Còn trong Tiếng việt với ưu thế tiếng Việt sử dụng hệchữ Latinh nên các thương hiệu nước ngoài vào thị trường Việt Nam thì hầu hết được giữ nguyên, nhưng với trình độ ngoại ngữ của người
Trang 1KHOA ĐÔNG PHƯƠNG HỌC
- -
BÁO CÁO NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
ĐỀ TÀI:
BƯỚC ĐẦU TÌM HIỂU CÁCH DỊCH TÊN THƯƠNG HIỆU NƯỚC NGOÀI TRONG TIẾNG
TRUNG VÀ TIẾNG VIỆT
ĐÀO THỊ THỦY TIÊN
BIÊN HÒA,12/2013
Trang 2KHOA ĐÔNG PHƯƠNG HỌC
- -
BÁO CÁO NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
ĐỀ TÀI:
BƯỚC ĐẦU TÌM HIỂU CÁCH DỊCH TÊN THƯƠNG HIỆU NƯỚC NGOÀI TRONG TIẾNG
TRUNG VÀ TIẾNG VIỆT
Sinh viên thực hiện: ĐÀO THỊ THỦY TIÊN
Giáo viên hướng dẫn: Th.S/ GVC TRẦN THỊ MỸ HẠNH
BIÊN HÒA,12/2013
Trang 3
Có thể nói 4 năm đại học ở mái trường Lạc Hồng là quãng thời gian đẹp nhất trong 16 năm cấp sách đến trường của tôi, vì đây là nơi tôi được gặp gỡ các Thầy Cô tràn đầy tâm huyết, không chỉ truyền đạt cho tôi những tri thức quý báo mà còn dạy cho tôi những đạo lý làm người để sinh viên chúng tôi làm hành trang bước vào đời Không những thế nơi đây tôi còn được gặp gỡ bạn bè từ mọi miền đất nước, được kết bạn, được học tập lẫn nhau, cùng nhau vượt qua những kỳ thi căng thẳng, cùng nhau tham gia những phong trào, hoạt động sôi nổi của khoa, của trường,…Và cũng chính nơi đây tôi đã hết mình nỗ lực trong học tập, hết lòng đưa lớp đi lên,… những bài học trong chương trình, những công việc quản lý lớp đã giúp tôi có một chuyên môn vững vàng, có được những kỹ năng mềm bổ ích và giúp bản thân tôi trưởng thành hơn rất nhiều Chặng đường đại học vừa qua thật hoàn toàn không uổng phí và những hình ảnh về ngôi trường màu thiên thanh, những gương mặt thân quen của thầy cô, bạn bè sẽ sống mãi trong tâm trí tôi
Nhân đây tôi cũng xin gởi lời cảm ơn chân thành đến quý Thầy Cô khoa Đông Phương, cảm ơn Thầy Cô ngành Trung Quốc học đã luôn đổi mới phương pháp dạy và học, luôn nghĩ cho sinh viên của mình Xin cảm ơn Cô La Thị Thúy Hiền đã sát cánh cùng lớp tôi, động viên tôi trong suốt quãng thời gian qua Đặc biệt xin cảm ơn Cô Trần Thị Mỹ Hạnh không chỉ vì những kiến thức sâu rộng
mà Cô truyền thụ mà còn vì sự chỉ bảo tận tình của Cô để tôi có thể hoàn thành khóa luận này
Tiếp theo xin cảm ơn gia đình đã yêu thương, chăm sóc tôi, tạo mọi điều kiện tốt nhất để tôi theo đuổi việc học Và cũng xin cảm ơn ban giám đốc, các anh chị đồng nghiệp của công ty dây và cáp điện Taya (Việt Nam) đã yêu quý, đào tạo tôi để tôi có thể vừa đi làm vừa viết luận văn
Cuối cùng, do năng lực của người viết và do thời gian có hạn, khóa luận khó tránh khỏi những sai sót Kính mong nhận được sự nhận xét và sự góp ý của quý Thầy Cô
ĐÀO THỊ THỦY TIÊN
Trang 4MỤC LỤC
PHẦN DẪN LUẬN 1
1.Lý do chọn đề tài 1
2.Lịch sử nghiên cứu vấn đề 1
3.Mục tiêu và phạm vi nghiên cứu 2
4.Phương pháp nghiên cứu 2
5.Những đóng góp của đề tài 3
6.Cấu trúc: 3
NỘI DUNG CHÍNH 4
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 4
1.1Các khái niệm 4
1.1.1Dịch thuậtlà gì? 4
1.1.2Thương hiệu là gì? 5
1.1.3 Dịch tên thương hiệu là gì? 6
1.2 Văn hóa dịch tên thương hiệu trong tiếng Trung: 7
1.3 Văn hóa dịch tên thương hiệu trong tiếng Việt: 9
CHƯƠNG II: CÁCH DỊCH TÊN THƯƠNG HIỆU NƯỚC NGOÀI TRONG TIẾNG TRUNG 11
2.1 Dịch âm: 13
2.2 Dịch ý: 16
2.2.1 Thuần dịch ý: 17
2.2.2 Dịch biểu ý: 18
2.2.3 Dịch phỏng tác: 19
2.3 Dịch kết hợp: 20
2.3.1 Dịch nửa âm nửa ý: 21
2.3.2 Dịch cả âm lẫn ý: 22
2.3.2.1Dịch hài âm: 22
Trang 5 TIỂU KẾT: 24
CHƯƠNG III: CÁCH PHIÊN ÂM TIẾNG NƯỚC NGOÀI SANG TIẾNG VIỆT:29 3.1 Phiên: 33
3.1.1 Phiên âm: 34
3.1.2 Phiên chuyển: 34
3.2 Viết theo nguyên dạng: 36
3.3 Dịch ra tiếng Việt: 37
3.4 Sử dụng Hán Việt: 37
3.5 Chuyển tự: 38
KIẾN NGHỊ: 41
LỜI KẾT 44
BẢNG PHỤ LỤC 46
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 63
PHẦN DỊCH TÓM TẮT 64
Trang 6PHẦN DẪN LUẬN 1.Lý do chọn đề tài
Trong xu thế hội nhập và toàn cầu hóa hiện nay, trong ngôn ngữ tiếng Việt và tiếng Hán đều xuất hiện rất nhiều từ ngoại lai, trong đó không thể không nhắc đến các thương hiệu nước ngoài Các tên thương hiệu đa số thuộc hệ chữ La-tinh này vào thị trường Trung Quốc thì được dịch bằng nhiều cách để phù hợp với văn hóa và phù hợp với hệ chữ âm biểu ý (hay còn gọi làchữ tượng hình) mà người Trung Quốc đang sử dụng, các thương hiệu được dịch sang tiếng Trung ấy đã gây không ít khó khăn cho nhiều người theo học tiếng Hán trong lúc sử dụng, dịch thuật tiếng Hán Bản thân tôi cũng như nhiều người học Tiếng Trung khác khi gặp phải tên thương hiệu nước ngoài, đôi lúc vì có
sự đồng âm cũng đoán ra được nhưng thường thì rất lúng túng không biết cụm từ đó là gì Còn trong Tiếng việt với ưu thế tiếng Việt sử dụng hệchữ Latinh nên các thương hiệu nước ngoài vào thị trường Việt Nam thì hầu hết được giữ nguyên, nhưng với trình độ ngoại ngữ của người dân Việt Nam nó cũng gây ra khó khăn cho không ít người đó vì không biết đọc các tên thương hiệu ấy như thế nào mới đúng và tên phiên âm thì mỗi người viết mỗi kiểu nên xuất hiện tình trạng chỉ một cái tên nhưng có đến ba, bốn kiểu đọc và ba, bốn cái tên phiên âm,
Chính vì những đều trên đã tạo cho tôi sự thích thú muốn tìm ra những quy luật trong cách dịch tên thương hiệu nước ngoài ra tiếng Trung và tìm ra quy tắc phiên
âm tiếng nước ngoài sang tiếng Việt để cung cấp kiến thức, hỗ trợ cho việc dịch thuật, giúp ích cho việc giao tiếp, kinh doanh sau nàycủa những người đang học tiếng Trung, những người đang quan tâm về vấn đề này và cũng như giúp cho chính bản thân tôi
2.Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Ở Việt Nam đã có rất ít tài liệu đề cập đến vấn đề dịch thương hiệu nước ngoài
ra tiếng Trung và cũng có rất ít tài liệu đi sâu vào tìm hiểu, nhận xét, rút ra quy luật của vấn đề Còn trong Tiếng Việt, đã có kiến nghị của các nhà ngôn ngữ, có tài liệu nghiên cứu về cách phiên âm tiếng nước ngoài sang Tiếng Việt nhưng nhiều người vẫn viết
Trang 7phiên âm và đọc theo nhiều kiểu lẫn lộn vì chưa có những quy tắc chung, chưa có sự quy định chung ban bố một cách rộng rãi, hướng dẫn cụ thể cho mọi người về việc đọc và phiên âm từ ngữ nước ngoài sang Tiếng Việt Các tài liệu liên quan : đề tài luận văn
―Cách dịch các thương hiệu nước ngoài trong tiếng Trung‖,Lương iết Nhi, năm 2006, bậc đại học, trường đại học khoa học xã hội và nhân văn, thành phố Hồ Chí Minh Và cuốn―Từ ngoại lai trong tiếng Việt‖ của Nguyễn Văn hang,tháng 4 năm 2007, Nhà xuất bản Giáo Dục, Hà Nội
3.Mục tiêu và phạm vi nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu:
