1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận triết học Đề tài: Sự tương đồng và khác biệt giữa Nho gia và Đạo gia

35 582 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 35
Dung lượng 1,12 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tiểu luận triết học Đề tài: Sự tương đồng và khác biệt giữa Nho gia và Đạo gia Triết học ra đời trong xã hội chiếm hữu nô lệ ở cả phương Đông và phương Tây vào khoảng thế kỷ VIII - thế kỷ VI trước Công Nguyên. Đã có rất nhiều cách định nghĩa khác nhau về triết học, nhưng đều bao hàm những nội dung cơ bản giống nhau: Triết học nghiên cứu thế giới với tư cách là một chỉnh thể, tìm ra những quy luật chung nhất chi phối sự vận động của chỉnh thể đó nói chung, của xã hội loài người, của con người trong cuộc sống cộng đồng nói riêng và thể hiện nó một cách có hệ thống dưới dạng duy lý.

Trang 1

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 2

CHƯƠNG I: SỰ TƯƠNG ĐỒNG GIỮA NHO GIA VÀ ĐẠO GIA 4

1.1 Nét tương đồng trong lịch sử hình thành và phát triển 4

1.2 Nét tương đồng về quan điểm 5

1.2.1 Khởi nguyên vũ trụ 5

1.2.2 Thế giới quan – Nhân sinh quan 6

1.2.3 Những tư tưởng biện chứng 6

1.2.4 Quan điểm chính trị - xã hội 7

1.2.5 Quan điểm trong phương châm xử thế 8

CHƯƠNG II: SỰ KHÁC BIỆT GIỮA NHO GIA VÀ ĐẠO GIA 9

2.1 Nét khác biệt trong lịch sử hình thành và phát triển 9

2.2 Nét khác biệt trong quan điểm 11

2.2.1 Khởi nguyên vũ trụ 11

2.2.2 Thế giới quan - Nhân sinh quan 12

2.2.3 Những tư tưởng biện chứng 15

2.2.4 Quan điểm chính trị - xã hội 17

2.2.5 Quan điểm trong phương châm xử thế 19

CHƯƠNG III : NHỮNG ẢNH HƯỞNG CỦA HỌC THUYẾT NHO GIA VÀ ĐẠO GIA ĐẾN XÃ HỘI VIỆT NAM 20

3.1 Nho gia và những tác động đến xã hội (hay hệ tư tưởng) Việt Nam 20

3.2 Đạo gia và những tác động đến xã hội (hay hệ tư tưởng) Việt Nam 21

KẾT LUẬN 23

PHỤ LỤC .25

TÀI LIỆU KHAM THẢO 33

Trang 2

LỜI MỞ ĐẦU

Triết học ra đời trong xã hội chiếm hữu nô lệ ở cả phương Đông và phương Tâyvào khoảng thế kỷ VIII - thế kỷ VI trước Công Nguyên Đã có rất nhiều cách định nghĩa khác nhau về triết học, nhưng đều bao hàm những nội dung cơ bản giốngnhau: Triết học nghiên cứu thế giới với tư cách là một chỉnh thể, tìm ra những quyluật chung nhất chi phối sự vận động của chỉnh thể đó nói chung, của xã hội loàingười, của con người trong cuộc sống cộng đồng nói riêng và thể hiện nó một cách

có hệ thống dưới dạng duy lý

Nền triết học Trung Hoa cổ đại ra đời vào thời kỳ quá độ từ chế độ chiếm hữu nô

lệ lên xã hội phong kiến Trong bối cảnh lịch sử ấy, mối quan tâm hàng đầu của cácnhà tư tưởng Trung Hoa cổ đại là những vấn đề thuộc đời sống thực tiễn chính trị -đạo đức của xã hội Tuy họ vẫn đứng trên quan điểm duy tâm để giải thích và đưa ranhững biện pháp giải quyết các vấn đề xã hội, nhưng những tư tưởng của họ đã cótác dụng rất lớn, trong việc xác lập một trật tự xã hội theo mô hình chế độ quân chủphong kiến trung ương tập quyền theo những giá trị chuẩn mực chính trị - đạo đứcphong kiến phương Đông Chính trong quá trình ấy đã sản sinh ra các nhà tư tưởnglớn và hình thành nên các trường phái Triết học khá hoàn chỉnh

Trong số các trường phái triết học lớn đó phải kể đến trường phái triết học Nhogiáo Người theo Nho giáo được gọi là nhà nho, là người đã đọc thấu sách thánhhiền được thiên hạ trọng dụng, dạy bảo cho mọi người sống hợp với luân thườngđạo lý Nho giáo xuất hiện rất sớm, lúc đầu nó chỉ là những tư tưởng hoặc tri thứcchuyên học văn chương và lục nghệ góp phần trị nước Đến thời Khổng tử đã hệ

Trang 3

thống hoá những tư tưởng và tri thức trước đây thành học thuyết, gọi là Nho học hay

“Khổng học” - gắn với tên người sáng lập ra nó

Một trường phái Triết học lớn nữa của Trung Quốc là Đạo giáo

Đạo giáo tức là giáo lí về Đạo, là một nhánh triết học và tôn giáo Trung Quốc, làtôn giáo đặc hữu chính thống của nước này Nguồn gốc lịch sử được xác nhận củaĐạo giáo có thể xuất hiện ở thế kỉ thứ 4 trước công nguyên, khi tác phẩm Đạo đứckinh của Lão Tử xuất hiện Các tên gọi khác là Đạo Lão, Đạo Hoàng Lão, hay Đạogia

