1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Dạy học thơ kháng chiến chống Pháp trong sách giáo khoa Bậc Trung học

105 1,2K 6

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 105
Dung lượng 704,64 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn Cũng từ lâu nhiều người dạy văn ở trường phổ thông và ở bậc đại học đã có những đề xuất về phương pháp dạy học thơ kháng chiến chống P

Trang 1

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

i

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

BÙI LƯU GIANG

DẠY HỌC THƠ KHÁNG CHIẾN CHỐNG PHÁP TRONG SÁCH GIÁO KHOA BẬC TRUNG HỌC

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Thái Nguyên- Năm 2013

Trang 2

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

ii

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

BÙI LƯU GIANG

DẠY HỌC THƠ KHÁNG CHIẾN CHỐNG PHÁP TRONG SÁCH GIÁO KHOA BẬC TRUNG HỌC

Chuyên ngành: LL VÀ PP DẠY HỌC VĂN – TIẾNG VIỆT

Mã số: 60 14 01 11

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học: TS Hoàng Hữu Bội

Thái Nguyên- Năm 2013

Trang 3

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

i

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chƣa từng đƣợc ai công bố trong bất

cứ công trình nào khác

Thái Nguyên, ngày 20 tháng 8 năm 2013

Tác giả luận văn

Bùi Lưu Giang

Xác nhận của giáo viên hướng dẫn Xác nhận của khoa Văn

TS Hoàng Hữu Bội

Trang 4

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

ii MỤC LỤC MỤC LỤC i

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1- LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1

2- LỊCH SỬ VẤN ĐỀ 2

3- ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 6

4- MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU 6

5- PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 7

6- CẤU TRÚC LUẬN VĂN 7

Chương 1: MỘT SỐ CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VIỆC DẠY HỌC THƠ KHÁNG CHIẾN CHỐNG PHÁP TRONG SÁCH GIÁO KHOA NGỮ VĂN BẬC TRUNG HỌC 8

1 CƠ SỞ LÍ LUẬN 8

1.1 Một số khái niệm mở đầu 8

1.1.1 Thời kì kháng chiến chống Pháp 8

1.1.2 Thơ ca thời kì kháng chiến chống Pháp 10

1.2 Đặc điểm thơ thời kì kháng chiến chống Pháp 11

A Đặc điểm về nội dung của thơ thời kì kháng chiến chống Pháp 11

Đặc điểm 1: Thơ thời kì kháng chiến phản ánh chân thực, sinh động cuộc sống kháng chiến và con người kháng chiến 11

1.1 Hình ảnh cuộc sống kháng chiến trong thơ thời kì kháng chiến chống Pháp 11

1.2 Hình ảnh con người trong thơ kháng chiến chống Pháp 14

Đặc điểm 2: Thơ kháng chiến diễn tả tâm tư và tình cảm mới mẻ của nhân dân ta trong chín năm kháng chiến 21

2.1 Tình yêu nước trong thơ kháng chiến 21

2.2 Những tình cảm mới mẻ nảy sinh trong cuộc kháng chiến chống Pháp 23

Đặc điểm 3 : Nhân vật trữ tình trong thơ kháng chiến chống Pháp 26

B Đặc điểm nghệ thuật của thơ kháng chiến chống Pháp giai đoạn 1946- 1954 27

* Đặc điểm 1: Ngôn ngữ thơ kháng chiến là thứ ngôn ngữ gần gũi với tiếng nói hàng ngày của quần chúng nhân dân 27

1.1 Ngôn ngữ thơ thời kháng chiến chống Pháp giản dị, mang tính khẩu ngữ, giàu chất hiện thực 27

Trang 5

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

iii 1.2 Từ địa phương cũng được đưa vào trong thơ rất nhuần nhị Thời kháng chiến chống Pháp từ địa phương được đưa vào khá rộng rãi và nhiều trường hợp đã góp phần tạo nên chất liệu hiện thực với sắc thái riêng, độc đáo: 29