Thông qua việc tìm hiểu đề tài này giúp ta hiểu rõ hơn về văn hóa, tâm lý xã hội, lối tư duy của người Trung Quốc, giúp ta biết cách lí giải tên thương hiệu Còn về phiên âm tiếng nước ngoài sang Tiếng Việt chúng ta sẽ biết được cách viết, cách đọc, cách phiên âm như thế nào là đúng, khóa luận không những làm giàu thêm kiến thức của bản thân mà còn cung cấp kiến thức cho những người học tiếng hoa, những người kinh doanh, người làm quảng cáo và những người quan tâm đến vấn đề dịch tên thương hiệu trong tiếng Trung và Tiếng Việt
Phạm vi nghiên cứu:
Với sự giao lưu kinh tế, văn hóa, sự phát triển chóng mặt của các phương tiện truyền thông như hiện nay Sự xuất hiện của các từ ngoại lai là rất lớn, nhưng trong khuôn khổ của một bài luận văn tốt nghiệp tôi chỉ xin giới thiệu các cách dịch tên thương hiệu nước ngoài (chủ yếu là tiếng Anh) sang tiếng Trung,cụ thể sẽ là danh sách gần 500 tên dịch tiếng Hoa của các thương hiệu nước ngoài với các cách dịch của nó Và các quy tắc, quy chuẩn phiên dịch các danh từ riêng nước ngoài sang tiếng Việt
4.Phương pháp nghiên cứu
Tổng hợp các tài liệu có liên quan đến vấn đề dịch tên thương hiệu nước ngoài trong tiếng Trung và quy tắt phiên âm tiếng nước ngoài trong tiếng Việt qua các sách,
Trang 8báo, trang web,…ở cả hai ngôn ngữ tiếng Trung và tiếng Việt Sau khi hoàn thành việc thống kê, phân loại các tài liệu tiến hành phân tích, biên soạn và tổng hợp dữ liệu, chú tích minh họa, dẫn chứng cụ thể rõ ràng.Cuối cùng hệ thống theo từng chương, mục, sắp xếp thành bài luận văn hoàn chỉnh
5.Những đóng góp của đề tài
Luận văn nghiên cứu về hai vấn đề: cách dịch tên thương hiệu nước ngoài sang tiếng Trung và cách phiên âm tiếng nước ngoài sang tiếng Việt Ở vấn đề thứ nhất, bài luận sẽ giúp ta hiểu hơn về văn hóa, tâm lý xã hội, lối tư duy,…của người Trung Quốc, giúp ta biết được quy luật phát triển của ngôn ngữ Trung Quốc và qua những thành quả nghiên cứu ta có thể quy phạm hóa các tên dịch thương hiệu nước ngoài sang tiếng Trung Hơn thế nữa, bài luận sẽ là một tài liệu tham khảo bổ ích cho những người đang theo học tiếng Trung, những người kinh doanh, đặc biệt là những người làm việc trong lĩnh vực quảng cáo đã và những người đang quan tâm đến vấn đề đặt tên cho thương hiệu của mình
Ở vấn đề thứ hai, khóa luận đưa ra được quy tắt, quy phạm phiên âm tiếng nước ngoài sang tiếng Việt, giúp ích rất nhiều cho sự thống nhất, chuẩn hóa việc đọc đúng, phiên âm đúng tên các tên thương hiệu nước ngoài của mọi người chúng ta
Trang 9NỘI DUNG CHÍNH CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ THUYẾT
Theo định nghĩa truyền thống: Dịch là quá trình thay thế một văn bản viết bằng ngôn ngữ gốc bằng một văn bản viết bằng ngôn ngữ đích với mục đích là đạt được
sự tương đương tối đa về nghĩa
Theo định nghĩa hiện đại: Dịch là quá trình chuyển một thông điệp được thể hiện bằng ngôn ngữ gốc thành một thông điệp được biểu đạt bằng ngôn ngữ đích với sự tương đương tối đa của một hay nhiều bình diện nội dung của thông điệp, chẳng hạn: quy chiếu ( thông tin vì mục đích thông tin), diễn cảm (tập trung vào người gửi thông điệp, như lời nói), thông báo (tập trung vào người nhân, chẳng hạn sự rõ ràng), siêu ngôn ngữ (tập trung vào mã, chẳng hạn từ điển), biểu cảm (tập trung vào sự giao tiếp, chẳng hạn phép lịch sự), thi vị (tập trung vào hình thức, chẳng hạn chất thơ).1
Trong dịch thuật, người ta thường chia thành biên dịch và phiên dịch Biên dịch thường được hiểu là dịch văn bản, từ một ngôn ngữ này sang một ngôn ngữ khác Trong khi đó, phiên dịch thường được hiểu là dịch nói, hoặc là diễn giải lại câu của người khác sang ngôn ngữ để người nghe hiểu.2
1 http://asentranslation.com/index.php/Can-biet/dai-tu-nha-xung-trong-dich-thuat-anh-viet-p1.html
2
http://vi.wikipedia.org/wiki/D%E1%BB%8Bch_thu%E1%BA%ADt
Trang 101.1.2Thương hiệu là gì?
Thương hiệu là khái niệm trong người tiêu dùng vềsản phẩm với dấu hiệu của nhà sản xuất gắn lên mặt, lên bao bì hàng hoá nhằm khẳng địnhchất lượngvàxuất xứsản phẩm Thương hiệu thường gắn liền vớiquyền sở hữucủa nhà sản xuất và thường được uỷ quyền cho người đại diện thương mại chính thức
Theo tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới WIPO_World Itellectual Property Organization: Thương hiệu là một dấu hiệu đặc biệt (hữu hìnhvàvô hình) để nhận biết một sản phẩm, một hàng hoá hay một dịch vụ nào đó được sản xuất, được cung cấp bởi một tổ chức hoặc một cá nhân.3
Theo Hiệp hội nhãn hiệu thương mại quốc tế ITA_International Trademark Association: Thương hiệu bao gồm những từ ngữ, tên gọi, biểu tượng hay bất kì sự kết hợp nào giữa các yếu tố trên được dùng trong thương mại để xác định và phân biệt hàng hoá của các nhà sản xuất hoặc người bán với nhau và để xác định nguồn gốc của hàng hoá đó.4
Mặc dù có rất nhiều loại hình thương hiệu khác nhau nhưng có 5 loại thương hiệu là phổ biến nhất, đó là thương hiệu công ty, thương hiệu sản phẩm, thương hiệu cá nhân, thương hiệu chứng nhận và thương hiệu riêng.5
Phân biệt thương hiệu với nhãn hiệu hàng hoá:
Ở Việt Nam khái niệm thương hiệu thường được hiểu đồng nghĩa với nhãn hiệu hàng hoá Tuy nhiên hai khái niệm này vẫn có các điểm khác nhau cần phải làm rõ
Theo hiệp hội Marketing Hoa Kỳ: Nhãn hiệu là một cái tên, từ ngữ, ký hiệu, biểu tượng hoặc hình vẽ, kiểu thiết kế hoặc tập hợp các yếu tố trên nhằm xác định và phân biệt hàng hoá hoặc dịch vụ của một người bán hoặc nhóm người bán với hàng hoá
và dịch vụ của các đối thủ cạnh tranh
Trang 11g%C3%AC-S%E1%BB%B1-kh%C3%A1c-nhau-gi%E1%BB%AFa-th%C6%B0%C6%A1ng-hi%E1%BB%87u-Từ đó, có thể thấy được một sự tương đối giống nhau trong hai khái niệm trên: đều là những từ ngữ, dấu hiệu, biểu trưng dùng để xác định, phân biệt các sản phẩm, dịch vụ cùng loại của các nhà sản xuất khác nhau Song ở khái niệm thương hiệu ngoài yếu tố thương mại được nhấn mạnh còn nhắc đến sự xác định rõ ràng về nguồn gốc của hàng hoá Như vậy ở đây đã xuất hiện phần nào bóng dáng của yếu tố luật pháp Khi một nhãn hiệu được khẳng định chắc chắn bằng việc đi đăng kí bảo hộ và được chấp nhận bảo
hộ thì nhãn hiệu đó đã được chứng nhận độc quyền và thường được coi là thương hiệu Chính vì vậy người ta thường gắn việc đăng kí nhãn hiệu hàng hóa với việc khai sinh ra một thương hiệu thành công và đương nhiên thương hiệu đó có thể lớn mạnh hay không còn cần có một chiến lược phát triển sản phẩm nghiêm túc nữa
Hơn nữa một nhà sản xuất thường đặc trưng bởi một thương hiệu nhưng có thể
có nhiều nhãn hiệu hàng hoá khác nhau.VD: Toyota (丰田),(tô-dô-ta)là một thương hiệu chính nhưng đi kèm có rất nhiều thương hiệu hàng hoá khác: Inova (英诺瓦), (in-nô-va), Camry(凯美瑞),( kham-ry)
