1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TIỂU LUẬN TRIẾT THUYẾT ÂM DƯƠNG - NGŨ HÀNH VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA HỌC THUYẾT ĐỐI VỚI NỀN Y HỌC CỦA PHƯƠNG ĐÔNG

36 944 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 36
Dung lượng 657,89 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TIỂU LUẬN TRIẾT THUYẾT ÂM DƯƠNG - NGŨ HÀNH VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA HỌC THUYẾT ĐỐI VỚI NỀN Y HỌC CỦA PHƯƠNG ĐÔNG

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH

PHÒNG ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC

TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC

ĐỀ TÀI SỐ 5

HVTH: LƯƠNG HUỆ THANH NHÓM: 6

STT: 98 LỚP: K20 – ĐÊM 1 CAO HỌC GVHD: TS BÙI VĂN MƯA

TP.HCM 5/2011

Trang 2

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 3

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 4

1.1 Thế nào là "Âm dương": 4

1.2 Thuyết Âm – Dương: 4

1.3 Thế nào là Ngũ hành: 5

1.4 Thuyết Ngũ hành: 5

1.5 Mối quan hệ giữa Âm dương và Ngũ hành: 6

CHƯƠNG 2: ẢNH HƯỞNG CỦA THUYẾT ÂM DƯƠNG NGŨ HÀNH ĐỐI VỚI LĨNH VỰC Y HỌC CỦA PHƯƠNG ĐÔNG 8

2.1 Nguồn gốc Y học Phương Đông: 8

2.2 Sự vận dụng thuyết Âm dương – Ngũ hành vào lĩnh vực y học của người Phương Đông: 8

2.2.1 Âm dương Ngũ hành và Cơ thể: 8

2.2.2 Âm dương Ngũ hành và Sinh lý(3): 10

2.2.3 Âm dương Ngũ hành và Bệnh lý: 12

2.2.4 Âm dương Ngũ hành và Chẩn bệnh: 14

2.2.5 Âm dương Ngũ hành và Dược liệu: 16

2.2.6 Âm dương Ngũ hành và Châm Cứu: 17

2.2.7 Âm dương Ngũ hành và Điều trị: 19

2.2.8 Âm dương Ngũ hành và Phòng Bệnh: 20

2.2.9 Điều hòa Âm dương Ngũ hành: 21

CHƯƠNG 3: ÂM DƯƠNG NGŨ HÀNH VÀ ƯU NHƯỢC ĐIỂM CỦA Y HỌC PHƯƠNG ĐÔNG 23

3.1.1 Không xem cơ thể bệnh nhân là chiến trường 23

3.1.2 Có thể chẩn bệnh trong mọi hoàn cản 23

3.1.3 Không dùng thuốc có hại cho sức khỏe của bệnh nhân 23

3.1.4 Chữa bệnh tận gốc 24

Trang 3

3.2 Nhược điểm của Y học Phương Đông 24

3.2.1 Hiệu quả điều trị chậm 24

3.2.2 Chưa có cách chữa trị kịp thời cho những căn bệnh mới lạ 24

3.2.3 Thuốc khó sử dụng 24

KẾT LUẬN 25

PHỤ LỤC 1: BỆNH SỐT 27

PHỤ LỤC 2: CHỨNG ÂM HỎA THƯƠNG 27

PHỤ LỤC 3: CÁCH SỬ DỤNG THUỐC THEO HỌC THUYẾT ÂM DƯƠNG 28

PHỤ LỤC 4: BỆNH VỀ PHẾ 30

PHỤ LỤC 5: BIỂU ĐỔ TỒNG KẾT ÂM DƯƠNG 31

PHỤ LỤC 6: BIỂU ĐỔ TỒNG KẾT NGŨ HÀNH TRONG Y HỌC 32

PHỤ LỤC 7: HÌNH VẼ & BIỂU TƯỢNG 33

PHỤ LỤC 8: TRÍCH DẪN 34

TÀI LIỆU THAM KHẢO 35

Trang 4

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn Đề tài:

Kể từ sau khi xuất hiện tác phẩm “Hoàng Đế Nội Kinh Tố Vấn” và với ảnh hưởng mạnh mẽ của tác phẩm này, thuyết Âm dương - Ngũ hành ngày càng được các nhà tư tưởng phát triển và vận dụng vào nhiều lĩnh vực khác nhau, trong đó có lĩnh vực Y học ở Trung Quốc và một số nước Phương Đông khác Y học cổ truyền Phương Đông đã dựa trên cơ sở lý luận thuyết Âm dương - Ngũ hành để phòng trị bệnh và nâng cao sức khỏe cho con người Chính vì thế, việc tìm hiểu học thuyết

Âm dương - Ngũ hành là một việc cần thiết để lý giải những đặc trưng của triết học cũng như nền Y học Phương Đông

