TIỂU LUẬN QUAN ĐIỂM VỀ CÁCH TRỊ QUỐC CỦA CÁC NHÀ TRIẾT HỌC THỜI CỔ ĐẠI
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
CHƯƠNG I: TRIẾT HỌC TRUNG QUỐC CỔ ĐẠI 1
1 Giới thiệu 1
2 Triết học Nho Gia 1
3 Triết học Đạo gia 2
4 Triết học Mặc gia 3
5 Triết học Pháp gia 4
CHƯƠNG II: TRIẾT HỌC HY LẠP CỔ ĐẠI 7
1 Giới thiệu 7
2 Quan điểm Đêmocrit 8
3 Quan điểm Platon 10
CHƯƠNG III: NHẬN XÉT CÁ NHÂN 13
1 Tư tưởng trị quốc của hai nền triết học Hy Lạp và Trung Quốc: 13
1.1 Tư tưởng trị quốc của nền triết học Trung Quốc: 13
1.2 Tư tưởng trị quốc của triết học Hy Lạp: 15
2 Ý nghĩa trị quốc của các tư tưởng triết học Trung Quốc: 16
3 Ý nghĩa trị quốc của các tư tưởng triết học Hy Lạp: 18
KẾT LUẬN 20
TÀI LIỆU THAM KHẢO 21
Trang 2Một trong những vấn đề khá quan trọng trong sự phát triển của xã hội là “vấn đề
về trị quốc” Một quốc gia phồn thịnh hay suy vong đều phụ thuộc vào đường lối,chiến lược trị quốc Quan điểm của các nhà triết học qua các thời kỳ khác nhau(cổ đại, trung đại và hiện đại) cũng khác nhau Các quan điểm được phát triểntrên từ đơn giản đến phức tạp, từ bức tranh duy vật đến duy tâm Mỗi tư tưởngtriết học đều có nhiều quan điểm về các khía cạnh vũ trụ quan, nhận thức luận,đạo đức, chính trị, xã hội
Trong phạm vi đề tài này, bài viết này chỉ đi sâu vào quan điểm trị quốc của cácnhà triết học thời kỳ cổ đại Tuy chỉ là một mảng nhỏ trong nội dung của các tưtưởng triết học, nhưng đây là một đề tài mang tính chất bám sát vào nội dungchương trình học, mở rộng kiến thức về cách nhìn nhận của những nhà triết học
cổ đại của cả phương Tây lẫn phương Đông và là một vấn đề mang tính chất thựctiễn
Để làm rõ nội dung trị quốc, cần phải tìm hiểu sơ lược về điều kiện tự nhiên,hoàn cảnh đời sống xã hội và văn hóa Nội dung đề tài được chia ra thành haimảng chính Ở triết học phương Đông, nội dung trị quốc được phân tích thôngqua các tư tưởng triết học Trung Quốc cổ đại như Nho gia, Mặc gia, Đạo gia,Pháp gia Còn đối với triết học phương Tây, khía cạnh này lại được mổ xẻ thôngqua tư tưởng Đêmôcrit và Platon của triết học Hy Lạp
Trang 3CHƯƠNG I: TRIẾT HỌC TRUNG QUỐC CỔ ĐẠI
Triết học Trung Quốc gắn liền với chính trị và đạo đức Thường những nhà triếthọc là những nhà chính trị, những ông quan tham mưu cho các vương triều đình.Triết học Trung Quốc trải qua nhiều thời kỳ, trong đó thời Xuân thu – Chiếnquốc là thời kỳ phát triển rực rỡ nhất với nhiều học thuyết được lưu truyền đếnđời sau
2 Triết học Nho Gia
Cơ sở của Nho giáo được hình thành từ thời Tây Chu, đặc biệt với sự đóng gópcủa Chu Công Đán, còn gọi là Chu Công.‘Đến thời Xuân Thu, xã hội loạn lạc,Khổng Tử phát triển tư tưởng của Chu Công, hệ thống hóa và tích cực truyền bácác tư tưởng đó Do đó, sau này ông được xem là người sáng lập ra Nho giáo.Nho gia là một học thuyết chính trị nhằm tổ chức xã hội Để tổ chức xã hội cóhiệu quả, cần phải đào tạo cho được người cai trị kiểu mẫu - người lý tưởng nàygọi là quân tử Theo Khổng Tử, để trở thành người quân tử, con người ta trướchết phải "tự đào tạo", phải "tu thân" Sau khi tu thân xong, người quân tử phải cóbổn phận phải "hành đạo" Tức là phải hoàn thành những việc nhỏ - gia đình, chođến lớn - trị quốc, và đạt đến mức cuối cùng là bình thiên hạ (thống nhất thiênhạ)
