- Tập làm văn là phân môn rèn luyện kĩ năng nói,viết cho học sinh bằng cách nhìn, cách nghĩ, cách cảm, cách diễn đạt của học sinh.Trong quátrình học học sinh luôn động não suy nghĩ nhiều
Trang 1Nhận xét đánh giá của HĐGK:
Tác dụng của sáng kiến :
…
Hiệu quả:
…
Xếp loại :
ngày tháng năm CT/HĐKHGD Nhận xét đánh giá của HĐGK huyện : Tác dụng của sáng kiến:
…
Tính thực tiễn,sư phạm ,khoa học:
…
Hiệu quả :…
…
Xếp loại :
ngày tháng năm CT/HĐKHGD Nhận xét đánh giá của HĐGK tỉnh : Tác dụng của sáng kiến:
…
Tính thực tiễn,sư phạm ,khoa học:
…
Hiệu quả :…
…
Xếp loại : ngày tháng năm
CT/HĐKHGD
A-PHẦN MỞ ĐẦU
Trang 2- Tập làm văn là một môn học rất quan trọng nó đòi hỏi học sinh phải vận dụng tồn
bộ kiến thức ,kinh nghiệm,kĩ năng tiếng việt,vận dụng luôn cả tư tưởng tình cảm của mình để làm bài Chính vì vậy tập làm văn là thước đo năng lực của học sinh
- Tập làm văn là phân môn rèn luyện kĩ năng nói,viết cho học sinh bằng cách nhìn, cách nghĩ, cách cảm, cách diễn đạt của học sinh.Trong quátrình học học sinh luôn động não suy nghĩ nhiều mà không quá căng thẳng……Đó không phải là điều dể.Bởi vì đọc bài văn – nhận xét – tìm ra dàn ý của bài văn cho sẵn để đi đến dàn bài chung cho một thể loại.Nếu cho một đề bài học sinh cần phân tích đề,tìm hiểu đề lập dàn ý giúp học sinh có khả năng tổng hợp phân loại lựa chọn ngày một tốt hơn trong văn miêu tả và một số loại văn bản khác.Một số bài văn miêu tả gần gũi với cuộc sống các em, giúp các em mở rộng vốn từ, vận dụng biện pháp so sánh,nhân hố ,các em có tình cảm yêu mến,gắn bó với thiên nhiên con người chung quanh các em
-Học tập làm văn cũng giúp các em phát triển óc ghi nhớ ,khả năng tưởngtượng ,rèn các em các thao tác tư duy lô gích và tư duy hình tượng Giàu tưởng tượng ,giàu ước mơ là những phẩm chất mở đường cho khả năng sáng tạo.Học tập làm văn ,học sinh còn tiếp cận với vẻ đẹp của con người,thiên nhiên qua các bài văn,đoạn văn điển hình.Khi phân tích đề, học sinh có dịp định hướng cái thiện ,cái mĩ trong các đề bài Các bài luyện tập báo cáo thống kê , làm đơn,làm biên bản,lập chương trình hoạt động cũng tạo cho học sinh thể hiện mối quan hệ với cộng đồng.Những cơ hội đó làm tình cảm yêu mến,gắn bó với thiên nhiên,với con người và việc làm xung quanh của trẻ,nảy
nở tâm hồn tình cảm của trẻ thêm phong phú.Đó là nhân tố quan trọng góp phần hình thành nhân cách tốt đẹp của trẻ
2 MỤC ĐÍCH ĐỀ TÀI:
-Tập cho các em có những kĩ năng phân tích đề,tìm ý,lựa chọn ý
-Hướng dẫån kĩ năng lập dàn ý,viết đoạn và liên kết đoạn vận dụng ngôn ngữ để trình bày nhận thức tình cảm của mình
Trang 3-Luyện tập cho các em có những kĩ năng quan sát,xây dựng nhân vật nhằm rèn luyện tâm hồn,cảm xúc,vốn sống vốn hiểu biết của các em
-Rèn luyện cho các em khả năng trình bày một bài văn nói viết theo đề tài đã cho
3 LỊCH SỬ ĐỀ TÀI:
-Học sinh chú trọng bài viết mà chưa tích cực với bài làm nói nên ảnh hưởng khả năng phát ngôn trong giao tiếp, nên bản thân tôi nghiên cứu áp dụng vào năm học 2007-2008