2 Mục tiêu của Đề tài:

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là: trên cơ sở làm sáng tỏ thuyết Âm dương - Ngũ hành của triết học Phương Đông và ảnh hưởng của nó đối với nền y học, đề tài còn đi sâu nghiên cứu các ứng dụng thực tế của nó trong việc điều trị và chẩn bệnh hiện nay

3 Phạm vi nghiên cứu:

Thuyết Âm dương - Ngũ hành và sự ảnh hưởng của nó đến nền y học Phương Đông

4 Phương Pháp Nghiên Cứu:

4.1 Cơ sở phương pháp luận:

Đề tài được triển khai dựa trên nội dung của thuyết Âm dương - Ngũ hành và giá trị của nền y học Phương Đông

4.2 Các phương pháp cụ thể:

Trong quá trình nghiên cứu và trình bày đề tài, các phương pháp nghiên cứu

đã được sử dụng như: Phương pháp lịch sử, Phương pháp phân tích tổng hợp…

5 Kết cấu của đề tài: Gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận

Chương 2: Ảnh hưởng của Âm dương - Ngũ hành đối với Y học

Chương 3: Âm dương - Ngũ hành và Ưu Nhược điểm của Y học Phương Đông

Trang 5

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Thế nào là "Âm dương":

Âm và Dương theo khái niệm cổ không phải là vật chất cụ thể, không gian cụ thể mà là thuộc tính của mọi hiện tượng, mọi sự vật trong toàn vũ trụ cũng như trong từng tế bào, từng chi tiết Âm và Dương là hai mặt đối lập, mâu thuẫn thống nhất, trong Dương có mầm mống của Âm và ngược lại (Xem hình 1, phụ lục 7 – Trang 33)

1.2 Thuyết Âm – Dương:

Từ thực tế cuộc sống, người Trung Quốc cổ đại cho rằng bản thân vũ trụ cũng như vạn vật được tạo thành nhờ vào sự tác động lẫn nhau của hai lực lượng đối lập nhau là Âm và Dương, và mọi tai họa trong vũ trụ sở dĩ xảy ra cũng là do sự không điều hòa được hai lực lượng ấy

Âm là phạm trù đối lập với Dương, phản ánh những yếu tố (sự vật, hiện tượng, tính chất, quan hệ …) và khuynh hướng (giống cái, đất, mẹ, vợ, nhu, thuận, tối, ẩm, phía dưới, bên phải, số chẵn, tĩnh, tiêu cực…)

Dương là phạm trù đối lập với Âm, phản ánh những yếu tố (sự vật, hiện tượng, tính chất, quan hệ …) và khuynh hướng (giống đực, trời, cha, chồng, cương, cường, sáng, khô, phía trên, bên trái, số lẻ, động, tích cực…)

Âm và Dương không chỉ phản ánh hai loại lực lượng mà còn phản ánh hai loại khuynh hướng đối lập, không tách rời nhau, ôm lấy nhau, xoắn vào nhau; vì vậy, trong Âm có Dương, và trong Dương có Âm Đó cũng chính là sự thống nhất giữa cái động và cái tĩnh, trong động có tĩnh và trong tĩnh có động và chúng chỉ khác

ở chỗ, bản tính của Dương là hiếu động, còn bản tính của Âm là hiếu tĩnh Do thống nhất, giao cảm với nhau mà Âm và Dương có động, mà động thì sinh ra biến; biến tới cùng thì hóa để được thông; có thông thì mới tồn vĩnh cửu được Như vậy, sự thống nhất và tác động của hai lực lượng, khuynh hướng đối lập Âm và Dương tạo

ra sự sinh thành biến hóa của vạn vật; nhưng vạn vật khi biến tới cùng thì quay trở lại cái ban đầu

Trang 6

Âm và Dương tác động chuyển hóa lẫn nhau, Dương cực thì Âm sinh, Dương tiến thì Âm lùi, Dương thịnh thì Âm suy… và ngược lại

1.3 Thế nào là Ngũ hành:

Theo thuyết duy vật cổ đại, tất cả mọi vật chất cụ thể được tạo nên trong thế giới này đều do năm yếu tố ban đầu là “nước, lửa, đất, cây cỏ và kim loại” tức Ngũ hành “thủy, hỏa, thổ, mộc, kim” (Xem hình 2, phụ lục 7 – Trang 33)

Ngũ hành tương sinh: thuộc lẽ thiên nhiên, nhờ nước cây xanh mọc lớn lên

(thủy sinh mộc), cây cỏ làm mồi nhen lửa đỏ (mộc sinh hỏa), tro tàn tích lại đất vàng thêm (hỏa sinh thổ), lòng đất tạo nên kim loại trắng (thổ sinh kim), kim loại vào lò chảy nước đen (kim sinh thủy)

