1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ CỦA NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG (2).doc

54 1,4K 11
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Chính Sách Tiền Tệ Của Ngân Hàng Trung Ương
Tác giả Hà Thị Bích Ngọc
Người hướng dẫn Trịnh Thị Trinh
Trường học Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam
Thể loại bài luận
Định dạng
Số trang 54
Dung lượng 612,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ CỦA NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG

Trang 1

CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ CỦA NGÂN HÀNG

LỜI MỞ ĐẦUChính sách tiền tệ là một chính sách điều tiết kinh tế vĩ mô cực kì quan trọng của nhànước trong nền kinh tế thị trường vì nó có ảnh hưởng lớn đến các biến số vĩ mô như: công

ăn việc làm, tốc độ tăng trưởng, lạm phát Để đạt được các mục tiêu của chính sách tiền tệthì việc sử dụng các công cụ của nó có vai trò cơ bản, quyết định

Ở Việt Nam kể từ khi đổi mới đến nay, chính sách tiền tệ đặc biệt là các công cụ của nóđang từng bước hình thành, hoàn thiện và phát huy tác dụng đối với nền kinh tế Với đặcđiểm của nền kinh tế Việt Nam thì việc lựa chọn các công cụ nào, sử dụng nó ra sao ở cácgiai đoạn cụ thể của nền kinh tế luôn là một vấn đề thường xuyên phải quan tâm theo dõi

và giải quyết đối với các nhà hoạch định và điều hành chính sách tiền tệ quốc gia, các nhànghiên cứu kinh tế Đặc biệt là trong bối cảnh nền kinh tế trong nước và quốc tế như hiệnnay thì việc nghiên cứu về chính sách tiền tệ cụ thể là các công cụ của chính sách tiền tệ

là một vấn đề có ý nghĩa lý luận và thực tiễn cao

Phần 1: Khái quát chung về chính sách tiền tệ

I Khái niệm:

Chính sách tiền tệ là một trong những chính sách kinh tế vĩ mô quan trọngtrong việc điều hành các hoạt động của nền kinh tế chính sách tiền tệ làchính sách điều tiết mức cung tiền trong lưu thông so ngân hàng trung ươngthực thi sao cho phù hợp với nhu cầu phát triển kinh tế xã hội

II Vị trí của chính sách tiền tệ:

Kinh tế thị trường về thực chất là một nền kinh tế tiền tệ Ở đó , bao giờchính sách tiền tệ cũng là một trong những công cụ quả lý kinh tế vĩ mô quantrọng nhất của nhà nước bên cạnh chính sách tài khoá , chính sách phên phốithu nhập , chính sách kinh tế đối ngoại

Trang 2

Ngân hàng trung ương sử dụng chính sách tiền tệ nhằn gây ra sự mở rộnghay thắt chặt lại trong việc cung ứng tiền tệ để ổn định giá trị đồng bản tệ ,đưa sản lượng và việc làm của quốc gia đến mức mong muốn

Phân loại:

-chính sách tiền tệ mở rộng nhằm tăng lượng tiền cung ứng, khuyến khíchđâu tư , mở rộng san xuất kinh doanh , tạo việc làm.Trường hợp này, chínhsách tiền tệ nhằm chống suy thoái kinh tế , chống thất nghiệp

-chính sách tiền tệ thắt chặt nhằm giảm lượng tiền cung ứng , hạn chế đầu tư ,kìm hãm sự phát triển quá đà của nền kinh tế.Trường hợp này , chính sáchtiền tệ nhằm chống lạm phát

Chính sách tiền tệ là hoạt động cơ bản chủ yếu nhất của ngân hàng trungương có thể coi chính sách tiền tệ là linh hồn xuyên suốt trong mọi hoạtđộng của ngân hàng trung ương Các hoạt động khác của ngân hàng trungương đều nhằm thực thi chính sách tiền tệ đạt được các mục tiêu của nó

III Nội dung:

 Kiểm soát cung ứng tiền và điều hòa lưu thông tiền tệ

-tiền cung ứng phải cân đối với tổng sản phẩm danh nghĩa và vòngquay tiền tệ

-theo dõi diễn biến kinh tế , giá cả, tỷ giá, khuynh hướng chi tiêu ,mức độ thanh toán tiền mặt… để điều chỉnh việc cung ứng tiền

 Kiểm soát hoạt động tín dụng

-Khối lượng tín dụng ngân hàng thương mại cung ứng có cho nềnkinh tế chủ yếu từ 3 nguồn : Vốn tự có , vốn huy động, vốn vay ngânhàng trung ương

-Khi cấp tín dụng sẽ tạo ra khối lượng tiền mới

Trang 3

-ngân hàng trung ương sẽ sử dụng các công cụ : lãi suất , dũ trữ bắtbuộc , thị trường mở… để điều tiết

 Kiểm soát ngoại hối-Xây dựng và quả lý dự trữ ngaoij hối quốc gia

-Lập và theo dõi cán cân thanh toán quốc tế

-Thực hiện các nghiệp vụ hối đoái , thị trường ngoại tệ, liên ngânhàng , thị trường ngân hàng quốc tế

 Chính sách đối với ngân sách nhà nước

-Trường hợp ngân sách nhà nước cân bằng : khối lượng tiền cung ứngkhông thay đổi nhưng kết cấu TD-TK thay đổi :

+chính sách tiền tệ chống suy thoái

 Chính sách tiền tệ là công cụ thuộc tầm vĩ mô

 Ngân hàng trung ương là người đề ra và vận hành chính sách tiền tệ

 Mục tiêu tổng quát của chính sách tiền tệ là ổn định giá trị đồng tiền , góp phầnthực hiện một số mục tiêu kinh tế vĩ mô khác

V.Mục tiêu của chính sách tiền tệ:

: *ổn định giá trị đồng tiền: NHTW thông qua CSTT có thể tác động đến sự tăng

hay giảm giá trị đồng tiền của nước mình.Giá trị đồng tiền ổn định được xem xét trên 2

Trang 4

mặt: Sức mua đối nội của đồng tiền(chỉ số giá cả hàng hoá và dịch vụ trong nước)và sứcmua đối ngoại(tỷ giá của đồng tiền nước mình so với ngoại tệ).Tuy vậy ,CSTT hướng tới

ổn định giá trị đồng tiền không có nghĩa là tỷ lệ lạm phát =0 vì như vậy nền kinh tế khôngthể phát triển được,để có một tỷ lệ lạm phát giảm phảI chấp nhận một tỷ lệ thất nghiệptăng lên

*Tăng công ăn việc làm: CSTT mở rộng hay thu hẹp có ảnh hưởng trực tiếp tới

việc sử dụng có hiệu qủa các nguồn lực xã hội,quy mô sản xuất kinh doanh và từ đó ảnhhưởng tới tỷ lệ thất nghiệp của nền kinh tế Để có một tỷ lệ thất nghịêp giảm thì phải chấpnhận một tỷ lệ lạm phát tăng lên

*Tăng trưởng kinh tế :Tăng trưởng kinh tế luôn là mục tiêu của mọi chính phủ

trong việc hoạch định các chính sách kinh tế vĩ mô của mình, để giữ cho nhịp độ tăngtrưởng đó ổn định, đặc biệt việc ổn định giá trị đồng bản tệ là rất quan trọng ,nó thể hiệnlòng tin của dân chúng đối với Chính phủ Mục tiêu này chỉ đạt được khi kết quả hai mụctiêu trên đạt được một cách hài hoà

