1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

QUAN ĐIỂM VỀ CÁCH TRỊ QUỐC CỦA CÁC NHÀ TRIẾT HỌC THỜI CỔ ĐẠI

25 562 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 208,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

QUAN ĐIỂM VỀ CÁCH TRỊ QUỐC CỦA CÁC NHÀ TRIẾT HỌC THỜI CỔ ĐẠI

Trang 1

Nhóm: 5 Lớp: Cao học Đêm 1 – K20 GVHD: TS BÙI VĂN MƯA

Tp.Hồ Chí Minh, 2011

Trang 2

CHƯƠNG I: TRIẾT HỌC TRUNG QUỐC CỔ ĐẠI 2

CHƯƠNG II: TRIẾT HỌC HY LẠP CỔ ĐẠI 8

CHƯƠNG III: NHẬN XÉT CÁ NHÂN 13

KẾT LUẬN 22

TÀI LIỆU THAM KHẢO 23

Trang 3

LỜI MỞ ĐẦU

Một trong những vấn đề khá quan trọng trong sự phát triển của xã hội là

“vấn đề về trị quốc” Một quốc gia phồn thịnh hay suy vong đều phụ thuộc vàođường lối, chiến lược trị quốc Quan điểm của các nhà triết học qua các thời kỳkhác nhau (cổ đại, trung đại và hiện đại) cũng khác nhau Các quan điểm đượcphát triển trên từ đơn giản đến phức tạp, từ bức tranh duy vật đến duy tâm Mỗi

tư tưởng triết học đều có nhiều quan điểm về các khía cạnh vũ trụ quan, nhậnthức luận, đạo đức, chính trị, xã hội

Trong phạm vi đề tài này, bài viết này chỉ đi sâu vào quan điểm trị quốc củacác nhà triết học thời kỳ cổ đại Tuy chỉ là một mảng nhỏ trong nội dung của các

tư tưởng triết học, nhưng đây là một đề tài mang tính chất bám sát vào nội dungchương trình học, mở rộng kiến thức về cách nhìn nhận của những nhà triết học

cổ đại của cả phương Tây lẫn phương Đông và là một vấn đề mang tính chất thựctiễn

Để làm rõ nội dung trị quốc, cần phải tìm hiểu sơ lược về điều kiện tự nhiên,hoàn cảnh đời sống xã hội và văn hóa Nội dung đề tài được chia ra thành haimảng chính Ở triết học phương Đông, nội dung trị quốc được phân tích thôngqua các tư tưởng triết học Trung Quốc cổ đại như Nho gia, Mặc gia, Đạo gia,Pháp gia Còn đối với triết học phương Tây, khía cạnh này lại được mổ xẻ thôngqua tư tưởng Đêmôcrit và Platon của triết học Hy Lạp

Trang 4

CHƯƠNG I: TRIẾT HỌC TRUNG QUỐC CỔ ĐẠI

1 Giới thiệu

Trung Quốc là một nước có nhiều dân tộc với chế độ phong kiến kéo dài,chiến tranh diễn ra liên miên Do sự phát triển kinh tế xã hội và khoa học trongcác thời kỳ cổ đại, đặc biệt là thời kỳ Xuân Thu-Chiến Quốc đã tạo tiền đề cho sự

ra đời các hệ thống triết học với những nhà triết gia vĩ đại mà tên tuổi của họ gắnliền với lịch sử của nhân loại

Triết học Trung Quốc gắn liền với chính trị và đạo đức Thường những nhàtriết học là những nhà chính trị, những ông quan tham mưu cho các vương triềuđình

Triết học Trung Quốc trải qua nhiều thời kỳ, trong đó thời Xuân Thu – ChiếnQuốc là thời kỳ phát triển rực rỡ nhất với nhiều học thuyết được lưu truyền đếnđời sau