Về tu thân, Khổng Tử đặt ra một loạt tam cương, ngũ thường, tam tòng, tứ đức
để làm chuẩn mực cho mọi vấn đề sinh hoạt trong xã hội Tam cương và ngũ
Trang 4thường là chuẩn mực đạo đức mà nam giới phải theo Tam tòng và Tứ đức làchuẩn mực đạo đức mà nữ giới phải theo Khổng Tử cho rằng xã hội mà có mọingười tuân theo tam cương, ngũ thường, tam tòng, tứ đức thì xã hội được trật tự,thái bình.
Về hành đạo, Khổng Tử đưa ra học thuyết về Nhân-Lễ-Chính danh Nhân là tình
người, người có nhân là người biết yêu thương người khác, phải cai trị bằng tìnhngười Khổng Tử từng nói "Mình muốn lập thân thì phải giúp người khác lậpthân, mình muốn thành đạt thì phải giúp người khác thành đạt” Chính danh ởđây có nghĩa là mang danh nào thì phải thực hiện cho được những điều mà danh
đó quy định Tất cả phải có tôn ti, thực hiện đúng bổn phận của mình Nếu tất cảmọi người đều chính danh, xã hội tất yếu sẽ thái bình, trật tự, không loạn lạc.Chính bởi thế mà câu nói "Nếu danh không chính thì lời nói không thuận Lời nóikhông thuận tất việc chẳng thành" của Khổng Tử đến giờ vẫn thường được mọingười nhắc lại Nói một cách ngắn gọn hơn, quan điểm này đã được những ngườisáng lập tóm gọn trong 9 chữ: Tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ
3 Triết học Đạo gia
Đạo gia là một trong sáu học phái lớn trong nền triết học Trung Quốc cổ đại, rađời sau thời kỳ hưng thịnh của Nho giáo Đạo gia được Lão Tử sáng lập ra và sau
đó được Trang Tử phát triển thêm vào thời Chiến quốc (403-221 TCN) trong bốicảnh tầng lớp quý tộc sa sút trong cuộc chiến triền miên
Kinh điển của Đạo gia chủ yếu được tập trung lại trong bộ Đạo đức kinh và bộNam hoa kinh Những tư tưởng triết học cơ bản của trường phái Đạo gia đượcthể hiện chủ yếu trong lý luận về đạo và đức Lý luận này thể hiện quan niệmbiện chứng về thế giới và là cơ sở để Lão Tử xây dựng thuyết vô vi nhằm giảiquyết những vấn đề do thời đại đặt ra
Về quan điểm trị quốc, Lão Tử cho rằng hành động hay nhất là đừng can thiệpđến việc đời; nhưng nếu đời cần ta phải làm thì ta hãy làm cái không làm một
Trang 5chính phủ yên tĩnh vô vi thì dân sẽ biến thành chất phác, chính phủ tích cực làmviệc thì dân đầy tai hoạ Lão Tử cho rằng bậc Thánh nhân trị vì thiên hạ phải làbằng lẽ tự nhiên của đạo vô vi và chủ trương xoá bỏ hết mọi ràng buộc về mặtđạo đức, pháp luật đối với con người để trả lại cho con người cái bản tính tựnhiên vốn có của nó Lão Tử mơ ước đưa xã hội trở về thời đại nguyên thuỷ chấtphác, mơ ước cô lập cá nhân với xã hội để hoà tan con người vào đạo (tự nhiên).