Mối quan hệ giữa các mục tiêu :Có mối quan hệ chặt chẽ,hỗ trợ nhau, không tách rời.Nhưng xem xét trong thời gian ngắn hạn thì các mục tiêu này có thể mâu thuẫn với nhauthậm chí triệt tiêu lẫn nhau.Vậyđể đạt được các mục tiêu trên một cách hài hoà thì NHTWtrong khi thực hiện CSTT cần phải có sự phối hợp với các chính sách kinh tế vĩ mô khác

VICác công cụ của chính sách tiền tệ:

1.Công cụ trực tiếp:

1.1.Quản lý hạn mức tín dụng của NHTM:

Khái niệm :là việc NHTW quy định tổng mức dư nợ của các NHTM không được

vượt quá một lượng nào đó trong một thời gian nhất định(một năm) để thực hiện vai tròkiểm soát mức cung tiền của mình.Việc định ra hạn mức tín dụng cho toàn nền kinh tế dựatrên cơ sở là các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô(tốc độ tăng trưởng ,lạm phátiêu thụ )sau đóNHTW sẽ phân bổ cho các NHTM và NHTM không thể cho vay vượt quá hạn mức doNHTW quy định

Cơ chế tác động:Đây là một cộng cụ điều chỉnh một cách trực tiếp đối với lượng tiền

cung ứng,việc quy định pháp lý khối lượng hạn mức tín dụng cho nền kinh tế có quan hệthuận chiều với qui mô lượng tiền cung ứng theo mục tiêu của NHTM

Trang 5

Đặc điểm:Giúp NHTW điều chỉnh ,kiểm soát được lượng tiền cung ứng khi các công

cụ gián tiếp kém hiệu quả ,đặc biệt tác dụng nhất thời của nó rất cao trong những giai đoạnphát triển quá nóng,tỷ lệ lạm phát quá cao của nền kinh tế Song nhược điểm của nó rấtlớn : triệt tiêu động lực cạnh tranh giữa các NHTM,làm giảm hiệu quả phân bổ vốn trongnến kinh tế ,dễ phát sinh nhiều hình thức tín dụng ngoàI sự kiểm soát của NHTW và nó sẽtrở nên quá kìm hãm khi nhu cầu tín dụng cho việc phát triển kinh tế tăng lên

1.2 Ấn định mức lãi suất:

Khái niệm :NHTW đưa ra một khung lãi suất hay ấn dịnh một trần lãi suất cho vay

để hướng các NHTM điều chỉnh lãi suất theo giới hạn đó,từ đó ảnh hưởng tới qui mô tíndụng của nền kinh tế và NHTW có thể đạt được quản lý mức cung tiền của mình

Cơ chế tác động:Việc điều chỉnh lãi suất theo xu hướng tăng hay giảm sẽ ảnh hưởng

trực tiếp tới qui mô huy động và cho vay của các NHTM làm cho lượng tiền cung ứng thayđổi theo

Đặc điểm:Giúp cho NHTW thực hiện quản lý lượng tiền cung ứng theo mục tiêu của

từng thời kỳ,đIều này phù hợp với các quốc gia khi chưa có điều kiện để phát huy tác dụngcủa các công cụ gián tiếp.Song, nó dễ làm mất đi tính khách quan của lãi suất trong nềnkinh tế vì thực chất lãI suất là “giá cả” của vốn do vậy nó phải được hình thành từ chínhquan hệ cung cầu về vốn trong nến kinh tế Mặt khác việc thay đổi quy định đIều chỉnh lãIsuất dễ làm cho các NHTM bị động,tốn kém trong hoạt động kinh doanh của mình

2.Công cụ gián tiếp:

2.1.Nghiệp vụ thị trường mở:

2.1.1.Khái niệm

Nghiệp vụ thị trường mở là hoạt động NHTW mua vào hoặc bán ra

những giấy tờ có giá => tác động trực tiếp đến nguồn vốn khả dụng củacác tổ chức tín dụng => điều tiết lượng cung ứng tiền tệ và tác động giántiếp đến lãi suất thị trường

Cơ chế tác động:Khi NHTW mua (bán)chứng khoán thì sẽ làm cho cơ số tiền tệ tăng

lên (giảm đi) dẫn đến mức cung tiền tăng lên (giảm đi)

Trang 6

Nếu thị trường mở chỉ gồm NHTW và các NHTM thì hoạt động này sẽ làm thay đổilượng tiền dự trữ của các NHTM (R ),nếu bao gồm cả công chúng thì nó sẽ làm thay đổingay lượng tiền mặt trong lưu thông(C)

Đặc điểm:Do vận dụng tính linh hoạt của thị trường nên đây được coi là

một công cụ rất năng động ,hiệu quả,chính xác của CSTT vì khối lượngchứng khoán mua( bán ) tỷ lệ với qui mô lượng tiền cung ứng cần đIềuchỉnh,ít tốn kém về chi phí ,dễ đảo ngược tình thế.Tuy vậy, vì được thựchiện thông qua quan hệ trao đổi nên nó còn phụ thuộc vào các chủ thểkhác tham gia trên thị trường và mặt khác để công cụ này hiệu quả thì cầnphảI có sự phát triển đồng bộ của thị trường tiền tệ ,thị trường vốn

+Ưu điểm:

- OMO có tác động nhanh, chính xác, được sử dụng ở bất kỳ mức độ nào

- OMO rất linh hoạt

- OMO là công cụ chính sách tiền tệ chủ động

-NHTW có thể kiểm soát được lượng tái cấp vốn không vay

2.2.Dự trữ bắt buộc:

2.2.1.Khái niệm :

Dự trữ bắt buộc là số tiền mà các TCTD buộc phải gửi tại NHTW theo luật định Số tiền này có thể được gửi toàn bộ vào tài khoản tiền gửi của TCTD tại NHTW hoặc được để một

Trang 7

phần tại quỹ tiền mặt của TCTD tuỳ theo quy định của NHTW từng nước.

Trước đây, dự trữ bắt buộc nhằm đảm bảo khả năng thanh toán cho TCTD trước nhu cầu rút tiền mặt của khách hàng và do đó hạn chế rủi ro thanh khoản cho cả hệ thống Tuy nhiên, theo thời gian ý nghĩa này giảm dần vì cho dù TCTD có duy trì một mức dự trữ bắt buộc lớn bao nhiêu thì khi rủi ro thanh khoản xảy ra, mức dự trữ này cũng không thể giúp TCTD chống đỡ được nguy cơ phá sản; Mặt khác, TCTD cũng không thể duy trì một mức dự trữ bắt buộc quá lớn vì đặc điểm của dự trữ bắt buộc là ko sinh lời, dự trữ bắt buộc càng cao thì lợi nhuận của TCTD càng giảm, điều này đi ngược lại mục tiêu hoạt động vì lợi nhuận của TCTD; Bên cạnh đó, sự phát triển của công nghệ ngân hàng luôn cho phép Các TCTD có thể sử dụng đa dạng các hình thức bảo hiểm rủi ro mà không cần phụ thuộc quá nhiều vào dự trữ tiền mặt Chính vì vậy hiện nay các nước thường duy trì một tỷ lệ dự trữ bắt buộc thấp Theo quyết định số 379/QĐ-NHNN của Thống đốc NHNN Việt Nam ngày 24/02/2009 về việc điều chỉnh tỷ lệ dự trữ bắt buộc của Các TCTD, tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với tiền gửi bằng đồng Việt Nam của Các TCTD là 1% - 3% , đối với tiền gửi bằng ngoại

tệ là 2% - 7% trên tổng số dư tiền gửi phải dự trữ bắt buộc.

