1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TIỂU LUẬN NÉT TƯƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT GIỮA NHO GIA VÀ ĐẠO GIA

27 307 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 534,82 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TIỂU LUẬN NÉT TƯƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT GIỮA NHO GIA VÀ ĐẠO GIA

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HCM KHOA ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC

TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC

Đề tài số 2:

“NÉT TƯƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT GIỮA NHO GIA VÀ ĐẠO GIA”

GVHD: TS Bùi Văn Mưa

SVTH: Nguyễn Diệu Hương

Trang 2

1.1.2 Triết học phương Đông – triết học phương Tây

1.2 Triết học phương Đông – triết học Trung Quốc cổ - trung đại

1.2.1 Nho gia

1.2.2 Đạo gia

Chương 2 : Sự tương đồng giữa Nho gia và Đạo gia

2.1 Nét tương đồng trong lịch sử hình thành và phát triển

2.2 Nét tương đồng về quan điểm

o Khởi nguyên vũ trụ

o Thế giới quan – Nhân sinh quan

o Những tư tưởng biện chứng

o Quan điểm chính trị - xã hội

o Quan điểm trong phương châm xử thế

Chương 3: Sự khác biệt giữa Nho gia và Đạo gia

3.1 Nét khác biệt trong lịch sử hình thành và phát triển

3.2 Nét khác biệt trong quan điểm

o Khởi nguyên vũ trụ

o Thế giới quan – Nhân sinh quan

o Những tư tưởng biện chứng

Trang 3

o Quan điểm chính trị - xã hội

o Quan điểm trong phương châm xử thế

Chương 4: Những ảnh hưởng của học thuyết Nho gia và Đạo gia đến xã hội Việt Nam4.1 Sự du nhập các tư tưởng triết học vào Việt Nam

4.2 Nho gia và những tác động đến xã hội (hay hệ tư tưởng) Việt Nam

4.3 Đạo gia và những tác động đến xã hội (hay hệ tư tưởng) Việt Nam

Kết luận

Trang 4

Lời mở đầu

1 Lý do chọn đề tài

Văn minh Trung Hoa là một trong những nền văn minh xuất hiện sớm nhất trên thế giới với hơn 4000 năm phát triển liên tục, với nhiều phát minh vĩ đại trong lịch sử trên nhiều lĩnh vực khoa học Có thể nói, văn minh Trung Hoa là một trong những cái nôicủa văn minh nhân loại Bên cạnh những phát minh, phát kiến về khoa học, văn minh Trung Hoa còn là nơi sản sinh ra nhiều học thuyết triết học lớn có ảnh hưởng đến nền vănminh Châu Á cũng như toàn thế giới Trong số các học thuyết triết học lớn đó phải kể đếntrường phái triết học Nho gia và Đạo gia

Việc tìm hiểu sự tương đồng và khác nhau của trường phái triết học nho gia và đạogia giúp chúng ta có khái niệm gần như hoàn chỉnh về triết học Trung Quốc cổ đại,những ảnh hưởng của nó đến thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng, từ đó chúng tabiết cách vận dụng những tinh hoa của nền triết học này, nâng cao khả năng tư duy, nhậnthức thế giới, con người và xã hội

2 Mục đích nghiên cứu

Thông qua việc tìm hiểu sự tương đồng và khác biệt giữa hai trường phái triết hoc nho gia và đạo gia chúng ta sẽ phần nào hiểu được những đặc điểm cơ bản của triết hoc Trung quốc cồ đại mà tiêu biểu là hai nhà triết học nổi tiếng : Khổng Tử và Lão Tử

3 Phương pháp nghiên cứu

Bài viết hình thành trên cơ sở phương pháp nghiên cứu lịch sử, phương pháp phântích tổng hợp và so sánh các nguồn tư liệu tham khảo với nhau để có được cái nhìn kháchquan nhất về nền triết học Trung Quốc cổ đại

Trang 5

Chương 1: Triết học và tư tưởng Triết học

Phương Đông

1.1 Khái lược bức tranh triết học về thế giới

Triết học ra đời trong xã hội chiếm hữu nô lệ ở cả phương Đông và phương Tây vào khoảng thế kỷ VIII - thế kỷ VI Tr.CN Đã có rất nhiều cách định nghĩa khác nhau về triết học, nhưng đều bao hàm những nội dung cơ bản giống nhau: Triết học nghiên cứu thế giới với tư cách là một chỉnh thể, tìm ra những quy luật chung nhất chi phối sự vận động của chỉnh thể đó nói chung, của xã hội loài người, của con người trong cuộc sống cộng đồng nói riêng và thể hiện nó một cách có hệ thống dưới dạng duy lý