2 Triết học Nho Gia

Cơ sở của Nho giáo được hình thành từ thời Tây Chu, đặc biệt với sự đónggóp của Chu Công Đán, còn gọi là Chu Công.Đến thời Xuân Thu, xã hội loạnlạc, Khổng Tử phát triển tư tưởng của Chu Công, hệ thống hóa và tích cực truyền

bá các tư tưởng đó Do đó, sau này ông được xem là người sáng lập ra Nho giáo.Nho gia là một học thuyết chính trị nhằm tổ chức xã hội Để tổ chức xã hội

có hiệu quả, cần phải đào tạo cho được người cai trị kiểu mẫu - người lý tưởngnày gọi là quân tử Theo Khổng Tử, để trở thành người quân tử, con người tatrước hết phải "tự đào tạo", phải "tu thân" Sau khi tu thân xong, người quân tửphải có bổn phận phải "hành đạo" Tức là phải hoàn thành những việc nhỏ - giađình, cho đến lớn - trị quốc, và đạt đến mức cuối cùng là bình thiên hạ (thốngnhất thiên hạ)

Về tu thân, Khổng Tử đặt ra một loạt tam cương, ngũ thường, tam tòng, tứđức để làm chuẩn mực cho mọi vấn đề sinh hoạt trong xã hội Tam cương vàngũ thường là chuẩn mực đạo đức mà nam giới phải theo Tam tòng và Tứ đức là

Trang 5

chuẩn mực đạo đức mà nữ giới phải theo Khổng Tử cho rằng xã hội mà có mọingười tuân theo tam cương, ngũ thường, tam tòng, tứ đức thì xã hội được trật tự,thái bình.

Về hành đạo, Khổng Tử đưa ra học thuyết về Nhân-Lễ-Chính danh Nhân là

tình người, người có nhân là người biết yêu thương người khác, phải cai trị bằngtình người Khổng Tử từng nói "Mình muốn lập thân thì phải giúp người khác lậpthân, mình muốn thành đạt thì phải giúp người khác thành đạt” Chính danh ởđây có nghĩa là mang danh nào thì phải thực hiện cho được những điều mà danh

đó quy định Tất cả phải có tôn ti, thực hiện đúng bổn phận của mình Nếu tất cảmọi người đều chính danh, xã hội tất yếu sẽ thái bình, trật tự, không loạn lạc.Chính bởi thế mà câu nói "Nếu danh không chính thì lời nói không thuận Lời nóikhông thuận tất việc chẳng thành" của Khổng Tử đến giờ vẫn thường được mọingười nhắc lại Nói một cách ngắn gọn hơn, quan điểm này đã được những ngườisáng lập tóm gọn trong 9 chữ: Tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ

3 Triết học Đạo gia

Đạo gia là một trong sáu học phái lớn trong nền triết học Trung Quốc cổ đại,

ra đời sau thời kỳ hưng thịnh của Nho giáo Đạo gia được Lão Tử sáng lập ra vàsau đó được Trang Tử phát triển thêm vào thời Chiến quốc (403-221 TCN) trongbối cảnh tầng lớp quý tộc sa sút trong cuộc chiến triền miên

Kinh điển của Đạo gia chủ yếu được tập trung lại trong bộ Đạo đức kinh và

bộ Nam hoa kinh Những tư tưởng triết học cơ bản của trường phái Đạo gia đượcthể hiện chủ yếu trong lý luận về đạo và đức Lý luận này thể hiện quan niệmbiện chứng về thế giới và là cơ sở để Lão Tử xây dựng thuyết vô vi nhằm giảiquyết những vấn đề do thời đại đặt ra

Về quan điểm trị quốc, Lão Tử cho rằng hành động hay nhất là đừng canthiệp đến việc đời; nhưng nếu đời cần ta phải làm thì ta hãy làm cái không làmmột cách kín đáo, khéo léo Ông coi đây là giải pháp an bang tế thế Đối với ông,chính phủ yên tĩnh vô vi thì dân sẽ biến thành chất phác, chính phủ tích cực làmviệc thì dân đầy tai hoạ Lão Tử cho rằng bậc Thánh nhân trị vì thiên hạ phải là

Trang 6

bằng lẽ tự nhiên của đạo vô vi và chủ trương xoá bỏ hết mọi ràng buộc về mặtđạo đức, pháp luật đối với con người để trả lại cho con người cái bản tính tựnhiên vốn có của nó Lão Tử mơ ước đưa xã hội trở về thời đại nguyên thuỷ chấtphác, mơ ước cô lập cá nhân với xã hội để hoà tan con người vào đạo (tự nhiên).