1.2 Cơ chế tác động của dự trữ bắt buộc

1.2.1 Tác động đến lượng tiền cung ứng

Trong điều kiện các yếu tố khác không đổi nếu:

Trang 8

- NHTW giảm các yêu cầu về dự trữ bắt buộc (giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc)-> vốn khả dụng của các TCTD tăng -> hệ số nhân tiền tăng, cơ sở tiền tệ không thay đổi -> lượng tiền cung ứng tăng.

- NHTW tăng các yêu cầu về dự trữ bắt buộc (tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc) -> vốn khả dụng của các TCTD giảm -> hệ số nhân tiền giảm, cơ số tiền tệ không thay đổi -> lượng tiền cung ứng cũng giảm.

1.2.2 Tác động đến lãi suất thị trường tiền tệ

Trong điều kiện các yếu tố khác không đổi nếu:

- NHTW tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc -> Vốn khả dụng của các TCTD

Lãi suất thị trường tăng

- NHTW giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc -> vốn khả dụng của các TCTD tăng -> cung vốn tăng, MS tăng -> lãi suất thị trường giảm

2.2.3 Ưu, nhược điểm của công cụ dự trữ bắt buộc trong việc điều hành CSTT của NHTW

+Ưu điểm

Trang 9

- Tôn trọng sự cạnh tranh giữa các ngân hàng vì nó được áp dụng không phân biệt đối với mọi ngân hàng có điều kiện kinh doanh như nhau.

- NHTW có thể tác động nhanh và mạnh đến lượng tiền cung ứng thông qua việc thay đổi tỷ lệ dự trữ bắt buộc.

- NHTW có thể sử dụng công cụ dự trữ bắt buộc để thiết lập mối quan hệ phụ thuộc về vốn giữa NHTW và hệ thống ngân hàng.

+Nhược điểm

- Công cụ này tỏ ra thiếu linh hoạt vì một sự thay đổi nhỏ về tỷ lệ dự trữ bắt buộc có thể sẽ gây nên sự bất ổn định cho hoạt động kinh doanh của các ngân hàng, đặc biệt là những ngân hàng có dự trữ thứ cấp thấp:

- Việc tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc có thể ảnh hưởng ngay đến khả năng thanh khoản của ngân hàng -> có thể đẩy ngân hàng đến chỗ phá sản -> gây tác động dây truyền đến các ngân hàng khác.

- Việc tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc làm cho chi phí điều chỉnh bảng cân đối tài sản rất tốn kém vì ngân hàng có thể phải đi vay với lãi suất cao, bán chứng khoán với giá rẻ hoặc giảm bớt phần vốn cho vay.

- Dự trữ bắt buộc giống như một hình thức thuế thu nhập vô hình đối với các ngân hàng vì các ngân hàng phải giữ lại một phần tiền gửi theo yêu cầu

mà không được sử dụng cho mục đích sinh lời trong khi vẫn phải trả lãi tiền gửi cho khách hàng.

- Công cụ dự trữ bắt buộc rất ít khi được NHTW sử dụng để điều chỉnh những thay đổi nhỏ trong cung ứng tiền tệ.

Trang 10

- Xu hướng ngày nay ngày càng ít sử dụng công cụ dự trữ bắt buộc trong điều tiết tiền tệ Công cụ này thường được sử dụng kết hợp với các công cụ khác để điều chỉnh lượng vốn khả dụng của các TCTD khi cần thiết.

2.3.Lãi suất:

2.3.1.Khái niệm:

Lãi suất là tỷ lệ của tổng số tiền phải trả so với tổng số tiền vay trong một khoảng

thời gian nhất định Lãi suất là giá mà người vay phải trả để được sử dụng tiền không thuộc

sở hữu của họ và là lợi tức người cho vay có được đối với việc trì hoãn chi tiêu

Trang 11

 Cho vay theo chỉ định

 Cho vay theo hồ sơ tín dụng

-Cơ chế tác động: điều chỉnh lãi suất tái cấp vốn và lãi suất tái chiết khấu

-Ưu điểm: điều tiết lượng tiền cung ứng phù hợp giúp ngân hàng thương mại điều tiết vốn

-Nhược điểm:ngân hàng trung ương không nắm chắc được kết quả điều tiết bởi vì quyền quyết định thuộc về ngân hàng thương mại

2.5.Tỷ giá hối đoái:

khái niệm :tỉ giá hối đoái là đại lượng biều thị mối tương quan về mặt giá trịgiữa

hai đồng tiền.nói cách khác tỉ giá hối đoái là giá cả của một đơn vị tiền tệ nước nàyđược biểu hiện bằng một đơn vị tiền nước khác

Cơ chế tác động:tác động đến hoạt động kinh tế , từ hoạt động xuất nhập khẩu đến

sản xuất kinh doanh và tiêu dùng trong nước qua biến đổi của giá cả hàng hóa

Đặc điểm:ngân hàng trung ương có thể ấn định tỉ giá cố định hay tha nổi theo quan

hệ cung cầu ngoai tệ trên thị trường ngoại hối bện canh đó còn có tỉ gái cố địnhnhưng di động khi cần thiết và tỉ giá thả nổi có quản lý.khi vận dung công cụ nàykhông phải NHTU đẩy tỉ giá lên cao hay kéo tỉ giá xuống thấp mà ổn định tỉ giá ởmột mức độ hợp lí phù hợp vói đặc điểm điều kiện thực tế của đất nước trong từnggiai đoạn để tác động chung cuộc của nó là tốt nhất

Phần 2: Thực trạng việc sử dụng các công cụ chính sách tiền tệ ở Việt Nam:

I Sự đổi mới trong việc thực hiện chính sách tiền tệ

Trang 12

Kể khi đất nước chuyển sang nền kinh tế thị trường thì quá trình thực hiện chính sáchtiền tệ cũng được xây dựng, đổi mới theo đúng ý nghĩa kinh tế của nó và phù hợp với thựctiễn Việt Nam, thể hiện ở một số mặt sau:

Cách xác định lượng tiền cung ứng: Nếu như trong thời kỳ bao cấp chúng ta chỉ quanniệm lượng tiền cung ứng cho nền kinh tế chỉ bao gồm tiền mặt và mức cung là bao nhiêu,

ở thời kỳ nào là do chính phủ phê duyệt thì ngày nay việc quan niệm về lượng tiền cungứng để thay đổi bên cạnh lượng tiền mặt (C) còn tính đến khả năng tạo tiền của cácNHTM, tổ chức tín dụng khác (D) Bên cạnh đó lượng tiền cung ứng hàng năm phải dựatrên cơ sở: tỉ lệ lạm phát ước tính, tốc độ tăng trưởng kinh tế theo kế hoạch, vòng quay tiềntệ