1.3 Nhiều địa danh cũng được đưa vào trong thơ rất sáng tạo 30

Đặc điểm 2: Thể thơ trong thơ thời kì kháng chiến cũng đa dạng và phong phú 31

2.1 Thể thơ lục bát truyền thống 31

2.2 Thơ tự do đã được các nhà thơ thời kháng chiến chống Pháp sử dụng rất thành công 33

1.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài 33

1.2.1 Thơ ca thời kì kháng chiến chống Pháp trong chương trình và sách giáo khoa Ngữ văn bậc Trung học 33

1.2.2 Giáo viên với việc dạy học thơ thời kì kháng chiến chống Pháp 34

1.2.3 Học sinh với việc học thơ thời kì kháng chiến chống Pháp 36

Chương 2: ĐỊNH HƯỚNG DẠY HỌC THƠ THỜI KÌ KHÁNG CHIẾN CHỐNG PHÁP TRONG SÁCH GIÁO KHOA NGỮ VĂN BẬC TRUNG HỌC 38

2.1 Những nét đặc sắc của các bài thơ thời kì kháng chiến chống Pháp được lựa chọn vào SGK Ngữ văn bậc trung học 38

2.2 Định hướng dạy học cho từng bài thơ 45

2.2.1 Bài Đêm nay Bác không ngủ của Minh Huệ 45

2.2.2 Bài Lượm của Tố Hữu 49

2.2.3 Bài Cảnh khuya và bài Rằm tháng giêng của Hồ Chí Minh 54

2.2.4 Bài Đồng chí của Chính Hữu 60

2.2.5 Bài Tây Tiến của Quang Dũng 65

2.2.6 Bài Việt Bắc của Tố Hữu 71

2.2.7 Bài Đất nước của Nguyễn Đình Thi 77

2.2.8 Bài Dọn về làng của Nông Quốc Chấn 81

Chương 3: THIẾT KẾ DẠY HỌC MỘT SỐ BÀI THƠ THỜI KÌ KHÁNG CHIẾN CHỐNG PHÁP 85

3.1 Thiết kế dạy học bài thơ “Đồng chí‖ của Chính Hữu ở lớp 9 85

3.2 Thiết kế dạy học bài thơ “Việt Bắc‖ cuả Tố Hữu ở lớp 12 90

PHẦN KẾT LUẬN 97

Trang 6

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

Cũng từ lâu nhiều người dạy văn ở trường phổ thông và ở bậc đại học đã có những đề xuất về phương pháp dạy học thơ kháng chiến chống Pháp – Nhưng đó cũng chỉ là phương pháp dạy học cho từng tác phẩm cụ thể, chứ chưa có một công trình nghiên cứu nào bao quát toàn bộ thơ kháng chiến chống Pháp trong nhà trường phổ thông để đưa ra một định hướng lí thuyết cho việc đổi mới dạy học thơ kháng chiến chống Pháp

Bởi vậy chúng tôi mạnh dạn chọn đề tài nghiên cứu ―Dạy học thơ kháng chiến chống Pháp trong sách giáo khoa bậc Trung học‖ với mong muốn góp một tiếng nói

nhỏ bé của mình vào định hướng lí thuyết cho việc dạy học thơ kháng chiến chống Pháp

1.2 Lí do thực tiễn

Thơ kháng chiến chống Pháp phản ánh hiện thực cuộc sống kháng chiến chống Pháp của dân tộc ta trong 9 năm trường kỳ kháng chiến (1946 – 1954) Đó là một quá khứ chưa xa, nhưng với thế hệ giáo viên và học sinh ngày nay chưa có được một hiểu biết đầy đủ và sâu sắc về quá khứ gian khổ và hào hùng đó Bởi vậy dạy học thơ kháng chiến chống Pháp, giáo viên và học sinh không tránh khỏi những sai sót

Mặt khác, yêu cầu đổi mới về phương pháp dạy học của chương trình và sách giáo khoa hiện hành không dễ dàng gì đối với giáo viên và học sinh Người dạy phải

tổ chức người học hoạt động một cách đa dạng để tự mình phát hiện, khám phá tác phẩm văn chương một cách chủ động, tích cực Trong dạy và học thơ kháng chiến chống Pháp giáo viên và học sinh gặp không ít khó khăn Thực tiễn việc dạy học văn học nói chung và thơ kháng chiến chống Pháp nói riêng đó đã thôi thúc chúng tôi nghiên cứu đề tài này với hi vọng góp một tiếng nói nhỏ bé vào việc tháo gỡ phần nào những khó khăn cho người dạy và người học thơ kháng chiến chống Pháp

