1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

QUAN ĐIỂM VỀ CÁCH TRỊ QUỐC CỦA CÁC NHÀ TRIẾT HỌC THỜI CỔ ĐẠI

23 533 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 334,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong phạm vi đề tài này,bài viết này chỉ đi sâu vào quan điểm trị quốc của các nhà triết học thời kỳ cổ đại.Vì đây là thời kỳ xã hội loài người có những bước đầu phát triển, thời gian t

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM

PHÒNG QUẢN LÝ ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC

TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC

Tp Hồ Chí Minh – 05/2011

Trang 2

Trong lịch sử phát triển xã hội loài người, từ thời cổ đại đến hiện đại, córất nhiều hệ tư tưởng, quan điểm trị quốc khác nhau Trong phạm vi đề tài này,bài viết này chỉ đi sâu vào quan điểm trị quốc của các nhà triết học thời kỳ cổ đại.

Vì đây là thời kỳ xã hội loài người có những bước đầu phát triển, thời gian tươngđối dài, có khá nhiều hệ tư tưởng – quan điểm trị quốc khác nhau mà cho đến

Trang 3

ngày nay vẫn còn giá trị sử dụng, bên cạnh đó đây còn là một đề tài mang tínhchất bám sát vào nội dung chương trình học, thông qua những việc nghiên cứu

mà chúng ta có cách nhìn nhận đúng đắn, mở rộng kiến thức về hệ tư tưởng,quan điểm của các nhà triết học cổ đại Phương Đông và Phương mà từ đó ứngdụng thành công trong thực tiễn của cuộc sống

Để có thể hiểu rõ một cách chính xác và tương đối đầy đủ nội dung tưtưởng trị quốc, cần phải tìm hiểu sơ lược về điều kiện tự nhiên, hoàn cảnh đờisống xã hội và văn hóa Nội dung đề tài được chia ra thành hai mảng chính Ởtriết học phương Đông, nội dung trị quốc được phân tích thông qua các tư tưởngtriết học Trung Quốc cổ đại mà tiêu biều các hệ tư tưởng như Nho gia, Mặc gia,Đạo gia, Pháp gia Còn đối với triết học phương Tây, khía cạnh này lại được mổ

xẻ thông qua nhà triết học như Đêmôcrit và Platon của triết học Hy Lạp

Trang 4

CHƯƠNG I: TRIẾT HỌC TRUNG QUỐC CỔ ĐẠI

Triết học Trung Quốc gắn liền với chính trị và đạo đức Thường những nhà triếthọc là những nhà chính trị, những ông quan tham mưu cho các vương triều đình.Triết học Trung Quốc trải qua nhiều thời kỳ, trong đó thời Xuân thu – Chiếnquốc là thời kỳ phát triển rực rỡ nhất với nhiều học thuyết được lưu truyền đếnđời sau

2 Triết học Nho Gia

Cơ sở của Nho giáo được hình thành từ thời Tây Chu, đặc biệt với sự đóng gópcủa Chu Công Đán, còn gọi là Chu Công.Đến thời Xuân Thu, xã hội loạn lạc,Khổng Tử phát triển tư tưởng của Chu Công, hệ thống hóa và tích cực truyền bácác tư tưởng đó Do đó, sau này ông được xem là người sáng lập ra Nho giáo.Nho gia là một học thuyết chính trị nhằm tổ chức xã hội Để tổ chức xã hội cóhiệu quả, cần phải đào tạo cho được người cai trị kiểu mẫu - người lý tưởng nàygọi là quân tử Theo Khổng Tử, để trở thành người quân tử, con người ta trướchết phải "tự đào tạo", phải "tu thân" Sau khi tu thân xong, người quân tử phải cóbổn phận phải "hành đạo" Tức là phải hoàn thành những việc nhỏ - gia đình, chođến lớn - trị quốc, và đạt đến mức cuối cùng là bình thiên hạ (thống nhất thiênhạ)

Trang 5

Về tu thân, Khổng Tử đặt ra một loạt tam cương, ngũ thường, tam tòng, tứ đức

để làm chuẩn mực cho mọi vấn đề sinh hoạt trong xã hội Tam cương và ngũthường là chuẩn mực đạo đức mà nam giới phải theo Tam tòng và Tứ đức làchuẩn mực đạo đức mà nữ giới phải theo Khổng Tử cho rằng xã hội mà có mọingười tuân theo tam cương, ngũ thường, tam tòng, tứ đức thì xã hội được trật tự,thái bình