Đạo giáo là một trong tam giáo tồn tại thời Trung Quốc cổ đại, song song vớiNho giáo và Phật giáo Tại Trung Quốc, Đạo giáo đã ảnh hưởng sâu sắc đến các lĩnhvực như: chính trị, kinh tế, văn chương, nghệ thuật, âm nhạc, dưỡng sinh, y học, hóahọc, vật lý, địa lý, lịch sử,…

Hai trường phái Triết Học này đã có ảnh hưởng lớn đến thế giới quan của Triếthọc sau này, không những của người Trung Hoa mà cả những nước chịu ảnh hưởngcủa nền Triết học Trung Hoa, trong đó có Việt Nam

Chính vì thế, việc tìm hiểu, so sánh sự tương đồng và khác biệt giữa Triết họccủa Nho gia – Đạo gia và những ảnh hưởng của của nó đến xã hội Việt Nam là mộtviệc cần thiết để lý giải những đặc trưng của Triết học Phương Đông, qua đó hiểubiết thêm về sự phát triển tư tưởng của Việt Nam

Xuất phát từ lý do đó, tôi chọn đề tài: “Sự tương đồng và khác biệt giữa Nho gia

và Đạo gia” cho tiểu luận môn Triết học

Nội dung đề tài tiểu luận gồm ba chương:

CHƯƠNG I : SỰ TƯƠNG ĐỒNG GIỮA NHO GIA VÀ ĐẠO GIA

CHƯƠNG II : SỰ KHÁC BIỆT GIỮA NHO GIA VÀ ĐẠO GIA

Trang 4

CHƯƠNG III : NHỮNG ẢNH HƯỞNG CỦA HỌC THUYẾT NHO GIA VÀ ĐẠO GIA ĐẾN XÃ HỘI VIỆT NAM

CHƯƠNG I: SỰ TƯƠNG ĐỒNG GIỮA NHO GIA VÀ ĐẠO GIA1.1 NÉT TƯƠNG ĐỒNG TRONG LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN:

Nho gia và Đạo gia là hai trường phái triết học lớn, được hình thành và pháttriển trong thời Xuân thu, Chiến quốc Ra đời trên cơ sở kinh tế xã hội Đông Chu, sosánh với Triết học phương Tây và Ấn Độ cùng thời Triết học Nho gia và Đạo gia cócác đặc điểm chung nổi bật như sau:

Thứ nhất, nhấn mạnh tinh thần nhân văn

Thứ hai, chú trọng đến chính trị đạo đức

Thứ ba, nhấn mạnh đến sự hài hòa và thống nhất giữa tự nhiên và xã hội.Thứ tư là tư duy trực giác

Triết học Nho gia và Đạo gia ra đời vào thời kỳ quá độ từ chế độ chiếm hữu

nô lệ lên xã hội phong kiến Trong bối cảnh lịch sử ấy, mối quan tâm hàng đầu củacác nhà tư tưởng là những vấn đề thuộc đời sống thực tiễn chính trị - đạo đức của xãhội Tuy họ vẫn đứng trên quan điểm duy tâm để giải thích và đưa ra những biệnpháp giải quyết các vấn đề xã hội, nhưng những tư tưởng của họ đã có tác dụng rấtlớn, trong việc xác lập một trật tự xã hội theo mô hình chế độ quân chủ phong kiếntrung ương tập quyền theo những giá trị chuẩn mực chính trị - đạo đức phong kiếnphương Đông

Bên cạnh những suy tư sâu sắc về các vấn đề xã hội, triết học Nho gia và Đạogia còn cống hiến cho lịch sử triết học thế giới những tư tưởng sâu sắc về sự biếndịch của vũ trụ Những tư tưởng về Âm Dương, Ngũ hành tuy còn có những hạn chếnhất định, nhưng đó là những triết lý đặc sắc mang tính chất duy vật và biện chứng

Trang 5

của người Trung Hoa thời cổ, đã có ảnh hưởng to lớn tới thế giới quan triết học saunày không những của người Trung Hoa mà cả những nước chịu ảnh hưởng của nềntriết học Trung Hoa.

1.2 NÉT TƯƠNG ĐỒNG VỀ QUAN ĐIỂM:

1.2.1 Khởi nguyên vũ trụ:

Quan niệm về đạo :

Cả hai trường phái đều đề cập đến khởi nguyên vũ trụ bắt nguồn từ đạo.

Đạo để chỉ cái nguyên lí Tuyệt Đối của Vũ Trụ đã có từ trước khi khai thiên lậpđịa, không sinh, không diệt, không tăng, không giảm Đạo có thể quan niệm dưới haiphương diện: Vô và Hữu Vô thì Đạo là nguyên lí của trời Đất, nguyên lí vô hình.Hữu, thì Đạo là nguyên lí hữu hình, là Mẹ sinh ra Vạn Vật “Vô danh thiên Địa chithủy, hữu danh vạn vật chi mẫu”

Quan niệm về âm dương:

Cả 2 trường phái đều đề cập đến khởi nguyên vũ trụ bắt nguồn từ thuyết “Âmdương”

Âm và dương theo khái niệm cổ sơ không phải là vật chất cụ thể, không gian cụthể mà là thuộc tính của mọi hiện tượng, mọi sự vật trong toàn vũ trụ cũng như trongtừng tế bào, từng chi tiết Âm và dương là hai mặt đối lập, mâu thuẫn thống nhất,trong Âm có Dương và trong Dương có Âm Người ta còn nhận xét thấy rằng cơ cấucủa sự biến hoá không ngừng đó là ức chế lẫn nhau, giúp đỡ, ảnh hưởng lẫn nhau,nương tựa lẫn nhau và thúc đẩy lẫn nhau