4 Triết học Mặc gia
Mặc gia là một trường phái triết học Trung Quốc cổ đại do Mặc tử sáng lập, pháttriển qua 2 giai đoạn: Mặc tử và giai đoạn hậu Mặc, phản ánh nguyện vọng củatầng lớp dân cư tự do, sản xuất nhỏ và tiểu chủ Nó phát triển cùng thời với Nhogiáo, Đạo giáo, Pháp gia và là một trong bốn trường phái triết học chính trongthời Xuân Thu và Chiến Quốc
Mặc Tử cho rằng việc quốc trị phải chú trọng vào phương tiện để đạt cho đượccứu cánh chứ không chỉ bám vào cứu cánh mà quên đi phương tiện như Khổnghay Mạnh Mặc Tử nhấn mạnh đến pháp thuật chính trị cần thiết để an bang tếthế
Bất cứ chính sách hay phương pháp nào cũng phải giúp cho nhân loại thăng tiến.Người quản thống quốc sự nên dựa trên căn bản hữu dụng (thực lợi) để đánh giátất cả các chính sách; nếu việc có lợi cho nhân dân thì nên làm, nhưng nếu không
có lợi cho nhân dân thì không làm Lãnh tụ quốc gia khi đánh giá cái 'dụng' của
sự việc cũng không nên quên đi 'nghĩa' Theo Mặc Tử thì 'muôn việc không việc
gì quý bằng nghĩa' (vạn sự mạc quý ư nghĩa) và 'nghĩa là lợi' (nghĩa, lợi dã)
Khuôn phép cho việc quốc trị trong nhãn quan của Mặc Tử là hành sử theo minh
ý của trời, phải biết thương dân chứ không phải tin vào bói toán một cách mùquáng Lãnh tụ quốc gia không thể ích kỷ để chỉ lo tư lợi mà phải tận tình chăm
lo cho đời sống của dân, giúp dân đạt được sung túc và hạnh phúc, tuyệt đốikhông ra vẻ hách dịch để ức hiếp dân Sách lược quốc trị tốt nhất cho dân tộc là
Trang 6sách lược bác ái bao gồm các chính sách khuyến khích tinh thần bác ái trongquốc gia và cả chính sách ngăn chận sự căm thù trong xã hội.
Trong lãnh vực quốc trị, Mặc Tử chủ trương lãnh đạo quốc gia phải biết trọngdụng nhân tài bất kể là họ có liên hệ gia tộc hay đảng phái hay không, đưa raquan niệm bình đẳng hóa xã hội, phản đối hệ thống phân chia giai cấp đương thời
và đả kích tệ nạn bám víu vào quyền lực chính trị của thành phần quý tộc quacách bổ nhiệm thân nhân - thay vì người tài đức - vào các trách vụ quan trọng
Về lãnh vực tài chánh, Mặc Tử chủ trương chính sách tiết kiệm, đòi hỏi lãnh đạoquốc gia phải biết giới hạn những chi tiêu xa hoa có tính cách khoe khoangnhưng không đem lại ích lợi gì cho nhân dân hay quốc
5 Triết học Pháp gia
Phương Đông được coi là nơi khởi nguồn của nền văn minh nhân loại, với nhiềuthành tựu vĩ đại trong lịch sử Trung Quốc đứng trong hàng ngũ bốn nước cổ đại
có nền văn minh rực rỡ và lâu đời, là cái nôi sớm nhất của văn minh nhân loại
Về tư tưởng, lịch sử Trung Hoa cổ đại có hai thời kỳ được nói đến nhiều nhất:Xuân Thu (770 – 403 TCN) là thời kỳ sinh sống của Lão Tử và Khổng Tử vàChiến Quốc (403 – 221 TCN) là thời kỳ sinh sống của Hàn Phi Tử, đã hội tụnhững nhân tố cho sự phát triển đến đỉnh cao Học thuyết pháp trị của phái phápgia hình thành và phát triển qua nhiều thời kỳ bởi các tác giả xuất sắc như: QuảnTrọng, Thận Đáo, Thân Bất Hại, Thương Ưởng và được hoàn thiện bởi Hàn Phi