Về hành đạo, Khổng Tử đưa ra học thuyết về Nhân-Lễ-Chính danh Nhân là tình

người, người có nhân là người biết yêu thương người khác, phải cai trị bằng tìnhngười Khổng Tử từng nói "Mình muốn lập thân thì phải giúp người khác lậpthân, mình muốn thành đạt thì phải giúp người khác thành đạt” Chính danh ởđây có nghĩa là mang danh nào thì phải thực hiện cho được những điều mà danh

đó quy định Tất cả phải có tôn ti, thực hiện đúng bổn phận của mình Nếu tất cảmọi người đều chính danh, xã hội tất yếu sẽ thái bình, trật tự, không loạn lạc.Chính bởi thế mà câu nói "Nếu danh không chính thì lời nói không thuận Lời nóikhông thuận tất việc chẳng thành" của Khổng Tử đến giờ vẫn thường được mọingười nhắc lại Nói một cách ngắn gọn hơn, quan điểm này đã được những ngườisáng lập tóm gọn trong 9 chữ: Tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ

3 Triết học Đạo gia

Đạo gia là một trong sáu học phái lớn trong nền triết học Trung Quốc cổ đại, rađời sau thời kỳ hưng thịnh của Nho giáo Đạo gia được Lão Tử sáng lập ra và sau

đó được Trang Tử phát triển thêm vào thời Chiến quốc (403-221 TCN) trong bốicảnh tầng lớp quý tộc sa sút trong cuộc chiến triền miên Kinh điển của Đạo giachủ yếu được tập trung lại trong bộ Đạo đức kinh và bộ Nam hoa kinh Những tưtưởng triết học cơ bản của trường phái Đạo gia được thể hiện chủ yếu trong lýluận về đạo và đức Lý luận này thể hiện quan niệm biện chứng về thế giới và là

cơ sở để Lão Tử xây dựng thuyết vô vi nhằm giải quyết những vấn đề do thời đạiđặt ra

- Quan điểm về đạo: "Đạo" là sự khái quát cao nhất của triết học Lão - Trang

Ý nghĩa của nó có hai mặt:

Trang 6

+ Thứ nhất: Đạo là bản nguyên của vũ trụ, có trước trời đất, không biết tên nó là

gì, tạm đặt tên cho nó là "đạo" Vì "đạo" quá huyền diệu, khó nói danh trạng nên có thể quan niệm ở hai phương diện "vô" và "hữu" "Vô" là nguyên lý vô hình, là gốc của trời đất "Hữu" là nguyên lý hữu hình là mẹcủa vạn vật Công dụng của đạo là vô cùng, đạo sáng tạo ra vạn vật Vạn vậtnhờ có đạo mà sinh ra, sự sinh sản ra vạn vật theo trình tự "đạo sinh một, mộtsinh hai, hai sinh ba, ba sinh ra vạn vật" Đạo còn là chúa tể vạn vật và đạo làphép tắc của vạn vật

+ Thứ hai, Đạo còn là quy luật biến hóa tự thân của vạn vật, quy luật ấy gọi làĐức "Đạo" sinh ra vạn vật [vì nó là nguyên lý huyền diệu], đức bao bọc, nuôidưỡng tới thành thục vạn vật (là nguyên lý của mỗi vật) Mỗi vật đều có đức

mà đức của bất kỳ sự vật nào cũng từ đạo mà ra, là một phần của đạo, đứcnuôi lớn mỗi vật tùy theo đạo Đạo đức của Đạo gia là một phạm trù vũ trụquan Khi giải thích bản thể của vũ trụ, Lão Tử sáng tạo ra phạm trù Hữu và

Vô, trở thành những phạm trù cơ bản của lịch sử triết học Trung Hoa

- Quan điểm về đời sống xã hội:

+ Lão Tử cho rằng bản tính nhân loại có hai khuynh hướng "hữu vi" và

"vô vi" "Vô vi" là khuynh hướng trở về nguồn gốc để sống với tự nhiên,tức hợp thể với đạo Vì vậy, Lão Tử đưa ra giải pháp cho các bậc trịnước là "lấy vô vi mà xử sự, lấy bất ngôn mà dạy đời Để lập quân bìnhtrong xã hội, phải trừ khử những "thái quá" nâng đỡ cái "bất cập", lấy