1.1.3 Dịch tên thương hiệu là gì?
Dịch thuật gồm phiên dịch và biên dịch Dịch tên các thương hiệu tiếng nước ngoài sang tiếng Trung cũng bao gồm biên dịch và phiên dịch Nhưng dịch tên thương hiệu là một lĩnh vực dịch thuậtđặc thù hơn
Biên dịch tên thương hiệu hoàn toàn không giống với việc dịch các câu văn,
ngữ pháp, ngữ nghĩa thường thấy, mà đó là những danh từ riêng, những cái tên gọi, những ký hiệu,…rất ngắn ngọn, súc tích, chứa đựng trong đó là cả một bầu tâm huyết của những nhà sản xuất, nhà doanh nghiệp về chất lượng sản phẩm, chất lượng dịch vụ và niềm tin, hi vọng về những đứa con mà mình tạo nên Làm sao dịch những cái tên ấy vừa
để lại ấn tượng sâu sắc trong tâm trí người tiêu dùng vừa nêu bật lên tính chất, ưu điểm của sản phẩm, dịch vụ, là một vấn đề không dễ chút nào
Phiên dịch tên thương hiệu không những phải bày tỏ hết được tâm huyết của
nhà sản xuất, nêu bật lên tính chất, ưu điểm của sản phẩm,…mà những cái tên được đặt
Trang 12lần thứ hai ấy khi nói lên, khi bật âm ra phải thật bay bổng, đọc lên thật vang, lưu lại dư
âm, để ấn tượng sâu sắc cho người tiêu dùng
Tóm lại, dịch tên thương hiệu là dựa vào âm đọc, ý nghĩa, đặc trưng, của sản phẩm, dịch vụ để chuyển tên thương hiệu từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác sao cho tên dịch mới thật ấn tượng, dễ nhớ, âm đọc bay bổng, thể hiện được đặc trương sản phẩm, tâm huyết của nhà sản xuất,
Phiên dịch tên thương hiệu tiếng nước ngoài sang tiếng Việt:
Khác với các tên thương hiệu nước ngoài ở thị trường Trung Quốc thường được dịch nghĩa ra còn các thương hiệu ở thị trường Việt Nam thường rất ít dịch nghĩa
mà chỉ phiên âm ra Phiên âm có hai dạng: phiên âm dưới dạng đọc và dạng viết Mỗi phần lại có các quy tắc trình bày khác nhau và còn có một số cách phiên dịch đối với các thương hiệu, các danh từ riêng như: giữ nguyên, viết dưới dạng Hán Việt, chuyển tự, miễn sao người đọc, người nghe có thể đọc được và phần nào đó viết lại được các danh từ riêng nước ngoài ấy
1.2 Văn hóa dịch tên thương hiệu trong tiếng Trung:
Năm 1978, Trung Quốc sau cuộc cải cách mở cửa, hàng hóa, các doanh nghiệp ồ ạt tràn vào thị trường nước này Song song đó là các thương hiệu xuất hiện ngày càng nhiều Các tên thương hiệu đã đóng một vai trò quan trọng trong việc tuyên truyền sản phẩm, việc người tiêu dùng nhận dạng và mở rộng thị trường tiêu thụ Theo đặc điểm văn hóa dân tộc, tư tưởng Hán hóa, tâm lý tiêu dùng, truyền thông, của người Trung Hoa, các thương hiệu nước ngoài muốn được người tiêu dùng đón nhận và đi sâu vào thị trường thì các thương hiệu thường được dịch ra thành tiếng Hán
Các thương hiệu được dịch thành tiếng Hán thường có các đặc điểm:
Thể hiện tinh thần dân tộc Trung Quốc
Hãng Suntory của Nhật được dịch sang tên tiếng Trung là ―三得利‖ tên này không những có âm đọc gần sát với tên gốc mà nó còn hàm chứa tinh thần nhân văn Trung Hoa ―三得利‖ (3điều lợi),có thể được hiểu là ―企业、消费者、社会三方得利‖
Trang 13(doanh nghiệp, người tiêu dùng và xã hội cả 3 đều có lợi) cả 3 tác động tương hỗ nhau, thể hiện nguyên tắc phân phối lợi ích giàu tinh thần nhân nghĩa, biểu hiện tinh thần văn hóa của Nho giáo: người nhân nghĩa yêu người
Tôn trọng suy nghĩ, thói quen, văn hóa của người Trung Quốc
Thương hiệu thời trang nam nổi tiếng ―Goldlion‖ có thể dịch nghĩa trực tiếp
ra các tên tiếng Hoa là―金狮‖ nhưng từ này lại đồng âm với ―金死‖(vàng chết), ―金
失‖(vàng mất) sự hài âm này mang nghĩa không tốt nên công ty Goldlion của Hồng Kông
đã dịch ý chữ ―Gold‖ là ―金‖, dịch âm chữ lion là ―利来‖ nhờ cách dịch như thế cái tên
―金利来‖ một thương hiệu đến từ phương Tây đã nổi tiếng khắp Trung Quốc, vì cái tên phù hợp với thói quen suy nghĩ, văn hóa của người Trung Hoa, mang một điềm tốt lành
―黄金财源滚滚来‖ (vàng bạc tiền cuồn cuộn chảy đến)
Tận dụng kho tàng văn học Trung Hoa
Tên công ty mỹ phẩm làm đẹp ―Revlon‖ của Mỹ dịch là ― 露华浓‖ cụm từ này vốn có nguồn gốc từ thơ của Lý Bạch ―云想衣裳花想容,春风拂槛露华浓‖ (hoa tưởng
y thường hoa tưởng dung, xuân phong phất hạm lộ hoa nồng) người phụ nữ hiện lên đẹp như đóa hoa rớm sương buổi ban mai, không cần phải nhiều lời việc vận dụng thơ văn vào đặt tên thương hiệu, chỉ một tên gọi thôi mà Revlon – một hãng mỹ phẩm đã nói lên những gì sản phẩm cần nói…
Chú trọng mối quan hệ giữa thuộc tính sản phẩm và tên thương hiệu
Có nhiều nguyên tắc dịch tên thương hiệu nhưng việc dùng mối quan hệ giữa thuộc tính sản phẩm và tên thương hiệu để đặt tên lần thứ hai cho sản phẩm là một cách làm rất thực tế, thiết thực làm cho người tiêu dùng chỉ cần nghe đến cái tên thôi là đã biết chủng loại, ưu điểm của sản phẩm Điều này giúp cho người tiêu dùng dễ ghi nhớ và dễ dàng lựa chọn sản phẩm Ví dụ: Clean One được dịch thành ―洗王‖ (Vua giặt tẩy) vừa nghe tên người ta cũng đoán ra được sản phẩm này thuộc chủng loại tẩy rửa; Longlife dịch sang tiếng Trung ―隆力奇‖(long lực kỳ) tên sản phẩm nói lên rằng sản phẩm có khả
Trang 14năng tăng cường sức khỏe, tăng lực mạnh mẽ đến khó ngờ cho nên chỉ cần nhìn tên thương hiệu người tiêu dùng cũng có thểđoán ra đó là sản phẩm dinh dưỡng; Crest tên gốc này có vẻ chẳng liên quan gì đến thuộc tính sản phẩm nhưng tên dịch tiếng Hoa ―佳
洁士‖(hiệp sĩ làm sạch cừ nhất) thì lại rất có liên quan đến sản phẩm kem đánh răng Crest này.6
1.3 Văn hóa dịch tên thương hiệu trong tiếng Việt:
Trước đây người dân Việt Nam ít có cơ hội biết đến các thương hiệu nước ngoài nhưng từ ngày 11 tháng 1 năm 2007 gia nhập WTO chúng không những biết đến tên của các thương hiệu nổi tiếng trên thế giới mà còn được trải nghiệmvới các thương hiệu đó Với lợi thế ngôn ngữ tiếng Việt cũng dùng hệ thống chữ la-tinh, các thương hiệu sau khi vào thị trường Việt Nam thường được giữ nguyên bản với tên gọi ban đầu chứ không cần phải dịch nghĩara như Tiếng Trung, nên người Việt Namthường chỉ phiên âm, phiên chuyển tên thương hiệu dưới dạng đọc và dạng viết
Tuy trình độ dân trí của dân ta đã được nâng cao, học sinh đã được học tiếng Anh từ lớp 3 nhưng mọi người vẫn còn rất lúng túng khi tiếp xúc với các tên thương hiệu, các danh từ riêng nước ngoài, không biết đọc, phiên âm như thế nào mới đúng huống hồ chi những người đứng tuổi, người không biết tiếng Anh,…Sự không thống nhất ấy đã dẫn đến không ít cuộc tranh luận trong đời sống cũng như trên các diễn dàn: có bạn hỏi―Xe Lexus đọc là Lề Sớt, hay là Lếch Sợt, hay Lếch Xù nhỉ ?‖; ―từ levis rõ ràng đọc là le vít
mà sao nhiều người đọc là lì vai thế nhỉ ?‖ ;có bạn lại nói:―bác toàn đọc bậy levi's: lì vais, chanel: cha neo ko tin lên google translate xem thử nhá‖; một bạn khác cho ý kiến―Lên youtube mà coi người nước ngoài đọc,dân VN cứ đọc sai hết cả lên Acer= ây xờ, Asus =
a zus= a zút (sì)‖; lại một bạn khác:―Asus đọc là "ây sớt" có người lại đọc là "a sút",sao mình thấy dân miền nam và miền trung đọc là "ây sớt", còn dân Bắc đọc là "a sút" nhỉ.Mình học ở thành phố Hồ Chí Minh 5 năm mới ra Hà Nội thấy sự khác biệt này.‖7
Trang 15Chỉ riêng lấy ví dụ về thương hiệu nhà mạng điện thoại có nguồn gốc trong nước nhưng có tên tiếng Anh như :Viettel, Mobifone đã có đến năm ba cách đọc Quảng cáo trên truyền hình là " việt-theo‖- hãy nói theo cách của bạn, còn có người đọc là ―việt-teo‖, anh biên tập viên Quốc Khánh của chương trình Thể Thao 24/7 VTV1 còn đọc là
―việt-ten‖;còn Mobifone thì phải đọc là ―mô-bi-phôn‖ hay ―mô-bai-phôn‖ mới là chuẩn; chưa hết FPT thì phải đọc là ―ép-pi-ti‖ hay là ―ép-pê-tê‖…? Nhiều dấu chấm hỏi đã được đặt ra xung quanh vấn đề đọc đúng tên thương hiệu này.8