4 Triết học Mặc gia

Mặc gia là một trường phái triết học Trung Quốc cổ đại do Mặc tử sáng lập,phát triển qua 2 giai đoạn: Mặc tử và giai đoạn hậu Mặc, phản ánh nguyện vọngcủa tầng lớp dân cư tự do, sản xuất nhỏ và tiểu chủ Nó phát triển cùng thời vớiNho giáo, Đạo giáo, Pháp gia và là một trong bốn trường phái triết học chínhtrong thời Xuân Thu và Chiến Quốc

Mặc Tử cho rằng việc quốc trị phải chú trọng vào phương tiện để đạt chođược cứu cánh chứ không chỉ bám vào cứu cánh mà quên đi phương tiện nhưKhổng hay Mạnh Mặc Tử nhấn mạnh đến pháp thuật chính trị cần thiết để anbang tế thế

Bất cứ chính sách hay phương pháp nào cũng phải giúp cho nhân loại thăngtiến Người quản thống quốc sự nên dựa trên căn bản hữu dụng (thực lợi) để đánhgiá tất cả các chính sách; nếu việc có lợi cho nhân dân thì nên làm, nhưng nếukhông có lợi cho nhân dân thì không làm Lãnh tụ quốc gia khi đánh giá cái'dụng' của sự việc cũng không nên quên đi 'nghĩa' Theo Mặc Tử thì 'muôn việckhông việc gì quý bằng nghĩa' (vạn sự mạc quý ư nghĩa) và 'nghĩa là lợi' (nghĩa,lợi dã)

Khuôn phép cho việc quốc trị trong nhãn quan của Mặc Tử là hành sử theominh ý của trời, phải biết thương dân chứ không phải tin vào bói toán một cách

mù quáng Lãnh tụ quốc gia không thể ích kỷ để chỉ lo tư lợi mà phải tận tìnhchăm lo cho đời sống của dân, giúp dân đạt được sung túc và hạnh phúc, tuyệtđối không ra vẻ hách dịch để ức hiếp dân Sách lược quốc trị tốt nhất cho dân tộc

là sách lược bác ái bao gồm các chính sách khuyến khích tinh thần bác ái trongquốc gia và cả chính sách ngăn chận sự căm thù trong xã hội

Trang 7

Trong lãnh vực quốc trị, Mặc Tử chủ trương lãnh đạo quốc gia phải biếttrọng dụng nhân tài bất kể là họ có liên hệ gia tộc hay đảng phái hay không, đưa

ra quan niệm bình đẳng hóa xã hội, phản đối hệ thống phân chia giai cấp đươngthời và đả kích tệ nạn bám víu vào quyền lực chính trị của thành phần quý tộcqua cách bổ nhiệm thân nhân - thay vì người tài đức - vào các trách vụ quantrọng

Về lãnh vực tài chánh, Mặc Tử chủ trương chính sách tiết kiệm, đòi hỏi lãnhđạo quốc gia phải biết giới hạn những chi tiêu xa hoa có tính cách khoe khoangnhưng không đem lại ích lợi gì cho nhân dân hay quốc

và Chiến Quốc (403 – 221 TCN) là thời kỳ sinh sống của Hàn Phi Tử, đã hội tụnhững nhân tố cho sự phát triển đến đỉnh cao Học thuyết pháp trị của phái phápgia hình thành và phát triển qua nhiều thời kỳ bởi các tác giả xuất sắc như: QuảnTrọng, Thận Đáo, Thân Bất Hại, Thương Ưởng và được hoàn thiện bởi Hàn Phi

Tử Tư tưởng Pháp gia mà đại biểu xuất sắc là Hàn Phi Tử có một vai trò đặc biệttrong sự nghiệp thống nhất đất nước và phát triển xã hội cuối thời Xuân Thu -Chiến Quốc

Trong phép trị nước, Hàn Phi Tử là người đầu tiên coi trọng cả ba yếu tốThế, Thuật, và Pháp Ông cho rằng ba yếu tố đó phải thống nhất không thể táchrời trong đường lối trị nước bằng pháp luật Trong đó, "Pháp" là nội dung trongchính sách cai trị được thể hiện bằng luật lệ; "Thế" là công cụ, phương tiện tạonên sức mạnh, còn "Thuật" là phương pháp cách thức để thực hiện nội dungchính sách cai trị Tất cả đều là công cụ của bậc đế vương