"nhu nhược thắng cương thường", "lấy yếu thắng mạnh", "tri túc"không "cạnh tranh bạo động", "công thành thân thoái", "dĩ đức báo oán" + Trang Tử thổi phồng một cách phiến diện tính tương đối của sự vật chorằng trong phạm trù "đạo" "vạn vật đều thống nhất" Ông đề ra tư tưởngtriết học nhân sinh "tề vật", tức là đối xử như một (tề nhất) đối với nhữngcái tương phản, xoá bỏ đúng sai Mục đích của ông là đặt phú quý, vinhnhục ra một bên tiến vào vương quốc "tiêu dao", thanh đạm, đạm bạc,lặng lẽ, vô vi

Trang 7

- Về nhận thức: Lão Tử đề cao tư duy trừu tượng, coi khinh nghiên cứu sự vật cụthể Ông cho rằng "không cần ra cửa mà biết thiên hạ, không cần nhòm qua khecửa mà biết đạo trời" Trang Tử xuất phát từ nhận thức luận tương đối của mình

mà chỉ ra rằng, nhận thức của con người đối với sự vật thường có tính phiếndiện, hạn chế Nhưng ông đã rơi vào quan điểm bất khả tri, cảm thấy "đời có bờbến mà sự hiểu biết lại vô bờ bến, lấy cái có bờ bến theo đuổi cái vô bờ bến làkhông được" Ông lại cho rằng, ngôn ngữ và tư duy lôgíc không khám phá đượcĐạo trong vũ trụ

4 Triết học Mặc gia

Mặc gia là một trường phái triết học Trung Quốc cổ đại do Mặc tử sáng lập, pháttriển qua 2 giai đoạn: Mặc tử và giai đoạn hậu Mặc, phản ánh nguyện vọng củatầng lớp dân cư tự do, sản xuất nhỏ và tiểu chủ Nó phát triển cùng thời với Nhogiáo, Đạo giáo, Pháp gia và là một trong bốn trường phái triết học chính trongthời Xuân Thu và Chiến Quốc

Mặc Tử cho rằng việc quốc trị phải chú trọng vào phương tiện để đạt cho đượccứu cánh chứ không chỉ bám vào cứu cánh mà quên đi phương tiện như Khổnghay Mạnh Mặc Tử nhấn mạnh đến pháp thuật chính trị cần thiết để an bang tếthế

Bất cứ chính sách hay phương pháp nào cũng phải giúp cho nhân loại thăng tiến.Người quản thống quốc sự nên dựa trên căn bản hữu dụng (thực lợi) để đánh giátất cả các chính sách; nếu việc có lợi cho nhân dân thì nên làm, nhưng nếu không

có lợi cho nhân dân thì không làm Lãnh tụ quốc gia khi đánh giá cái 'dụng' của

sự việc cũng không nên quên đi 'nghĩa' Theo Mặc Tử thì 'muôn việc không việc

gì quý bằng nghĩa' (vạn sự mạc quý ư nghĩa) và 'nghĩa là lợi' (nghĩa, lợi dã)

Khuôn phép cho việc quốc trị trong nhãn quan của Mặc Tử là hành sử theo minh

ý của trời, phải biết thương dân chứ không phải tin vào bói toán một cách mùquáng Lãnh tụ quốc gia không thể ích kỷ để chỉ lo tư lợi mà phải tận tình chăm

lo cho đời sống của dân, giúp dân đạt được sung túc và hạnh phúc, tuyệt đối

Trang 8

không ra vẻ hách dịch để ức hiếp dân Sách lược quốc trị tốt nhất cho dân tộc làsách lược bác ái bao gồm các chính sách khuyến khích tinh thần bác ái trongquốc gia và cả chính sách ngăn chận sự căm thù trong xã hội.

Trong lãnh vực quốc trị, Mặc Tử chủ trương lãnh đạo quốc gia phải biết trọngdụng nhân tài bất kể là họ có liên hệ gia tộc hay đảng phái hay không, đưa raquan niệm bình đẳng hóa xã hội, phản đối hệ thống phân chia giai cấp đương thời

và đả kích tệ nạn bám víu vào quyền lực chính trị của thành phần quý tộc quacách bổ nhiệm thân nhân - thay vì người tài đức - vào các trách vụ quan trọng

Về lãnh vực tài chánh, Mặc Tử chủ trương chính sách tiết kiệm, đòi hỏi lãnh đạoquốc gia phải biết giới hạn những chi tiêu xa hoa có tính cách khoe khoangnhưng không đem lại ích lợi gì cho nhân dân hay quốc