- Đầu năm học tôi kiểm tra phân loại đối tượng học sinh, sau đó lập kế hoạch thực hiện cho từng dạng đề bài tập làm văn
- Theo dõi hướng dẫn học sinh chuẩn bị bài theo đề tài luyện tập, theo hai hình thức nói và viết
- Giáo viên trong khối lớp cho rằng học sinh không hăng hái học môn tập làm văn
Vì vậy tôi quyết định tìm hiểu và nghiên cứu đề tài: “ Một số biện pháp giúp học sinh học tốt tiết tập làm văn”
4 PHẠM VI ĐỀ TÀI :
Để giúp học sinh học tốt môn tập làm văn, nhằm bồi dưỡng tâm hồn cảm xúc và nâng cao vốn hiểu biết của các em Đề tài này được nghiên cứu, áp dụng dạy tập làm văn
ở lớp tôi ( 51)trường tiểu học
Trang 4B PHẦN NỘI DUNG NGHIÊN CỨU :
I/ Thực trang đề tài :
- Các em phần đông là học sinh vùng sâu của xã, cuộc sống gia đình của các em còn gặp nhiều khó khăn, ngồi giơ øhọc các em còn phụ giúp gia đình nên công việc chuẩn bị bài còn sơ sài , nội dung chưa đảm bảo vì nhiều nguyên nhân : + Học sinh chưa biết phân tích đề và làm dàn bài theo từng thể loại
+ Học sinh chưa biết dùng dàn bài chung để lập dàn bài chi tiết cho từng đề bài + Đối với học sinh yếu, chưa biết tìm ý, chọn ý
+ Học sinh trình bày một đoạn văn còn lúng túng, không diễn đạt được; Khi viết thì câu văn còn rườm rà, chưa xếp ý cho đúng
- Các tiết tập làm văn ở những tuần đầu luyện tập tả cảnh được thống kê chất lượng như sau :
Lớp học có32 em: + chuẩn bị bài :15 em
+ Biết trình bày đoạn văn viết : 13 em + Biết nhận xét bài làm của bạn : 6em
II/ Nội dung và biện pháp cần giải quyết:
Trang 51/ Nội dung:
a/ Việc chuẩn bị của học sinh trước giờ lên lớp
b/ Mối quan hệ giữa các khâu trong một bài
c/ Xác định điểm tựa khi tìm hiểu đề - thể loại - kiểu bài
d/ Giúp học sinh nắm vững dàn bài chung cho từng thể loại
đ/ Rèn luyện khả năng quan sát, tư duy và phẩm chất trí tuệ cho học sinh
2/ Một số biện pháp cần giải quyết : a/ Việc chuẩn bị của học sinh trước giờ lên lớp :
Ở các phân môn khác nói chung, đặc biệt là tập làm văn, tiết học không chỉ bắt đầu khi có hiệu lệnh vào giờ và không thể gọi là kết thúc khi hết tiết Nó phải bắt đầu
từ công việc chuẩn bị cho học sinh trước tiết học và những công việc sau tiết học Sự chuẩn bị ở mỗi bài, mỗi tiết khác nhau nhưng phải chu đáo, cặn kẽ Ví dụ học văn miêu
tả, học sinh cần quan sát kỉ về cảnh hoặc người sẽ tả, ghi ra những gì đã quan sát được Sau đó lập dàn bài chung, từ đó làm đà cho việc vào lớp học dễ dàng hơn, vì vậy khâu dặn dò không thể là câu nói chiếu lệ
Ví dụ: học văn tả cảnh, để tả ngôi trường em tốt ở tiết học sau, phải dặn học sinh quan sát kỉ ngôi trường nằm ở đâu ? quan sát từ ngồi vào trong, nhìn từ xa đến gần, thấy những gì trước, những gì sau ? như cổng trường, sân trường, đến các phòng học, nêu cả bên trong phòng về cách trang trí từng phòng, rồi đến quan sát vườn trường…Những điều quan sát được ghi ra giấy, rồi lập một dàn ý cho bài tả ngôi trường từ bao quát đến chi tiết