Trang 8

"Thế" là yếu tố không thể thiếu được trong pháp trị Pháp gia cho rằngmuốn có luật pháp rõ ràng minh bạch và được dân tuyệt đối tôn trọng thi hành thìnhà vua phải có "Thế" Trọng Thế tức trọng sự cưỡng chế, cho nên chủ trương:1- Chủ quyền (lập pháp, hành pháp, tư pháp) tập trung cả vào một người là vua;2- Vua phải được tôn kính tuân theo triệt để: dân không được quyền làm cáchmạng, không được trái ý vua, vua bắt chết thì phải chết, không chết tức là bấttrung 3- Đưa sự thưởng phạt lên hàng quốc sách vì thưởng và phạt là phươngtiện hiệu nghiệm nhất để cưỡng chế Muốn cho nước trị thì vua chỉ cần dùngthưởng phạt chứ không cần dùng giáo hóa, lễ nhạc.

"Pháp" được hiểu theo hai nghĩa: Nghĩa rộng "Pháp" là thể chế quốc gia làchế độ chính trị xã hội của đất nước; Nghĩa hẹp "Pháp" là những điều luật, luật

lệ, những luật lệ mang tính nguyên tắc và khuôn mẫu Kế thừa và phát triển tưtưởng Pháp trị của pháp gia thời trước, Hàn Phi Tử cho rằng: "Pháp là hiến lệnhcông bố ở các công sở, thưởng hay phạt đều được dân tin chắc là thi hành,thưởng người cẩn thận giữ pháp luật, phạt kẻ phạm pháp, như vậy bề tôi sẽ theoPháp" Tính cách của pháp luật theo Hàn Phi, trên cơ sở chủ trương của Pháp gia,

là vua tượng trưng cho quốc gia, nên vua nắm hết uy quyền: lập pháp, hành pháp,

tư pháp Tuy vậy, khi lập pháp vua cũng phải dựa trên những nguyên tắc chínhnhư: 1- Pháp luật phải hợp thời; 2- Pháp luật phải soạn sao cho dân dễ hiểu, dễthi hành; 3- Pháp luật phải công bằng; 4- Pháp luật có tính cách phổ biến VớiHàn Phi, "Pháp" thật sự là tiêu chuẩn khách quan để phân định danh phận, phảitrái, tốt, xấu, thiện ác và sẽ làm cho nhân tâm và vạn sự đều qui về một mối, đềulấy pháp làm chuẩn Vì vậy, "Pháp" trở thành cái gốc của thiên hạ

"Thuật" trước hết là cách thức, phương thức, mưu lược, thủ đoạn trongviệc tuyển người, dùng người, giao việc, xét đoán sự vật, sự việc mà nhờ nó phápluật được thực hiện và nhà vua có thể "trị quốc bình thiên hạ" Theo Hàn Phi,

“Thuật” có hai khía cạnh: Kỹ thuật, là phương án để tuyển, dùng, xét khả năngquan lại; Tâm thuật tức mưu mô để chế ngự quần thần, bắt họ để lộ thâm của họ

ra Nói ngược lại điều mình muốn nói để dò xét gian tình của người; Ngầm hạinhững kẻ bề tôi mình không cảm hóa được…

Trang 9

Cũng như Tâm thuật, Kỹ thuật được Hàn Phi rất coi trọng, đặc biệt là thuật trừgian và dùng người

Sự nghiệp thống nhất và phát triển đất nước của Trung Quốc lúc bấy giờ đòihỏi tư tưởng pháp trị phải phát triển lên một trình độ mới trong đó tư tưởng về

"Thế", "Thuật", "Pháp" vừa được phát triển hoàn thiện vừa thống nhất với nhautrong một học thuyết duy nhất Hàn Phi đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ lịch sử

đó Tư tưởng chủ đạo của Pháp gia là muốn trị nước, yên dân phải lấy pháp luậtlàm trọng và nếu dùng pháp trị thì xã hội có phức tạp bao nhiêu, nước có đôngdân bao nhiêu thì vẫn "trị quốc bình thiên hạ" được