Việc sử dụng các công cụ của chính sách tiền tệ: Được sử dụng một cách linh hoạt,phù hợp với điều kiện Việt Nam ở các thời điểm cụ thể chứ không đông cứng, đóng băngnhư thời kì bao cấp (lãi mất cố định nhiều năm )

Cơ chế điều hành: Năm 1988, Hệ thlống NH đã được phân thành 2 cấp NHNN vàcác NHTM, trong đó NHNN là cơ quan quản lý Nhà nước trên lĩnh vực tiền tệ- tín dụng-ngân hàng; trực thuộc chính phủ Thống đốc NHNN có quyền chủ động hơn và chịu tráchnhiệm trực tiếp trong việc thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia

II.Chính sách tiền tệ của Việt Nam trong những năm vừa qua:

Mặt bằng lãi suất huy động và cho vay bằng VND nhìn chung thấp, trừ những năm 2008 và 2009 Tháng 8/2000, cơ chế điều hành lãi suất cho vay bằng VND được chuyển từ cơ chế trần lãi suất sang lãi suất cơ bản; Lãi suất tái cấp vốn và lãi suất tái chiết khấu cũng được điều chỉnh tăng, giảm phù hợp mục tiêu điều tiết lượng vốn huy động và cho vay tín dụng hàng năm Năm

2001, lãi suất từng bước được điều hành theo hướng tự do hóa và phù hợp với mục tiêu CSTT Từ năm 2003, việc điều hành CSTT chuyển biến theo hướng nới lỏng một cách thận trọng Lãi suất tái cấp vốn được điều chỉnh dần là lãi suất trần; lãi suất chiết khấu được điều chỉnh là lãi suất sàn của thị trường; lãi suất nghiệp vụ thị trường mở được được điều chỉnh linh hoạt trong khoảng giữa lãi suất tái cấp vốn với lãi suất chiết khấu Từ tháng 1/2005- 8/ 2008,

Trang 13

NHNN đã tăng lãi suất cơ bản, lãi suất tái cấp vốn và lãi suất tái chiết khấu nhằm thắt chặt hơn tiền tệ, qua đó kiểm soát lạm phát đang có xu hướng gia tăng Từ ngày 21/10/2008 lãi suất cơ bản của NHNN được điều chỉnh giảm, lãi suất cho vay tối đa bằng VND của các TCTD đối với khách hàng (150% lãi suất cơ bản) cũng giảm tương ứng; Trong 6 tháng đầu năm 2008, lãi suất huy động USD được điều chỉnh tăng với mức lãi suất huy động USD cao nhất

là 7-8%/năm; Lãi suất cho vay USD cũng tăng lên khoảng 2-2,5%/năm so với đầu năm 2008 (lãi suất cho vay phổ biến khoảng 9-9,5%/năm) Sau đó liên tục giảm từ 2- 3%/năm.

Loại Lãi suất Giá trị Văn bản quyết định Ngày áp dụng

Lãi suất cơ bản

Chính sách lãi suất là một trong những công cụ chính của chính sách tiền tệ Tuỳthuộc vào từng mục tiêu của chính sách tiền tệ, Ngân hàng Nhà nước áp dụng cơchế điều hành lãi suất phù hợp, nhằm ổn định và phát triển thị trường tiền tệ, tạođiều kiện thuận lợi cho hoạt động ngân hàng và sự phân bổ có hiệu quả các nguồnvốn trong nền kinh tế Đầu năm 2008, trong một loạt các biện pháp kiềm chế lạmphát, Ngân hàng Nhà nước đã đưa ra Quyết định số 187/2008/QĐ-NHNN về việctăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc nhằm rút bớt tiền từ lưu thông về, chủ động kiểm soát tốc

độ tăng tổng phương tiện thanh toán và tăng trưởng dư nợ tín dụng phù hợp với các

Trang 14

mục tiêu kinh tế vĩ mô Theo Quyết định, Ngân hàng Nhà nước sẽ mở rộng diện cácloại tiền gửi phải dự trữ bắt buộc, bao gồm các loại tiền gửi không kỳ hạn và có kỳhạn, thay cho việc áp dụng dự trữ bắt buộc đối với tiền gửi không kỳ hạn và có kỳhạn từ 24 tháng trở xuống trong thời gian qua Tiếp đó là quyết định số 346/QĐ-NHNN về việc phát hành tín phiếu Ngân hàng Nhà nước bằng tiền đồng dưới hìnhthức bắt buộc đối với các tổ chức tín dụng nhằm thu hút 20.300 tỉ đồng.

Không kỳ hạn và dưới

12 tháng

Từ 12 tháng trở lên

Các NHTM Nhà nước (không bao

gồm NHNo & PTNT), NHTMCP đô

thị, chi nhánh ngân hàng nước

ngoài, ngân hàng liên doanh, công

ty tài chính, công ty cho thuê tài

chính

Ngân hàng Nông nghiệp và Phát

triển nông thôn

NHTMCP nông thôn, ngân hàng

hợp tác, Quỹ tín dụng nhân dân

Trung ương

TCTD có số dư tiền gửi phải tính

dự trữ bắt buộc dưới 500 triệu

Trang 15

Trước tình hình đó, Ngân hàng Nhà nước đã quy định trần lãi suất huy động là12%/năm theo công điện số 02/CĐ-NHNN ngày 26/02/2008 nhằm hạn chế cuộcđua này Đến ngày 17/05/2008, Ngân hàng Nhà nước thông báo những điều chỉnhtrong chính sách điều hành lãi suất Đó chính là Quyết định số 16/2008/QĐ-NHNN

về cơ chế điều hành lãi suất cơ bản bằng đồng Việt Nam Theo Quyết định này, các

tổ chức tín dụng ấn định lãi suất kinh doanh (lãi suất huy động và lãi suất cho vay)bằng đồng Việt Nam không vượt quá 150% của lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhànước công bố áp dụng trong từng thời kỳ; quyết định số 546/2002/QĐ-NHNN ngày

30 tháng 5 năm 2002 về việc thực hiện cơ chế lãi suất thỏa thuận trong hoạt độngtín dụng thương mại bằng VNĐ của tổ chức tín dụng đối với khách hàng hết hiệulực thi hành Việc huy động vốn bằng VNĐ của các tổ chức tín dụng phù hợp vớiquy định về cơ chế điều hành lãi suất cơ bản, mức trần lãi suất huy động 12%/nămtheo công điện số 02/CĐ-NHNN ngày 26/02/2008 cũng không còn hiệu lực

Qua đó, đã ngăn chặn được nguy cơ xáo trộn thiị trường tiền tệ và mất khả năngthanh toán của các Ngân hàng thương mại trong những tháng cuối năm 2008; antoàn hệ thống ngân hàng được đảm bảo, củng cố lòng tin của các nhà đầu tư, doanhnghiệp và người dân đối với hệ thống ngân hàng Khắc phục được tình trạng cạnhtranh không lành mạnh trong huy động vốn giữa các Ngân hàng thương mại Cùngvới diễn biến lạm phát có xu hướng giảm, kinh tế vĩ mô ổn định và hoạt động củacác Ngân hàng thương mại đảm bảo khả năng thanh toán, làm cho thị trường tiền tệ

và lãi suất trong năm 2009 tương đối ổn định

Biện pháp điều hành lãi suất đã có hiệu lực và hiệu quả đối với hoạt động kinhdoanh của Ngân hàng thương mại và lãi suất thị trường, thể hiện là lãi suất huyđộng và cho vay của các Ngân hàng thương mại biến động theo cung - cầu vốn vàtăng, giảm theo sự thay đổi của các mức lãi suất điều hành của Ngân hàng Nhànước , đã tác động làm thu hẹp hoặc mở rộng tín dụng Năm 2008 và những thángđầu năm 2009, tăng trưởng tổng phương tiện thanh toán và tín dụng phù hợp vớichủ trương thắt chặt hoặc nới lỏng tiền tệ một cách thận trọng