8
http://khoavanhoc-ngonngu.edu.vn/home/index.php?option=com_content&view=category&id=128&Itemid=194&lang=vi
Trang 16CHƯƠNG II: CÁCH DỊCH TÊN THƯƠNG HIỆU NƯỚC NGOÀI TRONG TIẾNG TRUNG
Dịch tên thương hiệu là một lĩnh vực rất đặc thù, nhưng không có nghĩa là hoàn toàn không chú ý đến các yếu tố ngôn ngữ Các yếu tố ngôn ngữ như ngữ âm, ngữ nghĩa và cấu tạo từ hoàn toàn không hề đối lập với thuộc tính ngôn ngữ sẵn có trong từng tên thương hiệu nên ta có thể xếp nó vào phạm trù ngữ nghĩa của từ để tiện cho việc nghiên cứu
Cấu tạo:
Tên thương hiệu chủ yếu có 3 dạng như sau:
(1) Có âm có nghĩa: từ tiếng Hán ta có thể thấy những từ có nghĩa giống như tên
thương hiệu nước ngoài như: thương hiệu máy tính chiếm thị phần lớn nhất trong các hãng điện thoại hiện nay: ―Apple‖ (trái táo) thì tên thương hiệu tiếng Trung cũng có nghĩa là ―苹果‖; thương hiệu thời trang nổi tiếng ―Crocodile‖ (cá sấu) tên thương hiệu tiếng Hoa cũng cùng ý nghĩa ―鳄鱼‖; rồi còn thương hiệu thuốc lá ―Hero‖ (anh hùng)
―英雄‖; thương hiệu đồ điện tử ―Gold star‖ (ngôi sao vàng) ―金星‖; thương hiệu xe hơi ―Explorer‖ (người khám phá) ―探索者‖; thương hiệu dầu nhớt ―Shell‖ (vỏ sò)
―壳牌‖,…
(2) Có âm không nghĩa: những từ này kết hợp với nhau có thể đọc lên thành tiếng
nhưng không có nghĩa hoặc là những tên riêng, tên gọi được người đặt tên tạm thời sáng tạo ra, ví dụ như: thương hiệu ―IBM‖, thương hiệu đồ điện ―LG‖, thương hiệu máy ảnh
― odak‖, thương hiệu dầu mỏ ―Exxon‖, nhãn hiệu thời trang ―Lee‖, tên thương hiệu xe hơi ―Ford‖,…
(3) Tên thương hiệu được cải tạo từ tên gốc Trong từ vựng ngôn ngữ gốc người ta
tăng giảm số âm tiết, pha trộn hai từ ngữ hay thay đổi một phần cách viết, ví dụ tên thương hiệu giày thể thao (Anh) lấy cảm hứng từ tên của một loài linh dương Châu Phi
―Rhebok‖ và cải tạo thành tên ―Reebok‖như ngày nay; tên thương hiệu mỹ phẩm dưỡng
da ―Lux‖ tên đã được giảm âm tiết từ tiếng Pháp ―Luxe‖ hoặc tiếng Anh ―luxury‖ (đều có
Trang 17nghĩa là hào nhoáng, sang trọng); thương hiệu nước giải khác ―Pepsi‖ tên đã được giảm
âm tiết từ chữ ―pepsin‖ (pepxin là 1 loại enzim có trong dịch vị), tên thương hiệu đồng hồ đeo tay ―Timex‖ là sự pha trộn giữa ―time‖ và ―excact‖ (nghĩa là thời gian chính xác); thương hiệu thuốc ―Cuccess‖ là sự biến đổi của ―success‖ (thành công), tên điện thoại Blackberry thì từ ―berry‖ được lấy từ ―strawberry‖,…9
Trang 18Sơ đồ 2.1 Trên đây ta đã thấy được tên thương hiệu nước ngoài có sự phân loại và có cấu tạo phức tạp như thế nào nhưng người Trung Quốc đã có những tên dịch thật sự thành công Họ đã dịch tên thương hiệu nước ngoài sang tiếng Trung với chủ yếu 3 cách dịch như sau:
Sơ đồ 2.2
2.1 Dịch âm:
Dịch âm hay thuần dịch âm là việc mô phỏng phát âm của tên ban đầu bằng phát âm gần giống và không có liên quan về mặt ngữ nghĩa với tiếng Hán, đây còn được
Trang 19gọi là phép tượng thanh Ví dụ như: thương hiệu vàng bạc đá quý của Mỹ ―Tiffany‖ dịch
ra là: ―蒂芬尼‖vì nó có âm đọc gần giống với Tiffany vàtương tự như vậy trong việc sử dụng những từ có âm gần giống với tên gốc để đặt tên : thương hiệu rượu của Pháp
―Hennessy‖ dịch là: ―轩尼诗‖, thương hiệu thời trang Italia ―Calvin lein‖ dịch âm là‖卡尔文克莱恩‖, một website tìm kiếm bắt nguồn từ Mỹ được sử dụng rộng rãi khắp thế giới ―Google‖ cũng được dịch âm gần giống với tên gọi gốc ―谷歌‖,…
Thuần dịch âm tên thương hiệu còn được thể hiện dưới 3 dạng đó là: tên dịch chữ Hán; tên dịch chữ Latinh và tên dịch kết hợp chữ Hán với chữ Latinh (xem sơ đồ 2.2)
Thuần dịch âm tên thương hiệu dưới dạng chữ Hán thường dành cho các
thương hiệu nổi tiếng là nhờ chất lượng, sự độc đáo riêng cách dịch âm này gây sự gợi
nhớ chính cái tên đã làm nên tên tuổi của thương hiệu ban đầu Vd: thương hiệu chiếm lĩnh thế giới điện thoại di động một thời ―Nokia‖ được dịch rất sát âm ―诺基亚‖; thương hiệu nước hoa, thời trang nổi tiếng mấy thập kỷ qua của Italia ―Dior‖ được dịch gần giống với âm nguyên bản ―迪欧‖; thương hiệu bia nổi tiếng của Hà Lan ―Heniken‖ sau khi dịch được đọc là ―海尼根‖; còn tên dịch―索尼‖vừa nghe đã biết đây là thương hiệu của hãng điện tử ―Sony‖; còn tên dịch ―撒隆巴斯‖có âm đọc giống đến 90% tên thương hiệu ban đầu ―Salonpas‖ - thuốc dán của Nhật,…
Thuần dịch âm tên thương hiệu dưới dạng chữ Latinh thường dành cho các tên
riêng, tên viết tắt, những cái tên không âm, khó dịch nghĩa do người đặt tên sáng tạo ra
Ví dụ: công ty chế tạo và khai khoáng ―Minnesota Mining and Manufacturing Company‖ nếu dịch theo nguyên bản là ―明尼苏达矿业及制造公司‖ được dịch rút gọn là ―3M 公
司‖; các thương hiệu như: rượu XO; TCL; NEC; G-star; lee LV; DVF Daks; …
Các ví dụ khác: các thương hiệu là tên riêng như thương hiệu xe gắn máy của
Mỹ ―Harley.Davidson‖ dịch ra là: ―哈雷戴维森‖; tên của các tổ chức như tổ chức các nước xuất khẩu dầu lửa ―OPEC‖ (Organization of Petroleum Exporting Countries) được
Trang 20dịch theo âm là ―欧佩克‖; thương hiệu công ty xe hơi có tên không âm, khó dịch nghĩa
do người đặt tên sáng tạo ra như ―TSLA‖ dịch ra là ―特斯拉‖,…
Thuần dịch tên thương hiệu kết hợp cả chữ Hán và chữ Latinh thường dành
cho các tên khó dịch âm, khó dịch nghĩa hoặc muốn gây ấn tượng vì sự kết hợp Á-Âu,
ví dụ: thương hiệu xe hơi Nhật ―FairladyZ‖ được dịch là:―日产淑女 Z‖ ; cũng một thương hiệu của Nhật thuốc nhỏ mắt V Rohto dịch thành ―V 乐敦‖
Ưu điểm của cách dịch âm là trực tiếp, rõ ràng Cách dịch này vừa có thể giữ
lại âm hưởng của nguyên văn vừa thể hiện được âm hưởng nước ngoài Như thế vừa có thể đánh vào tâm lý chuộng hàng ngoại của đa phần thanh niên Trung Quốc vừa có tạo điều kiện thuận lợi cho sự hội nhập và giao lưu với nước ngoài sau này
Bên cạnh đó cách dịch này cũng tồn tại không ít khuyết điểm: đó là sự dài
dòng, không súc tích (thương hiệu xe hơi của Nhật ―Lexus‖ sau khi dịch ra có đến 4 âm đọc ―雷克萨斯‖); không những thế dịch âm còn có nhiều nghĩa phát sinh, nhiều khi tên dịch không có từ nào liên quan đến sản phẩm làm nhiều người hiểu nhầm qua sản phẩm khác, ví dụ: với cách dịch âm một tên thương hiệu được dịch ra là ―米其林‖(gạo của rừng) nhiều người khi nhìn tên dịch sẽ đoán ngay nhãn hiệu có liên quan đến thực phẩm nhưng thực tế đây là thương hiệu lốp xe nổi tiếng của Pháp ―Michelin‖;…Vì từ thuần dịch âm không dựa vào cơ sở ngữ nghĩa của từ gốc ban đầu nên tên dịch mang tính phân
ly về quan hệ ngữ nghĩa, không phù hợp với phương thức cấu tạo truyền thống của tiếng Hán Cho nên nhiều từ sau khi dịch ra tiếng Hán mang một khuyết điểm chung là đọc rất khó hiểu vì tổ hợp từ ấy thường không tạo thành một ý nghĩa rõ ràng, ví dụ:thương hiệu nước hoa của Mỹ ― Ralph Lauren‖dịch ra là ―拉尔夫劳伦‖;thương hiệu xe hơi của Mỹ
―Cadillac‖ dịch là ―凯迪拉克‖; thương hiệu thời trang của Mỹ ―Armani‖ được dịch là
―阿玛尼‖, thương hiệu vàng bạc đá quý của Italia ―Ancient‖ dịch tên tiếng hoa là ―爱伦
Trang 212.2 Dịch ý:
Dịch ý là cách dịch mà người ta căn cứ vào nguyên bản tên thương hiệu nước ngoài dùng tiếng Hán mô tả lại ý nghĩa của từ gốc đó sao cho ý nghĩa của tên dịch mới tương đương với tên ban đầu
Bản thân tên thương hiệu nước ngoài vốn đã mang một ý nghĩa, một thông điệp nào đó, vốn đã có sức hút nên việc dịch trực tiếp nghĩa của tên thương hiệu không những thể hiện tốt tâm tư, nguyện vọng của thương hiệu ban đầu mà cách dịch này còn không tốn nhiều công sức nhưng hiệu quả đem lại có thể còn cao hơn