1.1.2 Triết học phương Đông – triết học phương Tây

Sự phát triển của Triết học là sự phát triển song song giữa hai nền Triết học Phương Tây và Triết học Phương Đông Nhưng do điều kiện địa lý tự nhiên, kinh tế xã hội, văn hóa mà sự phát triển của hai nền Triết học có sự khác nhau Phương Tây phát triển Triết học ‘ hướng ngoại’ bởi những yêu cầu phát triển khoa học nghiên cứu; còn Phương Đông chịu sự tác động của chính trị, chiến tranh diễn ra liên tục, nên Triết học

‘hướng nội’, nghiên cứu về Tôn giáo có Ấn Độ, về chính trị - đạo đức – xã hội có Trung Quốc Nhưng dù phát triển ở Phương Đông hay Phương Tây thì Triết học cũng là hoạt động tinh thần biểu hiện khả năng nhận thức, đánh giá của con người

1.2 Triết học phương Đông – triết học Trung Quốc cổ - trung đại

Trang 6

Nền triết học Trung Hoa cổ đại ra đời vào thời kỳ quá độ từ chế độ chiếm hữu nô

lệ lên xã hội phong kiến.Trong bối cảnh lịch sử ấy, mối quan tâm hàng đầu của các nhà tưtưởng Trung Hoa cổ đại là những vấn đề thuộc đời sống thực tiễn chính trị - đạo đức của

xã hội Tuy họ vẫn đứng trên quan điểm duy tâm để giải thích và đưa ra những biện pháp giải quyết các vấn đề xã hội, nhưng những tư tưởng của họ đã có tác dụng rất lớn, trong việc xác lập một trật tự xã hội theo mô hình chế độ quân chủ phong kiến trung ương tập quyền theo những giá trị chuẩn mực chính trị - đạo đức phong kiến phương Đông.Chính trong quá trình ấy đã sản sinh ra các nhà tư tưởng lớn và hình thành nên các trường phái Triết học khá hoàn chỉnh

1.2.1 Nho gia

Trong số các trường phái triết học lớn đó phải kể đến trường phái triết học Nho giáo Người theo Nho giáo được gọi là nhà nho, là người đã đọc thấu sách thánh hiền được thiên hạ trọng dụng, dạy bảo cho mọi người sống hợp với luân thường đạo lý Nho giáo xuất hiện rất sớm, lúc đầu nó chỉ là những tư tưởng hoặc tri thức chuyên học văn chương và lục nghệ góp phần trị nước Đến thời Khổng tử đã hệ thống hoá những tư tưởng và tri thức trước đây thành học thuyết, gọi là nho học hay “Khổng học” - gắn với tên người sáng lập ra nó

1.2.2 Đạo gia

Một trường phái Triết học lớn nữa của Trung Quốc là Đạo giáo Đạo giáo tức là giáo lí về Đạo, là một nhánh triết học và tôn giáo Trung Quốc, là tôn giáo đặc hữu chính thống của nước này.Nguồn gốc lịch sử được xác nhận của Đạo giáo có thể xuất hiện ở thế

kỉ thứ 4 trước công nguyên, khi tác phẩm Đạo đức kinh của Lão Tử xuất hiện Các tên gọi khác là Đạo Lão, Đạo Hoàng Lão, hay Đạo gia

Đạo giáo là một trong tam giáo tồn tại thời Trung Quốc cổ đại, song song với Nho giáo và Phật giáo Tại Trung Quốc, Đạo giáo đã ảnh hưởng sâu sắc đến các lĩnh vực như:chính trị, kinh tế, văn chương, nghệ thuật, âm nhạc, dưỡng sinh, y học, hóa học, vật lý, địa lý, lịch sử,…

Hai trường phái Triết Học này đã có ảnh hưởng lớn đến thế giới quan của Triết học sau này, không những của người Trung Hoa mà cả những nước chịu ảnh hưởng của nền Triết học Trung Hoa, trong đó có Việt Nam.Chính vì thế, việc tìm hiểu tư tưởng Triếthọc của Nho gia – Đạo gia và những ảnh hưởng của của nó đến xã hội Việt Nam là một việc cần thiết để lý giải những đặc trưng của Triết học Phương Đông, qua đó hiểu biết thêm về sự phát triển tư tưởng của Việt Nam