Ngũ hành tương khắc: lẽ xưa nay rễ cây đâm xuyên lớp đất dày (mộc khắc

thổ), đất đắp đê cao ngăn nước lũ (thổ khắc thủy), nước dội nhiều nhanh dập lửa ngay (thủy khắc hỏa), lửa lò nung chảy đồng sắt thép (hỏa khắc kim), thép cứng rèn

dao chặt cỏ cây (kim khắc mộc)

Luật tương sinh: Tương sinh có nghĩa là giúp đỡ nhau để sinh trưởng, đem

Ngũ hành liên hệ với nhau thì thấy 5 hành có quan hệ xúc tiến lẫn nhau, nương tựa lẫn nhau

Mộc sinh Hoả = Can sinh Tâm

Hoả sinh Thổ = Tâm sinh Tỳ

Thổ sinh Kim = Tỳ sinh Phế

Kim sinh Thuỷ = Phế sinh Thận

Thuỷ sinh Mộc = Thận sinh Can

Trang 7

Trong luật tương sinh của Ngũ hành còn hàm ý là hành nào cũng có quan hệ

về hai phương diện: Cái sinh ra nó và cái nó sinh ra, tức là quan hệ mẫu tử Trong quan hệ tương sinh lại có quan hệ tương khắc để biều hiện cái ý thăng bằng, giữ gìn lẫn nhau

Luật tương khắc:

Mộc khắc Thổ = Can khắc Tỳ

Thổ khắc Thuỷ = Tỳ khắc Thận

Thuỷ khắc Hoả = Thận khắc Tâm

Hoả khắc Kim = Tâm khắc Phế

Kim khắc Mộc = Phế khắc Can

Tương khắc có nghĩa là ức chế và thắng nhau, trong tình trạng bình thường sự tương khắc có tác dụng duy trì sự thăng bằng, nhưng nếu tương khắc thái quá thì làm cho sự biến hoá trở nên khác thường Trong tương khắc, mỗi hành cũng lại có hai quan hệ: giữa cái thắng nó và cái nó thắng Hiện tượng tương khắc không tồn tại đơn độc; trong tương khắc đã có ngụ ý tương sinh, do đó vạn vật tồn tại và phát triển

Luật chế hóa: Chế hoá là chế ức và sinh hoá phối hợp với nhau Trong chế

hoá bao gồm cả hiện tượng tương sinh và tương khắc Hai hiện tượng này gắn liền với nhau nhằm biểu thị sự cân bằng trong vạn vật; nhưng nếu có hiện tượng sinh khắc thái quá hoặc không đủ thì sẽ xảy ra sự biến hoá khác thường Quy luật chế hoá Ngũ hành là:

- Mộc khắc thổ, thổ sinh kim, kim khắc mộc

- Hỏa khắc kim, kim sinh thủy, thủy khắc hỏa

- Thổ khắc thủy, thủy sinh mộc, mộc khắc thổ

- Kim khắc mộc, mộc sinh hỏa, hỏa khắc kim

- Thủy khắc hỏa, hỏa sinh thổ, thổ khắc thủy

1.5 Mối quan hệ giữa Âm dương và Ngũ hành:

Thời Chiến quốc, Trâu Diễn đã kết hợp hai học thuyết này để giải thích các

Trang 8

Chiến Quốc, đầu thời Tần Hán có hai xu hướng khác nhau bàn về sự kết hợp giữa thuyết Âm dương và thuyết Ngũ hành

- Hướng thứ nhất: Đổng Trọng Thư kết hợp Âm dương, Ngũ hành giữa con người và tự nhiên có một mối quan hệ thần bí

- Hướng thứ hai: Tác phẩm "Hoàng Đế Nội kinh" đã sử dụng triết học

Âm dương Ngũ hành làm hệ thống lý luận của y học

Từ đó, các nhà y học Phương Đông đã vận dụng hai học thuyết này như một

lý luận cơ bản cho nền y học Phương Đông Các nhà y học Phương Đông cho rằng:

“Cơ thể con người có rất nhiều bộ phận (tạng phủ kinh lạc ), mỗi bộ phận đều có Dương và Âm được phân loại vào Ngũ hành, cho nên chỉ dùng riêng một học thuyết

để giải thích và phân tích vấn đề của con người có lúc sẽ không được toàn diện Chỉ khi nào kết hợp cả hai học thuyết thì mới có thể thu được kết quả đầy đủ Như Ngũ tạng, Lục phủ thì tạng là âm, phủ là dương, muốn giải thích sự phát triển của tạng và phủ thì dùng học thuyết Âm dương để thuyết minh Nếu nói về quan hệ sinh lý, bệnh

lý giữa tạng và phủ thì dùng học thuyết Ngũ hành để thuyết minh vì giữa ngũ tạng

có quan hệ tương sinh tương khắc, hợp lại là quy luật chế hoá, tương thừa tương vũ”.(1)

