Buzacott, 1953) [55] đôi khi sự gây hại của chúng xuất hiện khi nhiệt ựộ cao và lượng mưa giảm ở đài Loan (CABI, 2002) [56] Mùa khô là mùa thuận lợi cho sự phát sinh của rệp tại Philippines
Mắa trồng vào vụ Thu thường bị nhiễm rệp nặng hơn các vụ khác tại đài Loan (Ghosh et al., 1972) [58] Trong khi ựó tại Nhật bản thì mắa trồng ở
vụ Hè lại dễ bị rệp xơ trắng gây hại hơn Trái ngược lại với những quan sát chung về sự gây hại nặng của các loài côn trùng chắch hút trên mắa chồi (mắa sau ựốn), rệp xơ trắng gây hại ắt hơn trên mắa chồi Quần thể rệp bắt ựầu phát sinh vào tháng 10 dến tháng 12 và sau ựó tăng dần dần vào mùa ựông và tăng vọt vào mùa hè
Trưởng thành không cánh xuất hiện ngay sau khi germination (ghép thành ựôi) và sự xâm nhiễm tăng lên cho tới khi nhiệt ựộ tối thiểu ựạt tới 230C trong tháng 1 là thời ựiểm trồng mắa tại đài Loan Mật ựộ quần thể rệp ựạt ựỉnh cao vào 2 tuần cuối tháng 4 và 2 tuần ựầu tháng 6 Lượng mưa lớn ựi kèm với nhiệt ựộ cao là nguyên nhân gây sự suy giảm quần thể rệp xơ trắng Ngoài ra bão trước tháng 5 cũng là ựiều kiện bất lợi cho rệp (Cheng et al., 1992) [60]
Trang 34Ở Assam, mật ựộ rệp bắt ựầu tăng vào tháng 6 và tăng từ từ ựể ựạt tới cực ựại 90,32% vào tháng 9 (Cheng et al., 1994) [61] và giảm dần vào tháng 1 năm sau Tại Uttar Pradesh, rệp xơ trắng xuất hiện từ tháng 10 năm trước tới tháng
3 năm sau (Cheng et at., 1999) [62]
Rệp xơ trắng thường xuất hiện trước khi mặt trời lặn cho tới sáng sớm hôm sau (Cheng et al., 2000) [63] điều này có thể giúp rệp tránh bị khô trong những ngày nhiệt ựộ cao Sự phát tán của rệp ra những cánh ựồng xung quanh phụ thuộc chắnh vào gió, cao ựiểm của sự phát tán là ngay sau khi mặt trời mọc, 1 ngày sau khi rệp xuất hiện Tốc ựộ gió hơn 6 cm/giây sẽ làm tăng số lượng rệp hạ xuống cây mắa Những lá ựã trưởng thành thường bị rệp gây hại nhiều hơn so với lá mắa còn non (Caver, 1989) [57] và (Avasthy, 1973) [47],
ựã quan sát thấy những lá mắa hẹp và thẳng ựứng (góc lá so với thân hẹp) thường bị nhiễm rệp với quy mô lớn, trong khi ựó (Patil Anonymous, 2002) [42] lại tìm thấy rằng những giống mắa có lá mềm, bản rộng và rủ xuống thì lại thuận lợi hơn cho rệp phát sinh quần thể
Theo Yamazaki et al., (1939) [103] thì sự tồn tại của rệp xơ trắng trên ựồng ruộng phụ thuộc vào ựặc tắnh của từng giống mắa khác nhau và ựiều kiện ngoại cảnh nơi rệp sinh sống Theo Kurosu et al., (1986) [90] vòng ựời của rệp xơ trắng hại mắa thường kéo dài một tháng, thời gian sống của rệp dài ngắn nhiều phụ thuộc vào ựiều kiện khắ hậu và các giống mắa Theo kết quả nghiên cứu của Cheng, Chen et al., (1999) [62] ở đài Loan rệp xơ trắng xuất hiện nhiều trên mắa trồng vụ Thu hơn mắa trồng vụ Xuân và rệp gây hại chủ yếu trên mắa vào tháng 8 và tháng 9 Quần thể rệp có thể giảm xuống khi
nhiệt ựộ, lượng mưa và kẻ thù tự nhiên lên cao
* Những nghiên cứu về vòng ựời, thời gian phát triển các pha