Trang 16

Việc điều hành linh hoạt lãi suất, vừa là công cụ điều tiết thị trường, vừa là độngthái phát tín hiệu về chủ trương của Chính phủ và giải pháp điều hành chính sáchtiền tệ của Ngân hàng Nhà nước là thắt chặt hay mở rộng tiền tệ, đã và đang trởthành một chỉ số kinh tế quan trọng trên thị trường tài chính, tiền tệ, được các tổchức, các nhân trong và ngoài nước quan tâm, theo dõi, dự báo và có phản ứng khánhanh nhạy, tích cực về hoạt động đầu tư, tiết kiệm và tiêu dùng Kết quả này có ýnghĩa rất quan trọng, thể hiện được vai trò và những tác động tích cực của chínhsách tiền tệ đối với việc kièm chế lạm phát và điều tiết kinh tế vĩ mô.

Dự trữ bắt buộc được điều chỉnh hàng năm tăng hoặc giảm cả về khối lượng, diện phải DTBB và lãi suất tiền gửi nhằm khống chế mức vốn khả dụng của các NHTM Tháng 5/2001 tăng tỷ lệ DTBB bằng ngoại tệ lên 15%, giảm tỷ lệ DTBB bằng VND xuống 3%; tháng 11/2001 giảm tỷ lệ DTBB bằng ngoại tệ xuống còn 10% Từ năm 2003, các TCTD được tính cả tiền gửi DTBB tại các chi nhánh NHNN, đây là bước khởi đầu cho việc thực hiện mục tiêu tăng cường khả năng điều tiết tiền tệ của công cụ này Để thực hiện mục tiêu kiềm chế lạm phát, tháng 2/2008 NHNN điều chỉnh tăng 1% tỷ lệ DTBB đối với tất cả các kỳ hạn, áp dụng cho cả tiền gửi VND và ngoại tệ đối với hầu hết các TCTD (trừ NH Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam,

và một số TCTD hợp tác và NHTMCP nông thôn) Đồng thời mở rộng đối với loại tiền gửi kỳ hạn từ 24 tháng trở lên (trước đây chỉ bao gồm tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 24 tháng) nhằm nâng cao khả năng điều tiết công cụ DTBB Những tháng cuối năm, để ngăn chặn suy giảm kinh tế, NHNN đã điều chỉnh giảm tỷ lệ DTBB đối với tiền gửi bằng VND từ 11% xuống 6% và tiền gửi bằng ngoại tệ từ 11% xuống 7%.

Tỷ giá VND/USD có xu hướng tăng nhẹ, nhưng nhìn chung được giữ tương đối ổn định trong thời gian dài Đặc biệt, riêng năm 2006 tỷ giá VND/USD lần đầu được điều hành thử nghiệm theo cơ chế tỷ giá thả nổi thận trọng, có quản lý, thực hiện can thiệp mua bán ngoại tệ trên thị trường theo mục tiêu điều hành Tỷ giá VND/USD trong năm 2008 được điều hành

Trang 17

một cách linh hoạt phù hợp với diễn biến thị trường, kịp thời bám sát các diễn biến trên thị trường, có chính sách điều hành tỷ giá thích hợp Trong năm

2008, NHNN đã 3 lần mở rộng biên độ tỷ giá giao dịch giữa đồng Việt Nam

và đô la Mỹ, đưa biên độ tỷ giá từ ±0,75% lên ±1%, ±2% và ±3% so với tỷ giá bình quân liên ngân hàng Từ ngày 25/12/2008, NHNN đã thực hiện điều chỉnh tỷ giá bình quân trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng áp dụng tăng 3% lên mức 16.989 đ/USD

Nghiệp vụ thị trường mở (khai trương tháng 7/2000), đã góp phần điều chỉnh vốn khả dụng của các tổ chức tín dụng Từ năm 2004, Nghiệp vụ thị trường mở được tăng cường sử dụng như một công cụ chủ yếu điều tiết tiền

tệ, không chỉ khắc phục hiện tượng mất cân đối cung cầu ngoại tệ, mà còn tạo điều kiện cho NHNN tăng dự trữ ngoại hối Các giao dịch nghiệp vụ thị trường mở được thực hiện hàng ngày, chủ yếu được thực hiện theo phương thức đấu thầu khối lượng, công bố lãi suất Trong năm 2007, nghiệp vụ thị trường mở đã có những đổi mới như cố định phiên mua, thay đổi phương thức đấu thầu nhằm bám sát mục tiêu điều hành CSTT và diễn biến vốn bằng VND của các TCTD Tổng doanh số giao dịch trên thị trường này tăng nhanh và liên tục qua các năm (năm 2004 đạt 61.936 tỷ đồng, bằng khoảng 3 lần năm

2003, năm 2005 tăng 65,5% so với năm 2004, năm 2006 tăng 45% so với năm 2005, năm 2007 tăng 113% so với năm 2006; năm 2008 doanh số giao dịch tăng khoảng 25% so với năm 2007…)

Nhờ những chính sách phù hợp nêu trên, về tổng thể, tình hình thị trường tiền tệ trong nước được giữ ổn định, không có đột biến lớn (trừ lạm phát cao năm 2007-2008), mặc dầu lãi suất và tỷ giá có những diễn biến phức tạp; hiện tượng găm và gửi tiết kiệm bằng ngoại tệ cao Thị trường tiền tệ liên ngân hàng thường ở trong tình trạng cầu ngoại tệ lớn hơn cung (trừ những tháng đầu năm 2008); Tổng phương tiện thanh toán và tốc độ trăng trưởng tín dụng hàng năm tăng liên tục với tốc độ khá cao (so năm trước thì năm 2001 tổng

Trang 18

phương tiện thanh toán và tốc độ trăng trưởng tín dụng tăng 25,53% và 21,44% Năm 2002, tổng phương tiện thanh toán tăng 17,7%; tốc độ huy động vốn tăng 19,4% Năm 2004 tổng phương tiện thanh toán tăng 30,39%, năm 2006 tăng 33,59% và năm 2007 tăng 46,12% Năm 2007, dư nợ cho vay của hệ thống ngân hàng tăng 53,89% so với năm 2006, cao hơn nhiều so với tốc độ tăng trưởng 36,53% của năm 2006, mức 32,08% của năm 2005 và mức tăng 41,65% của năm 2004 Năm 2008, dư nợ cho vay của toàn hệ thống ngân hàng chỉ còn tăng 25,43%, tăng trưởng huy động vốn đạt 22,87%, thấp hơn nhiều so với mức tăng trưởng 47,64% của năm 2007, trong đó, huy động vốn bằng VND tăng 21,38%, giảm mạnh so với mức tăng trưởng 53,99% của năm

2007 Huy động bằng ngoại tệ tăng 27,74%, giảm nhẹ so với mức 29,66% của năm 2007 Đặc biệt, tỷ trọng tiền mặt trong tổng phương tiện thanh toán năm

2001 là 23,7%, năm 2002 là 22,56%, năm 2003 là 22,03%, năm 2004 là 20,35%, năm 2005 là 19,01%, năm 2006 là 17,21%, năm 2007 là 16,36% và năm 2008 là 14,6% - Điều này cho thấy cơ cấu tổng phương tiện thanh toán ngày càng được cải thiện theo hướng giảm dần tỷ lệ tiền mặt trong nền kinh tế…

.