Vì thế, Y học Phương Đông cũng như các lĩnh vực khác đều phải theo Âm dương để phân rõ Ngũ hành và theo Ngũ hành để phân biệt Âm dương Họ đã vận dụng và kết hợp cả Âm dương và Ngũ hành, khi chúng ta bàn đến thực tế lâm sàng mới có thể phân tích sâu sắc kỹ càng hơn về những vấn đề trong Y học và các lĩnh vực khác Có thể thấy trên cơ sở kết hợp thành một khâu hoàn chỉnh, giữa Âm dương và Ngũ hành có mối quan hệ không thể tách rời nhau

Trang 9

Chương 2: ẢNH HƯỞNG CỦA THUYẾT ÂM DƯƠNG NGŨ HÀNH ĐỐI VỚI LĨNH VỰC Y HỌC CỦA PHƯƠNG ĐÔNG

2.1 Nguồn gốc Y học Phương Đông:

Đông y bắt nguồn từ lưu vực sông Hoàng Hà Trung Quốc, hình thành nên hệ thống học thuật về nhận thức lý luận trong nền y học Phương Đông: Âm dương, Ngũ hành Âm dương và Ngũ hành cân bằng thì cơ thể khỏe mạnh, việc chữa bệnh nhằm lập lại trạng thái cân bằng của các yếu tố đó Các nhà y học Phương Đông dựa vào hai học thuyết này đã đưa ra 3 học thuyết sau:

- Học thuyết vận khí bao gồm ngũ vận (mộc vận, hỏa vận, thổ vận, kim vận

và thủy vận) và lục khí (phong, hàn, thử, thấp, táo, hỏa) Đây là học thuyết nghiên cứu và tìm hiểu sự biến đổi về thiên văn, khí tượng, khí hậu của giới tự nhiên đối với sức khoẻ và bệnh tật của cơ thể Học thuyết này từ lịch pháp thiên văn tính ra biến đổi khí hậu trong năm và quy luật xảy ra bệnh tật

- Học thuyết tượng tạng, chủ yếu nghiên cứu về công năng sinh lý và biến đổi bệnh lý của ngũ tạng (tâm, can, tì, phế, thận), lục phủ (ruột non, ruột già, dạ dày, bàng quang, túi mật, tam tiêu) và não, tủy, xương, mạch, mật, nữ tử bao

- Học thuyết kinh lạc có liên quan chặt chẽ với học thuyết tượng tạng Kinh lạc là đường qua lại vận hành khí huyết trong cơ thể, có tác dụng nối liền bên trong

và bên ngoài, che phủ toàn thân Dưới tình hình bệnh lý, hệ thống kinh lạc xảy ra biển đổi, sẽ xuất hiện triệu chứng bệnh và đặc trưng cơ thể tương ứng, thông qua những biểu hiện này, có thể chẩn đoán bệnh tật tạng phủ trong cơ thể

2.2 Sự vận dụng thuyết Âm dương – Ngũ hành vào lĩnh vực y học của người Phương Đông:

2.2.1 Âm dương Ngũ hành và Cơ thể:

2.2.1.1 Âm dương và cơ thể:

a Trên là Âm, dưới là Dương:

Theo cách phân chia này thì đầu là “Âm” và chân là “Dương”

Trang 10

Theo các nhà nghiên cứu: Ở tư thế nằm, đầu thấp, chân cao sẽ dễ nhớ và tiếp thu nhanh hơn, họ cho rằng vì máu dồn về não giúp não làm việc tốt hơn

Người khỏe mạnh, trên mát (âm), dưới ấm (dương), tức Thủy giao xuống dưới, Hỏa giao lên trên, gọi là Thủy hỏa ký tế

Ngược lại, khi bị bệnh thì trên nóng (dương), dưới lạnh (âm), tức là Thủy hỏa không tương giao với nhau gọi là Thủy hỏa vị tế

b Bên trái là Dương, bên phải là Âm:

Một cách tự nhiên, hầu như bao giờ chân trái cũng khởi động trước Theo các nhà nghiên cứu, khi chuyển động trái đất tạo nên 1 dòng điện gọi là địa từ lực lôi cuốn mọi vật - địa từ lực này mang đặc tính âm Theo nguyên tắc vật lý, 2 vật cùng cực đẩy nhau, khác cực hút nhau Lực của trái đất là Âm, do đó sẽ hút lực Dương, vì thế có thể coi như chân trái mang đặc tính Dương Điều này rất có giá trị trong việc điều trị bằng châm cứu khi phải chọn huyệt để châm

c Trong (Bụng, Ngực) là Âm, ngoài (Lưng) là Dương:

“Thiên Ngũ Tạng Sinh Thành Luận” ghi: "Phù ngôn chi Âm dương, Nội vi

Âm, ngoại vi Dương, Phúc vi Âm, Bối vi Dương" (nói về Âm dương, trong thuộc

Âm, ngoài thuộc Dương, bụng thuộc Âm, lưng thuộc Dương)