Để biểu thị sự biến hoá không ngừng và qui luật của sự biến hoá đó, người xưađặt ra "thuyết âm dương"

Âm dương phải là thứ vật chất cụ thể nào mà thuộc tính mâu thuẫn nằm trong tất

cả mọi sự vật, nó giải thích hiện tượng mâu thuẫn chi phối mọi sự biến hóa và pháttriển của sự vật

Trang 6

Âm dương tuy bao hàm ý nghĩa đối lập mâu thuẫn nhưng còn bao hàm cả ýnghĩa nguồn gốc ở nhau mà ra, hỗ trợ, chế ước nhau mà tồn tại Trong âm có mầmmống của dương, trong dương lại có mầm mống của âm.

1.2.2 Thế giới quan – Nhân sinh quan:

Quan điểm về con người:

Cả hai trường phái đều lấy triết học nhân sinh làm hạt nhân

Tập trung chủ yếu vào xã hội và con người, coi trọng hành vi cá nhân, hướngtới sự thống nhất, hài hòa giữa con người và xã hội

Coi con người là chủ thể của đối tượng nghiên cứu: hướng vào nội tâm - luôn

cố gắng tìm tòi về bản thân con người và mối quan hệ giữa con người và xã hộixung quanh và ít quan tâm đến khoa học tự nhiên Đây chính là nguyên nhân dẫnđến sự kém phát triển về nhận thức luận, là nguyên nhân sâu xa của sự kém pháttriển kinh tế, khoa học so với văn minh Phương Tây (hướng ngoại)

Hòa hợp và trọng truyền thống:

Ta có thể tóm tắt tư tưởng của hai trường phái vào hai đặc điểm cá biệt: hòahợp và trọng truyền thống Trong cả Nho giáo lẫn Ðạo học, ta đều thấy ý tưởng vềhòa hợp tự nhiên cùng tính tương liên của mọi sự vật, và minh triết đến từ sự thừanhận trạng thái đó, đồng thời sống hòa hợp dưới ánh sáng khôn ngoan của nó

Nhìn từ viễn cảnh hiện đại, ta thấy Nho giáo lẫn Ðạo học đều có vẻ là tôn giáo,tuy thế, xét theo nguyên ngữ, cả hai chỉ được đề cập tới một cách đơn giản là “giáo”với ý nghĩa giáo hóa, dạy bảo cách sống sao phải đạo làm người Tuy cả hai có triểnkhai các thành tố tôn giáo và siêu hình nhưng rõ ràng chúng bắt nguồn từ các hệthống triết học, được các tôn sư và các cá nhân đi theo làm thành các “học phái”

1.2.3 Những tư tưởng biện chứng:

Cả 2 trường phái Nho gia và Đạo gia đều không có sự phân biệt rạch ròi giữachủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm, không có đấu tranh biện chứng giữa các

Trang 7

học thuyết triết học Điều này tạo nên đặc điểm tính thiếu triệt để, tính thiếu nhấtquán.

Chẳng hạn, trong phái Nho gia, thế giới quan của Khổng Tử dao động, giữachủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm, giữa chủ nghĩa vô thần và chủ nghĩa hữuthần Một mặt ông xem trời (thiên) là giới tự nhiên, có sự vận hành của tự nhiên, ôngnói “Trời nói lên tất cả? Bốn mùa vận hành, trăm vật sinh ra” Nhưng mặt khác, ônglại cho rằng trời một lực lượng vô hình chi phối vận mệnh của xã hội và con người,

“sống chết có mệnh, giàu snag tại trời” Ông chủ trương thờ phụng quỷ thần, kínhtrọng quỷ thần, nhưng lại xa lánh quỉ thần “quỉ thần thì đáng kính, nhưng có chớgần”

Còn Đạo gia thì thể hiện quan điểm biện chứng của mình trong tư tưởng vềĐạo, nơi cội nguồn của mối liên hệ phổ biến và sự vận động biến đổi của vũ trụ vạnvật, mà nguồn gốc là do các mối liên hệ, tác động, chuyển hóa giữa các mặt đối lập;cách thức là khi phát triển đến tột đỉnh rồi sẽ trở thành cái đối lập, tương phản vớichính nó; khuynh hướng của sự vận động biến đổi là sự trở về với Đạo

Tuy nhiên vẫn có yếu tố duy tâm trong tư tưởng của mình, thể hiện ở chỗ đềcao tư duy trừu tượng, coi khinh nghiên cứu sự vật cụ thể Lão tử cho rằng “Khôngcần ra cửa mà biết thiên hạ, không cần nhòm qua khe cửa mà biết đạo trời”

1.2.4 Quan điểm về chính trị - xã hội:

Đây là nền triết học đặc biệt quan tâm đến các vấn đề chính trị- đạo đức Bởiđây là thời kỳ đảo lộn của xã hội lúc bấy giờ nên triết học đã đã đặc biệt quan tâm,suy tư, tìm cách lý giải và tìm ra những triết lý, những biện pháp nhằm khác phụchiện tượng xã hội biến động trong lịch sử chính trị, cai trị của các triều đại

Ngay cả những học thuyết mà theo tôn chỉ mục đích của nó là xa rời chính trị nhưngthực tế Đạo gia của Lão Tử và Trang Tử vẫn bàn về chính trị và đạo đức

Trang 8

Học thuyết “Âm dương – Ngũ hành” vốn là học thuyết chủ trương luận vànhững vấn đề nguyên lý biến đổi của trời đất, vạn vật cũng được vận dụng để lý giảinhững vấn đề chính trị, đạo đức của xã hội, con người.