5 Triết học Pháp gia

Phương Đông được coi là nơi khởi nguồn của nền văn minh nhân loại, với nhiềuthành tựu vĩ đại trong lịch sử Trung Quốc đứng trong hàng ngũ bốn nước cổ đại

có nền văn minh rực rỡ và lâu đời, là cái nôi sớm nhất của văn minh nhân loại

Về tư tưởng, lịch sử Trung Hoa cổ đại có hai thời kỳ được nói đến nhiều nhất:Xuân Thu (770 – 403 TCN) là thời kỳ sinh sống của Lão Tử và Khổng Tử vàChiến Quốc (403 – 221 TCN) là thời kỳ sinh sống của Hàn Phi Tử, đã hội tụnhững nhân tố cho sự phát triển đến đỉnh cao Học thuyết pháp trị của phái phápgia hình thành và phát triển qua nhiều thời kỳ bởi các tác giả xuất sắc như: QuảnTrọng, Thận Đáo, Thân Bất Hại, Thương Ưởng và được hoàn thiện bởi Hàn Phi

Tử Tư tưởng Pháp gia mà đại biểu xuất sắc là Hàn Phi Tử có một vai trò đặc biệttrong sự nghiệp thống nhất đất nước và phát triển xã hội cuối thời Xuân Thu -Chiến Quốc

Trong phép trị nước, Hàn Phi Tử là người đầu tiên coi trọng cả ba yếu tố Thế,Thuật, và Pháp Ông cho rằng ba yếu tố đó phải thống nhất không thể tách rờitrong đường lối trị nước bằng pháp luật Trong đó, "Pháp" là nội dung trongchính sách cai trị được thể hiện bằng luật lệ; "Thế" là công cụ, phương tiện tạo

Trang 9

nên sức mạnh, còn "Thuật" là phương pháp cách thức để thực hiện nội dungchính sách cai trị Tất cả đều là công cụ của bậc đế vương.

"Thế" là yếu tố không thể thiếu được trong pháp trị Pháp gia cho rằng muốn cóluật pháp rõ ràng minh bạch và được dân tuyệt đối tôn trọng thi hành thì nhà vuaphải có "Thế" Trọng Thế tức trọng sự cưỡng chế, cho nên chủ trương: 1- Chủquyền (lập pháp, hành pháp, tư pháp) tập trung cả vào một người là vua; 2- Vuaphải được tôn kính tuân theo triệt để: dân không được quyền làm cách mạng,không được trái ý vua, vua bắt chết thì phải chết, không chết tức là bất trung 3-Đưa sự thưởng phạt lên hàng quốc sách vì thưởng và phạt là phương tiện hiệunghiệm nhất để cưỡng chế Muốn cho nước trị thì vua chỉ cần dùng thưởng phạtchứ không cần dùng giáo hóa, lễ nhạc

"Pháp" được hiểu theo hai nghĩa: Nghĩa rộng "Pháp" là thể chế quốc gia là chế

độ chính trị xã hội của đất nước; Nghĩa hẹp "Pháp" là những điều luật, luật lệ,những luật lệ mang tính nguyên tắc và khuôn mẫu Kế thừa và phát triển tư tưởngPháp trị của pháp gia thời trước, Hàn Phi Tử cho rằng: "Pháp là hiến lệnh công

bố ở các công sở, thưởng hay phạt đều được dân tin chắc là thi hành, thưởngngười cẩn thận giữ pháp luật, phạt kẻ phạm pháp, như vậy bề tôi sẽ theo Pháp".Tính cách của pháp luật theo Hàn Phi, trên cơ sở chủ trương của Pháp gia, là vuatượng trưng cho quốc gia, nên vua nắm hết uy quyền: lập pháp, hành pháp, tưpháp Tuy vậy, khi lập pháp vua cũng phải dựa trên những nguyên tắc chính như:1- Pháp luật phải hợp thời;

2- Pháp luật phải soạn sao cho dân dễ hiểu, dễ thi hành;

3- Pháp luật phải công bằng;

4- Pháp luật có tính cách phổ biến Với Hàn Phi, "Pháp" thật sự là tiêu chuẩnkhách quan để phân định danh phận, phải trái, tốt, xấu, thiện ác và sẽ làm chonhân tâm và vạn sự đều qui về một mối, đều lấy pháp làm chuẩn Vì vậy, "Pháp"trở thành cái gốc của thiên hạ