Trang 7

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

2

2- LỊCH SỬ VẤN ĐỀ

2.1 Những công trình nghiên cứu về thơ kháng chiến chống Pháp

Thơ kháng chiến chống Pháp là một trong chặng đường thơ phát triển rực rỡ nhất của thơ ca Việt Nam Chặng đường thơ ca giai đoạn này đã để lại cho đời một

số lượng tác phẩm không ít với một giá trị sâu sắc Bởi vậy đã có nhiều người quan tâm tới chặng đường thơ đó

* Cuốn “Lịch sử Văn học Việt Nam‖- Tập 3 ( do GS Nguyễn Đăng Mạnh chủ

biên và Nguyễn Văn Long Đồng chủ biên – Nxb Đại học sư phạm 2004) là một cuốn sách chuyên luận được coi như giáo trình để dạy phần lịch sử Văn học Việt Nam hiện đại ở các trường Đại Học Ở chương 1, phần nói về thời kỳ kháng chiến chống Pháp

(1946- 1954), tác giả Nguyễn Văn Long đã viết những nội dung sau:

―1 Nhìn lại tiến trình thơ ca kháng chiến 1946 – 1954

2 Những đặc điểm thơ ca kháng chiến 1946 – 1954

a Thơ kháng chiến tập trung biểu hiện những tình cảm cộng đồng và tình cảm công dân mà bao trùm là tình yêu nước với những biểu hiện phong phú thấm sâu vào mọi mặt trong đời sống của con người kháng chiến

b Thơ kháng chiến tập trung thể hiện hình ảnh quần chúng nhân dân – Qua hình tượng ―Cái tôi‖ trữ tình quần chúng và các nhân vật trữ tình trong thơ

c Thơ mở rộng phạm vi phản ánh trước hết là hiện thực cách mạng và kháng chiến, tăng cường chất liệu đời sống và yếu tố tự sự trong thơ

d Về hình thức thể loại, thơ kháng chiến sử dụng phổ biến các thể thơ có nguồn gốc dân gian, dân tộc, đồng thời phát triển thể thơ tự do và lối thơ hợp thể‖ (Trang 83 – 101)

Như vậy, tác giả Nguyễn Văn Long đã khái quát giá trị nội dung thơ kháng

chiến chống Pháp: về tâm tư thời đại “tập trung biểu hiện những tình cảm cộng đồng

và tình cảm công dân”, về đối tượng được phản ánh trong thơ “hình ảnh quần chúng nhân dân”, và về phạm vi phản ánh của thơ kháng chiến chống Pháp “hiện thực cách mạng và kháng chiến, tăng cường chất liệu đời sống và yếu tố tự sự trong thơ” Về

Trang 8

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

3

mặt giá trị nghệ thuật, tác giả đã nhấn mạnh sự đóng góp của thơ kháng chiến ở mặt

loại thể “thơ kháng chiến sử dụng phổ biến các thể thơ có nguồn gốc dân gian, dân tộc, đồng thời phát triển thể thơ tự do và lối thơ hợp thể”

* Cuốn “Cái đẹp trong thơ ca kháng chiến‖ (tác giả Vũ Duy Thông, Nxb Giáo

dục – 1998) là một cuốn sách chuyên nghiên cứu về vẻ đẹp của thơ ca kháng chiến Cuốn sách gồm hai phần: Phần 1: Cái đẹp trong thơ kháng chiến Việt Nam giai đoạn 1945- 1975, Phần 2: Thơ tuyển Trong phần 1, tác giả tìm hiểu hai vấn đề lớn là:

―Phạm trù cái đẹp trong mỹ học và cái đẹp trong thơ‖ và “Thơ kháng chiến, bước phát triển mới của cái đẹp trong thơ Việt Nam‖ Trong phần “Thơ kháng chiến, bước phát triển mới của cái đẹp trong thơ Việt Nam‖, tác giả Vũ Duy Thông viết về các

nội dung sau

“I- Sự xuất hiện mẫu người nghệ sĩ kiểu mới

II- Sự kết hợp hài hoà giữa cái đẹp với cái cao cả, cái hùng, cái bi

+ Cái đẹp và cái cao cả

+ Cái đẹp và cái hùng

+ Cái đẹp và cái bi

III- Bước phát triển của nghệ thuật thơ Việt Nam

1.Sự xuất hiện những hình tượng thơ mới

2 Ngôn ngữ trong thơ kháng chiến

3 Đổi mới và mở rộng biên độ thể loại‖

* Sách giáo khoa Ngữ văn lớp 12 – Tập 1- Bộ cơ bản (Nxb Giáo dục – 2008)

đã có những nhận định về thơ thời kỳ kháng chiến chống Pháp nhƣ sau: ― Thơ những năm kháng chiến chống Pháp đạt được nhiều thành tựu xuất sắc Tình yêu quê hương, đất nước, lòng căm thù giặc, ca ngợi cuộc kháng chiến và con người kháng chiến là những cảm hứng chính Hình ảnh quê hương và những con người kháng chiến, từ anh vệ quốc quân, bà mẹ chiến sĩ, chị phụ nữ nông thôn đến em bé liên lạc, được thể hiện chân thực, gợi cảm Tố Hữu được coi là lá cờ đầu của nền thơ, đại diện cho xu hướng đại chúng hóa, hướng về dân tộc khai thác những thể thơ truyền thống Bên cạnh đó, Nguyễn Đình Thi tiêu biểu cho xu hướng tìm tòi, cách tân thơ ca, đưa

ra một kiểu thơ hướng nội, tự do, không vần hoặc rất ít vần Còn thơ Quang Dũng lại

Trang 9

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

4

tiêu biểu cho hướng khai thác cảm hứng lãng mạn anh hùng Những tác phẩm xuất sắc của thơ kháng chiến là ―Cảnh khuya‖, ― Rằm tháng riêng‖ (Nguyên tiêu) của Hồ Chí Minh, ―Đèo cả‖ của Hữu Loan, ―Bên kia sông Đuống‖ của Hoàng Cầm, ―Tây Tiến‖ của Quang Dũng, ― Nhớ‖ của Hồng Nguyên, ―Đất nước‖ của Nguyễn Đình Thi, ―Bao giờ trở lại‖ của Hoàng Trung Thông, ―Đồng chí‖ của Chính Hữu và đặc biệt là tập thơ ―Việt Bắc‖ của Tố Hữu,…‖ (Trang 5-6)

Như vậy là: Về nội dung: Sách giáo khoa đã nhấn mạnh hai đặc điểm:

- Cảm hứng chính của thơ kháng chiến chống pháp là tình yêu quê hương đất nước, lòng căm thù giặc, ca gợi cuộc kháng chiến và con người kháng chiến

- Hình ảnh quê hương và con người kháng chiến (anh vệ quốc quân, bà mẹ chiến sĩ, phụ nữ nông thôn, em bé liên lạc) được thể hiện chân thực gợi cảm

Về nghệ thuật: Sách giáo khoa chỉ ra rằng nhiều nhà thơ có ý thức đổi mới thơ ca với xu hướng khác nhau:

- Xu hướng đại chúng (Tố Hữu là đại diện)

- Xu hướng thơ hướng nội, tự do, không vần (Nguyễn Đình Thi là đại diện)

- Xu hướng lãng mạn anh hùng (Quang Dũng là đại diện)…

Sách giáo khoa Ngữ văn lớp 12– Bộ nâng cao (NXB Giáo dục – 2008) nói về

thơ kháng chiến chống Pháp chỉ vẻn vẹn có một câu: ―Thành tựu trội nhất trong thơ kháng chiến chống Pháp là thơ của Hồ Chí Minh, Tố Hữu, Hoàng Cầm, Thôi Hữu, Chính Hữu, Quang Dũng, Hữu Loan, Nguyễn Đình Thi, Hoàng Trung Thông…‖