Mặc dù phong phú, đa dạng nhưng nhìn chung các học thuyết triết học Nho gia

và Đạo gia tập trung vào các vấn đề: (1) làm thế nào để thống nhất đất nước; (2) làmthế nào để ổn định xã hội và (3) các chuẩn mực đạo đức mà con người phải tuân thủ.Tuỳ theo lập trường chính trị khác nhau và lợi ích giai cấp khác nhau mà cócách giải đáp khác nhau về một vấn đề chính trị đạo đức Do đó nó tạo nên tính vừaphong phú và vừa sâu sắc của triết học Nho gia và Đạo gia Chẳng hạn, vấn đề triết

lý về bản tính con người Khổng Tử và Mạnh Tử theo xu hướng khẳng định bản tínhthiện của con người Ngược lại, Tuân Tử và Hàn Phi Tử lại chủ trương biện luận vềbản tính bất thiện của con người; còn Lão Tử, Trang Tử lại đưa ra luận thuyết về bảntính tự nhiên của con người Với những quan niệm khác nhau về bản tính người nhưthế lại là điểm xuất phát cho một tư duy triết lý về những phương cách coi trọnggiáo dục hay pháp trị trong đạo trị quốc của các học thuyết này

1.2.5 Quan điểm trong phương châm xử thế:

Con người sống và hành động dựa trên các nguyên tắc cơ bản, hợp với lòngngười theo một quan niệm nhân sinh vững chắc Cả hai trường phái đều hướng conngười đến cái thiện, khuyên con người sống tốt để có gia đình hạnh phúc và gópphần cho một xã hội ổn định

Nho gia nguyên thủy cho rằng Nền tảng của gia đình - xã hội là những quan hệđạo đức – chính trị, đặc biệt là quan hệ vua - tôi, cha - con, chồng - vợ Các quan hệnày được nho gia gọi là đạo khi các quan hệ này chính danh thì xã hội ổn định, giađình yên vui và ngược lại Nho giáo nguyên thủy là triết lý của Khổng Tử và Mạnh

tử về đạo làm người quân tử và cách thức trở thành người quân tử, cách cai trị đấtnước

Đạo gia thì giáo huấn con người theo thuyết “vô vi”: sống và hành động theo lẽ

tự nhiên, không giả tạo, không gò ép trái với bản tính của mình và ngược với bản

Trang 9

tính của tự nhiên, là từ bỏ tính tham lam, vị kỷ để không làm mất đức Nghệ thuậtsống dành cho con người là từ ái, cần kiệm, khiêm nhường, khoan dung Đề cao vàcoi trọng người quân tử.

CHƯƠNG II: SỰ KHÁC BIỆT GIỮA NHO GIA VÀ ĐẠO GIA

2.1 NÉT KHÁC BIỆT TRONG LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT

TRIỂN:

Nho giáo :

Nho giáo được hình thành từ thời Xuân Thu Chiến Quốc do

Khổng Tử (sinh năm 551 trước công nguyên) sáng lập ra

Khi học thuyết Khổng Tử mới xuất hiện không trở thành tư

tưởng chủ yếu ngay mà mãi đến thế kỷ thứ 2 trước công nguyên,

Trung Quốc lúc đó đã là một nhà nước theo thế độ tập quyền trung

ương lớn mạnh và thống nhất Trải qua nhiều nỗ lực của giai cấp

thống trị và các đại sĩ phu thời Hán, Khổng Tử và tư tưởng Nho gia

của ông mới trở thành tư tưởng chính thống

Thời Xuân Thu, Khổng Tử đã san định, hiệu đính và giải thích bộ Lục kinh

gồm có Kinh Thi, Kinh Thư, Kinh Lễ, Kinh Dịch, Kinh Xuân Thu và Kinh Nhạc Về sau Kinh Nhạc bị thất lạc nên chỉ còn năm bộ kinh thường được gọi là Ngũ kinh Sau khi Khổng Tử mất, học trò của ông tập hợp các lời dạy để soạn ra cuốn Luận

ngữ Học trò xuất sắc nhất của Khổng Tử là Tăng Sâm, còn gọi là Tăng Tử, dựa vào

lời thầy mà soạn ra sách Đại học Sau đó, cháu nội của Khổng Tử là Khổng Cấp,

còn gọi là Tử Tư viết ra cuốn Trung Dung Đến thời Chiến Quốc, Mạnh Tử đưa ra các tư tưởng mà sau này học trò của ông chép thành sách Mạnh Tử Từ Khổng Tử đến Mạnh Tử hình thành nên Nho giáo nguyên thủy, còn gọi là Nho giáo tiền Tần