Rệp xơ trắng hoàn thành vòng ựời khi sống trên cây thuộc họ lúa ở Nhật bản (Arakaki, 1992) [44] đã tìm thấy nhiều trưởng thành không cánh
Trang 35trong các quần thể rệp nuôi trên mắa trong phòng thắ nghiệm.Tại Nhật Bản cũng không có ghi nhận về ký chủ phụ của rệp (Anon., 24 October, 2003) [40] ựã có những kết quả công bố về sự chu chuyển của rệp từ cây Saccharum sang cây Miscanthus trong nghiên cứu về sự lan truyền của rệp tại đài Loan Thậm chắ ựã có những ý kiến cho rằng không có sự giao phối của rệp trong tự nhiên Ông ựã nghiên cứu về ựặc tắnh sinh vật học của rệp và ựã xác ựịnh rằng giai ựoạn rệp non kéo dài trong khoảng 10 ngày và trưởng thành không cánh khoảng 14 ngày
đã có nhiều tác giả nghiên cứu về ựặc ựiểm sinh học của rệp xơ trắng hại mắa Theo Cheng, Chen et al.,(1999) [62] ựã nghiên cứu về ựặc tắnh sinh vật học, sinh thái học của rệp xơ trắng hại mắa và ông ựưa ra kết luận rệp xơ trắng hại mắa sinh trưởng và phát triển tốt nhất ở nhiệt ựộ 23oC Kết quả nghiên cứu của Joshi et al., (2004) [88] cho rằng rệp bông xơ trắng hại mắa có thể phát triển tốt nhất ở nhiệt ựộ 23- 260 C và nó không thể hoạt ựộng ựược khi nhiệt ựộ nhỏ hơn
15oC và lớn hơn 28oC, các pha phát dục dài ngắn là phụ thuộc loài hình rệp có cánh hay không có cánh, ựối với loại hình không cánh giao ựộng từ 23-32 ngày,
ựối với loại hình có cánh giao ựộng từ 32 - 40 ngày
Theo Arakaki, (1992) [44] tại đài Loan nhiệt ựộ thuận lợi nhất cho rệp phát triển là từ 20-230C và rệp kém hoạt ựộng ở nhiệt ựộ nhỏ hơn 150C và lớn hơn 280C Thời gian phát triển của giai ựoạn rệp non biến ựộng tùy thuộc vào nhiệt ựộ và chế ựộ ánh sáng Giai ựoạn rệp non của rệp không cánh kéo dài khoảng 10 ngày (Anon, 24 October, 2003) [40], 23-32 ngày (Arakaki, 1992) [44] ở Nhật bản và 15,8- 16,5 ngày (Arakaki, 1992) [44] ở đài Loan Trưởng thành không cánh, giai ựoạn rệp non kéo dài 14 ngày (Anon., 24 October, 2003) [40] và 32- 40 ngày (Avasthy,1973) [47] đời trung bình của rệp không cánh và
có cánh là 36 và 8,3 ngày (Arakaki, 1992) [44] 20,5 và 24,1 ngày (Arakaki, 1992) [46] Sức sinh sản trung bình của 1 rệp mẹ không cánh là 60 rệp non trong
Trang 36khi ựó của rệp có cánh chỉ là 10 rệp non (Arakaki, 1988) [43] Nhịp ựiệu sinh sản trong ựiều kiện phòng thắ nghiệm biến ựộng từ 3 ựến 5 rệp non/ngày, với tổng số rệp ựược ựẻ ra/ 1 rệp mẹ trung bình 41-56,6 rệp (Arakaki, 1992) [45]
* Những nghiên cứu về cây ký chủ của rệp xơ trắng hại mắa
Rệp C lanigera ăn rộng trên các cây thuộc họ lúa Poaceae, có một vài
ghi nhận thấy rệp xơ trắng hình thành quần thể trên một số cây thuộc họ Bixaceae (họ Chầm phù) và Combretaceae (họ Bàng) Tại Nhật Bản, loài rệp này ựã ựược ghi nhận trên Miscanthus (cỏ chè vè và cỏ chè vè hoa cờ), nhưng không bắt gặp rệp trên cây mắa
Rệp xơ trắng C lanigera ựã ựược ghi nhận sự bùng phát số lượng từ