* Cuốn “Thơ ca kháng chiến‖ (1946 – 1954) (Tác phẩm chọn lọc dùng trong nhà trường – Nxb Giáo dục 1976) là một cuốn tư liệu tham khảo cho giáo viên và học

sinh trong trường trung học, do Nguyễn Quang Túy chọn lọc, chú thích, gợi ý phân tích và Hoàng Như Mai giới thiệu Cuốn sách gồm hai phần: Phần đầu là lời giới thiệu do Hoàng Như Mai viết (Hơn 20 trang), phần sau là tuyển chọn, chú thích và gợi ý phân tích một số bài thơ hay Ở phần lời giới thiệu, Giáo sư Hoàng Như Mai đã nói về đặc điểm thơ thời kỳ kháng chiến chống Pháp như sau:

―1 Thơ ca kháng chiến là hình tượng kết tinh của cuộc sống kháng chiến và con người kháng chiến

Trang 10

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

5

2 Nội dung trữ tình khỏe mạnh của thơ ca kháng chiến là những tình cảm cao

cả mang tính dân tộc và tính hiện đại

3 Thơ ca kháng chiến nói bằng tiếng nói thường ngày giản dị và trong sáng của nhân dân‖

Như vậy, cuốn Thơ ca kháng chiến (1946- 1954) đã đưa ta đến với hai nội

dung chủ đạo của thơ ca kháng chiến:

- Nội dung hiện thực: phản ánh cuộc sống kháng chiến và con người kháng chiến

- Nội dung trữ tình khỏe mạnh là tình cảm cao cả mang tính dân tộc

Đồng thời, tác giả cũng khảng định sự thành công về mặt nghệ thuật của thơ ca

kháng chiến: nói bằng tiếng nói thường ngày giản dị và trong sáng của nhân dân

* Cuốn ― Tư liệu tham khảo VHVN – 1945 - 1954‖ (Nxb Giáo dục, 1981) do

Nguyễn Văn Long và Trần Hữu Tá biên soạn là cuốn sách tuyển chọn, trích dẫn

những tác phẩm văn học thời kỳ 1945 – 1954 Cuốn sách gồm 2 phần:

―1 Những vấn đề lí luận chung của VHVN 1945- 1951

2 Trích tuyển tác phẩm về thơ ca, truyện kể và kịch‖

Thơ kháng chiến chống Pháp đã được nhiều nhà nghiên cứu trăn trở, tìm hiểu

và khẳng định giá trị Các công trình nghiên cứu đó đã đóng góp những kiến thức bổ ích, quý báu giúp người thực hiện luận văn về thơ kháng chiến chống Pháp trong

sách giáo khoa bậc Trung học

2.2 Những tài liệu nghiên cứu về dạy học thơ kháng chiến chống Pháp

- Bộ sách “Thiết kế bài học Ngữ văn‖ theo hướng tích hợp (Tác giả Hoàng

Hữu Bội, Nxb Giáo dục, 2004)

- Bộ sách “Thiết kế hệ thống câu hỏi Ngữ văn‖ ( Tác giả Trần Đình Chung,

Trang 11

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

- “Thiết kế bài giảng Ngữ văn‖ (tác giả Nguyễn Văn Đường, Nxb Hà Nội, 2008)

- ―Kĩ năng đọc - hiểu văn bản Ngữ văn‖ (Tác giả Nguyễn Kim Phong, Nxb

Giáo dục, 2008)

- Bộ sách “Hướng dẫn thợc hiện chuẩn kiến thức, kĩ năng môn Ngữ văn‖, 2010 của

Bộ giáo dục và Đào tạo

Mỗi cuốn sách, mỗi tác giả có cách nhìn khác nhau, thành công khác nhau khi khai thác các tác phẩm thơ kháng chiến chống Pháp Và mỗi vấn đề được các tác giả

đề cập đến đều rất thiết thực, có tính thực tiễn cao, góp thêm giải pháp vào vần đề dạy học văn ở bậc Trung học hiện nay