Cách dịch này thường dùng cho những thương hiệu có hình tượng rõ ràng, ngụ
ý tao nhã, từ ngữ hoa mỹ,…ví dụ như: dầu nhớt Shell:壳牌; tạp chí Playboys: 花花公子; tuần báo times: 时代; khách sạn Holiday: 假日酒店; xe hơi Blue Bird: 蓝鸟
Không những thế, qua cách dịch ý, tên thương hiệu tiếng Hoa mới còn thống nhất, hài hòa với logo, biểu tượng của thương hiệu:
Hình 2.1 Tên dịch hài hòa thống nhất với logo, biểu tượng của thương hiệu
http://www.nipic.com/show/4/129/baff523f26c37265.html Nhưng sử dụng cách dịch ý cũng cần phải lưu ý lựa chọn ý nghĩa ngữ dụng của tên thương hiệu ban đầu phải được sự đón nhận của người tiêu dùng Trung Quốc, nếu
Trang 22không sẽ không đạt được mục đích tiêu thụ sản phẩm ở nước này Ví dụ: thương hiệu mỹ phẩm ―Kiss me‖ nếu sử dụng phương pháp dịch ý tên dịch sẽ là ―亲我‖ hoặc ―吻我‖ nghe hết sức lộ liễu mà điều này thì không phù hợp với văn hóa Trung Hoa nên thương hiệu này đã được dịch theo cách khác
Dịch ý được chia ra làm 3 loại, bao gồm: thuần dịch ý, dịch biểu ý, dịch phỏng tác:
có thể làm tăng áp huyết của người sử dụng Thay vào đó, họ nên tìm một cái tên mà nó gợi lên niềm vui, và tạo cảm giác hướng tới cái gì đó thanh bình Sau khi liên tưởng thấy những nút bàn phím nhỏ ở trên thiết bị trông giống như nhưng cái hạt nhỏ xinh , Lexico
đã nghĩ tới hạt của nhưng loại hoa quả như dâu tây, dưa hấu… Và cuối cùng hãng này đã lựa chon chữ ‖Berry‖ xuất phát từ từ Strawberry (quả dâu tây), và thêm chữ― Black‖vào phía trước tạo thành tên của sản phẩm mới ―Blackberry‖ , cái tên vừa tạo sự thoải mái vui
vẻ, lại vừa nhận mạnh vào đặc trưng màu đen của sản phẩm.‖10
Với đặt trương ý nghĩa của tên như trêntác giả đã chuyển đổi ý nghĩa y như vậy sang tên tiếng hoa làm cho đặc trưng sản phẩm, tinh thần về sự thoải mái, vui vẻ mà sản phẩm muốn đem lại cho khách được giữ nguyên: ―Blackberry‖ được dịch là ―黑莓‖ Nếu dùng cách dịch âm sẽ chú trọng vào âm đọc, không tạo ra cụmtừ có nghĩa thì chắc chắn tên dịch theo kiểu dịch âm sẽ không truyền tải được đặc trưng và tinh thần mà tên
do cách dịch nghĩa mang đến
10
http://thethaovanhoa.vn/luu-tru/tai-sao-lai-la-ipod-blackberry-firefox-thinkpad-wikipedia-n20081118103249124.htm
Trang 23Có câu ―Nam vô tửu như kỳ vô phong‖ từ xưa đến nay các đấng mày râu luôn quan niệm rằng bia rượu là một cách thể hiện nên phong độ, đẳng cấp của họ Cho nên nhãn hiệu bia rượu họ dùng cũng rất được quan tâm, và nhãn hiệu bia―Tiger‖ với hình của chúa tể rừng xanh oai hùng phần đã nào thể hiện được phong cách của người uống
Vì thế nếu dùng cách dịch âm sẽ không khớp với hình logo của nhãn hiệu và cũng không thể truyền tải được thông điệp của tên thương hiệu ban đầu, theo thuần dịch ý hiện dùng
là ―虎牌‖ tên dịch này hoàn toàn phù hợp với tinh thần của sản phẩm
Đây cũng là một vài tên thương hiệu dịch ý rất thành công: trang mạng xã hội nổi tiếng của Mỹ ―Facebook‖ được dịch là: ―脸书‖; Công ty sản xuát máy in ―Brother‖ của Nhật được dịch: ―兄弟;Nhãn hiệu thời trang ―Crocodile‖:‖鳄鱼”; Nhà hàng ―Four Seasons‖ của Paris:“四季酒店”;Đồ điện tử ―Gold star‖:“金星”; Bảo hiểm nhân thọ
―Prudential‖: ―保成”; Thời báo Tài chính ―The Financial Times‖ của Anh: ―金触时
2.2.2 Dịch biểu ý:
Dịch biểu ý là dựa vào âm đọc của tên thương hiệu nước ngoài dịch từng từ từng từ một giống như cách dịch âm Nhưng có sự khác biệt ở chỗ sau khi dịch âm có thêm vào một ngữ tố biểu ý phân loại sự vật biểu thị mà không tồn tại trong từ gốc.Ví dụ:
Nhãn hiệu quần áo thời trang E-Land của Hàn Quốc dich là ―衣恋”,tên dịch này vừa có âm đọc giống với từ gốc lại vừa có từ ―衣”biểu thị đây là sản phẩm thuộc về lĩnh vực may mặc
Nhãn hiệu thuốc ngủ Dalmane dịch ra là ―带尔眠” có từ ―眠”liên quan mật thiết đến đặc trưng của sản phẩm trong khi từ gốc lại không mang từ liên quan đến giấc ngủ Đây chính là một ưu điểm của cách dịch biểu ý này
Đây cũng là một vài ví dụ cho cách dịch biểu ý: nhãn hiệu Xà bôngPower“波尔肤“;nhãn hiệu em đánh răngSignal“洁诺”;nhãn hiệu em đánh răngGehwol
“洁沃”; nhãn hiệu Thuốc cảmContac“康泰克”; nhãn hiệu Thuốc trừ sâuDecis
“敌杀死”,
Trang 24Tuy nhiên xét ở gốc độ khác, cách dịch này là rất dễ nhận dạng được sản phẩm
vì nó có từ quy loại cho sản phẩm Thế nhưng việc dịch âm vốn đã không tạo thành cụm
từ mang ý nghĩa và cách dịch biểu ý lại quá coi trọng việc quy loại nên nhiều lúc đem đến
sự khó hiểu cho khách hàng
2.2.3 Dịch phỏng tác:
Dịch phỏng tác là dựa vào tài liệu cấu tạo và quy tắc cấu tạo từ của tiếng Hán lần lượt dịch nghĩa từng từ một với từ gốc, làm cho việc chọn lọc thành phần cấu tạo từ cũng như việc chọn lọc kết cấu của cấu tạo từ đều đối xứng với tên ban đầu
Ví dụ: ―Nature Beauty‖-Sản phẩm chăm sóc da của Tây Ban Nha được dịch theo đúngthứ tự cấu tạo tên và đúng ý nghĩa là: ―自然美”; cũng với cách cách dịch phỏng tác Công ty vận tải Mỹ ―American express‖ được dịch là: ―美国运通”; Điện gia dụng (Hàn Quốc) ―Happy cook‖ dịch thành‖ 快 乐 的 大 厨 ;nhãn hiệu thời trang
―Playboy‖(tay chơi) được dịch rất tài tình ―花花公子”(công tử trăng hoa), nhãn hiệu sữa nổi tiếng của Hà Lan ―Dutch Lady‖ (Cô gái Hà Lan) được dịch là‖荷兰子母”(mẫu
tử Hà Lan),Chuỗi nhà hàng thức ăn nhanh ở Mỹ ―Hooters‖: ―猫头鹰餐厅”; „
Trong khi thuần dịch ý chỉ dịch lại nghĩa đen ban đầu thì cách dịch phỏng tác ngoài dịch theo nghĩa đen còn thể hiện cả nghĩa bóng làm cho tên dịch mới hay hơn, ý nghĩa hơn rất nhiều Ta phân tích thêm ví dụ để làm rõ hơn luận điểm này:
Hiện nay, hãng máy bay ―Airbus‖ của Pháp đã vượt qua Boeing của Mỹ vươn lên đứng vị trí hàng đầu thế giớivề sản xuất và chế tạo máy bay Tên thương hiệu của hãng Airbus cũng rất thú vị, tên tiếng Anh có nghĩa là ―xe buýt không khí‖ tiếng Trung
đã dịch đối chiếu từng từ ―air‖ dịch là ―空中”,―bus‖ dịch là ―客车” Hơn nữa xét về cấu tạo từ, các từ trung tâm ― bus‖, ―客车”đều đứng phía sau, còn từ tu sức là ―air‖ và‖空中”đều đứng phía trước bổ nghĩa cho trung tâm ngữ, vì vậy tên dịch mới ―空中客车”rất sát nghĩa với tên ban đầu Không những thế khi ―Airbus‖ có nghĩa đen là―xe buýt không khí‖ thì ―空中客车‖còn được hiểu với nghĩa rộng là ―xe công cộng trên không trung‖cũng có thể hiểu rộng hơn đó là một dạng vận chuyển người, hàng hóa trên không
Trang 25Cái tên đem đến sự gần gũi, an tâm, cho khách hàng cảm giác như một chuyến đi xe công cộng thông thường
Đây cũng là một trường hợp dịch phỏng tác rất hay nhãn hiệu xe đạp
―Sportsman‖ có nghĩa là ―người đàn ông thể thao‖ dịch sang tiếng Hoa là―健将” Từ một người ―đàn ôngthể thao‖ của tên gốc đã biến thành một ―ông tướng khỏe mạnh, hùng dũng‖ Về ý nghĩa đã có một sự chuyển biến hay vượt bật nhưng vẫn giữ được tính chất khỏe khoắn, năng động phù hợp với tính chất của sản phẩm xe đạp dành cho nam, rất phù hợp với văn hóa Trung Hoa Hơn nữa trong kết cấu tên ―sports‖ được dịch đối chiếu với
―健”; “man‖ dịch đối chiếu với ―将‖, cả ―sports‖,“man‖ đều đứng phía trước bổ nghĩa cho “man‖và ―将‖ Vì thế cách dịch này không những có ý nghĩa tương đương, thậm chí còn hay hơn mà cũng hoàn toàn bám sát cấu trúc của từ gốc
2.3 Dịch kết hợp:
Dịch kết hợp là một cách dịch có từ sự tổng hợp giữa cách dịch âm và dịch ý lại với nhau, làm cho tên dịch vừa có thành phần dịch âm, vừa có thành phần dịch ý
Cách dịch kết hợp thể hiện tốt nội hàm , cũng như truyền đạt được cái thần của thương hiệu Bởi vì thứ nhất cách dịch này không căn cứ chính xác vào âm đọc của tên ban đầu mà chỉ lấy những âm đọc gần giống với nó Thứ hai cách dịch kết hợp tận dụng hết những thông tin văn hóa, thông tin tiếp nhận sự bao hàm trong mỗi chữ Hán, vận dụng tất cả những sự liên tưởng và ý tưởng cho việc tiêu dùng đa văn hóa