(trước đời Tần), Khổng giáo hay "tư tưởng Khổng-Mạnh" Từ đây mới hình thành

hai khái niệm, Nho giáo và Nho gia Nho gia mang tính học thuật, nội dung của nó

Khổng Tử

Trang 10

còn được gọi là Nho học; còn Nho giáo mang tính tôn giáo Ở Nho giáo, Văn Miếu

trở thành thánh đường và Khổng Tử trở thành giáo chủ, giáo lý chính là các tín điều

mà các nhà Nho cần phải thực hành

Đến đời Hán, Đại Học và Trung Dung được gộp vào Lễ Ký Hán Vũ Đế đưa

Nho giáo lên hàng quốc giáo và dùng nó làm công cụ thống nhất đất nước về tưtưởng Và từ đây, Nho giáo trở thành hệ tư tưởng chính thống bảo vệ chế độ phong

kiến Trung Hoa trong suốt hai ngàn năm Nho giáo thời kỳ này được gọi là Hán

Nho Điểm khác biệt so với Nho giáo nguyên thủy là Hán Nho đề cao quyền lực của

giai cấp thống trị, Thiên Tử là con trời, dùng "lễ trị" để che đậy "pháp trị"

Đạo giáo :

Đạo gia ra đời và phát triển rực rỡ từ cuối thời Xuân Thu đến

cuối thời Chiến Quốc Nguồn gốc tư tưởng của Đạo gia xuất phát từ

những quan điểm về vũ trụ luận, thiên địa, ngũ hành, âm dương, Kinh

Dịch…

Lão Tử (khoảng 580- 500 TCN)- người nước Sở là người sáng lập

ra Đạo gia Học thuyết Đạo gia của ông được ông trình bày trong cuốn

Đạo đức kinh

Ngoài Lão Tử là người sáng lập, thì Đạo gia còn có hai yếu nhân khác đượcthừa nhận và tôn vinh muôn đời, đó là Dương Chu và Trang Tử Trong đó vị trí củaTrang Tử được sánh ngang với Lão Tử, nên còn gọi là Đạo Lão – Trang

Dương Chu (khoảng 440 – 360 TCN) là một đạo sĩ ẩn danh và bí hiểm Theo

luận giải, ông phải sinh trước Mạnh Tử (372 - 298 TCN) và sau Mặc Tử (478 - 392TCN) Tư tưởng của ông được diễn đạt lại thông qua các tác phẩm của cả nhữngngười ủng hộ lẫn những người chống đối ông Chủ thuyết của ông là quý sự sống,trọng bản thân Ông thường mượn chuyện Bá Thành Tử Cao không chịu mất một sợilông để làm lợi cho thiên hạ, nhằm trình bày tư tưởng của mình

Lão Tử

Trang 11

Mãi đến Trang Tử (khoảng 369 – 286 TCN), học thuyết của Lão Tử mới lại được người đời chú ý Trang Tử là tác giả bộ Nam Hoa kinh, là một trong hai bộkinh điển của Đạo gia Bộ sách gồm ba phần, chứa 33 thiên Trong đó, có nhiềuđiểm lấy từ Đạo Đức kinh làm chủ đề, nhưng không phải bao giờ cũng đồng thuận Trong lĩnh vực nhận thức, phát triển tư tưởng biện chứng của Lão Tử, Trang Tử

đã tuyệt đối hóa sự vận động, xóa nhòa mọi ranh giới giữa con người với thiênnhiên, giữa phải và trái, giữa tồn tại và hư vô, đẩy phép biện chứng tới mức cựcđoan thành một thứ tương đối luận

Trong cảnh loạn li cuối thời Đông Hán (thế kỷ II TCN), tư tưởng của Lão Tửcộng với chất duy tâm mà Trang Tử đưa vào đã trở thành cơ sở cho việc thần bí hóa

đạo gia thành Đạo giáo Chủ trương vô vi cùng với thái độ phản ứng của Lão –

Trang đối với chính sách áp bức bóc lột của tầng lớp thống trị khiến cho Đạo giáorất thích hợp để dùng vũ khí tinh thần tập hợp nông dân khởi nghĩa

2.2 NÉT KHÁC BIỆT TRONG QUAN ĐIỂM:

2.2.1 Khởi nguyên vũ trụ:

Khổng Tử thì ít quan tâm đến vấn đề nguồn gốc của vũ trụ nên ông quanđiểm về trời - đất - quỹ - thần không rõ ràng Tuy nhiên đề tìm chỗ dựa vững chắccho lý luận đạo đức của mình, Khổng Tử và Mạnh Tử đều xây dựng thuyết “Thiênmệnh” Xuất phát từ vũ trụ quan của Kinh dịch, Khổng Tử cho rằng vạn vật khôngngừng biến hóa theo một trật tự không gì cưỡng lại được, mà nền tảng tận cùng củatrật tự đó là thiên mệnh

Theo Khổng Tử, Đạo Trời là thiên lý biến hoá của vũ trụ, luôn luôn khôngngừng, tác động đến con người (Kinh Dịch) Làm người phải biết được đạo trờitrong tương quan hoà hợp: Con người sinh ra đời là do khí hạo nhiên của trời đất mà

có Sự tế tự trời đất là để tỏ cái lòng kính trọng và biết ơn, chớ không thể coi là sựxin xỏ, bói toán (“Ai thuận theo lẽ trời thì còn, ai nghịch theo lẽ trời thì mất”) Điềunày thể hiện khuynh hướng duy tâm trong học thuyết Nho giáo

Trang 12

Tuy nhiên khi nói về khởi nguyên vũ trụ thì tính biện chứng duy vật của họcthuyết Nho giáo được thể hiện qua học thuyết “Âm dương, ngũ hành” Sự biến hóatrong vũ trụ là do nhất động, nhất tịnh của Thái cực mà ra