Trang 19

- Về lãi suất

Sau hơn hai năm giữ ổn định ở mức 8,25%/năm, lãi suất cơ bản (LSCB) đã được NHNN điều chỉnh tăng lên mức 8,75% từ 01/02/2008 và nhảy vọt lên mức 12% từ 19/05/08 Chưa đầy 1 tháng sau đó, từ ngày 11/06/09, LSCB đã được đẩy lên mức đỉnh – 14% Cùng với LSCB, lãi suất tái chiết khấu (LSTCK), lãi suất tái cấp vốn (LSTCV) cũng liên tiếp được điều chỉnh tăng với đỉnh tương ứng là 13% và 15% áp dụng trong khoảng thời gian từ 11/06/08-20/10/08 Tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với các TCTD cũng được điều chỉnh tăng trong khi lãi suất DTBB bị điều chỉnh giảm NHNN còn phát hành trên 20.000 tỷ đồng tín phiếu bắt buộc đối với các NHTM.

Hình 1: Diễn biến LSCB của Việt Nam thời gian qua

Chính sách tiền tệ thắt chặt với hàng loạt các động thái quyết liệt trên đã tạo

ra một lực hút mạnh thu hút tiền từ lưu thông đồng thời làm giảm mạnh cấp tín dụng từ các NHTM ra thị trường Và kết quả là lạm phát đã bị chặn đứng

và đẩy lùi từ đỉnh điểm 3,91%/tháng (tương đương 25,2%/năm) trong tháng

5 xuống các mức thấp hơn trong quý 3 và thậm chí âm trong các tháng cuối

Trang 20

năm Tỷ lệ lạm phát cả năm 2008 chỉ còn là 19,89% Sau khi đã thực hiện thành công vai trò kiềm chế lạm phát, NHNN đã từng bước nới lỏng chính sách tiền tệ và lãi suất vẫn là một công cụ hết sức quan trọng LSCB đã hạ dần từ đỉnh 14% xuống 13% (từ 21/10/08), 12% (từ 05/11/08) và liên tiếp được điều chỉnh tới 3 lần trong vòng 1 tháng cuối năm

2008 (11% từ 21/11/08, 10% từ 05/12/08, 8,5% từ 22/12/08) trước khi giữ

ổn định ở mức 7% (từ 01/02/09) như hiện nay Cùng với LSCB, LSTCK, LSTCV cũng được điều chỉnh giảm; các NHTM được bán tín phiếu bắt buộc trước hạn; Tỷ lệ dự trữ bắt buộc được nới lỏng dần đi kèm với việc điều chỉnh lãi suất DTBB Các công cụ trên đã tác động mạnh tới thị trường, làm tăng dần mức cung tiền cho nền kinh tế Tăng trưởng tín dụng 2008 đạt ~ 23% (bằng gần ½ mức tăng của năm 2007), riêng 6 tháng đầu năm 2009 đạt

~ 17,1%, tăng ~ 17,8% so với cùng kỳ 2008 Tăng trưởng tín dụng đã góp phần chặn đà suy giảm, ổn định kinh tế vĩ mô.

Diễn biến tỷ giá ngoại tệ của Việt Nam từ đầu năm 2008 đến nay là hết sức phức tạp Trong quý 1/2008, có những lúc tỷ giá USD liên ngân hàng xuống dưới 16.000 và tỷ giá thị trường tự do thậm chí còn thấp hơn trong ngân hàng Nhưng chỉ qua đầu quý 2, tỷ giá lại tăng đến chóng mặt, có lúc đã lên

NHNN đã quyết định nới biên độ dao động từ +1% lên +2% (từ ngày 26/06/08) đồng thời triển khai hàng loạt các biện pháp khác: kiểm soát chặt các đại lý thu đổi ngoại tệ, tăng cường truyền thông, công bố dự trữ ngoại hối của Việt Nam (điều chưa hề có tiền lệ tại Việt Nam), … Nhờ đó, tỷ giá

đã dần dịu lại và duy trì ở mức ~ 16.500 cho đến hết quý 3/08.

Từ cuối năm 2008 đến nay, suy thoái kinh tế đã tác động mạnh đến nguồn cung ngoại tệ của Việt Nam; cộng thêm tâm lý găm giữ ngoại tệ của dân cư

và các thành phần kinh tế đã dẫn đến tình trạng khan hiếm ngoại tệ, làm cho

tỷ giá ngoại tệ luôn nóng, phố biến ở mức ~ 18.000 NHNN đã thêm hai lần

Trang 21

điều chỉnh biên độ dao động tỷ giá (+3% từ 06/11/08 và +5% từ 23/03/09)

và triển khai một số công cụ can thiệp khác Vì vậy, tỷ giá ngoại tệ đang dần

ổn định, nhu cầu ngoại tệ trong thanh toán những mặt hàng thiết yếu được

Đầu năm 2009, Chính Phủ đã đưa ra gói kích cầu bao gồm các nhóm giải pháp cơ bản: (i)Với doanh nghiệp: giảm, giãn thuế TNDN, hỗ trợ lãi suất ở mức 4%; Với dân cư: trợ cấp người nghèo, giãn/miễn thuế TNCN, giảm VAT, đào tạo lao động; (3) Về phía Chính Phủ: tăng đầu tư cơ sở hạ tầng, tăng chi tiêu công, đẩy mạnh xúc tiến thương mại để tăng xuất khẩu Nổi bật và có tác động rõ rệt nhất là chính sách hỗ trợ lãi suất mà ở đó vai trò của hệ thống ngân hàng và các công cụ chính sách tiền tệ một lần nữa lại

Đến hết tháng 7/2009, tổng dư nợ cho vay HTLS của toàn hệ thống ngân hàng đã đạt 389.107 tỷ đồng, trong đó dư nợ đối với các doanh nghiệp nhà nước là 61.048 tỷ đồng, doanh nghiệp ngoài quốc doanh là 259.454 tỷ đồng

và với hộ kinh doanh là 68.605 tỷ đồng.