Thương hiệu tả lót ―Pampers‖ của Mỹ được dịch sang tiếng Hoa là ―帮宝适” Phân tích từng âm đọc ta có thể thấy, về âm đọc tên dịch mới có âm đọc tương đương với tên gốc Pampers : ―Pam‖~ ―帮‖; ―per‖~ ―宝‖; ―s‖~ ― 适‖, về ý nghĩa 帮宝适(帮宝贝觉得舒适)dịch ra là ―giúp các bécưng cảm thấy thoái mái‖, đối với sản phẩm chăm sóc trẻ
em mà nói tên dịch này thật sự đã gây được ấn tượng mạnh, nó vừa có âm đọc thân quen vừa truyền tải được tinh thần mà sản phẩm muốn mang đến
Còn như tên thương hiệu của hãng ―Samsung‖ sản xuất các mặt hàng điện thọai, tivi, máy ảnh, …của Hàn Quốc được dịch là ―三星” Tên dịch mới này không
Trang 26chỉ có âm đọc xít sao với tên gốc (―sam‖ ~ ―三; “sung”~ ―星”) mà về mặt ý nghĩa trong quan niệm của người Hàn Quốc thì ngôi sao còn là biểu tượng may mắn và số 3 cũng số may mắn Sự kết hợp giữa cách dịch âm và cách dịch ý đã tạo nên một cái tên dịch rất hay, vừa có âm đọc hết sức gần gũi vừa bao hàm nhiều ý nghĩa tốt đẹp
Hay lấy ví dụ về một thương hiệu thuốc ―Quick‖ có nghĩa là ―nhanh chóng‖ được dịch sang tiếng Trung là ―快克‖nghĩa là ―chóng lành‖ Âm đọc gần giống, về nghĩa
ko chỉ nói lên sự nhanh chóng của từ ban đầu mà còn nói lên tính chất của nhãn hiệu thuốc này , đó là uống vào sẽ nhanh chóng khỏi bệnh
Vì vậy, có thể nói dịch được tên thương hiệu nước ngoài thành công đã là một cách quảng bá rất tốt cho sản phẩm rồi Cho nên các nhà marketing muốn đưa sản phẩm của mình vào thị trường Trung Quốc cũng nên lưu ý điều này
2.3.1 Dịch nửa âm nửa ý:
Dịch nửa âm, nửa ý là cách dịch mà tác giả chia tên thương hiệu ra làm 2 phần, một phần dịch âm, một phần dịch ý (có thể dịch ý phần phía trước trước, dịch âm phần phía sau sau, hoặc ngược lại, hoặc tên dịch chỉ dịch một phần ý).Cách dịch này cũng rất phù hợp để sử dụng khi tên thương hiệu nước ngoài không phù hợp với dịch âm cũng không phù hợp với dịch ý
Ví dụ: một chuỗi cửa hàng cafe của Mỹ nổi tiếng từ 1971 đến nay có tên là
―Starbucks‖ tên này được dịch sang tiếng Hoa là ―星巴克‖: ―星‖được dịch nghĩa theo đúng nghĩa của ―star‖(ngôi sao), còn ―巴克‖ được dịch âm một cách gần giống với âm đọc của ―bucks‖
―Pepperidge Farm‖ thương hiệu bánh mỳ của Mỹ đã được dịch theo cách nửa
âm nửa ý sang tiếng Hoa là ―非凡农庄” ―Pepperidge‖ được lấy âm gần giống là ―非
凡‖ ; còn ―Farm‖ được dịch nguyên nghĩa là ―农庄”(nông trại)
Tờ nhật báo của Mỹ The Wall Street được dịch thành ―华尔街: ―Wall‖ được dịch âm là ―华尔‖, ―Street‖ được dịch trực tiếp thành ―街”(con đường)
Trang 27Các trường hợp sau cũng sửa dụng cách dịch nửa âm nửa ý: ―Eight o‘clock‖ thương hiệu Cafe (Mỹ):―八点档‖;Hệ thống trường học (Anh) ―Cambrige‖: ―剑桥‖; Đồ trang điểm ―Miss de France‖: ―法兰西施‖; Trường Đại Học công lập (Anh) ―Oxford‖:牛津; Nước giải khác (Mỹ) 7‘up:七喜,…
2.3.2 Dịch cả âm lẫn ý:
Dịch cả âm lẫn ý là cách dịch sử dụng những từ có âm đọc gần giống với tên thương hiệu ban đầu, đồng thời biểu hiện ý nghĩa có liên quan đến nội dung của tên thương hiệu, sau đó chọn lọc và tổng hợp lại cái tên vừa có âm đọc gần giống vừa liên quan đến chủng loại, đặc trưng hoặc tính chất sản phẩm Đây là cách dịch phức tạp và mang tính xử lý kỹ thuật cao nhất và hiệu quả đạt được cũng là cao nhất
2.3.2.1Dịch hài âm:
Cũng theo quy luật của phương pháp dịch cả âm lẫn ý : tên dịch mới có âm đọc gần giống và có ý, tinh thần gần giống với tên ban đầu, cách dịch hài âm phức tạp hơn nhiều, cách dịch này lựa chọnnhững từ ngữ không chỉ có phát âm gần giống mà ý nghĩa dịch ra của chính từ đó cũng gần giống với tên gốc Chính vì vậy số lượng tên dịch kiểu này rất ít so với các loại tên dịch khác
Thương hiệu giặt tẩy ―Clean one‖ có nghĩa là ―giặt sạch số một‖ và tên dịch của nó ―洗王‖- ―vua giặt tẩy‖ không những hài âm với nhau mà ngay cả nghĩa cũng chẳng khác nhau là bao.Còn thương hiệu thuốc ―Quick‖ có nghĩa là ―nhanh chóng‖ được dịch sang tiếng Trung là ―快克”nghĩa là ―chóng lành‖cũng tương đương như vậy.11
Thương hiệu ―Puma‖ được lấy từ tên của một giống cọp ở Mỹ, khi vào thị trường Trung Quốc được dịch là ―彪马‖ có nghĩa ―báo ngựa‖, hai tên này có âm đọc gần giống và việc dùng hình ảnh của chú tể rừng xanh và vua tốc độ của muôn thú để so sánh với nhau cũng cho ra ý nghĩa tương đương.Nhưng cái mà thương hiệu dụng cụ, thời trang
11
“Cách dịch các thương hiệu nước ngoài trong tiếng Trung‖, Lương iết Nhi, năm 2006, bậc đại học, trường đại học khoa học xã hội và nhân văn, thành phố Hồ Chí Minh
Trang 28thể thao này muốn truyền tải đó là sự vạm vỡ, lực lưỡng như cọp như báo mà các sản phẩm của họ muốn mang đến
Thương hiệu sữa tắm ―Zest‖ (điều thú vị, vui vẻ) được dịch ra bởi sự kết hợp của―激‖ và ―爽‖.“激”nghĩa làbắn lên, tóe lên, ướp lạnh,mãnh liệt,…“爽‖ có nghĩa là
dễ chịu, thoải mái, hai từ này tạo thành tên dịch mới ―激爽‖ không chỉ giống âm mà ý nghĩa con vượt trội hơn đó là cảm giác sảng khoái, mát lạnh khi người ta tắm mình, đùa giỡn với nước mà sữa tắm ―Zest‖ tạo ra
2.3.2.2 Dịch âm hài ý:
Nếu như cách dịch hài âm vừa phải thật giống về ngữ âm vừa phải thật giống
về ngữ nghĩa thì trong cách dịch hài ý này chú trọng đến hình thức ngữ nghĩa nhiều hơn, nhiều khi tên dịch có âm đọc không quá giống nguyên bản, nhưng ý nghĩa, nội hàm của tên, tính chất của sản phẩm thì luôn được làm nổi bật nhất Đây là cách dịch càng ngày càng được người tiêu dùng xem trọng vì sự vượt trội của nó so với từ gốc, nó khiến người
ta phải tưởng tượng, đặt mình trong tâm lý của người tiêu dùng Và đây cũng là phương pháp dịch được nhiều tên thương hiệu nước ngoài nhất
Thương hiệu siêu thị, vật liệu xây dựng (Anh) ―B&Q ‖ tên viết tắt này khi đọc
sẽ là /bi: aend kju:/ người ta đã đặt tên tiếng Trung cho thương hiệu là ―百安居‖ngoài việc âm đọc giống ra, cái tên ―百安居‖ còn nói tên được tính chất của sản phẩm, một quan niệm hay đúng hơn là câu chúc tốt lành cho khách hàng ―Bách an cư‖ (trăm điều an lành cho nơi cư trú, cho ngôi nhà của bạn) rất phù hợp với tâm lý của người tiêu dùng
Thương hiệu đồng hồ của Thụy Sĩ ―Zenith‖ cũng không nằm ngoài quy luật tên dịch có âm đọc gần giống, ý nghĩa gần giống của cách dịch kết hợp, cách dịch âm hài
ý chú trọng nhiều hơn đến ý nghĩa, nên tên thương hiệu tiếng Hoa ―真利时‖ (quả là có lợi cho thời gian) – chiếc đồng hồ sẽ giúp nhắc nhở người tiêu dùng sử dụng hiệu quả từng phút từng giây của mình, cái tên“真利时”như một lời quảng cáo hấp dẫn cho thương hiệu đồng hồ―Zenith‖
Trang 29Trong thể thao, việc cách nhau từng xentimet cũng làm nên sự khác biệt to lớn, thương hiệu giày thể thao của Anh ―Reebok‖(lấy cảm hứng từ tên của một loài linh dương ở châu Phi) có tên dịch rất hay ở thị trường Trung Quốc, đó là ―锐步‖, tên ―锐步‖ không những có phát âm tương đồng với ―Reebok‖ mà nó còn có nghĩa là ―bước đi sắc bén‖ tạo cho người mang những bước đi chuẩn xác nhất, tên dịch đánh vào tâm lý đem đến sự tin tưởng cho người tiêu dùng về những gì mà loại giày thể thao này có thể giúp
họ trong luyện tập, thi đấu,…
Thích hợp với những tên dịch thành công nhờ chất lượng và đã quá nổi tiếng
Phù hợp với tâm lý chuộng hàng ngoại của giới trẻ Trung Quốc
Dịch được những tên riêng, tên viết tắt, tên không âm, khó dịch nghĩa
Tên dịch thường rất dài
Mang tính phân ly
về nghĩa, không tạo thành cụm từ mang ý nghĩa nhất địnhkhó hiểu hoặc gây
ra nghĩa phát sinh khiến hiểu nhầm qua chủng loại sản phẩm khác