Pháp gia của Hàn Phi Tử được coi là trường phái triết học đầu tiên chủtrương dùng phép trị để trị nước Học thuyết chính trị của Pháp gia đã được TầnThủy Hoàng vận dụng, kết quả đã đưa nước Tần đến thành công trong việc thốngnhất được đất nước Trung Quốc sau những năm dài chiến tranh khốc liệt

Trang 10

CHƯƠNG II: TRIẾT HỌC HY LẠP CỔ ĐẠI

1 Giới thiệu

Triết học Hy Lạp cổ đại ra đời trong bối cảnh diễn ra sự chuyển biến lâu dài

và sâu sắc các quan hệ xã hội Đó là sự ra đời của xã hội có giai cấp đầu tiêntrong lịch sử-chế độ chiếm hữu nô lệ

Sự thuận lợi về thiên nhiên, địa lý đã tạo điều kiện cho Hy Lạp nhanh chóngphát triển tất cả các lĩnh vực, mở rộng bang giao, tiếp nhận nhiều giá trị văn hoá

Vì vậy, nơi đây đã hội tụ đầy đủ những điều kiện để tư duy con người có dịp baybổng, để thoả sức sáng tạo ra những giá trị triết học có ý nghĩa vô cùng quantrọng trong lịch sử tư tưởng của nhân loại, xứng đáng là chiếc nôi của nền vănminh Châu Âu và của cả nhân loại

Sự hình thành triết học Hy Lạp không diễn ra một cách ngẫu nhiên mà là kếtquả tất yếu của việc kế thừa những di sản tinh tuý của truyền thống trong sángtác dân gian, trong thần thoại, trong các mầm mống của tri thức khoa học (khoahọc tự nhiên)

Hy Lạp cổ đại là đất nước của thi ca, thần thoại Thần thoại là nơi để conngười tưởng tượng, diễn giải về các hiện tượng thiên nhiên kỳ bí mà còn là nơithể hiện đời sống tâm linh, sự hình thành số phận cũng như muôn mặt của đờisống thường ngày Thần thoại là nơi đâù tiên để tư duy triết học ra đời và từngbước triết học tách khỏi thần thoại, tự mình tư duy về tự nhiên, đạo đức, về xãhội, về lẽ sống, về chân lý, về con người…

Như vậy, có thể thấy rằng sự ra đời của triết học Hy Lạp cổ đại là một tấtyếu-đó là kết quả nội sinh của cả một dân tộc, một thời đại

Triết học Hy Lạp cổ đại phát triển qua 3 thời kỳ sau:

- Triết học thời kỳ tiền Xôcrat (thời kỳ sơ khai)

- Triết học thời kỳ Xôcrat (thời kỳ cực thịnh)

- Triết học thời kỳ Hy Lạp hoá

Triết học Hy Lạp cổ đại có những đặc điểm sau:

Trang 11

Đặc điểm thứ nhất, triết học Hy Lạp cổ đại là sự kết tinh những gì tinh tuýnhất của nhận thức nhân loại từ phương thức sản xuất thứ nhất đến phương thứcsản xuất thứ hai ở phương Tây Vì vậy ở đó đã dung chứa hầu hết các vấn đề cơbản của thế giới quan và là một hệ thống tập hợp các tri thức về tự nhiên, về conngười, mặc dầu chưa thoát khỏi trạng thái phôi thai mộc mạc nhưng cũng vôcùng phong phú, muôn hình muôn vẻ…

Đặc điểm thứ hai, triết học Hy Lạp đặc biệt quan tâm đến vấn đề con người,khẳng định con người là vốn quý, là trung tâm hoạt động của thế giới Mặc dùvậy, con người ở đây cũng chỉ là con người cá thể, giá trị thẩm định chủ yếu ởkhía cạnh đạo đức, giao tiếp và nhận thức

Đặc điểm thứ ba, triết học Hy Lạp cổ đại mang tính chất duy vật tự phát vàbiện chứng sơ khai, cố gắng giải thích các sự vật hiện tượng trong một khối duynhất thường xuyên vận động và biến đổi không ngừng Với ý nghĩa đó, những tưtưởng biện chứng của triết học Hi Lạp cổ đại đã làm thành hình thức đầu tiên củaphép biện chứng