Ngay từ trong bào thai, sự sắp xếp theo thứ tự trên cũng khá rõ: Bào thai nam, Dương khí tụ ở lưng nên thường quay lưng ra, do đó bụng người mẹ thường có dạng tròn và cứng Trái lại, bào thai nữ, Âm khí tụ ở ngực nên thường quay mặt ra ngoài,

do đó bụng người mẹ thường có dạng hình bầu dục (gáo nước) và mềm

d Âm dương và Tạng Phủ (2) :

“Thiên Âm Dương Ứng Tượng Đại Luận" ghi: "Lục phủ giai vi dương, Ngũ tạng giai vi âm" (Lục phủ thuộc dương, Ngũ tạng thuộc âm) Như thế Tâm, Can, Tỳ, Phế, Thận thuộc Âm, còn Tiểu Trường, Đởm, Vị, Đại Trường, Bàng quang, Tam Tiêu thuộc Dương Tâm Bào, được coi như 1 tạng mới, nên thuộc âm

Có thể tạm hiểu như sau: theo "Kinh Dịch" mỗi vật thể, hiện tượng đều do 2 yếu tố: THỂ (hình thể) và DỤNG (công dụng, chức năng) tạo nên Xét một vật nào

Trang 11

đó, có thể có hình dạng (thể) là Âm nhưng lại có công dụng là Dương hoặc ngược lại “Thể” là Dương nhưng “Dụng” là Âm

- Má bên trái thuộc Can

- Má bên phải thuộc Phế

- Mũi thuộc Tỳ (trung ương)

Việc phân chia này giúp ích rất nhiều trong việc chẩn bệnh Thí dụ: Nhìn thấy dấu hiệu báo bệnh ở vùng cằm có thể nghĩ đến bệnh lý ở thận

Nếu xếp đồ hình dọc theo cơ thể con người ta thấy:

- Từ ngực trở lên thuộc Tâm

- Từ thắt lưng xuống thuộc Thận

- Nửa bên trái thuộc Can

- Nửa bên phải thuộc Phế

2.2.2 Âm dương Ngũ hành và Sinh lý (3) :

2.2.2.1 Âm dương và Sinh lý:

Sự thay đổi của Âm khí và Dương khí trong cơ thể con người phụ thuộc vào thiên nhiên Sự biến đổi này sẽ gây ra những chuyển biến về mặt tâm, sinh lý của con người và tình trạng sức khỏe của con người sẽ bị ảnh hưởng nhiều nhất vào thời

Trang 12

điểm giao mùa, đặc biệt là những người mang sẵn bệnh tật trong cơ thể trở nên yếu

ớt hơn, bệnh dễ phát tác hơn

- Mùa xuân là mùa dương khí trong trời đất bắt đầu hội tụ và tăng lên

- Mùa hè là mùa dương khí ở mức cực đại và âm khí yếu

- Mùa thu là thời điểm âm khí trong trời đất và trong cơ thể con người bắt đầu có sự thay đổi lên cao dần, trong khi đó mức dương khí thấp dần

- Mùa đông là mùa âm khí ở mức cực đại và dương khí ở cực tiểu

2.2.2.2 Ngũ hành và Sinh lý:

a Quan niệm cổ truyền:

Ứng dụng Ngũ hành vào mặt sinh lý con người là đem ngũ tạng sánh với Ngũ hành, dựa vào đặc tính sinh lý của ngũ tạng để tìm ra sự liên hệ với Ngũ hành

Can và Hành mộc: tính của cây gỗ thì cứng cỏi giống như chức năng của

Can là một vị tướng, vì thế dùng hành Mộc ví với can

Tâm và Hành hỏa: Lửa cháy thì bốc lên, giống như Tâm bốc lên mặt và

lưỡi, vì thế dùng hành Hỏa ví với Tâm

Tỳ và Hành thổ: Đất là mẹ đẻ của muôn vật, như con người sinh tồn được là

nhờ vào các chất dinh dưỡng do Tỳ vị cung cấp, vì thế dùng Hành thổ ví với Tỳ

Phế và Hành kim: Kim loại thường phát ra âm thanh giống như con người

phát ra tiếng nói nhờ Phế, vì thế dùng hành Kim ví với Phế

Thận và Hành thủy: Nước có tác dụng đi xuống, thấm nhuần mọi chỗ,

giống như nước uống vào thì một phần thấm vào cơ thể, phần còn lại theo đường tiểu bài tiết ra ngoài, vì vậy đem hành Thủy ví với Thận

b Quan niệm hiện đại:

Dựa theo công năng cơ thể, tìm sự tương ứng với hành nào đó trong Ngũ hành để giải thích sự biến chuyển của Ngũ hành