Các công trình nghiên cứu trên đã là gợi dẫn rất quý báu cho chúng tôi trong quá trình làm đề tài Tuy nhiên, chúng tôi mong muốn có cái nhìn tổng quát hơn về thơ kháng chiến trong nhà trường để tìm ra được phương án dạy phù hợp với đặc điểm thơ kháng chiến chống Pháp và phù hợp với tầm tiếp nhận của thế hệ trẻ ngày nay Bởi thế, chúng tôi lựa chon vấn đề này để nghiên cứu

3- ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

1 Nghiên cứu các bài thơ kháng chiến chống Pháp được lựa chọn vào chương trình – sách giáo khoa bậc Trung học

2 Nghiên cứu hoạt động dạy và học các bài thơ trên ở nhà trường phổ thông

hiện tại

4- MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU

4.1 Mục đích

Trang 12

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

- Khảo sát thực tiễn việc dạy- học thơ kháng chiến chống Pháp ở cả học sinh

và giáo viên

- Đề xuất phương án dạy học qua việc thiết kế bài học một số bài thơ thời kì kháng chiến chống Pháp ở bậc Trung học

5- PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

5.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lí thuyết

- Phân tích, tổng hợp và hệ thống hoá các vấn đề lí luận

- So sánh, đối chiếu

5 2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn

- Điều tra, khoả sát, thống kê, phân loại

- Thiết kế bài giảng

6- CẤU TRÚC LUẬN VĂN

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn này, chúng tôi dự kiến gồm ba chương:

Chương 1: Cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn của vấn đề dạy học thơ thời kì kháng chiến chống Pháp trong sách giáo khoa bậc Trung học

Chương 2 Định hướng dạy học thơ thời kì kháng chiến chống Pháp trong sách giáo khoa Ngữ văn bậc Trung học

Trang 13

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

Từ năm 1858- 1884: Rạng sáng 1.9.1858, Pháp nổ súng ở bán đảo Sơn Trà -

Đà Nẵng mở đầu cuộc xâm lược nước ta Vua Tự Đức cử danh tướng Nguyễn Tri Phương ra Đà Nẵng chặn giặc

- Gặp khó khăn ở Đà Nẵng, giặc Pháp chuyển hướng tấn công vào Nam Kỳ: Ngày 9.2.1859, giặc Pháp tấn công vào sông Cần Giờ, vào Gia Định và lần lượt đánh chiếm các tỉnh ở Nam Kỳ Nhân dân Nam Kỳ đánh giặc quyết liệt Tiêu biểu nhất là các anh hùng Trương Định, Nguyễn Trung Trực (Thơ Nguyễn Đình Chiểu đã để lại cho thế hệ mai sau hai hình tượng đó)

- Sau đó, Pháp đánh chiếm Bắc kỳ và Trung kỳ Phong trào kháng chiến lan rộng ra cả nước

Phong trào Cần Vương (1885- 1896) với các sự kiện:

- Đêm ngày mùng 4 rạng ngày mùng 5.7.1885, Tôn Thất Thuyết và Trần Xuân Soạn nổ súng đánh úp đồn Mang Cá (Huế)

Trang 14

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

9

- Ngày 13.7.1885 Vua Hàm Nghi xuống chiếu Cần Vương

- Cuộc khởi nghĩa Ba Đình của Phạm Đình Bành và Đinh Công Tráng (1887)

- Cuộc khởi nghĩa Bãi Sậy của Nguyễn Thiện Thuật (1885)

- Cuộc khởi nghĩa Hương Khê của Phan Đình Phùng (1890- 1895)

Phong trào Đông Du (1904- 1908) của Phan Bội Châu

Phong trào Duy Tân (1906- 1908) của Phan Châu Chinh

Phong trào nông dân ở Yên Thế (1883- 1913) của cụ Đề Thám

- Nhưng tất cả đều bị thực dân Pháp đánh bại Mãi đến khi các tổ chức cách mạng ra đời gắn liền với hoạt động của Nguyễn- Ái Quốc thì phong trào cách mạng Việt Nam mới phát triển và kết thúc thắng lợi với cách mạng tháng 8 – 1945, dân ta giành lại nền độc lập sau 80 năm nô lệ dưới ách thống trị của thực dân Pháp Nước Việt Nam Dân chủ- Cộng hòa ra đời dưới sự lãnh đạo của chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng cộng sản Việt Nam, nhân dân ta bắt tay vào xây dựng cuộc sống mới Nhưng thực dân Pháp lại không để cho dân tộc ta yên, chúng quay trở lại đánh chiếm lần thứ hai