b/ Mối quan hệ giữa các khâu trong một bài :
+ Trong mỗi bài, mỗi tiết chúng ta không chỉ nhìn vào công việc có tính chất thời đoạn mà phải nhìn nó trong cả một hệ thống,có chỗ chạy nhanh có chỗ chạy chậm, có chỗ tung vấn đề ra để chốt ở phần sau, có chỗ cần dứt điểm ngay… Từ khâu đọc một bài văn cho sẵún phân tích tìm hiểu về bài văn xem kết cấu của bài văn rút ra được dàn bài chung đến khâu ra đề, hướng dẫn học sinh xác định yêu cầu của đề luyện tập từng bộ phận để tiến đến tồn bài Từ lập dàn ý đến viết đoạn văn, bài văn, trả bài viết Cả hệ thống đó phải
Trang 6nằm trong một mối liên kết biến hóa uyển chuyển theo cách điều khiển độc đáo của người thầy Làm được như vậy học sinh sẽ thích thú tiếp thu tốt, rèn luyện tốt, tiếp thu được nhiều mặt, rèn luyện nhiều mặt các thao tác hổ trợ cho nhau tạo nên động tác tổng hợp đối với học sinh
Ví dụ: học văn miêu tả người
Từ một bài văn cho sẵn: Hạng A Cháng- Đọc và phân tích- Tìm hiểu cấu tạo bài văn- Đưa ra cấu tạo chung bài văn tả người - Cho lập dàn ý một người trong gia đình em- sau đó tả bài em bé tập nói , tập đi là tả hoạt động của em bé- ở bài này thì phần giới thiệu hình dạng được lướt nhanh qua đến lúc tả hoạt động thì chậm lại để nêu từng chi tiết hoạt động
+ Lúc tập nói : bé nói gì ? dáng điệu ra sao ?
+ Lúc tập đi : dáng điệu, cử chỉ, động tác nào đáng yêu nhất
+ Thái độ cử chỉ với người xung quanh
+ Khi tiếp xúc với người quen, người lạ, em có biểu hiện gì ở nét mặt
c/ Xác định hệ thống điểm tựa khi tìm hiểu đề- thể loại, kiểu bài:
- Tập làm văn là một phân môn có tính chất tổng hợp Để có thể rèn luyện tốt kỉ năng nói, viết nó phải được kế thừa thành quả của các phân môn khác Nó phải dùng” bột” của các phân môn khác để “ gột” nên “ hồ” Trong quá trình gột nên
hồ đó mà rèn luyện kĩ năng, rèn tư duy, trao đổi tình cảm …
- Trong cấu trúc của từng loại bài, phương pháp giảng dạy đều chứa sẳn chất bột
đó hay nói cách khác học sinh dựa vào đấy mà suy nghĩ, sáng tạo
Ví dụ: Trong tập đọc bài: “ Nghìn năm văn hiến” có đưa ra số liệu cụ thể, học sinh
đã biết thì đó là điểm tựa học tiếp theo sau là học sinh học tập làm văn về báo cáo thống kê số liệu học sinh trong lớp, trong tổ mình
- Học tập đọc còn giúp các em cảm thụ sâu sắc nội dung của các bài tập đọc Qua
đó học sinh có ý tưởng để ứng dụng vào bài tập làm văn, viết đoạn văn ngắn; Ở phân môn luyện từ vàø câu còn giúp các em có được vốn từ mới, đặt câu đúng
Trang 7ngữ pháp Chính vì vậy mà các môn khác là điểm tựa khi tìm hiểu bài, nên giáo viên cũng phải quan tâm hướng dẫn kĩ để học sinh học tốt môn tập làm văn d/ Giúp học sinh nắm vững dàn bài chung cho từng thể loại, kiểu bài đi đến lập dàn bài chi tiết :
Nhằm hình thành được một cách liên tục và vững chắc về phương pháp làm bài có tính khoa học cần giúp học sinh nắm vững dàn bài chung Muốn vậy học sinh cần phải chuẩn bị bài bằng cách đọc kỉ văn cho sẵn, tìm hiểu từng đoạn, từng phần trong bài theo hệ thống câu hỏi của sách giáo khoa, từ đó rút ra được dàn bài