Trang 30DỊCH Ý
THUẦN DỊCH Ý
Thể hiện chính xác tâm tư, nguyện vọng của người sáng lập tên thương hiệu ban đầu
Thống nhất, hài hòa về nghĩa với hình vẽ, logo của thương hiệu
Tên có thể là danh
từ riêng, từ viết tắt, từ đã được cải tạo không phải tên nào cũng mang một ý nghĩa rõ ràng để có thể hiểu và dịch được
DỊCH BIỂU Ý
Trong tên có từ quy loại cho sản phẩm giúp người tiêu dùng dễ dàng nhận dạng được sản phẩm
Có thêm thành phần dịch âm để định vị sản phẩm đôi khi cũng gây
sự khó hiểu
TÁC
Ngoài thể hiện được nghĩa đen còn thể hiện được nghĩa bóng của tên thương hiệu
Kiểu dịch này mang nhiều ẩn ý nên số lượng tên dịch này tương đối ít
DỊCH
KẾT HỢP
DỊCH NỬA ÂM NỬA Ý
Thích hợp với những tên vừa không phù hợp với cách dịch âm cũng không hợp với cách dịch ý
Phân tách tên, phải chọn những từ 1 phần có
âm gần giống, 1 phần có nghĩa gần giống còn nhiều hạn chế
DỊCH CẢ
ÂM LẪN
Ý
DỊCH HÀI
ÂM
Âm gần giống, nghĩa cũng gần giống tạo vừa giúp người tiêu dùng
dễ nhận ra thương hiệu, vừa truyền tải tốt tư tưởng,
Phải chọn từvừa có
âm gần giống nhất nghĩa cũng phải gần giống nhấtsố lượng rất ít
Trang 31tính chất, của sản phẩm
DỊCH HÀI Ý
Âm không giống lắm nhưng về ngữ nghĩa là
sự vượt trội so với nguyên tác,truyền tải được tính chất, sự ưu việt, của sản phẩm; truyền tải được tinh thần, tâm tư, nguyện vọng của người sáng lập
Có thể phiên dịch được nhiều loại tên thương hiệu nước ngoài nhất
Đôi lúc tên dịch quá bay bổng, khi cần thiết không thể đoán ra được tên gốc ban đầu
Bảng 2.1 Theo thống kê, trong gần 500 tên thương hiệu nước ngoài dịch sang tiếng Hoa
mà người viết sưu tập được (xem bảng phụ lục tên dịch tiếng hoa các thương hiệu nước ngoài), tên dịch thương hiệu sử dụng cách dịch âmcó 196 tên chiếm 39.52 %, tên dịch ý
có 60 tên, chiếm 12.09 %,dịch kết hợpnhiều nhất có 240 tên chiếm 48.39%
Trong cách dịch ý có 56 tên: thuần dịch ý có 37 tên chiếm 61.67%; dịch biểu ý chỉ có 8 tên chiếm13.33%; dịch phỏng tác có 15 tên chiếm 25.00%
Trong cách dịch kết hợp (240 tên) thì tên dịch nửa âm nửa ý chiếm 7.92%; têndịch cả âm lẫn ý có chiếm 92.08% Trong dịch cả âm và ý: tên dịch hài âm chỉ có 1.81%, tên dịch âm hài ý 98.19%
Trang 32Biểu đồ 2.1
SỰ PHÁT TRIỂN CỦA CÁC CÁCH DỊCH TÊN THƯƠNG HIỆU NƯỚC NGOÀI:
Dịch âm dịch ý dịch kết hợp
(dich biểu ý thuần dịch ý dịch phỏng tác) (dịch cả âm lẫn ýdịch nửa âm nửa ý)
(dịch hài âm dịch âm hài ý)
Sơ đồ 2.3 Dựa vào ưu, khuyết điểm của từng cách dịch, dựa vào thống kê tỷ lệ các cách dịch ta có thể nhận thấy:
Tùy từng tên thương hiệu nước ngoài, tùy từng mục đích của tác giả mà có từng cách dịch tên tiếng hoa khác nhau , nhưng nhìn chung không ít từ đều thường phải trãi qua một quá trình thay đổi từ dạng dịch âm ban đầu đến dạng dịch ý, lấy đơn cử tên thuốc ―Penicillin‖ ban đầu được dịch âm là ―盘尼西林‖ tên đọc vừa dài, vừa khó đọc, khó nhớ nên sau đó được đổi thành ―青霉素‖ cái tên này dễ nhớ và gần gũi với cách nghĩ của người Trung Quốc hơn, hay xe ―Mercedes-benz‖ ban đầu được dịch là ―默塞得斯 -
本茨‖sau này được đổi thành ―奔驰‖, cái tên cho cảm giác chiếc xe đang lao nhanh trên đường vắng, mang lại hiệu quả cao hơn cái tên ban đầu nhiều,…Điều đó chứng tỏ dịch ý
Trang 33là một bước cao hơn so với dịch âm Và dịch kết hợp là sự tổ hợp các ưu điểm của dịch
âm và dịch ý lại với nhau, tạo nên tên dịch có âm đọc gần giống với từ gốc, có từ quy loại cho sản phẩm, truyền tải tốt nội hàm tên nguyên bản, có thể linh hoạt trong việc chọn từ ngữ Có thể nói cách dịch kết hợp là cách dịch phát triển nhất và cách dịch âm hài ý- một
nhánh của cách dịch kết hợp là cách dịch có thể phiên dịch được nhiều loại tên thương
hiệu nước ngoài nhất trong các cách dịch trên
Trang 34CHƯƠNG III: CÁCH PHIÊN ÂM TIẾNG NƯỚC NGOÀI SANG TIẾNG VIỆT:
Ở Việt Nam hiện nay, xuất hiện rất nhiều tranh luận, câu hỏi về cách đọc tên các thương hiệu nước ngoài trong đời sống hằng ngày cũng như trên các diễn đàn Lấy ví
dụ như có bạn hỏi: ―tại sao thương hiệu máy tính Asus đọc là "ây sớt" có người lại đọc là
"a sút"‖…Còn đối với thương hiệu thời trang nổi tiếng của Italicó bạn hỏi: ―Gucciđọc là
"gu xi" có người lại đọc là " gu chi" còn Sennheiser đọc là "sen hây xơ" hay là "sen hi xơ" các bạn nhỉ?‖;…
Một bạn nói ―Lên youtube mà coi người nước ngoài đọc,dân VN cứ đọc sai hết cả lên: Acer= ây xờ,ASUS= a zus= a zút (sì)‖;…Bạn khác có ý kiến ―Bọn bạn mình (cũng mang tiếng dân tin) đọc Google là ―gu ge‖ , phải đọc phong cách Việt Nam mới chất chứ các bác‖;…Một bạn nam nói: ―Thế ―youtube‖ đọc là ―diu túp‖ hay ―diu tiubờ‖
là đúng nhỉ?, mình đọc là diu túp, mấy thằng em toàn đọc là " diu tu bi" ức chế kinh ‖;…
Một thắc mắc khác: ―cho e hỏi mọi người hay đọc MSI là "em si", "mờ si",
"em ét i" hay "mờ ét i‖;…Một bạn nữ hỏi:― ―Calvin klein‖ đọc sao biết để đi mua nói cho khỏi quê!‖;… Cũng một bạn khác cho ý kiến: ―Thật ra mình thích kiểu phiên âm biến thành tiếng Việt hơn là đọc kiểu tây, số tham âm của tiếng Việt nhiều hơn nên phải làm sao cho phong phú và phù hợp chứ!chứ đố thằng Tây nào phát âm chuẩn được từ ―phở‖ đấy‖; 12
Các hình ảnh phản ánh viêc không thống nhất các quy tắc trong phiên âm các thương hiệu, các danh từ riêng nước ngoài dưới cũng gây bức xúc cho không ít người:
12
httpvozforums.com/showthread.php?t=2182192://
Trang 35Hình 3.2 Tình trạng phiên âm thương hiệu, danh từ riêng nước ngoài trong đời sống,
quảng cáo,trên báo chí, sách giáo khoa13Một hiện trạng khác về các danh từ riêng mà các đài truyền hình và các tờ báo được coi là cơ quan ngôn luận chính thức của Đảng và Nhà nước đang rất không thống nhất trong cách đọc và cách viết:
―HIV đọc kiểu Việt Nam là ―Hát-i-vê‖, VTV cũng đọc là ―Vê-tê-vê‖, Tổ chức thương mại thế giới WTO đọc là ―vê-đúp-tê-ô‖, cơ quan năng lượng nguyên tử quốc tế IAEA vẫn đọc là ―i-a-e-a‖, CIA đọc là ―xê-i-a‖… Nhưng CNN thì đọc là ―xi-en-en‖!‖
13 http://www.tinmoi.vn/thay-tro-chiu-chet-voi-ma-tran-phien-am-trong-sach-giao-khoa-01891815.html
http://baonga.com/16372/print-article.html
Trang 36Cũng có trường hợp cùng một tên mà mỗi biên tập viên lại đọc một kiểu, ví dụ như đội bóng Hà Nội T&T, có người đọc là ―ti-en-ti‖, có người đọc là ―tê-và-tê‖; FBI có người đọc là ―ép-bê-I‖, có người đọc là ―ép-bi-ai‖…
Chính vì tình trạng này mà có những cái tên bị đọc thành một nữa theo tiếng Anh một nữa theo tiếng Việt, ví dụ như VTV Sun Group Cup, thì đọc thành ―vê-tê-vê săn-gờ-rúp cúp‖ Vậy là phải đọc theo kiểu Anh hay kiểu Pháp?
Còn ―chương trình ―Đồ-rê-mí‖ thì bắt các cháu đọc cú pháp soạn tin nhắn DRM là ―đờ-rờ-mờ‖ hông rõ đang đọc là a-bê-xê hay là a-bờ-cờ nữa! Nếu bắt các cháu đọc hết là ―a-bờ-cờ‖, thì người lớn phải làm gương, đọc VTV là ―vờ-tờ-vờ‖, trang web vtv.vn phải đọc là ―vờ-tờ-vờ chấm vờ-nờ‖!‖
Hơn nữa còn có mâu thuẫn giữa cách đọc đã có từ lâu và cách đọc mới được
―sáng tạo‖ ra, ví dụ: Leonardo Da Vinci, theo cách đọc quen thuộc từ xưa đến nay, người
ta vẫn đọc là ―Lê-ô-na Đờ Vanh-xi‖ Thế nhưng cũng có những người cậy mình học bên Tây về, đọc là ―Đa Vin-chi‖ Rồi ―con ngựa gỗ thành Tơ-roa‖ là câu khá quen thuộc rồi,
mà cũng có người hoặc vô ý hoặc cố tình đọc là thành ―tơ-roi‖ Cách đọc cũ có thể không đúng (vì đọc theo Pháp), nhưng cách đọc mới chưa chắc đã đúng hơn đâu, vì là đọc theo Anh Mĩ chứ cũng đâu có đọc theo Ý hay Hi Lạp? Một cái tên không phải tiếng Anh, mà
cứ phải cố phát âm cho giống người Anh người Mĩ thì cũng không phải là hay!