Hành Mộc và sự vận động: Đó là sự vận động của các cơ bắp, các sợi cơ ở

khắp cơ thể

Trang 13

Hành Hỏa và sự phát nhiệt: Đó là sự sản sinh nhiệt năng do sự chuyển hóa

của các tế bào

Hành Thổ và sự bài tiết: Đó là sự vận động đưa chất ra ngoài cơ thể

Hành Kim và sự hấp thụ: Đó là sự vận động thu hút các chất vào cơ thể Hành Thủy và sự tàng trữ: Đó là sự vận động tàng trữ các chất trong cơ thể

để dùng khi cần thiết

c Giữa hai quan niệm cổ điển và hiện đại có một số điều khác biệt:

Nếu đứng về quan niệm cổ điển, mỗi hành chỉ ảnh hưởng đến một tạng Thí dụ: Can Mộc, Tâm Hỏa, Tỳ Thổ, Phế Kim và Thận Thủy

Theo quan niệm hiện đại, mỗi hành đều ảnh hưởng và chi phối đến ngũ tạng Ngoài ra, mỗi hành đều có hai mặt mâu thuẫn và thống nhất: Âm và Dương

Do đó ta có: Âm Mộc, Dương Mộc, Âm Hỏa, Dương Hỏa, Âm Thổ, Dương Thổ,

Âm Kim, Dương Kim, Âm Thủy, Dương Thủy Việc phân biệt này sẽ giúp ích rất nhiều trong việc chọn huyệt để điều trị thích hợp

- Thiên Thắng: Dương thắng quá, gây chứng nhiệt (sốt, tiểu đỏ ) Âm thắng gây chứng hàn (lạnh, tiêu chảy )

- Thiên Suy: Dương hư (lão suy, hưng phấn, thần kinh giảm ) Âm hư (mất nước, ức chế thần kinh giảm )

Tuy nhiên, nếu Âm suy quá thì Âm bị bệnh sinh ra chứng nội nhiệt, gọi là

Âm hư sinh nội nhiệt Nếu Dương suy quá thì Dương bị bệnh và sinh ra chứng hàn ở ngoài, gọi là Dương hư sinh ngoại hàn

Trang 14

Khi một mặt Âm hay Dương ngày càng thịnh và không ngừng phát triển về một phía đối lập, bệnh sẽ diễn biến theo hướng: Nhiệt quá hóa Hàn (nhiệt cực sinh hàn) như sốt cao kéo dài gây mất nước Hoặc Hàn quá hóa nhiệt (Hàn cực sinh nhiệt) như tiêu chảy, nôn mửa kéo dài gây mất nước, điện giải làm nhiễm độc thần kinh gây sốt (Xem phụ lục 1 – Trang 26)

c Âm dương thực giả:

Trên lâm sàng, nhiều hội chứng dễ gây lẫn lộn Âm dương nếu không chẩn bệnh một cách kỹ lưỡng, đó được gọi là các hội chứng thực giả

- Dương cực tựa Âm: Do nhiệt độ tới chỗ cùng cực, phục vào trong cơ thể gây

ra người lạnh, hôn mê giống như âm chứng, chỉ khác ở chỗ là trong lạnh nhưng không thích đắp ấm, thần khí tuy hôn mê nhưng sắc mặt vẫn tươi, mạch tuy Trầm

nhưng Hoạt và có lực ð Khi trị liệu phải dùng thuốc Hàn

- Âm cực tựa Dương: Do hàn tà đến chỗ cùng cực, đẩy Dương hỏa ở trong ra ngoài gây ra mình nóng, buồn phiền, khát nước, giống như Dương chứng nhưng chỉ khác ở chỗ mình nóng mà thích đắp chăn ấm, miệng khát mà uống nước lạnh vào lại mửa ra ngay Mạch thường Trầm Tế, không lực ð Khi trị liệu, phải dùng thuốc

nhiệt (ôn nóng), nếu dùng lầm thuốc hàn có thể gây nguy hiểm đến tính mạng

d Âm Thăng Dương Giáng:

Huyết thuộc Âm, phải thăng (đi lên), nếu huyết hư không đi lên được phần trên không được huyết nuôi dưỡng gây chóng mặt, hoa mắt nguyên nhân do âm

hư, cần bổ âm

Khí thuộc Dương, phải giáng (đi xuống), khí không làm tròn chức năng thay

vì đi xuống lại đi lên gọi là khí nghịch, gây ra chứng hen suyễn, khó thở, nguyên nhân do khí nghịch, cần điều chỉnh ở khí

Trang 15

Tuy nhiên, một hành nào đó có sự thay đổi cũng dẫn tới cả năm hành thay đổi theo, nhất là trong các hội chứng bệnh Do đó, mối quan hệ giữa các hành là mối quan hệ giữa năm hành Mỗi hành khi có sự xáo trộn có thể do năm nguyên nhân: Chính tà, Hư tà, Thực tà, Vi tà và Tặc tà