Trang 7

Chương 2: Sự tương đồng giữa Nho gia và

Đạo gia

2.1 Nét tương đồng trong lịch sử hình thành và phát triển

Nho gia và Đạo gia là hai trường phái triết học lớn, được hình thành và phát triển trong thời Xuân thu, Chiến quốc Đây cũng là thời kỳ phát triển rực rỡ nhất của nhiều họcthuyết.Đây là thời đại tư tưởng được giải phóng, tri thức được phổ cập, nhiều học giả đưa

ra học thuyết của mình nhằm góp phần biến đổi xã hội, khắc phục tình trạng loạn lạc bấy lâu nay Có hàng trăm học giả với hàng trăm tác phẩm ra đời, cho nên thời này còn gọi là thời “Bách gia chư tử, trăm nhà trăm thầy”; “Bách gia tranh minh, trăm nhà đua tiếng” Trong đó có 6 học phái lớn là Âm dương gia, Nho gia, Đạo gia, Mặc gia, Pháp gia và Danh gia

Nho gia và Đạo gia tồn tại từ thời Trung Quốc cổ đại, được hoàn thiện liên tục và

có ảnh hưởng sâu rộng, lâu dài đến nền văn hóa tinh thần của Trung Quốc nói riêng và nhiều quốc gia phương Đông nói chung Mặc dù có rất nhiều quan điểm khác biệt nhưng

cả haitrường phái triết học đã hoà hợp thành một truyền thống Ảnh hưởng hai trường phái triết học này trong lĩnh vực tôn giáo và văn hoá vượt khỏi biên giới Trung Quốc, được truyền đến một số nước Châu Á lân cận như Việt Nam, Nhật Bản, Thái Lan, Hàn Quốc, Lào, Campuchia…

2.2 Nét tương đồng về quan điểm:

a Khởi nguyên vũ trụ:

- Quan niệm về đạo: Cả 2 trường phái đều đề cập đến khởi nguyên vũ trụ bắt nguồn

từ đạo Đạo để chỉ cái nguyên lí tuyệt đối của vũ trụ đã có từ trước khi khai thiên lập địa, không sinh, không diệt, không tăng, không giảm Đạo có thể quan niệm dưới 2 phương diện: vô và hữu Vô, thì Đạo là nguyên lí của trời đất, nguyên lí vôhình Hữu, thì Đạo là nguyên lí hữu hình, là mẹ sinh ra vạn vật “Vô danh thiên địa chi thủy, hữu danh vạn vật chi mẫu”

+ Đạo gia: Lão tử cho rằng Đạo sinh ra vạn vật, đức nuôi nấng, bảo tồn vạn vật Vạnvật nhờ đạo mà được sinh ra, nhờ đức mà thể hiện và khi mất đi là lúc vạn vật quay trở về với đạo

+ Nho gia: Kkổng tử coi đạo đức là nền tảng của xã hội, là công cụ để giữ gìn trật tự

xã hội và hoàn thiện nhân cách cá nhân cho con người Xuất phát từ khai thác lý luận âm dương – ngũ hành, Đổng Trọng Thư là người đã đưa ra thuyết “trời sinh

Trang 8

vạn vật” và “thiên nhân cảm ứng” để hoàn chỉnh thêm nho gia trong việc giải thíchvạn vật, con người và xã hội.

- Quan niệm về âm dương: Cả 2 trường phái đều đề cập đến khởi nguyên vũ trụ bắt nguồn từ âm dương

+ Âm và dương theo khái niệm cổ sơ không phải là vật chất cụ thể, không gian cụ thể mà là thuộc tính của mọi hiện tượng, mọi sự vật trong toàn vũ trụ cũng như trong từng tế bào, từng chi tiết Âm và dương là hai mặt đối lập, mâu thuẫn thống nhất, trong Âm có Dương và trong Dương có Âm

+ Người ta còn nhận xét thấy rằng cơ cấu của sự biến hoá không ngừng đó là ức chế lẫn nhau, giúp đỡ, ảnh hưởng lẫn nhau, nương tựa lẫn nhau và thúc đẩy lẫn nhau

b Thế giới quan – Nhân sinh quan:

- Bản tính nhân loại đều có 1 tính gốc:

+ Nho Gia: Tính gốc là tính thiện hay tính ác

+ Đạo Gia: Tính gốc và khuynh hướng “vô vi” hay “hữu vi” “Vô vi” là khuynh hướng trở về nguồn gốc để sống với tự nhiên, tức hợp thể với đạo

- Về đạo đức: “Đạo” liên quan đến sự phát triển, tiến hoá của trời đất muôn vật.+ Nho Gia: Đạo là quy luật biến chuyển, tiến hoá của vạn vật trời đất

+ Đạo Gia: Đạo là bản nguyên của vũ trụ, sáng tạo ra vạn vật, là phép tắc của vạnvật, quy luật biến hóa tự thân của vạn vật

- “Đức” gắn chặt với Đạo

+ Nho Gia: đường đi lối lại đúng đắn phải theo để xây dựng quan hệ lành mạnh, tốt đẹp là đạo; noi theo đạo một cách nghiêm chỉnh, đúng đắn trong cuộc sống thì có được đức trong sáng quý báu ở trong tâm

+ Đạo Gia: Đạo là quy luật biến hóa tự thân của vạn vật, quy luật ấy gọi là Đức

- Quan điểm về con người:

+ Tập trung chủ yếu vào xã hội và con người, coi trọng hành vi cá nhân, hướng tới sự thống nhất, hài hòa giữa con người và xã hội

+ Coi con người là chủ thể của đối tượng nghiên cứu: hướng vào nội tâm - luôn

cố gắng tìm tòi về bản thân con người và mối quan hệ giữa con người và xã hộixung quanh và ít quan tâm đến khoa học tự nhiên Đây chính là nguyên nhân dẫn đến sự kém phát triển về nhận thức luận, là nguyên nhân sâu xa của sự kém phát triển kinh tế, khoa học so với văn minh Phương Tây (hướng ngoại)

- Hòa hợp và trọng truyền thống:

+ Ta có thể tóm tắt tư tưởng của 2 vào trường phái vào 2 đặc điểm cá biệt: hòa hợp và trọng truyền thống Trong cả Nho giáo lẫn Ðạo học, ta đều thấy ý tưởng

về hòa hợp tự nhiên cùng tính tương liên của mọi sự vật, và minh triết đến từ

sự thừa nhận trạng thái đó, đồng thời sống hòa hợp dưới ánh sáng khôn ngoan của nó

+ Nhìn từ viễn cảnh hiện đại, ta thấy Nho giáo lẫn Ðạo học đều có vẻ là tôn giáo,tuy thế, xét theo nguyên ngữ, cả hai chỉ được đề cập tới một cách đơn giản là

“giáo” với ý nghĩa giáo hóa, dạy bảo cách sống sao phải đạo làm người Tuy cảhai có triển khai các thành tố tôn giáo và siêu hình nhưng rõ ràng chúng bắt

Trang 9

nguồn từ các hệ thống triết học, được các tôn sư và các cá nhân đi theo làm thành các “học phái

Tư tưởng thực chứng luận:

 Khổng Tử và Nho gia nói chung ít quan tâm đến vấn đề lý giải thế giới, nguồn gốccủa vũ trụ Tuy nhiên để tìm chổ dựa vững chắc cho lý luận đạo đức của mình, Khổng Tử cho rằng vạn vật không ngừng biến hóa theo một trật tự không gì cưỡnglại được Chúng ta có thể bắt gặp tư tưởng này trong Đạo gia với quan niệm của Lão Tử về đạo: Đạo vừa mang tính khách quan (vô vi), vừa mang tính phổ biến

 Đều theo chủ nghĩa duy tâm:

+ Nho Gia: Mạnh Tử hệ thống hóa triết học duy tâm của Nho Gia trên phương diện thế giới quan và nhận thức luận Tư tưởng triết học của Tuân tử thuộc chủ nghĩa duy vật thô sơ

+ Đạo Gia: đề cao tư duy trừu tượng, coi khinh nghiên cứu sự vật cụ thể Lão tử cho rằng “Không cần ra cửa mà biết thiên hạ, không cần nhòm qua khe cửa mà biết đạo trời”

c. Quan điểm chính trị xã hội:

 Quan điểm chính trị và xã hội của Đạo gia và Nho gia hoàn toàn khác xa nhau Trong khi Đạo gia khuyên con người phải sống theo lẽ tự nhiên thì Nho gia

khuyên con người phải sống theo lễ và mệnh trời Tuy nhiên cũng có một nét tương đồng nhỏ về phong cách sống, đó là Đạo gia khuyên con người sống không giả tạo, từ bỏ tính tham lam, vị kỷ để không làm mất đức Trong khi đó Nho gia cũng khuyên con người sống phải chừng mực, điều gì mà mình không muốn cũng đừng nên áp dụng cho người khác Các học thuyết đưa ra cũng đều nhằm hướng đến tập trung giải quyết những vấn đề thực tiễn Xã hội thời đại đặt ra, giải quyết những mâu thuẫn do xã hội đưa ra và đưa con người đến một lối giải thoát theo các cách khác nhau

 Người trị vì thiên hạ đều là những người có phẩm chất tốt đẹp và đáng quý

d. Về phương châm xử thế:

 Con người sống và hành động dựa trên các nguyên tắc cơ bản, hợp với lòng người theo một quan niệm nhân sinh vững chắc Cả 2 trường phái đều hướng con người đến cái thiện, khuyên con người sống tốt để có gia đình hạnh phúc và góp phần cho 1 xã hội ổn định

+ Nho gia nguyên thủy cho rằng Nền tảng của gia đình – xã hội là những quan hệđạo đức – chính trị, đặc biệt là quan hệ vua – tôi, cha – con, chồng – vợ Các quan hệ này được nho gia gọi là đạo khi các quan hệ này chính danh thì xã hội

ổn định, gia đình yên vui và ngược lại Nho giáo nguyên thủy là triết lý của Khổng Tử và Mạnh tử về đạo làm người quân tử và cách thức trở thành người quân tử, cách cai trị đất nước

+ Đạo gia thì giáo huấn con người theo thuyết vô vi: sống và hành động theo lẽ

tự nhiên, không giả tạo, không gò ép trái với bản tính của mình và ngược với bản tính của tự nhiên, là từ bỏ tính tham lam, vị kỷ để không làm mất đức

Trang 10

Nghệ thuật sống dành cho con người là từ ái, cần kiệm, khiêm nhường, khoan dung.

 Đề cao và coi trọng người quân tử

Trang 11

Khổng Tử

Lão Tử

Cơ sở của Nho giáo được hình thành từ

thời Tây Chu, đặc biệt với sự đóng góp của

Chu Công Đán, còn gọi là Chu Công Đến

thời Xuân Thu, xã hội loạn lạc, Khổng

Tử(551-479 TCN)-người nước Lỗ (Sơn

Đông)- phát triển tư tưởng của Chu Công,

hệ thống hóa và tích cực truyền bá các tư

tưởng đó Chính vì thế mà người đời sau

coi ông là người sáng lập ra học thuyết Nho

giáo

Khổng Tử sống trong thời Xuân

Thu(722-480 TCN) Lúc bấy giờ, thế lực

của thiên tử nhà Chu ngày càng sa sút, bị

chư hầu lấn lướt Từ hơn 1.500 tiểu quốc

phong kiến tuân phục vương quyền trung

ương nay chỉ còn khoảng 150 thành quốc

Thất bá gồm Tề, Tấn, Tần, Tống, Sở và hai

nước phương nam Ngô và Việt mượn danh

nghĩa vua Chu để tập hợp các chư hầu

khác, đánh nhau triền miên hơn 483 lần,

giành nhau làm bá chủ chư hầu, gây xung

đột và đối lập giữa hai miền nam bắc Các

nước Chư hầu lớn nhỏ

Khi học thuyết Khổng Tử mới xuất hiện

không trở thành tư tưởng chủ yếu ngay mà

mãi đến thế kỷ thứ 2 trước công nguyên,

Trung Quốc lúc đó đã là một nhà nước theo

thế độ tập quyền trung ương lớn mạnh và

thống nhất Trải qua nhiều nỗ lực của giai

cấp thống trị và các đại sĩ phu thời Hán,

Khổng Tử và tư tưởng Nho gia của ông

Đạo gia là một trường phái triết họcTrung Quốc, lấy tên của phạm trù Đạo, mộtphạm trù trung tâm và nền tảng của nó,được hình thành qua một quá trình dài, thâunhập nhiều trào lưu thượng cổ khác