Còn đối với Đạo giáo thì Lão tử cho rằng vạn vật được sinh ra từ Đạo Đạosinh nhất, nhất sinh nhị, nhị sinh tam, tam sinh ra vạn vật Đạo từ trạng thái hỗn độnbiến thành một khí (đạo sinh nhất), từ một khí biến thành hai khí Âm Dương (nhấtsinh nhị), hai khí Âm dương đối lập sinh ra 3 lực lượng: Thiên - Địa – Nhân Ba lựclượng đó sinh ra vạn vật Đạo không chỉ là nguồn gốc, bản chất mà còn là quy luậtcủa mọi cái đã, đang và sẽ tồn tại trong thế giới Đạo ở đây được hiểu là quy luật,tồn tại khách quan Đạo không có màu sắc, không có âm thanh, không có hình thể,cho nên chúng ta không nhìn thấy, không nghe thấy, không nắm bắt được, nhưng nó

là cơ sở sinh ra và làm biến đổi vạn vật trong vũ trụ Vì Đạo không nhìn thấy, chonên có khi gọi là “Vô”, là cái vô hình Cái vô hình sinh ra vạn vật là cái hữu hình

2.2.2 Thế giới quan – Nhân sinh quan:

Thế giới quan:

Thế giới quan của Khổng tử thì dao động giữa chủ nghĩa duy vật và chủ

nghĩa duy tâm, giữa chủ nghĩa vô thần và hữu thần

Duy vật ở chỗ ông xem sự biến đổi của trời như một quy luật, là trật tự của vạnvật: “Trời có nói gì đâu mà bốn mùa thay đổi, muôn vật vẫn sinh ra” Đứng bên bờsông nhìn dòng nước chảy, Khổng Tử tự hỏi: “Trôi chảy mãi thế ư? Ngày đêmkhông ngừng lại”

Duy tâm ở chỗ ông cho Trời là một lực lượng vô hình quyết định số phận củamỗi người và sự thịnh sang của mỗi thời đại (Vua dân tế trời) Mỗi cá nhân, sự sốngchết, phú quý hay nghẻo hèn là do Thiên mệnh qui định, phú quý không phải cầu là

có được, do vậy bất tất phải cầu Ông tin ở Mệnh trời “Thiên mệnh”, sống chết cómệnh, giàu sang tại trời Sống theo mệnh Trời, tuân theo mệnh trời thì sống, làmnhững điều nhân, điều thiện thì có thể biến nguy thành an

Trang 13

Trong triết học của Lão Tử quan niệm biện chứng về thế giới gắn với quan niệm về đạo- đức Nhờ đức mà đạo nằm trong vạn vật luôn biến hóa Đạo là cái vô.

Cái vô sinh ra cái hữu, cái hữu sinh ra vạn vật, được thể hiện qua thuyết “Vô vi”.Lão tử cho rằng bất cứ sự vật nào cũng đều là thể thống nhất của hai mặt đối lậpchúng ràng buộc, bao hàm lẫn nhau Trong vạn vật, các mặt đối lập không chỉ thốngnhất mà chúng còn xung đột, đấu tranh, chuyển hóa lẫn nhau tạo ra sự thay đổi, biếnhóa không ngừng của vạn vật trong vũ trụ Đây là một tư tưởng đi trước thời đại gắnvới những ngành khoa học hiện đại ngày nay đã chứng thực : vật lý, khoa học vũ trụ,phép biện chứng về mâu thuẫn của triết học Tuy nhiên, theo Lão Tử, sự đấu tranhchuyển hóa của các mặt đối lập này không làm xuất hiện cái mới, mà là theo vòngtuần hoàn khép kín

Nhân sinh quan:

Quan điểm con người của Nho giáo theo tư tưởng “Nhập thế”, tức con

người sống và làm theo chuẩn mực cho mọi sinh hoạt chính trị và an sinh xã hội(tam cương, ngũ thường, tam tòng, tứ đức )

Bên cạnh đó, thuyết “Hữu vi” của Nho giáo cho rắng con người sống và hành

động không theo tự nhiên, là đem áp đặt ý chí của mình vào sự vật

Ngoài ra quan niệm "Nhân nghĩa" là quan niệm trọng tâm của Nho giáo nguyênthủy “Nhân nghĩa”, theo cách hiểu thông thường thì "nhân là lòng thương người",

"nghĩa" là dạ thủy chung; bất nhân là ác, bất nghĩa là bạc; mọi đức khác của conngười đều từ nhân nghĩa mà ra cũng như muôn vật muôn loài trên trời, dưới đất đều

do âm dương và nhu cương mà ra

Trong kinh điển Nho gia, ta thấy năm quan hệ lớn, bao quát gọi là "ngũ luân" đãđược khái quát là: Vua - tôi, cha - con, chồng - vợ, anh - em (hoặc trưởng ấu), bầubạn Khi nói đến những đức thường xuyên phải trau dồi, căn cứ hai chữ "ngũthường" trong Kinh Lễ, nhiều danh nho đã nêu lên năm đức (gọi là ngũ thường):Nhân, nghĩa, lễ, trí, tín

Trang 14

Theo Khổng Tử thì để tổ chức xã hội có hiệu quả, điều quan trọng nhất là phảiđào tạo cho được người cai trị kiểu mẫu - người lý tưởng này gọi là quân tử (quân =

kẻ làm vua, quân tử = chỉ tầng lớp trên trong xã hội, phân biệt với "tiểu nhân",những người thấp kém về điạ vị xã hội) Điều này có thể được lí giải bởi đối tượng

mà Nho giáo hướng đến trước tiên là những người cầm quyền) Để trở thành ngườiquân tử, con người ta trước hết phải "tự đào tạo", phải "tu thân" Sau khi tu thânxong, người quân tử phải có bổn phận phải "hành đạo"

Đối lập tư tưởng “Hữu vi” của Khổng tử (Hữu vi là sống và hành động

không theo tự nhiên, là đem áp đặt ý chí của mình vào sự vật) là tư tưởng “Vô vi”

của Đạo gia Lão Tử phản đối chủ trương hữu vi.