Để đối phó với suy thoái, Chính Phủ của hầu hết các nước đều đưa ra các gói

hỗ trợ lên tới hàng ngàn tỷ USD với cách thức chủ yếu là hỗ trợ trực tiếp: mua tài sản xấu, sở hữu vốn của các tập đoàn tài chính và tập đoàn công nghiệp lớn; chi tiền cho người nộp thuế, người tiêu dùng; thưởng tiền cho người hủy xe cũ, mua xe mới, … Gói hỗ trợ của Chính Phủ Việt Nam được định lượng là 1 tỷ USD (trên 17.000 tỷ đồng) với cách làm rất sáng tạo, rất linh hoạt, rất “made in Việt Nam” Phần lớn tiền hỗ trợ không được chi trực tiếp mà được hỗ trợ gián tiếp thông qua hỗ trợ lãi suất Bằng cách này chúng

ta đã kích thích tăng trưởng mạnh tín dụng, giúp các doanh nghiệp có được nguồn vốn giá rẻ nên giảm được giá thành sản phảm, duy trì ổn định sản xuất, kích thích được nhu cầu trong nước, … Cũng đã có nhiều ý kiến trái chiều về chính sách hỗ trợ lãi suất của Chính

Trang 22

Phủ rằng can thiệp như vậy sẽ làm méo mó hoạt động của các NHTM, làm như vậy thực chất là kích cung chứ không phải kích cầu, nên hạ lãi suất thay

vì “trợ giá” qua lãi suất, nên hỗ trợ trực tiếp cho doanh nghiệp và người dân,

… Và công bằng mà nói, chính sách này cũng đã gây ra một số tác động không mong muốn như: làm thay đổi cung cầu vốn ngoại tệ và VND (nhu cầu vay vốn VND tăng mạnh, một số khách hàng trả nợ trước hạn, trả nợ vay ngoại tệ chuyển sang vay bằng VND, …); tạo sức ép cho tỷ giá,… Tuy nhiên, sau hơn nửa năm thực hiện hỗ trợ lãi suất, thực tệ ngày càng

minh chứng cho tính đúng đắn của công cụ này Thứ nhất, số tiền hỗ trợ của

Chính Phủ có quy mô không lớn, sẽ không có tác dụng đáng kể nếu chi hỗ trợ trực tiếp cho doanh nghiệp và dân cư; chưa kể quá trình thực hiện có thể

phát sinh nhiều tiêu cực Thứ hai, nếu hạ lãi suất chúng ta có thể bị rơi vào

“bẫy thanh khoản, các NHTM không huy động được và cũng không cho vay được Và rõ ràng là nếu không tăng được tín dụng cho nền kinh tế thì việc

kích cầu chẳng có ý nghĩa gì Thứ ba, hỗ trợ lãi suất qua tín dụng sẽ khuyến

khích thúc đẩy sản xuất, kích thích tiêu dùng và vẫn đảm bảo các NHTM

vẫn huy động được Thứ 4, số tiền hỗ trợ qua tín dụng được khuyếch đại lên

nhiều lần (~ 32 lần) tạo ra một nguồn vốn lớn cho đầu tư và tiêu dùng xã hội

III.Chính sách tiền tệ của NHNN VN trong những năm 2009:

Từ cuối năm 2006 đến giữa đầu năm 2007, nền kinh tế VN nổi lên với nhiều sự

kiện, chỉ tiêu đầy hứa hẹn Khi VN chính thức là thành viên của WTO, lượng

vốn đầu tư nước ngoài và kiều hối vào VN tăng đột biến (năm 2007 đã tới 20 tỉ

USD) 2007 là năm ảm đạm trong nề Kinh tế Mĩ khi mà đồng đô la xuống giá

nghiêm trọng Sự suy thoái của nền kinh tế lớn nhất thế giới này đã khiến cho nhiều nền kinh tế khác trên thế giới chịu ảnh hưởng, trong đó có Việt Nam

Trang 23

Đồng tiền mất giá là ấn tượng đáng nhớ nhất trong năm 2007 và đầu năm 2008.

Về nguyên tắc, khi luồng vốn nước ngoài đầu tư vào VN tăng, VN Đồng (VND) sẽlên giá để tạo ra điểm cân bằng.Tuy nhiên NHNN đã can thiệp thị trường ngoại hốinhằm giảm áp lực tăng giá VND:

 NHNN VN phát hành VND mua lại lượng ngoại tệ này với mục đích kìm tỉgiá của VND với đồng Đô la Mỹ (USD) thấp hơn điểm cân bằng nhằm nângcao tính cạnh tranh của hàng xuất khẩu về giá cả Giữ VND yếu là một hìnhthức trợ giá cho hàng xuất khẩu

 Điều chỉnh tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc tăng gấp 2 lần so với mức của năm

2006 để hạn chế mức độ dư thừa vốn khả dụng của các TCTD, qua đó hạnchế tăng trưởng tín dụng vào những lĩnh vực kém hiệu quả, giảm sức ép tănglạm phát trong những tháng cuối năm

 Giữ ổn định các mức lãi suất chính thức do NHNN công bố, nhằm phát tínhiệu ổn định lãi suất thị trường

 Hạn chế cho vay có bảo đảm bằng cầm cố giấy tờ có giá, thực hiện cho vaychiết khấu trong hạn mức phân bổ

 Tỉ giá linh hoạt với việc nới lỏng biên độ tỷ giá từ 0,25% lên 0,5% vào đầunăm và đến 12/12/2007, tiếp tục nới rộng biên độ lên 0,75%

Tuy nhiên, mặt trái của chính sách thị trường mở là Ngân hàng nhà nước đã phảicung ra số lượng khổng lồ tiền đồng để mua hết số đô la này, Đồng đô la mất giá,đồng nghĩa với việc tiền Việt lên giá Người ta lại dồn dập bán đô la để thu tiềnViệt Cung tiền đồng lại phải tăng thêm để giữ tỉ giá hối đoái (VND/USD) khỏixuống quá thấp, làm cho lượng cung tiền của VN từ năm 2005 đến hết tháng 6/2007tăng tổng cộng 110% Đây là mức tăng rất lớn, là tác nhân quan trọng đối với lạmphát Con số lạm phát lên đến 12.63% so với chỉ số tăng GDP là 8.5% - nghĩa là vềthực chất chúng ta tăng trưởng âm

Trang 24

Chính sách tỷ giá hiện nay đã ảnh hưởng hạn chế nhất định đối với nền kinh tế Mặc

dù ngay từ đầu năm 2007, NHNN bắt đầu thực hiện nới lỏng biên độ tỷ giá từ0,25% lên 0,5% và đến 12/12/2007, tiếp tục nới rộng biên độ lên 0,75%, nhưng vớibiên độ dao động chưa đáng kể, chưa đủ thích ứng với môi trường bên ngoài

Điều chỉnh tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc tăng gấp 2 lần so với mức của năm 2006 đểhạn chế mức độ dư thừa vốn khả dụng của các TCTD

Kết quả đạt đựoc trong năm 2007:

- Qui mô thị trường tiền tệ mở rộng và ổn định, không để xẩy ra những cú sốc vềlãi suất và tỷ giá trước những biến động khó lường của tình hình thị trường tài chínhquốc tế :

+ Lãi suất thị trường liên ngân hàng mặc dù có biến động mạnh trong vàingày giữa tháng 11/2007, song, nhìn chung, mặt bằng lãi suất trong năm ổn định: lãisuất huy động và cho vay của TCTD vẫn giữ được ổn định và có xu hướng giảmnhẹ so với cuối năm 2006, tạo điều kiện cho việc huy động vốn và đầu tư cho tăngtrưởng kinh tế Tính đến cuối tháng 9/2007, huy động vốn của các TCTD tăng31,2%, ước cả năm tăng 39,6%, cao hơn tốc độ tăng 33,1% của năm 2006; tín dụngđến cuối tháng 9 tháng tăng 30,9%, ước cả năm tăng 37,8%, cao hơn nhiều so vớitốc độ tăng 22,8% của năm 2006)