chung
Ví dụ: Học bài Cấu tạo bài văn tả người
Học sinh cần đọc trước bài “Hạng A Cháng” -Sau đó từng nhóm học sinh tìm hiểu từng phần – giới thiệu Hạng A Cháng bằng cách nào ? tả hình dạng, hoạt động của
A Cháng ra sao ? và cảm nghĩ của tác giả về Hạng A Cháng Học sinh tìm hiểu xong bài tập đó có thể rút ra được dàn bài chung một cách dễ dàng và để tạo sự liên tục trong trí nhớ học sinh thì phần luyện tập lại lập ngay một dàn bài tả người thân trong gia đình- những người gần gũi các em nhất
Học sinh nắm vững dàn bài chung thì việc lập dàn bài chi tiết các em sẽ lập được tốt, về dàn bài tả mẹ, tả bà, hay tả em bé- Để bài làm được sâu sắc hơn thì học sinh cũng cần quan sát chọn lọc chi tiết, ghi lại những điểm tiêu biểu nổi bật, gây ấn tượng sẽ làm cho đối tượng này không giống đối tượng khác thì bài viết mới hấp dẫn hơn
Ví dụTả về bác nông dân cày ruộng phải khác với chú công an- qua cử chỉ, lời nói, cách ăn mặc, cách đối xử với mọi người xung quanh… tìm những chi tiết để làm nổi bật từng người
đ/ Rèn luyện khả năng quan sát, tư duy và phẩm chất trí tuệ cho học sinh:
- Khi học bài văn tả cảnh, học sinh phải quan sát những cảnh quen thuộc, giáo viên gợi mở dẫn dắt học sinh quá trình quan sát để học sinh bao quát đối tượng cụ thể, tìm
Trang 8hiểu được những vấn đề trọng tâm, rồi rút ra đặc điểm tính chất hoạt động của đối tượng Trong quá trình đĩ các em được rèn phép so sánh, suy luận, liên tưởng và ĩc tưởng tượng
• Ví dụ: Tả về cảnh đẹp của đêm trăng Giáo viên gợi ý:
+ Ngắm trăng vào lúc nào ?
+ Đêm trăng cĩ gì đẹp ? ( cây cối, con người, hồ nước, tiếng cơn trùng, ánh trăng chiếu…)
Từ gợi ý đĩ học sinh đặt được một đoạn:( đây là bài của em Quí trong lớp):
“ Trăng hơm nay trịn và sáng, soi rọi cả mặt đất sáng lên Vài ngọn giĩ thổi làm xáo động khơng gian yên tĩnh, sương đêm đọng lại trên lá cây, ánh trăng chiếu lên những giọt sương ấy làm nĩ lấp lánh như pha lê…
Vài con đom đĩm mấp máy ánh sáng của mình trong đêm như những vì sao ẩn hiện bay xuống mặt đất chơi đùa cùng em Aùnh trăng chiếu vào vịm cây, bĩng cây in trên tường tạo nên những hình thù ma quái linh động khi cĩ những ngọn giĩ thổi qua ‘’
- Học sinh biết tìm từ hay thích hợp cho chi tiết, làm cho học sinh luơn động não trong tiết học, suy nghĩ nhiều nhưng khơng căng thẳng, ĩc ghi nhớ khả năng liên tưởng Nhưng giáo viên cũng cần lưu ý rèn luyện học sinh các tư duy lơ gích, tư duy trù tượng Từ đĩ giúp học sinh thơng minh biết cách làm , cách nhìn, cách nghĩ của riêng mình trong một bài
Ngồi những việc làm trên, giáo viên cũng cần quan tâm đến cách đánh giá nhận xét, nêu gương cho học sinh, cần khuyến khích, khen ngợi các em cĩ những đoạn văn hay, những từ ngữ tạo ra câu văn sinh động, học sinh biết dùng biện pháp nhân
hố hay so sánh để các em cĩ cách diễn đạt ý riêng cho bài văn mình Giáo viên cũng cần chỉ ra những điểm sai cần sửa để học sinh khắc phục trong các bài văn khác