miền tây tới miền Nam Ấn độ Mặc dù là loài dịch hại ựã ựược ghi nhận lần ựầu tiên ở tây Bengal vào năm 1958, nhưng ở thời ựiểm ấy không ghi nhận thấy sự lây lan của rệp tới các vùng khác của Ấn ựộ Là loài dịch hại có ký chủ chắnh là các cây thuộc họ hòa thảo, tuy nhiên cũng phát hiện thấy chúng gây hại trên một số cây thuộc họ chầm phù, họ chè và họ bàng đã ghi nhận ựược sự gây hại của loài rệp này trên 10 loại cây ký chủ ở Ấn độ Ngoài các cây ký chủ chắnh của rệp thuộc họ hòa thảo thì rệp còn gây hại trên cây tre và một số loài cây cỏ khác Rệp sống thành quần thể lớn, chắch vào mô biểu bì lá mắa ựể hút dịch, ựồng thời thải ra chất tiết (sương mật) tạo ựiều kiện thuận lợi cho nấm muội ựen phát triển Như vậy rệp vừa gây hại trực tiếp vừa gây hại gián tiếp trên cây mắa làm giảm năng suất và chất lượng của mắa Ở Ấn độ chỉ có các công bố về rệp ựược phát hiện ở các vùng miền Bắc, nhưng chắc chắn chúng ựã lan sang cả các vùng miền Tây và Nam của ựất nước Bài báo này tập hợp lại những kết quả nghiên cứu về loài rệp này ựã ựược công bố về ựặc ựiểm sinh học, tập tắnh gây hại và chiến lược phòng trừ chúng
Hoàn thành vòng ựời trên cây họ hòa thảo, chưa có các công bố về sinh sản hữu tắnh của rệp Là loài dịch hại nguy hiểm trên cây mắa ở vùng đông
Trang 37Nam Á, nhưng ở Nhật bản và Fiji chỉ tìm thấy loài rệp này gây hại trên Miscanthus (cỏ chè vè và cỏ chè vè hoa cờ), trong các yếu tố sinh thái thì cây thức ăn có ý nghĩa quyết ựịnh tới sự phân bố của loài rệp này
1.3.1.3 Những nghiên cứu về diễn biến số của loài rệp xơ trắng hại mắa trên
ruộng mia và các yếu tố ảnh hưởng
Tại đài Loan cũng ựã có những nghiên cứu ựể xác ựịnh mối liên quan giữa thời gian trồng và mức ựộ nhiễm rệp bằng việc so sánh giữa thời gian gây hại của quần thể rệp ở mùa xuân và mắa trồng vào mùa thu (Chen et al., 1997) [59] Kết quả theo dõi cho thấy mức ựộ gây hại của quần thể rệp phát triển trên mắa trồng vụ Thu thì cao hơn so với mắa trồng vụ Xuân Mật ựộ của quần thể rệp tăng lên với cùng với sự giảm ựi của nhiệt ựộ trong thời gian từ tháng 12 ựến tháng 2 năm sau
* Giống chống chịu của rệp xơ trắng hại mắa
Tại Philippin, người ta ựã xác ựịnh ựược các giống mắa khác nhau có ảnh hưởng tới thời gian phát triển vòng ựời và số lượng rệp con ựược ựẻ ra (Azuma
et al., 1971) [48] Thời gian phát triển rệp non kéo dài hơn, sức sinh sản giảm ựi khi rệp sống trên các giống chống rệp (Basu et al., 1958) [49]
Nồng ựộ dịch tế bào trong các giống mắa là nguyên nhân chắnh gây nên
sự sai khác về mức ựộ nhiễm rệp xơ trắng Các giống có nồng ựộ dịch bào thấp (trung bình khoảng 4,50Brix) sẽ bị nhiễm rệp nhẹ hơn so với những giống có nồng ựộ dịch bào 5,90Brix) các giống nhạy cảm bị rệp tấn công ắt hơn vào mùa mưa do nồng ựộ dịch bào trong lá giảm chỉ còn khoảng 2-2,70Brix (Cheu, 1945) [64] Nhữngcánh ựồng mắa tưới trên bề mặt bị nhiễm rệp ắt hơn so với việc tưới ngầm vì nồng ựộ dịch bào thấp Cây mắa khỏe và ựộ màu
mỡ của ựất cũng tác ựộng tới mức ựộ hại của rệp xơ trắng