Lãi suất năm 2007

Trang 25

VND và ổn định thị trường tiền tệ Mặt khác, tỷ giá thực thấp hơn tỷ giá hối đoáidanh nghĩa trên thị trường, cho nên tác động khuyến khích xuất khẩu, kiểm soátnhập khẩu, hỗ trợ ổn định lãi suất VND

- Diến biến tổng phương tiện thanh mặc dù tăng cao, nhưng cơ cấu thay đổi theochiều hướng tích cực:

+ Tỷ lệ tiền mặt trên TPTTT giảm từ mức 19,3% năm 2006 xuống mức17,8% năm 2007

+ Tỷ lệ ngoại tệ trên tổng tiền gửi từ mức 25,9% năm 2007 xuống còn 22,6%năm 2007 - giảm mức độ đô la hoá của nền kinh tế

- Hỗ trợ tích cực cho tăng trưởng kinh tế :

+ Trong hoạt động đầu tư tín dụng của các TCTD có những diễn biến tích cực,các sản phẩm dịch vụ tín dụng đã được đa dạng hơn, nhiều lĩnh vực cho vay đầu tưđược mở rộng, các doanh nghiệp vừa và nhỏ có nhiều điều kiện thuận lợi tiếp cậnnguồn vốn vay ngân hàng để phát triển sản xuất, tạo công ăn việc làm, giảm tỷ lệthất nghiệp góp phần ổn định xã hội, cho vay phát triển nông nghiệp nông thôn, chovay chính sách hỗ trợ các hộ nghèo, hộ sản xuất kinh doanh vùng khó khăn cũngđược mở rộng, góp phần tích cực thực hiện mục tiêu xoá đói giảm nghèo Bên cạnh

đó, việc cho vay tiêu dùng cũng được mở ra rất đa dạng đáp ứng đầy đủ các nhu cầucủa xã hội

+ Tín dụng đầu tư vào thị trường chứng khoán được kiểm soát chặt chẽ và giảmdần cả số tuyệt đối và tỷ lệ dư nợ qua các tháng, góp phần thúc đẩy thị trườngchứng khoán phát triển ổn định Tín dụng đối với lĩnh vực bất động sản cũng đượctheo dõi, giám sát chặt chẽ nhằm góp phần hạn chế những tiềm ẩn rủi ro trong hoạtđộng ngân hàng và thúc đẩy thị trường bất động sản phát triển bến vững

+ Chất lượng tín dụng được cải thiện: Tỷ lệ nợ xấu tháng 9/2006 là 2,2%, có xuhướng giảm so với tỷ lệ nợ xấu tháng 12/2006 (2,64%), trong đó tỷ lệ nợ xấu củacác nhóm TCTD đều giảm Cụ thể là: tỷ lệ nợ xấu của các NHTM nhà nước là 2,8%(giảm 0,4%); tỷ lệ nợ xấu của các NHTM cổ phần là 1,26% (giảm 0,34%); tỷ lệ nợxấu của các ngân hàng liên doanh và chi nhánh nước ngoài là 0,8% (giảm 0,4%); tỷ

lệ nợ xấu của các TCTD khác là 2,4% (giảm 0,5%)

Trang 26

Thách thức trong năm 2007:

- Dòng vốn đầu tư nước ngoài vào nhiều (Theo số liệu thống kê đến tháng 10/2007,doanh số phát sinh tiền gửi bằng VND của người không cư trú tại các NHTM thì cókhoảng 13 tỷ USD của người không cư trú được chuyển cho người cư trú cho mụcđích đầu tư vào thị trường chứng khoán, đầu tư vào bất động sản và chi tiêu các nhucầu tiêu dùng khác trong nước) sẽ gây khó khăn trong việc kiểm soát khối lưọngtiền và kiểm soát lạm phát

- Chính sách tỉ giá với biên độ giao động nhỏ làm cho nền kinh tế chưa kịp thíchứng với môi trường bên ngoài

- Cần thay đổi chính sách tỉ giá biên độ giao động nhỏ bằng chính sách tỉ giá biên

+ NHNN đã hút được một lượng tương đối lớn vốn khả dụng dư thừa của cácTCTD, đồng thời vẫn điều tiết kịp thời sự thiếu hụt vốn mang tính thời điểmcủa một số TCTD, đảm bảo duy trì ổn định tiền tệ, ổn định lãi suất thị trường

Trang 27

+ Giữ ổn định các mức lãi suất chính thức do NHNN công bố, nhằm phát tínhiệu ổn định lãi suất thị trường NHNN đã chính thức thực hiện bỏ qui định vềtrần lãi suất tiền gửi USD của pháp nhân tại TCTD để hoàn toàn tự do hóa lãisuất thị trường, phù hợp với tiến trình hội nhập quốc tế

+ Hạn chế cho vay có bảo đảm bằng cầm cố giấy tờ có giá, thực hiện cho vaychiết khấu trong hạn mức phân bổ

+ NHNN đã quản lý an toàn dự trữ ngoại hối Nhà nước, đáp ứng mục tiêuthanh khoản và sinh lời ở mức độ nhất định Tổng dự trữ ngoại hối Nhà nước tínhtheo tuần nhập khẩu hàng hoá và dịch vụ tăng từ mức 13,6 tuần vào thời điểm cuốinăm 2006 lên gần 18 tuần năm 2007

2) Giai đoạn: năm 2008:

Năm 2008 là năm có nhiều khó khăn và thử thách đối với hoạt động của ngành Ngân hàng

Lạm phát tăng cao và không có dấu hiệu dừng và chia làm 2 giai đoạn:

a Giai đoạn t ừ đầu năm đến tháng sáu: NHNN Việt Nam quyếtđịnh nâng dự trữ bắt buộc đối với các NHTM và qui định các NH mua tráiphiếu NHNN Kèm với đó là hạn chế tăng trưởng tín dụng nóng bằng việckhống chế ở mức 30% Ngoài ra, còn hàng loạt chính sách để hỗ trợ thịtrường chứng khoán, hạn chế cho vay đối với bất động sản

- Hai quý đầu của năm 2008, cùng với những bất ổn trên thị trường tài chính thế

giới, tình hình kinh tế trong nước cũng diễn biến hết sức phức tạp Giá dầu thô tăngcao, cộng với sự dồn tích khá lâu về lượng tiền thừa đã làm cho thị trường hàng hoáViệt Nam có hiện tượng “bốc hoả” về giá So với tháng 12 năm 2007, giá tiêu dùngtăng 17,18%, mức cao nhất so với nhiều năm trở lại đây Trong đó đáng quan tâmnhất là hai nhóm hàng lương thực và thực phẩm: lương thực tăng 59,44%, thựcphẩm tăng 21,83%, đã góp phần đẩy chỉ số lạm phát bình quân 6 tháng đầu năm lênmức 2,86%/tháng Đến cuối tháng 6, chỉ số lạm phát tuy có tăng chậm lại nhưngvẫn ở mức cao nhất so với tháng 6 của nhiều năm trước (2,14%)

Ngày đăng: 17/09/2012, 16:39

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1: Diễn biến LSCB của Việt Nam thời gian qua - CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ CỦA NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG (2).doc
Hình 1 Diễn biến LSCB của Việt Nam thời gian qua (Trang 19)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w