Đối với học sinh yếu cũng nên khen ngợi kịp thời, động viên tinh thần học tập của
em, cĩ thế học sinh sẽ tự tin, giúp việc luyện tập học văn sẽ khơng cịn sợ sệt hay chán nãn
Trang 9III/ Kết quả chuyển biến:
- Qua một thời gian nghiên cứu và áp dụng đề tài cho lớp chủ nhiệm, đã đạt được kết quả phấn khởi
+ Học sinh biết phân tích để tìm ra trọng tâm của đề bài
+ Học sinh biết dựa vào bài văn cho sẳn để rút ra dàn bài chung, rồi đi đến dàn bài chi tiết, chuẩn bị trước để viết một đoạn văn
+ Học sinh biết diễn đạt bài văn của mình, nhận xét bài bạn, biết sửa chữa bổ sung cho đoạn văn của mình hay hơn ( nhưng việc đặt câu cũng còn hạn chế ở một số em)
- Qua những bài ôn tập, kiểm tra tả cảnh, tả người ở cuối năm, tôi nhận thấy có
sự chuyển biến rõ rệt:
+ Chuẩn bị bài trước: 28/ 3 2
+ Trình bày đoạn văn viết: 27/32
+ Nhận xét được bài của bạn : 21/ 32
+ Biết chỉnh sửa đoạn văn của mình cho hay hơn: 23/ 32
Từng giai đoạn chuyển biến như sau:
Điểm
Giai đoạn
Trang 10C/ PHẦN KẾT LUẬN:
1/ Tóm lược :
Trong công tác giảng dạy vấn đề giúp học sinh yếu kém nâng cao chất lượng có hiệu quả thật không phải dễ, đối với trường có học sinh đa dạng, có nhiều hồn cảnh khác nhau, mà yêu cầu của nghành và xã hội ngày càng cao Tôi nghĩ rằng là một người thầy đứng trên bục giảng thì phải đem hết sức mình để giảng dạy cho các em và mong các em có một kết quả học tập tốt đẹp – Học tập làm văn, các em được chủ động, tự do diễn giải cái riêng của mình Dạy tập làm văn là dạy các em tập suy nghĩ, tập sáng tạo, tập thể hiện tính trung thực
Bài học kinh nghiệm:
Trang 11- Giáo viên phải hướng dẫn học sinh vận dụng các giác quan, biết quan sát, biết lựa chọn, liên tưởng, tưởng tượng khi nhận xét sự vật
- Kiểm tra sự chuẩn mực của học sinh và hướng dẫn học sinh cụ thể việc chuẩn
bị : lựa chọn , hệ thống, diễn đạt ý, quan sát, tưởng tượng, khả năng thể hiện
- Cần giúp học sinh tham gia hội thoại bằng nhiều hình thức như tổ chức quan sát, học nhóm,thảo luận… giúp học sinh tự tin khi nói và viết
- Khi nhận xét đánh giá bài của học sinh, giáo viên cần:
+ Tôn trọng ý của học sinh sao cho đảm bảo nội dung thể hiện, phù hợp với yêu cầu của đề
+ Cần biểu dương ưu điểm nhằm động viên các em
- Giáo viên cần nắm vững đặc điểm từng thể loại và tổ chức dạy hợp lý để rèn luyện các em nói – viết một vấn đề trọn vẹn
2/ Phạm vi , đối tượng áp dụng :
- Phạm vi nghiên cứu : học sinh lớp 5 của trường tiểu học
- Thời gian thực hiện : tháng 10 năm 2007 đến tháng 4 năm 2008
MỤC LỤC
Trang 12I/ Lý do chọn đề tài :
1/ Đặt vấn đề
2/ Mục đích đề tài
3/ Lịch sử đề tài
4/ Phạm vi đề tài
1/ Thực trang đề tài
2/ Nội dung cần giải quyết
3/ Biện pháp cần giải quyết
4/ Kết quả chuyển biến của đối tượng
1/ Tóm lượt các giải pháp
2/ Phạm vị, đối tượng áp dụng
3/ Kiến nghị với các cấp về điều kiện áp dụng ( nếu có )
1/ Sách giáo khoa, sách giáo viên lớp 5
2/ Tài liệu về phân môn tập làm văn
3/ Tạp chí giáo dục