Theo Prasad et al., (1988) [96], trồng rộng khoảng cách giữa các hàng mắa, tạo sự thông thoáng trong lô mắa và tăng khả năng chiếu sáng ựến các lá mắa cũng
Trang 38là ñiều kiện ñể hạn chế sự phát sinh và lây lan của rệp xơ trắng hại mía Khi có rệp
xơ trắng gây hại trên cây mía thì việc ñi lại và khả năng phun thuốc ñều trên bề mặt lá trong quá trình phòng trừ bằng thuốc bảo vệ thực vật cũng dễ dàng hơn nên hiệu quả phòng trừ rệp sẽ cao hơn Trong quá trình chăm sóc mía nếu sử dụng phân ñạm nhiều hoặc bón quá trễ và không ñủ tưới nước cũng tạo ñiều kiện thuận lợi cho rệp xơ trắng phát sinh và gây hại mạnh Tuỳ thuộc vào mật ñộ của các loại thiên ñịch và các biện pháp quản lý khác nhau sẽ dẫn ñến mật ñộ rệp xơ trắng phát sinh và gây hại trên các lô mía cũng khác nhau
Theo Thirumurugan et al., (2005)[102], những con ấu trùng và trưởng
thành của loài rệp xơ trắng C lanigera loại hình không cánh có thể lây lan từ
lá này sang lá khác, cây này sang cây khác khi chúng tập trung tại các mép lá nhờ gió theo cơ chế bong bay ðối với loại hình có cánh chúng lây lan từ cây này sang cây khác, từ lô này sang lô khác nhờ cánh và phát tán theo luồng gió Việc vận chuyển giống hoặc ngọn mía là chất xanh làm thức ăn cho gia súc sẽ thúc ñẩy sự phát tán nhanh chóng của rệp xơ trắng ñến các khu vực mới Do sinh sản ñơn tính, thời gian chu kỳ vòng ñời ngắn, sức sinh sản nhanh Thường xuyên kiểm tra diễn biến rệp xơ trắng trên ñồng ruộng, ñặc biệt quan tâm ñến những khu trồng mía quanh bìa làng có nhiều bóng dâm và
ñể ý ñến mặt dưới của lá mía ñối với các tầng lá phía dưới Phòng trừ rệp xơ trắng hại mía là việc làm thường xuyên liên tục trong suốt quá trình sinh trưởng và phát triển của cây mía
1.3.1.4 Nghiên cứu biện pháp phòng chống loài rệp xơ trắng hại mía
* Nghiên cứu về thiên ñịch của loài rệp xơ trắng hại mía
Theo nghiên cứu của Thirumurugan et al., (2005) [102] trong quá trình
sản xuất mía cần bảo vệ và khích lệ các loài thiên ñịch Dipha aphidivora, Micromus igoratus, Syrpids, ngay từ ñầu vụ bằng cách hạn chế sử dụng thuốc
hoá học, trồng các loại cây trồng xen có hoa thơm ñể thu hút côn trùng
Trang 39đã ghi nhận có 7 loài ký sinh, 30 loài bắt mồi và 3 loài nấm ký sinh trên rệp xơ trắng Chỉ trong những năm gần ựây việc sử dụng một số loài thiên ựịch trong quản lý rệp mới ựược quan tâm
Những ựiều tra gần ựây cho thấy ở vùng rệp gây hại của Maharashtra (miền tây Ấn độ) và Tarnataka (miền Nam Ấn độ) sô lượng rệp bị khống chế bởi một số loài thiên ựịch bắt mồi như: bọ rùa, bọ cánh mạch, ruồi ăn rệp và sâu non bộ cánh vảy
Hiện tượng vô sinh hay rệp non cùng chết ựược mô tả như ỘSumuraiỢ (Basu et al., 1958) [49] của rệp, là dường như các loài trong cùng họ phụ Hormaphidinae và ngay cả trong cùng loài Chúng có cơ thể dài và mập, chân trước dài và râu rất phát triển nên trông chúng giống bò cạp Khoảng 20-25%