Khi xuất phát từ nguyên lý Đạo pháp tự nhiên và mở rộng quan niệm về đạovào lĩnh vực đời sống xã hội, Lão Tử xây dựng thuyết “Vô vi” đề trình bày quanđiểm của mình về các vấn đề nhân sinh và chính trị- xã hội

“Vô vi” là sống và hành động theo lẽ tự nhiên, thuần phác, không giả tạo,

không gò ép trái với bản tính của mình và ngược với bản tính của tự nhiên; là từ bỏtính tham lam, vị kỷ để không làm mất đức chỉ khi nào từ bỏ tư lợi thì mới nhậnthấy đạo; và chỉ khi nhận thấy đạo mới có thể vô vi được

Trái với tư tưởng “Nhập thế” của Nho giáo, Đạo giáo với tư tưởng “Xuất thế”

cho rằng con người cần phải “thuận theo tự nhiên”, không được làm trái quy luật tựnhiên, không được cải tạo tự nhiên theo những toan tính lợi ích tầm thường củamình, không được gò ép trái với bản tính của mình và ngược lại với bản tính của tựnhiên, chỉ làm cho dân no bụng, xương cốt mạnh mà lòng hư tĩnh, khiến cho dânkhông biết, không muốn

Bên cạnh đó, với việc chỉ ra luật quân bình (bù trừ) và luật phản phục, Đạo giađòi hỏi con người cần tránh mọi cực đoan, thái quá, nóng vội, chủ quan duy ý chí…

Mà phải luôn luôn tạo dựng sự cân bằng, hợp lý, tự nhiên; khách quan nhưng không

ỷ lại, thụ động trước các điều kiện khách quan

Trang 15

Đạo gia còn dạy con người phải biết sống khiêm tốn, giản dị, mà vẫn ung dung,

tự tại, không lo sợ, không đau buồn… trước mọi biến động xảy ra trong đời; khôngtham lam, vụ lợi, giả dối; không đấu tranh, giành giật; không đua đòi, bon chen, đốkỵ… Mà cần phải sống hòa nhã, trung dung, ngay thẳng, tự nhiên thuần phác, “thảnnhiên mà đến, thản nhiên mà đi”…

Đạo gia chủ trương con người không nên tăng cường các hoạt động sáng tạo,không cần mở mang trí tuệ, cải tạo tự nhiên và cải tạo xã hội, mà quay về sống nhưthời nguyên thủy, đúng với bản tính tự nhiên thuần phác của một loài động vật bậccao được sinh ra từ “đạo”… phủ nhận mọi hoạt động thực tiễn của con người

2.2.3 Tư tưởng biện chứng:

Quan điểm biện chứng của Nho gia được thể hiện việc Khổng Tử coi sự

biến đổi của Trời là một qui luật, là trật tự của vạn vật Những tư tưởng triết học bảnthể luận và những tư tưởng biến dịch của vũ trụ có thể xem Khổng Tử đứng trênquan điểm triết học của Kinh Dịch Theo tư tưởng của kinh này thì uyên nguyên của

vũ trụ, của vạn vật là thái cực Thái cực chứa đựng một năng lực nội tại mà phânthành lưỡng nghi Sự tương tác giữa hai thế lực âm- dương mà sinh ra tứ tượng Tứtượng tương thôi sinh ra bát quái và bát quái sinh ra vạn vật Vậy là sự biến đổi cógốc rễ ở sự biến đổi âm -dương

Trong triết học của Khổng Tử các phạm trù “nhân”, “lễ”, “nghĩa”, “trí”,

“tín” có nội dung hết sức phong phú, thống nhất với nhau và luôn thâm nhập vàonhau vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, nó luôn cố gắng giải đáp những vấn đềđặt ra của lịch sử và đây có lẽ là thành quả rực rỡ nhất trong triết lý nhân sinh củaông

Do hạn chế bởi điều kiện lịch sử và lợi ích giai cấp nên trong triết học củaKhổng Tử luôn chứa đựng những mâu thuẫn giằng co, đan xen giữa những yếu tốduy vật, vô thần với những yếu tố duy tâm, giữa những tư tưởng tiến bộ với nhữngquan điểm bảo thủ, phản ánh tâm trạng bị giằng xé của ông trước biến chuyển của

Trang 16

thời cuộc.Tính không nhất quán ấy của ông đã là cơ sở để các thế hệ sau khai thác,xuyên tạc theo khuynh hướng duy tâm, tôn giáo thần bí

Quan điểm biện chứng của Đạo gia được thể hiện ngay trong tư tưởng về

Đạo, nơi cội nguồn của mối liên hệ phổ biến và sự vận động biến đổi của vũ trụ vạnvật, mà nguồn gốc là do các mối liên hệ, tác động, chuyển hóa giữa các mặt đối lập;cách thức là khi phát triển đến tột đỉnh rồi sẽ trở thành cái đối lập, tương phản vớichính nó; khuynh hướng của sự vận động biến đổi là sự trở về với Đạo

Đặc biệt, thông qua tư tưởng biện chứng đó, Đạo gia đã khái quát thành hai quyluật căn bản chi phối toàn bộ vũ trụ vạn vật, đó là luật quân bình và luật phản phục