Tử Tư tưởng Pháp gia mà đại biểu xuất sắc là Hàn Phi Tử có một vai trò đặc biệttrong sự nghiệp thống nhất đất nước và phát triển xã hội cuối thời Xuân Thu -Chiến Quốc
Trong phép trị nước, Hàn Phi Tử là người đầu tiên coi trọng cả ba yếu tố Thế,Thuật, và Pháp Ông cho rằng ba yếu tố đó phải thống nhất không thể tách rờitrong đường lối trị nước bằng pháp luật Trong đó, "Pháp" là nội dung trongchính sách cai trị được thể hiện bằng luật lệ; "Thế" là công cụ, phương tiện tạo
Trang 7nên sức mạnh, còn "Thuật" là phương pháp cách thức để thực hiện nội dungchính sách cai trị Tất cả đều là công cụ của bậc đế vương.
"Thế" là yếu tố không thể thiếu được trong pháp trị Pháp gia cho rằng muốn cóluật pháp rõ ràng minh bạch và được dân tuyệt đối tôn trọng thi hành thì nhà vuaphải có "Thế" Trọng Thế tức trọng sự cưỡng chế, cho nên chủ trương: 1- Chủquyền (lập pháp, hành pháp, tư pháp) tập trung cả vào một người là vua; 2- Vuaphải được tôn kính tuân theo triệt để: dân không được quyền làm cách mạng,không được trái ý vua, vua bắt chết thì phải chết, không chết tức là bất trung 3-Đưa sự thưởng phạt lên hàng quốc sách vì thưởng và phạt là phương tiện hiệunghiệm nhất để cưỡng chế Muốn cho nước trị thì vua chỉ cần dùng thưởng phạtchứ không cần dùng giáo hóa, lễ nhạc
"Pháp" được hiểu theo hai nghĩa: Nghĩa rộng "Pháp" là thể chế quốc gia là chế độchính trị xã hội của đất nước; Nghĩa hẹp "Pháp" là những điều luật, luật lệ, nhữngluật lệ mang tính nguyên tắc và khuôn mẫu Kế thừa và phát triển tư tưởng Pháptrị của pháp gia thời trước, Hàn Phi Tử cho rằng: "Pháp là hiến lệnh công bố ởcác công sở, thưởng hay phạt đều được dân tin chắc là thi hành, thưởng ngườicẩn thận giữ pháp luật, phạt kẻ phạm pháp, như vậy bề tôi sẽ theo Pháp" Tínhcách của pháp luật theo Hàn Phi, trên cơ sở chủ trương của Pháp gia, là vuatượng trưng cho quốc gia, nên vua nắm hết uy quyền: lập pháp, hành pháp, tưpháp Tuy vậy, khi lập pháp vua cũng phải dựa trên những nguyên tắc chính như:1- Pháp luật phải hợp thời; 2- Pháp luật phải soạn sao cho dân dễ hiểu, dễ thihành; 3- Pháp luật phải công bằng; 4- Pháp luật có tính cách phổ biến Với HànPhi, "Pháp" thật sự là tiêu chuẩn khách quan để phân định danh phận, phải trái,tốt, xấu, thiện ác và sẽ làm cho nhân tâm và vạn sự đều qui về một mối, đều lấypháp làm chuẩn Vì vậy, "Pháp" trở thành cái gốc của thiên hạ
"Thuật" trước hết là cách thức, phương thức, mưu lược, thủ đoạn trong việctuyển người, dùng người, giao việc, xét đoán sự vật, sự việc mà nhờ nó pháp luậtđược thực hiện và nhà vua có thể "trị quốc bình thiên hạ" Theo Hàn Phi, “Thuật”