rệp non tuổi 1 ựã bị tấn công bởi giòi non, Eupoedes của chrysopid, Chrysoperla pallens Rambur (Belavanaki et al., 2003) [50]
Rệp C lanigera từ tuyến sáp tiết ra pheromone báo hiệu khi bị tấn công bởi loài bắt mồi, Pseudoscymnus kurohime (Miyatake) Số lượng rệp tiết ra
chất báo ựộng có khác nhau ứng với pha phát triển của vật bắt mồi tấn công chúng Khi bị tấn công bởi trưởng thành thì 82% số rệp tiết ra chất báo ựộng nhưng khi bị sâu non tấn công thì chỉ 7,2-12% rệp tiết ra chất báo ựộng số lượng chủng quần rệp thay ựổi tùy theo ngưỡng nhiệt ựộ, thời gian trồng và nảy chồi của mắa
Loài rệp xơ trắng C lanigera bị tấn công bởi 5 loài kiến và trong ựó loài Polyrhachis dives Smith là loài phổ biến nhất (Azuma, et al., 1971)[48]
Ngoài việc chúng ăn sương mật do rệp tiết ra thì kiến còn bảo vệ rệp khỏi bị tấn công bởi các loài thiên ựịch
Synonycha grandis Thunberg and Anisolemnia dilatata Fabricius; S grandis
ựược xác ựịnh như một loài bắt mồi có triển vọng của rệp xơ trắng tại Philippin (Cheu et al., 1946) [65] Trung Quốc (Gupta, 1948) [77] Nhật bản (Gupta et al., 1995)
Trang 40[78] đông Dương (Haung et al., 1995) [81] Hai loài S grandis và A dilatata còn phát hiện thấy ăn rệp tre (Pseudoregma bambusicola Takahashi)
Theo Gupta, (1948) [77] ựã công bố về sự phân bố và kỹ thuật nhân nuôi cả 2 loài bọ rùa có vật mồi là rệp xơ trắng điều kiện thuận lợi cho việc nhân nuôi là 260C và ẩm ựộ ựạt 86% Trong tủ ựịnh ôn giai ựoạn ấu trùng và
nhộng của S grandis lần lượt là 4,13 và 4,23 ngày Giá trị tương ứng với A dilatata là 4,13 và 5.16 Trưởng thành của A dilatata ăn trung bình 87,8 rệp
trong 1 giờ, ấu trùng tuổi 1 ăn 100 rêp/ngày và ấu trùng tuổi lớn ăn 400-500
rệp/ngày Loài S grandis có khả năng ăn rệp cao hơn Cả 2 loài bọ rùa ựẻ trứng sau khi giao phối 1 vài ngày Loài S grandis thắch ựẻ trứng ở cả 2 mặt của lá mắa và A dilatata thường tìm ựến những nhánh nhỏ của tre ựể ựẻ trứng
Nhộng xuất hiện trên lá là giai ựoạn yếu nhất trong chu kỳ phát triển và giai ựoạn tiền nhộng bị ký sinh bởi chalcid không ựược biết (Gupta, 1948) [77]S grandis có 11 thế hệ trong 1 năm Trưởng thành sống 30-70 ngày (mùa hè) và
60-90 ngày (mùa ựông) và có thể sống tới 6 tháng khi chưa ghép ựôi Thời gian trước giao phối kéo dài 3-7 ngày và thời gian trước ựẻ trứng kéo dài 5-16 ngày Thời gian ựẻ trứng kéo dài 1-2 tháng Sức sinh sản trung bình 673 trứng/ 1 trưởng thành cái, trứng ựẻ thành từng cụm khoảng 27 trứng Nhiệt ựộ thắch hợp cho trứng nở từ 19 - 220C
+ Các loài thuộc giống Coelophora
C biplagiata ựã ựược ghi nhận ựầu tiên tại đông Dương và đài Loan
Sau ựó ựã ựược ựược mang từ đài Loan sang Java (Indonexia) vào năm 1925 (Haung et al., 1995) [81]
+ Pseudoscymnus kurohime (Miyatake)
Trưởng thành và ấu trùng tuổi 1-3 thắch ăn rệp xơ trắng tuổi 1, mặc dù vậy ấu trùng tuổi 4 lại thắch ăn tất cả các pha của rệp Ấu trùng tấn công rệp
từ phắa sau của ựầu và bụng Ngược lại trưởng thành lại tấn công vào mặt