Một ví dụ điển hình khác là cách đọc của từ Vietnam Airlines Cụm từ này khá
dễ đối với những ai học tiếng Anh thôi, thế nhưng ngay cả đài truyền hình VTV cũng tồn tại những cách đọc khác nhau, mà khác nhau rõ ràng nhất là có ―sờ‖ và không có ―sờ‖ Ngay cả ―Bà Nà Hills – đường lên tiên cảnh‖ cũng vậy, hình như chưa một lần nào đoạn băng quảng cáo đọc được chữ ―s‖ đằng sau ―hill‖, mà chỉ đọc là ―Bà Nà hiu‖.14
Từ các hiện trạng loạn ngôn ngữ trên thiết nghĩ cần phải có sự quy chuẩn, sự thống nhất không chỉ trong việc phiên dịch các thương hiệu nước ngoài sang tiếng việt
mà còn phải có sự thống nhất trong phiên dịch các danh từ riêng nước ngoài trong tiếng Việt
14
http://khoavanhoc-ngonngu.edu.vn/home/index.php?option=com_content&view=category&id=128&Itemid=194&lang=vi
Trang 37Việc đặt tên thương hiệu là do ý thích của chủ doanh nghiệp, đó có thể là cái tên viết tắt, tên do họ sáng tạo ra hoặc cũng có thể là tên của chính họ, tên một người, một vật, một sự việc hay một địa điểm nào đó Điều đó cho thấy rất nhiều thương hiệu có nguồn gốc từ danh từ riêng như: tên người, tên của một quốc gia, tên của một địa danh,…các danh từ riêng này cũng có thể trở thành tên thương hiệu cho sản phẩm, dịch
vụ nào đó, ví dụ: thương hiệu xe ―Mercedes‖ được lấy trừ tên của con gái ông trùm tài phiệt Đức;tạp chí ―The New York Times‖ lấy tên một thành phố của Mỹ; ngân hàng
―Bank of America‖; hãng máy bay ―Singapore Airlines‖ lấy tên của quốc gia làm tên thương hiệu; Vì thế trong phần trình bày cách dịch thương hiệu nước ngoài dịch sang tiếng Việt này người viết không chỉ nói về những tên thương hiệu sẵn có mà xin trình bày rộng ra luận điểm trên thành: cách dịch các danh từ riêngnước ngoài sang tiếng Việt Vì các danh từ riêng này cũng có thể trở thành thương hiệu, vì tên thương hiệu và danh từ riêng cùng đều là tên nước ngoài dịch ra tiếng Việt nên tìm hiểu về cách dịch cũng không
có gì thay đổi và vì việc phiên dịch các danh từ riêng nước ngoài trong tiếng Việt còn tồn tại nhiều bất cập cần phải có hướng giải quyết
Hiện chưa có thông tư, quy định thống nhất của nhà nước về cách dịch danh từ riêng nước ngoài nhưng đã có không ít các tác giả cũng đã và đang nghiên cứu về đề tài này, theo đề cử của các tác giả để dịch các danh từ riêng nước ngoài sang tiếng Việt nên
sử dụng các cách dịch sau:
Sơ đồ 3.1
Trang 383.1 Phiên:
Phiên được thực hiện trên cơ sở cách đọc cách viết của nguyên ngữ Hiện tại
có hai cách phiên, đó là "phiên âm" và "phiênchuyển"
Đối với cách phiên các danh từ riêng nước ngoài có ưu điểm chung là người
Việt ở trình độ phổ thông có thể đọc được, viết lại được, nhớ được và nhiều khi có thể sử
dụng linh hoạt theo hướng đơn tiết hoá , ví dụ: Hiện đang học ở Mát
Tuy nhiên, khuyết điểm lớn nhất của cách phiên này là chọn cách đọc nào để
phiên và phiên như thế nào cho thống nhất nhất khi có sự khác biệt không nhỏ về âm
Ai-en-stai-nơ An-bet (theo tiếng Đức) hay là Anh-xtanh An-be (theo tiếng Pháp)?; Phiên theo cách đọc nào (tiếng Anh Anh, tiếng Anh Mỹ hay tiếng Anh Ca-na-đa, )? Đây chính là nguyên nhân dẫn tới sự không thống nhất, tạo ra nhiều biến thể của cùng một tên riêng
Khuyết điểm lớn thứ hai là về mặt ngôn ngữ học, có một khó khăn đặt ra trong
cách phiên là việc tách âm tiết Chẳng hạn, trường hợp Philippines có thể có hai cách
"tách" âm tiết tạo ra hai cách đọc khác nhau: Phi-li-pin < Phi/li/ppines và Phi-líp-pin
<Phi/lip/pines; Trê/Chê-sni-a < че/чня và Tréc-ni-a/Chếch-ni-a < чеч/ня
Còn một khuyết điểm nữa cũng không kém phần quan trọng: Cách phiên âm tiếng nước ngoài sang tiếng Việt như hiện nay khiến nhiều học sinh phải loay hoay rối
mù khi tìm kiếm các địa danh và nhân vật lịch sử: ví dụ trên báo thanh niên điện tử: Đặng Thanh Nga - một cựu học sinh Trường THPT Quang Trung (Hà Nội), cho biết: ―Lớp 11, khi làm thuyết trình về đề tài Những thành tựu văn hóa thời cận đại, nhóm của em đã rất
khó khăn trong việc tìm kiếm tư liệu trên internet về các danh nhân trong bài chỉ vì cách
ghi tên như trong sách giáo khoa Chúng em phải mất khá nhiều thời gian để tìm từ nguyên dạng, rồi sau đó mới có thể tìm kiếm được thêm thông tin vì chẳng ai dùng cách
viết như sách giáo khoa…‖ Không những thế cách phiên âm còn gây trở ngại khi viết
chính tả:Bà Lê Thị Ngọc Điệp - Hiệu trưởng Trường tiểu học Nguyễn Bỉnh Khiêm,
Quận 1 (TP.HCM) - cho rằng: ―Tại TP.HCM, học sinh lớp 1 của nhiều trường đã học tiếng Anh rồi, cả nước sắp tới sẽ áp dụng dạy tiếng Anh từ lớp 3 Theo tôi là nên để
Trang 39nguyên bản các danh từ, cần thống nhất phiên âm các danh từ có gạch nối hay không Chứ nếu như tình trạng hiện nay sẽ gây khó cho học sinh trong lúc viết chính tả vì các em
sẽ không nhớ lúc nào là nên viết có gạch ngang và lúc nào không.‖15
3.1.1 Phiên âm:
Phiên âm là hình thức vay mượn từ vựng bằng cách dựa trên (phỏng theo) âm đọc của từ ngữ cho vay để ghi lại từ ngữ đó bằng cách đọc, cách viết của ngôn ngữ đi vay Tất nhiên là mỗi ngôn ngữ đều cố gắng xây dựng cho mình một phương thức phiên âm mang tính nguyên tắc (Trích Nguyễn Văn hang, tháng 4 năm 2007,Từ ngoại lai trong tiếng Việt, Nhà xuất bản Giáo Dục, Hà Nội, trang 52)
Có thể hiểu một cách đơn giản, phiên âm là phỏng theo cách đọc (âm đọc) của nguyên ngữ Ví dụ: Ô-xtrây-li-a; Hi-la-ri Clin-tơn; Oa-sinh-tơn,…
Phiên âm có lợi thế lớn nhấtlà gần với cách đọc nguyên ngữ của tên riêng
3.1.2 Phiên chuyển:
Theo cuốn ‗Từ ngoại lai trong Tiếng Việt‘ trang 381 của tác giả Nguyễn Văn Khang, Phiên chuyển là phỏng theo âm đọc kết hợp với mặt chữ (cách gọi quen thuộc là
"kết hợp giữa phiên âm và chuyển tự"
Ví dụ: thành phố California, nếu phiên âm phải là Ke-li-pho-ni-ơ, còn nếu theo cách phiên chuyển thì là Ca-li-pho/phoóc-ni-a
Phiên chuyển sử dụng được lợi thế về mặt văn tự của người Việt nhưng lại
"xa" với cách đọc theo nguyên ngữ
Cách trình bày của cả hai kiểu phiên (phiên âm và phiên chuyển) trên được thể
hiện như sau:
15
http://www.thanhnien.com.vn/pages/20120502/loan-phien-am-hau-qua-nghiem-trong.aspx
Trang 40Phiên theo cách viết có dấu chữ và có gạch nối tạo ra được mối quan hệ chặt chẽ giữa các yếu tố tạo thành chính thể tên riêng, giúp cho người ở bậc phổ thông có thể đọc được và viết được, thậm chí nhớ được Song, đối với hình thức của cả văn bản thì không phù hợp cho lắm và cũng không kinh tế, tiết kiệm cho ấn phẩm (vì có gạch nối)
Phiên theo cách viết có dấu chữ và không có có gạch nối thì ngoài ưu điểm như trên còn có ưu điểm nữa là phù hợp về hình thức văn bản tiếng Việt, kinh tế cho ấn phẩm (vì không có gạch nối), nhưng lại khó khăn trong nhận diện "tính hoàn chỉnh" của một tên riêng (Ví dụ: en nơ đi ra khỏi phòng làm việc).16
Phiên theo cách viết liền có ưu điểm về nhận diện tên riêng, kinh tế cho ấn phẩm, nhưng ở một số trường hợp sẽ gặp khó khăn trong việc nhận diện âm tiết khi đọc
Ví dụ: Campuchia: Cam/pu/chia, Cam/pu/chi/a; Giamahiria: Gia/ma/hi/ri/a,
16
http://www.vietgle.vn/diendan/showthread.php/13372-Phien-am-tieng-nuoc-ngoai-tren-cac-bao