2 Quan điểm Đêmocrit

Đêmôcrit - nhà bác học toàn năng và nhà triết học duy vật lớn nhất của HyLạp cổ đại, sinh trưởng ở Apđerơ, một thành phố thực dân địa của Hi Lạp ở xứTơraxia, ven bờ phía Bắc của biển Êgiê

Đêmôcrit là đại biểu xuất sắc nhất của nền triết học Hy Lạp cổ đại Ông làhọc trò của Lơxíp và là người kế tục tư tưởng của Lơxip về nguyên tử và pháttriển nó thành một học thuyết gắn liền với tư tưởng của ông

Nổi bật nhất trong triết học của Đêmôcrít là học thuyết về nguyên tử Khái

niệm nguyên tử được xây dựng trên cơ sở các khái niệm về “tồn tại” và “khôngtồn tại” Trái với quan niệm của Platon thì tồn tại theo Đêmôcrít là cái xác địnhđược, cái đa dạng, cái có ngoại hình

Đối lập với cái tồn tại là cái không tồn tại hay cái trống rỗng Cái trống rỗng

là cái không xác định, cái vô hình, bất động và vô hạn Nó không ảnh hưởng gìcác vật thể nằm trong nó, nhờ đó mà vật thể vận động được trong cái trống rỗng,

Trang 12

cái phần vật chất thuộc cái tồn tại mà không chứa đựng trong nó một sự trốngrỗng nào được gọi là nguyên tử.

Nguyên tử là hạt vật chất không thể phân chia được, nhỏ bé có thể cảm nhận

được bằng trực quan Nguyên tử là vĩnh cửu, bất biến Nguyên tử có tính đadạng, tự thân không vận động và khi kết hợp với nhau thì tạo thành vật thể.Đêmôcrít cho rằng mọi sự vật trong thế giới đều được tái tạo từ các nguyên tử vàkhoảng không Sự xuất hiện, tồn tại và mất đi của các dạng vật thể là kết quả kếthợp của các nguyên tử hay phân tâm của các nguyên tử Vũ trụ nói chung theoĐêmôcrít là một khoảng không vô tận trong đó chứa đựng vô số thế giới khácnhau được cấu tạo từ vô vàn các loại nguyên tử

Trong lý luận nhận thức, Đêmôcrít đưa ra khái niệm linh hồn coi đó là hoạt

động tâm lý là tiêu chuẩn cơ bản để phân biệt giữa thế giới vô sinh và hữu sinh.Theo ông, linh hồn cũng là một dạng vật chất, được cấu tạo từ các nguyên tử đặcbiệt có cấu hình, linh động như ngọn lửa, có vận tốc lớn luôn chứa đựng và sinh

ra nhiệt làm cơ thể hưng phấn và vận động

Quan điểm về linh hồn của Đêmôcrít là cái không bất tử, nó thể hiện cùng

với sự tồn tại của thể xác con người Chức năng của linh hồn là khởi đầu sự vậnđộng và tồn tại của cơ thể con người Các hình thức phản ánh trong hoạt độngnhận thức của con người theo Đêmôcrít được thể hiện do các cơ quan cảm giác

và nhận thức lý tính Sự khác nhau giữa nhận thức cảm giác và lý tính là ở tínhchất, trình độ giữa chúng, tuy nhiên Đêmôcrít chưa phân biệt được sự khác nhau

cơ bản giữa hai dạng nhận thức, mà chỉ thấy sự khác nhau đơn thuần về lượng,cũng chưa thấy được sự chuyển hóa giữa chúng, mà thực chất coi tư duy chỉ là sựhỗn hợp cái nguyên tử trong cơ thể con người

Trong lĩnh vực chính trị - xã hội, Đêmôcrít thể hiện lập trường của tầng lớp

dân chủ chủ nô, ông đấu tranh bảo vệ nền dân chủ Aten Ông coi chế độ nô lệ làhợp đạo lý, nền tảng của nó là nhà nước của giai cấp chủ nô Ông có những quanđiểm tiến bộ về mặt đạo đức Phẩm chất con người theo ông không phải ở lời nói

mà ở việc làm Mục tiêu của con người, theo ông là hướng tới tự do và hạnhphúc, nhưng hạnh phúc không phải là sự giàu có, mà là sự thanh thản tâm hồn

Ngày đăng: 19/11/2014, 21:33

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w