Đạo gia ra đời và phát triển rực rỡ từ cuốithời Xuân Thu đến cuối thời Chiến Quốc.Nguồn gốc tư tưởng của Đạo gia xuất phát

từ những quan điểm về vũ trụ luận, thiênđịa, ngũ hành, âm dương, Kinh Dịch… Nguồn gốc lịch sử được xác nhận củaĐạo gia có thể ở thế kỉ thứ 4 trước côngnguyên khi tác phẩmĐạo đức kinh của Lão Tử xuất hiện Theotruyền thuyết, Lão Tử (khoảng 580- 500TCN)- người nước Sở là người sáng lập raĐạo gia

Học thuyết Đạo giacủa ông được ông trìnhbày trong cuốn Đạo đứckinh Sách Đạo đức kinhchỉ có khoảng 5 nghìnchữ, được phân ra Thiênthượng 37 chương vàThiên hạ 44 chương, tất

cả gồm 81 chương Phầnthứ nhất nói về Đạo, phần hai nói về Đức Ngoài Lão Tử là người sáng lập, thì Đạogia còn có hai yếu nhân khác được thừanhận và tôn vinh muôn đời, đó là DươngChu và Trang Tử Trong đó vị trí của Trang

Tử được sánh ngang với Lão Tử, nên còngọi là Đạo Lão – Trang

Dương Chu (khoảng 440 – 360 TCN) làmột đạo sĩ ẩn danh và bí hiểm Theo luậngiải, ông phải sinh trước Mạnh Tử (372 -

Trang 12

mới trở thành tư tưởng chính thống.

Khổng Tử đã san định, hiệu đính và giải

thích bộ Lục kinh gồm có Kinh Thi, Kinh

Thư, Kinh Lễ, Kinh Dịch, Kinh Xuân Thu

và Kinh Nhạc Về sau Kinh Nhạc bị thất

lạc nên chỉ còn năm bộ kinh thường được

gọi là Ngũ kinh Sau khi Khổng Tử mất,

học trò của ông tập hợp các lời dạy để soạn

ra cuốn Luận ngữ Học trò xuất sắc nhất

của Khổng Tử là Tăng Sâm, còn gọi là

Tăng Tử, dựa vào lời thầy mà soạn ra sách

Đại học Sau đó, cháu nội của Khổng Tử là

Khổng Cấp, còn gọi là Tử Tư viết ra cuốn

Trung Dung

Đến thờiChiến Quốc (480-221 TCN), do

bất đồng về bản tính con người mà Nho gia

bị chia thành 8 phái, trong đó phái của

Tuân Tử và phái của Mạnh Tử là mạnh

nhất

Mạnh Tử (372 - 298 TCN)đã có nhiều

đóng góp đáng kể cho sự phát triển của

Nho gia nguyên thủy Ông đưa ra các tư

tưởng mà sau này học trò của ông chép

thành sách Mạnh Tử Ông đã khép lại một

giai đoạn hình thành Nho gia Vì vậy, Nho

gia Khổng- Mạnh còn được gọi là Nho gia

Nho gia nguyên thủy hay Nho gia tiên Tần

Từ đây mới hình thành hai khái niệm,

Nho giáo và Nho gia Nho gia mang tính

học thuật, nội dung của nó còn được gọi là

Nho học, còn Nho giáo mang tính tôn giáo

Ở Nho giáo, Văn Miếu trở thành thánh

đường và Khổng Tử trở thành giáo chủ,

giáo lý chính là các tín điều mà các nhà

Nho cần phải thực hành

Đến thời Tây Hán, Đại Học và Trung

Dung được gộp vào Lễ Ký Hán Vũ Đế

đưa Nho giáo lên hàng quốc giáo và dùng

nó làm công cụ thống nhất đất nước về tư

tưởng Và từ đây, Nho giáo trở thành hệ tư

tưởng chính thống bảo vệ chế độ phong

kiến Trung Hoa trong suốt hai ngàn năm

Nho giáo thời kỳ này được gọi là Hán Nho

Tử Cao không chịu mất một sợi lông đểlàm lợi cho thiên hạ, nhằm trình bày tưtưởng của mình