"Thuật" trước hết là cách thức, phương thức, mưu lược, thủ đoạn trong việc

Trang 10

tuyển người, dùng người, giao việc, xét đoán sự vật, sự việc mà nhờ nó pháp luậtđược thực hiện và nhà vua có thể "trị quốc bình thiên hạ" Theo Hàn Phi, “Thuật”

có hai khía cạnh: Kỹ thuật, là phương án để tuyển, dùng, xét khả năng quan lại;Tâm thuật tức mưu mô để chế ngự quần thần, bắt họ để lộ thâm của họ ra.Nóingược lại điều mình muốn nói để dò xét gian tình của người; Ngầm hại những kẻ

bề tôi mình không cảm hóa được…

Cũng như Tâm thuật, Kỹ thuật được Hàn Phi rất coi trọng, đặc biệt là thuật trừgian và dùng người

Sự nghiệp thống nhất và phát triển đất nước của Trung Quốc lúc bấy giờ đòi hỏi

tư tưởng pháp trị phải phát triển lên một trình độ mới trong đó tư tưởng về "Thế",

"Thuật", "Pháp" vừa được phát triển hoàn thiện vừa thống nhất với nhau trongmột học thuyết duy nhất Hàn Phi đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ lịch sử đó Tưtưởng chủ đạo của Pháp gia là muốn trị nước, yên dân phải lấy pháp luật làmtrọng và nếu dùng pháp trị thì xã hội có phức tạp bao nhiêu, nước có đông dânbao nhiêu thì vẫn "trị quốc bình thiên hạ" được

Pháp gia của Hàn Phi Tử được coi là trường phái triết học đầu tiên chủ trươngdùng phép trị để trị nước Học thuyết chính trị của Pháp gia đã được Tần ThủyHoàng vận dụng, kết quả đã đưa nước Tần đến thành công trong việc thống nhấtđược đất nước Trung Quốc sau những năm dài chiến tranh khốc liệt

Trang 11

CHƯƠNG II: TRIẾT HỌC HY LẠP CỔ ĐẠI

1 Giới thiệu

Triết học Hy Lạp cổ đại ra đời trong bối cảnh diễn ra sự chuyển biến lâu dài vàsâu sắc các quan hệ xã hội Đó là sự ra đời của xã hội có giai cấp đầu tiên tronglịch sử-chế độ chiếm hữu nô lệ

Sự thuận lợi về thiên nhiên, địa lý đã tạo điều kiện cho Hy Lạp nhanh chóng pháttriển tất cả các lĩnh vực, mở rộng bang giao, tiếp nhận nhiều giá trị văn hoá Vìvậy, nơi đây đã hội tụ đầy đủ những điều kiện để tư duy con người có dịp baybổng, để thoả sức sáng tạo ra những giá trị triết học có ý nghĩa vô cùng quantrọng trong lịch sử tư tưởng của nhân loại, xứng đáng là chiếc nôi của nền vănminh Châu Âu và của cả nhân loại

Sự hình thành triết học Hy Lạp không diễn ra một cách ngẫu nhiên mà là kết quảtất yếu của việc kế thừa những di sản tinh tuý của truyền thống trong sáng tácdân gian, trong thần thoại, trong các mầm mống của tri thức khoa học (khoa học

tự nhiên)

Hy Lạp cổ đại là đất nước của thi ca, thần thoại Thần thoại là nơi để con ngườitưởng tượng, diễn giải về các hiện tượng thiên nhiên kỳ bí mà còn là nơi thể hiệnđời sống tâm linh, sự hình thành số phận cũng như muôn mặt của đời sốngthường ngày Thần thoại là nơi đâù tiên để tư duy triết học ra đời và từng bướctriết học tách khỏi thần thoại, tự mình tư duy về tự nhiên, đạo đức, về xã hội, về

lẽ sống, về chân lý, về con người…

Như vậy, có thể thấy rằng sự ra đời của triết học Hy Lạp cổ đại là một tất yếu-đó

là kết quả nội sinh của cả một dân tộc, một thời đại

Triết học Hy Lạp cổ đại phát triển qua 3 thời kỳ sau:

- Triết học thời kỳ tiền Xôcrat (thời kỳ sơ khai)

- Triết học thời kỳ Xôcrat (thời kỳ cực thịnh)

Ngày đăng: 19/11/2014, 21:33

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w