có hai khía cạnh: Kỹ thuật, là phương án để tuyển, dùng, xét khả năng quan lại;Tâm thuật tức mưu mô để chế ngự quần thần, bắt họ để lộ thâm của họ ra.Nói
Trang 8ngược lại điều mình muốn nói để dò xét gian tình của người; Ngầm hại những kẻ
bề tôi mình không cảm hóa được…Cũng như Tâm thuật, Kỹ thuật được Hàn Phirất coi trọng, đặc biệt là thuật trừ gian và dùng người
Sự nghiệp thống nhất và phát triển đất nước của Trung Quốc lúc bấy giờ đòi hỏi
tư tưởng pháp trị phải phát triển lên một trình độ mới trong đó tư tưởng về "Thế",
"Thuật", "Pháp" vừa được phát triển hoàn thiện vừa thống nhất với nhau trongmột học thuyết duy nhất Hàn Phi đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ lịch sử đó Tưtưởng chủ đạo của Pháp gia là muốn trị nước, yên dân phải lấy pháp luật làmtrọng và nếu dùng pháp trị thì xã hội có phức tạp bao nhiêu, nước có đông dânbao nhiêu thì vẫn "trị quốc bình thiên hạ" được
Pháp gia của Hàn Phi Tử được coi là trường phái triết học đầu tiên chủ trươngdùng phép trị để trị nước Học thuyết chính trị của Pháp gia đã được Tần ThủyHoàng vận dụng, kết quả đã đưa nước Tần đến thành công trong việc thống nhấtđược đất nước Trung Quốc sau những năm dài chiến tranh khốc liệt
Trang 9CHƯƠNG II: TRIẾT HỌC HY LẠP CỔ ĐẠI
1 Giới thiệu
Triết học Hy Lạp cổ đại ra đời trong bối cảnh diễn ra sự chuyển biến lâu dài và sâusắc các quan hệ xã hội Đó là sự ra đời của xã hội có giai cấp đầu tiên trong lịch sử-chế độ chiếm hữu nô lệ
Sự thuận lợi về thiên nhiên, địa lý đã tạo điều kiện cho Hy Lạp nhanh chóng phát triểntất cả các lĩnh vực, mở rộng bang giao, tiếp nhận nhiều giá trị văn hoá Vì vậy, nơi đây
đã hội tụ đầy đủ những điều kiện để tư duy con người có dịp bay bổng, để thoả sứcsáng tạo ra những giá trị triết học có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong lịch sử tư tưởngcủa nhân loại, xứng đáng là chiếc nôi của nền văn minh Châu Âu và của cả nhân loại
Sự hình thành triết học Hy Lạp không diễn ra một cách ngẫu nhiên mà là kết quả tấtyếu của việc kế thừa những di sản tinh tuý của truyền thống trong sáng tác dân gian,trong thần thoại, trong các mầm mống của tri thức khoa học (khoa học tự nhiên)
Hy Lạp cổ đại là đất nước của thi ca, thần thoại Thần thoại là nơi để con người tưởngtượng, diễn giải về các hiện tượng thiên nhiên kỳ bí mà còn là nơi thể hiện đời sốngtâm linh, sự hình thành số phận cũng như muôn mặt của đời sống thường ngày Thầnthoại là nơi đâù tiên để tư duy triết học ra đời và từng bước triết học tách khỏi thầnthoại, tự mình tư duy về tự nhiên, đạo đức, về xã hội, về lẽ sống, về chân lý, về conngười…
Như vậy, có thể thấy rằng sự ra đời của triết học Hy Lạp cổ đại là một tất yếu-đó làkết quả nội sinh của cả một dân tộc, một thời đại