Mãi đến Trang Tử(khoảng 369 – 286TCN), học thuyết của Lão Tử mới lại đượcngười đời chú ý Trang Tử là tác giả bộNam Hoa kinh,là một trong hai bộ kinhđiển của Đạo gia Bộ sách gồm ba phần,chứa 33 thiên Trong đó, có nhiều điểm lấy

từ Đạo Đức kinh làm chủ đề, nhưng khôngphải bao giờ cũng đồng thuận

Trong lĩnh vực nhận thức, phát triển tưtưởng biện chứng của Lão Tử, Trang Tử đãtuyệt đối hóa sự vận động, xóa nhòa mọiranh giới giữa con người với thiên nhiên,giữa phải và trái, giữa tồn tại và hư vô, đẩyphép biện chứng tới mức cực đoan thànhmột thứ tương đối luận

Trong cảnh loạn li cuối thời Đông Hán(thế kỷ II TCN), tư tưởng của Lão Tử cộngvới chất duy tâm mà Trang Tử đưa vào đãtrở thành cơ sở cho việc thần bí hóa đạo giathành Đạo giáo Chủ trương vô vi cùng vớithái độ phản ứng của Lão – Trang đối vớichính sách áp bức bóc lột của tầng lớpthống trị khiến cho Đạo giáo rất thích hợp

để dùng vũ khí tinh thần tập hợp nông dânkhởi nghĩa

Nếu lấy cuộc Cách Mạng Tam Dân TânHợi 1911 làm mốc điểm thì Đạo giáo đãtrải qua năm giai đoạn, đó là:

1 Khởi nguyên Đạo giáo: Từ thời cổ đạiđến đời Đông Hán (Triều đại Hán Thuận

4 Phân nhánh Đạo giáo thành các tôngphái Từ đầu đời Tống đến cuối đờiNguyên (960-1368)

5 Đạo giáo thăng trầm trong đời Minh và

Trang 13

Điểm khác biệt so với Nho giáo nguyên

thủy là Hán Nho đề cao quyền lực của giai

cấp thống trị, Thiên Tử là con trời, dùng "lễ

trị" để che đậy "pháp trị"

Đổng Trọng Thư(179-104 TCN) đã dựa

trên lợi ích giai cấp phong kiến thống trị,

khai thác lý luận Âm dương-Ngũ hành, đưa

ra thuyết trời sinh vạn vật và thiên nhân

cảm ứng để chỉnh thêm Nho gia trong việc

giải thích vạn vật, con người và xã hội

Ông đã hệ thống hóa kinh điển Nho gia

thành Tứ thư và Ngũ kinh, đồng thời đưa ra

quan niệm tam cương, ngũ thường, tam

tòng, tứ đức đối với phụ nữ Những quan

điểm này đã nhanh chóng trở thành tiêu

chuẩn đạo đức và nền tảng tư tưởng xã hội,

trở thành hệ tư tưởng của giai cấp phong

kiến thống trị Trung Quốc Nho gia không

dừng lại với tư cách một trường phái triết

học vươn lên thành hệ tư tưởng xã hội mà

còn được mở rộng thành một hệ thống

niềm tin, tín ngưỡng-nghi thức được phổ

biến trong toàn xã hội Nho giáo xuất hiện

và Khổng Tử được suy tôn làm Giáo chủ

của đạo Học

Khi Phật giáo truyền vào Trung Quốc và

Đạo giáo ra đời, Nho giáo hấp thụ một số

tư tưởng của hai học thuyết này để phát

triển tiếp tục

Sang thời nhà Tống, Nho giáo mới thật

sự phát triển rất mạnh Chính Chu Đôn Di

(1017-1073) và Thiệu Ung (1011-1077) là

những người khỏi xướng lý học trong Nho

giáo Ngoài ra, thời này còn có hai anh em

họ Trình-Trình Hạo (1032-1085), Trình Di

(1033-1107), và Chu Hy(1130- 1200) là

những nhà lý học xuất sắc Họ đã nêu ra

thuyết cách vật trí tri (cách vật, trí tri, thành

ý, chính tâm, tu thân, tề gia, trị quốc, bình

thiên hạ)

Nho giáo tiếp tục chi phối đời sống tư

tưởng xã hội Trung Quốc qua các triều đại

tiếp theo, nhưng nói chung, Nho giáo trong

Thanh (1368-1911)

Ngày đăng: 19/11/2014, 20:40

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w