2.2.4 Âm dương Ngũ hành và Chẩn bệnh:

Trong điều trị bệnh, việc chuẩn đoán chính xác triệu chứng là yếu tố then

chốt dẫn đến cách chữa bệnh hữu hiệu

2.2.4.1 Âm dương và Chẩn bệnh:

Việc chẩn đoán bệnh tật cần phải dựa vào sự biến hoá của Âm dương vì Âm dương mất điều hoà là gốc của sự biến hoá bệnh lý Dù dùng cách biện chứng nào (theo tạng phủ, theo kinh lạc, theo khí huyết tân dịch, theo lục kinh, theo vệ khí dinh huyết, theo tam tiêu) cũng đều quy về bát cương là biểu, lý, hàn, nhiệt, hư, thực và

Âm dương (tổng cương) Biểu chứng, nhiệt chứng, thực chứng đều thuộc về Dương

Lý chứng, hàn chứng, hư chứng đều thuộc về Âm, cho nên bệnh tình tuy thiên biến vạn hoá song không ra ngoài phạm vi của Âm dương

Thiên Âm dương ứng tượng đại luận sách Tố Vấn ở Thiên 5 nói: "Người giỏi chẩn bệnh khi xem sắc án mạch, trước tiên phải phân biệt cho được Âm dương", hiểu biết Âm dương là mấu chốt chủ yếu của việc chẩn bệnh Trên cơ sở chẩn đoán, phải điều trị theo nguyên tắc trị bệnh cần tìm cái gốc của nó Ý là phải tìm ra sự thiên thắng thịnh suy của Âm dương để tiến hành điều trị làm cho Âm dương trở lại thăng bằng

Thiên chí chân yếu đại luận sách Tố Vấn Thiên 74 nói: "Cẩn thận tìm xem

Trang 16

thấy điều hoà Âm dương là nguyên tắc chung của việc chữa bệnh, theo tinh thần bệnh dương chữa âm, bệnh âm chữa dương Đó là phép chữa thẳng vào mặt âm, mặt dương để khôi phục lại thăng bằng Âm dương cho bệnh nhân

- Trán:

Trán (nhân tố Hỏa) liên quan mật thiết đến tim, ruột non và yếu tố tinh thần Khi khám vùng trán, nhìn thấy trán màu đỏ hoặc lờ mờ những mạch máu đỏ xuất hiện bất thường, chứng tỏ tim của bạn có vấn đề; da trán đổi màu cũng cho thấy cảm xúc thay đổi gần đây như bạn đang đau buồn hoặc mất kiểm soát vì điều gì phiền lòng trong cuộc sống Điều này rất dễ nhận ra với những người hay có tâm trạng dễ xáo trộn, họ sẽ có những nếp nhăn trên trán, giữa hai lông mày

Các mao mạch vỡ hoặc màu đỏ chạy dọc trên sống mũi có thể chỉ ra rằng bạn lạm dụng rượu hoặc đơn giản bạn đang lo lắng quá mức và stress

- Cằm:

Cằm (nhân tố Thủy) liên quan đến thận và bàng quang, bao gồm cả hệ thống hormon và các tuyến trên cơ thể, da quanh cằm và miệng có những mảng tối màu chỉ ra vấn đề về thận và bàng quang, mụn trứng cá trên cằm cũng chứng tỏ hormone mất cân bằng Vấn đề này thường do cơ thể đang tạo ra quá nhiều hormone sinh dục

Trang 17

Nhìn vào nhân trung, nếu đường ngang trên nhân trung đổi màu chỉ ra vấn đề viêm

dạ con hoặc u xơ tử cung

- Má phải:

Má phải (nhân tố Kim) kết nối với phổi và ruột già, vấn đề với phổi và các ruột già thường biểu hiện qua sự biến màu da trên má bằng mụn trứng cá nhẹ xuất hiện hay má hơi đỏ một cách bất thường, cơ thể đang nhiễm lạnh, hô hấp có vấn đề cũng biểu hiện ngay lập tức trên má Người sắp hen cũng sẽ có những biểu hiện trên

má phải như: đỏ, vảy, hoặc hơi xanh xao, thô ráp…Sắc hơi xanh trên má phải có thể báo nguy về viêm phổi hoặc thiếu oxy khi co thắt cuống phổi

- Má trái:

Má trái (nhân tố Mộc) gắn liền với gan, túi mật Vỡ mao mạch hay đỏ má, đặc biệt là gần ngay cạnh cánh mũi, chỉ ra bạn gan nóng, viêm gan hoặc có độc tố trong gan Mạch phồng, má thô ráp và đỏ đôi khi là dấu hiệu của huyết áp cao và tức giận dồn nén trong lòng Sắc hơi vàng nhạt trên má trái, phía dưới mắt chỉ ra bệnh sỏi mật hay lượng cholesterol hoặc chất béo tự nhiên quá cao mà gây ảnh hưởng đến quá trình hoạt động của hệ thống gan mật