Triết học Hy Lạp cổ đại phát triển qua 3 thời kỳ sau:
- Triết học thời kỳ tiền Xôcrat (thời kỳ sơ khai)
- Triết học thời kỳ Xôcrat (thời kỳ cực thịnh)
- Triết học thời kỳ Hy Lạp hoá
Triết học Hy Lạp cổ đại có những đặc điểm sau:
Trang 10Đặc điểm thứ nhất, triết học Hy Lạp cổ đại là sự kết tinh những gì tinh tuý nhất củanhận thức nhân loại từ phương thức sản xuất thứ nhất đến phương thức sản xuất thứhai ở phương Tây Vì vậy ở đó đã dung chứa hầu hết các vấn đề cơ bản của thế giớiquan và là một hệ thống tập hợp các tri thức về tự nhiên, về con người, mặc dầu chưathoát khỏi trạng thái phôi thai mộc mạc nhưng cũng vô cùng phong phú, muôn hìnhmuôn vẻ…
Đặc điểm thứ hai, triết học Hy Lạp đặc biệt quan tâm đến vấn đề con người, khẳngđịnh con người là vốn quý, là trung tâm hoạt động của thế giới Mặc dù vậy, conngười ở đây cũng chỉ là con người cá thể, giá trị thẩm định chủ yếu ở khía cạnh đạođức, giao tiếp và nhận thức
Đặc điểm thứ ba, triết học Hy Lạp cổ đại mang tính chất duy vật tự phátvà biện chứng
sơ khai, cố gắng giải thích các sự vật hiện tượng trong một khối duy nhất thườngxuyên vận động và biến đổi không ngừng Với ý nghĩa đó, những tư tưởng biện chứngcủa triết học Hi Lạp cổ đại đã làm thành hình thức đầu tiên của phép biện chứng
2 Quan điểm Đêmocrit
Đêmôcrit - nhà bác học toàn năng và nhà triết học duy vật lớn nhất của Hy Lạp cổ đại,sinh trưởng ở Apđerơ, một thành phố thực dân địa của Hi Lạp ở xứ Tơraxia, ven bờphía Bắc của biển Êgiê
Đêmôcrit là đại biểu xuất sắc nhất của nền triết học Hy Lạp cổ đại Ông là học trò củaLơxíp và là người kế tục tư tưởng của Lơxip về nguyên tử và phát triển nó thành mộthọc thuyết gắn liền với tư tưởng của ông
Nổi bật nhất trong triết học của Đêmôcrít là học thuyết về nguyên tử Khái niệm
nguyên tử được xây dựng trên cơ sở các khái niệm về “tồn tại” và “không tồn tại”.Trái với quan niệm của Platon thì tồn tại theo Đêmôcrít là cái xác định được, cái đadạng, cái có ngoại hình…
Trang 11Đối lập với cái tồn tại là cái không tồn tại hay cái trống rỗng Cái trống rỗng là cái
không xác định, cái vô hình, bất động và vô hạn Nó không ảnh hưởng gì các vật thểnằm trong nó, nhờ đó mà vật thể vận động được trong cái trống rỗng, cái phần vật chấtthuộc cái tồn tại mà không chứa đựng trong nó một sự trống rỗng nào được gọi lànguyên tử
Nguyên tử là hạt vật chất không thể phân chia được, nhỏ bé có thể cảm nhận được
bằng trực quan Nguyên tử là vĩnh cửu, bất biến Nguyên tử có tính đa dạng, tự thânkhông vận động và khi kết hợp với nhau thì tạo thành vật thể Đêmôcrít cho rằng mọi
sự vật trong thế giới đều được tái tạo từ các nguyên tử và khoảng không Sự xuất hiện,tồn tại và mất đi của các dạng vật thể là kết quả kết hợp của các nguyên tử hay phân