Luật quân bình (luật bù trừ):

Bắt nguồn từ tư tưởng Dịch học (quẻ Thái), nói về thế cân bằng, trung dungtrong trời đất; là trạng thái trời đất giao hòa, muôn vật hanh thông, vũ trụ vạn vậtvận động biến đổi theo một trật tự điều hòa, tự nhiên, không có gì thái quá hay bấtcập

Thế quân bình của Đạo được ví như nước, mềm mại và linh hoạt, làm bằngphẳng tất cả Nước ở chỗ thấp, là nơi chỗ cao đổ về, là “nơi thiên hạ họp về”, nhưbiển mênh mông rộng lớn, không gì không thể chứa đựng “Trong thiên hạ không có

gì mềm yếu hơn nước, mà công phá vật rắn mạnh thì không gì hơn được nó, khônglấy gì thay thế được nó” (Lão Tử, Đạo đức kinh, chương 78)

Nếu vi phạm luật quân bình, phá vỡ trạng thái vận động cân bằng của vũ trụ,thì vạn vật sẽ rối loạn, trì trệ và có nguy cơ bị phá hoại, chẳng khác nào “nhón gótlên thì không đứng vững, xoạc chân ra thì không bước được…”

Trang 17

Nghĩa thứ nhất, phản phục là sự vận động, biến hóa có tính chất tuần hoàn, đềuđặn, nhịp nhàng và tự nhiên của vạn vật, như hết ngày đến đêm, hết đêm sang ngày,trăng tròn lại khuyết, trăng khuyết lại tròn… Vạn vật cứ mập mờ, thấp thoáng, khiđầy khi vơi, lúc sinh lúc tử… Đó là vòng biến đổi tuần hoàn bất tận

Nghĩa thứ hai, phản phục là sự vận động trở về với Đạo (“phản giả đạo chiđộng”), “đến chỗ cùng cực hư không là giữ vững được trong cái tĩnh Vạn vật cùngđều sinh ra, ta lại thấy nó trở về với gốc Sự trở về với Đạo của vạn vật chính là sựtrở về với trạng thái tự nhiên, nguyên sơ, tĩnh lặng, trống rỗng… Đó là tất yếu vàkhông thể cưỡng lại “Đạo pháp tự nhiên” là vậy Mọi sự can thiệp vào Đạo – luật tựnhiên – nhất định sẽ thất bại

2.2.4 Quan điểm chính trị - xã hội:

Nho gia:

Theo quan điểm “Nước lớn” của Nho gia thì Người quân tử phải hành đạo, tức

là phải làm quan, làm chính trị Nội dung của công việc này được công thức hóathành "tề gia, trị quốc, thiên hạ bình " Tức là phải hoàn thành những việc nhỏ - giađình, cho đến lớn - trị quốc, và đạt đến mức cuối cùng là bình thiên hạ (thống nhấtthiên hạ) Tuy nhiên những kế sách chính trị của ông chỉ dừng lại ở tính chất cảilương và duy tâm chứ không phải phải bằng cách mạng hiện thực

Bên cạnh đó, thuyết “Hữu vi” trong quan điểm trị nước của Nho gia là đem áp

đặt ý chí của mình vào sự vật Theo Nho gia thì trị quốc áp đặt theo “đức trị” hay

“nhân trị”

“Đức trị”: Coi trọng giáo dục, phản đối bạo lực và chiến tranh Khổng Tử coi

XH là tổng hợp các mối quan hệ giữa người với người, đó là Ngũ luân và Tamcương Quan điểm này được thể hiện qua các phạm trù cơ bản trong học thuyết củaKhổng Tử là Nhân-Nghĩa-Lễ-Chính danh

“Nhân trị”: Giai cấp thống trị phải thương yêu, tôn trọng, chăm lo cho nhân dân.Đường lối “nhân trị” của Khổng Tử có tính chất điều hòa mâu thuẫn giai cấp, phản

Ngày đăng: 19/11/2014, 20:39

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
7. Lão Tử và Đạo học (Phần 1) http://dienchan.com/?cid=3,4&txtid=4068. Tư tưởng Đạo học: http://www.vinhanonline.com/index.php?option=com_content&view=category&layout=blog&id=44&Itemid=162 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lão Tử và Đạo học (Phần 1)
6. Đạo giáo - http://cuocsongviet.com.vn/index.asp?act=detail&mabv=1844&/Dao-giao.csv Link
1. TS. Bùi Văn Mưa (chủ biên), Giáo trình đại cương Lịch sử triết học, Trường đại học kinh tế Tp.HCM, 2010 Khác
2. Hội đồng Trung ương chỉ đạo BSGTQG, Giáo trình triết học Mác – Lênin, Nxb Chính trị quốc gia, 1999 Khác
3. Giản Chi – Nguyễn Hiến Lê , Đại cương triết học Trung Quốc, Nxb Thanh niên, 2004 Khác
4. PGS.TS Doãn Chính (chủ biên), Đại cương lịch sử triết học Trung Quốc, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội, 2008 Khác
5. GS. TS Nguyễn Hùng Hậu (chủ biên), Triết học (phần 1: Lịch sử triết học), Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội, 2008 Khác
6. Phùng Hữu Lan (Nguyễn Văn Dương dịch), Đại cương triết học sử Trung Quốc, Nxb Thanh niên, Hà Nội, 2008.B. Tài liệu điện tử Khác
5. Nho giáo Việt Nam ở thế kỷ XV – đầu thế kỷ XVI – www.dongtac.net Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w