2.2.5 Âm dương Ngũ hành và Dược liệu:

2.2.5.1 Âm dương và Dược liệu:

a Ngũ vị, tứ tính và thuộc tính Âm dương hàn nhiệt của thuốc đông dược:

Ngũ vị là năm vị: tân (cay), toan (chua), khổ (đắng), cam (ngọt), hàm (mặn), trong đó: cay, ngọt thuộc Dương; đắng, mặn thuộc vị, có thuộc tính Âm; vị chua vừa

có Dương vừa Âm

Tứ tính là nói về sự thăng giáng trầm phù, những vị thuốc tỷ trọng nhẹ như hoa lá cành khi tác dụng trong cơ thể có xu hướng thăng lên trên và phù việt ra ngoài thuộc dương, những vị thuốc tỷ trọng nặng như thân rế hạt, khoáng vật tác dụng trong cơ thể có xu hướng trầm giáng xuống và thẩm lợi vào trong thuộc âm

Thuộc tính Âm dương trong thuốc, những thuốc nâng cao cơ năng hoạt động của con người như thuốc bổ khí, thuốc bổ dương, thuốc tăng dị hóa, tăng hoạt động

Trang 18

Những thuốc bồi bổ dinh dưỡng cho tạng phủ, bổ huyết, bổ âm, tăng quá trình đồng hóa, giảm hưng phấn tăng ức chế thần kinh, có tác dụng giảm hoạt động, an thần

có thuộc tính âm, gọi là âm dược

Thuộc tính hàn nhiệt trong thuốc, những thuốc ấm, thuốc nóng, rất nóng là thuốc có tính nhiệt chỉ dùng cho bệnh do hàn gây ra; Thuốc mát, thuốc lạnh, rất lạnh chỉ dùng cho bệnh nhiệt, ôn, hỏa viêm là thuốc có tính hàn; tính hàn thuộc âm dược, tính nhiệt là dương dược

Vị đạm, tính bình là chỉ những vị thuốc không có vị cay, chua, đắng, ngọt, mặn và cũng không nóng, không lạnh

b Cách sử dụng thuốc theo học thuyết Âm dương:

Bệnh có bản chất là nhiệt phải dùng thuốc đối lập đó là thuốc có tính hàn và ngược lại, tùy theo mức độ nhiệt, hàn mà dùng thuốc hàn, nhiệt mạnh hay yếu, liều ít

hay nhiều Thí dụ cách sử dụng thuốc ( Xem phục lục 3 – Trang 28)

2.2.5.2 Ngũ hành và Dược liệu:

Y học cổ truyền dùng Ngũ hành áp dụng vào việc sử dụng thuốc đối với bệnh tật của tạng phủ trên cơ sở liên quan giữa Vị, Sắc… đối với tạng phủ, đây là nền

tảng của việc “Quy Kinh” (4)

Việc áp dụng màu sắc của Ngũ hành vào dược liệu cũng đang được các nước Phương Tây quan tâm đến và áp dụng việc dán nhãn vào các loại thực phẩm căn cứ theo các giá trị dinh dưỡng:

- Nhãn xanh đậm trên các sản phẩm sữa chỉ rõ rằng các loại thực phẩm đó tốt cho xương và răng

- Màu vàng dán vào bánh mì và các loại ngũ cốc chỉ rõ rằng những loại này

là thức ăn cung cấp năng lượng

- Màu xanh lục dán vào rau quả là bổ mắt

- Màu đỏ dán vào cá và thịt chỉ rõ những loại này bổ máu và cơ

2.2.6 Âm dương Ngũ hành và Châm Cứu:

2.2.6.1 Âm dương và Châm Cứu:

a Âm dương và Kinh Lạc:

Ngày đăng: 19/11/2014, 22:49

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1: Biều tượng Âm dương  Hình 2: Biều tượng Ngũ hành - TIỂU LUẬN TRIẾT THUYẾT ÂM DƯƠNG - NGŨ HÀNH VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA HỌC THUYẾT  ĐỐI VỚI NỀN Y HỌC CỦA PHƯƠNG ĐÔNG
Hình 1 Biều tượng Âm dương Hình 2: Biều tượng Ngũ hành (Trang 34)
PHỤ LỤC 7: HÌNH VẼ & BIỂU TƯỢNG - TIỂU LUẬN TRIẾT THUYẾT ÂM DƯƠNG - NGŨ HÀNH VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA HỌC THUYẾT  ĐỐI VỚI NỀN Y HỌC CỦA PHƯƠNG ĐÔNG
7 HÌNH VẼ & BIỂU TƯỢNG (Trang 34)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w