* Cuộc kháng chiến chống Pháp lần thứ hai từ năm `1946 đến năm 1954 (9 năm) Cuộc kháng chiến này xảy ra ngay sau khi nước Việt Nam Dân chủ- Cộng hoà mới ra đời Mọi người dân nước Việt Nam từ những người dân nô lệ trở thành công dân của nước Việt Nam độc lập dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chính phủ do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu Sau đây là những sự kiện lịch sử trọng đại diễn ra trong 9 năm kháng chiến trường kì:

Chưa đầy một tháng khi nhân dân ta giành chính quyền, thực dân Pháp được quân Anh giúp đỡ đã gây hấn ở Nam Bộ ngày 23- 8- 1945 Nhân dân Nam Bộ đã chiến đấu kiên cường, bảo vệ quê hương và đồng bào cả nước lập tức chi viện cho

Nam Bộ Các đơn vị ―Nam Tiến‖ được thành lập, khẩn trương lên đường vào ―chia lửa‖ với quân dân Nam Bộ

Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thực hiện chính sách nhân nhượng

―nhưng càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới‖ Chúng mở rộng chiến tranh

ra khắp cả nước Cho nên, 20 giờ ngày 19 12 1946, cuộc kháng chiến toàn quốc

bùng nổ ―Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến‖ của Chủ tịch Hồ Chí Minh truyền đi

khắp cả nước

Trang 15

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

- Chiến dịch Việt Bắc năm 1947

- Chiến dịch Biên Giới năm 1950

- Chiến dịch Hoà Bình năm 1951

- Chiến dịch Tây Bắc năm 1952

- Chiến dịch lich sử Điện Biên Phủ năm 1954

Một ngày sau khi Pháp thất thủ ở Điện Biên Phủ, Hội nghị quốc tế về chấm dứt chiến tranh ở Đông Dương họp ở Giơnevơ (Thuỵ Sĩ) và hiệp định đình chỉ chiến

sự ở Việt Nam, Lào và Campuchia được kí kết Hoà bình được lập lại nhưng nước ta tạm thời chia làm hai miền, lấy vĩ tuyến 17 làm giới tuyến quân sự tạm thời Cuộc kháng chiến 9 năm chống thực dân Pháp chấm dứt

1.1.2 Thơ ca thời kì kháng chiến chống Pháp

Thời gian sáng tác: là những bài thơ ra đời trong 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp của dân tộc ta (1946- 1954)

Đội ngũ các nhà thơ: là những người trực tiếp tham gia kháng chiến: Từ lãnh tụ (Hồ Chí Minh) đến những anh Vệ quốc đoàn (Quang Dũng, Chính Hữu, Hoàng Lộc, Hồng Nguyên, Hoàng Trung Thông, Lương An, Thôi Hữu, Minh Tiệp ); từ những nhà thơ nổi tiếng trước cách mạng năm 1945 (Tố Hữu và các nhà thơ lãng mạn trong phong trào Thơ Mới trước cách mạng đi theo kháng chiến: Lưu Trọng Lư, Xuân Diệu, Nguyễn Bính, Tế Hanh, Thâm Tâm ) đến các nhà thơ trưởng thành lên từ cuộc kháng chiến: Nguyễn Đình Thi, Hoàng Trung Thông, Minh Huệ, Nông Quốc Chấn, Trần Mai Ninh

Những tác phẩm xuất sắc của thơ thời kì kháng chiến chống Pháp là:

- ―Cảnh khuya‖, ―Nguyên tiêu‖ của Hồ Chí Minh

- Tập thơ ―Việt Bắc‖ của Tố Hữu

- ―Tây Tiến‖ của Quang Dũng

- “Đồng chí‖ của Chính Hữu

- - ―Núi Đôi‖ của Vũ Cao

Trang 16

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

11

- ―Bên kia sông Đuống‖ của Hoàng Cầm

- ―Đêm nay Bác không ngủ‖ của Minh Huệ

- ―Đất nước‖ của Nguyễn Đình Thi

- ―Dọn về làng‖ của Nông Quốc Chấn

- ―Cô lái đò‖ của Lương An

- “Thăm lúa‖ của Trần Hữu Thung

- ―Tình sông núi‖ của Trần Mai Ninh

- ―Viếng bạn‖ của Hoàng Lộc

- ―Nhớ‖ của Hồng Nguyên

- ―Bài ca vỡ đất‖ của Hoàng Trung Thông

- ―Đèo cả‖ và ―Màu tím hoa sim‖ của Hữu Loan

1.2 Đặc điểm thơ thời kì kháng chiến chống Pháp

Qua việc đọc trực tiếp các tác phẩm thơ thời kháng chiến chống Pháp và qua việc học tập các công trình nghiên cứu về thơ kháng chiến chống Pháp của người đi trước, chúng tôi đã có được những hiểu biết về đặc điểm của thơ thời kì kháng chiến chống Pháp

A Đặc điểm về nội dung của thơ thời kì kháng chiến chống Pháp

Đặc điểm thứ nhất: Thơ thời kì kháng chiến phản ánh chân thực, sinh động cuộc sống kháng chiến và con người kháng chiến

1.1 Hình ảnh cuộc sống kháng chiến trong thơ thời kì kháng chiến chống Pháp

Cuộc sống kháng chiến chống Pháp của dân tộc ta được phản ánh trong thơ thời kì kháng chiến chống Pháp rất chân thực và sinh động

* Đó là cuộc sống đầy mất mát, đau thương ở những làng quê yên ả, thanh bình nhưng lại bị giặc tàn phá, giày xéo

Các nhà thơ thời kì kháng chiến chống Pháp đã nhìn thẳng vào hiện thực đau thương để phản ánh đầy sinh động Những làng quên yên ả, thanh bình nay bị giặc giày xéo, tàn phá hoang tàn:

―Quê hương ta từ ngày khủng khiếp

Giặc kéo lên ngùn ngụt lửa hung tàn

Ruộng ta khô Nhà ta cháy

Trang 17

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

12

Chó ngộ một đàn Lưỡi dài lê sắc máu Kiệt cùng ngõ thẳm bờ hoang”

(Bên kia sông Đuống – Hoàng Cầm)

Những câu thơ không nhắc đến sự hi sinh, chết chóc, những lại là những minh

chứng sắc nét về tội ác của quân giặc Nhà thơ miêu tả thật xúc động những cảnh tan

tác chia lìa của quê hương khi quân giặc tới : ngùn ngụt lửa hung tàn, ruộng khô, nhà

cháy, con người chia li, cả loài vật cũng thành ra tan tác

Thơ thời kì kháng chiến chống Pháp không chỉ tả sự đổ nát của làng quê, cảnh vật

mà còn là nỗi đau mất mát của con người Đó là nỗi đau của anh bộ đội khi mất người

yêu dấu: ―Mới tới đầu ao, tin sét đánh- Giặc giết em rồi, dưới gốc thông ” Đó là nỗi

đau mất cha: ―Súng liền nổ ngay cùng một loạt- cha ngã xuống nằm trên mặt đất‖…

Có thể nói, thơ kháng chiến chống Pháp đã phản ánh thật thấm thía và sâu đậm

nỗi đau mất mát dân ta thời ấy Nhưng hiện thực đó không gây nên sự bi lụy mà trở

thành động lực giúp cho dân tộc Việt Nam nung nấu lòng căm thù, nuôi ý chí quyết

chiến, quyết thắng với kẻ thù để giành lại độc lập, tự do cho dân tộc

* Đó là cuộc sống lao động sản xuất đầy hăng say để phục vụ kháng chiến của

nhân dân ta ở những làng quê vùng tự do – hậu phương của kháng chiến

Trong kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1946 - 1954), ở hậu phương,

nhân dân chăm lo sản xuất phục vụ kháng chiến Tất cả không khí lao động hăng say

đó được các nhà thơ thời kì kháng chiến chống Pháp phản ánh chân thực trong sáng

tác của mình

Khi những người chồng ra trận, người phụ nữ ở nhà vừa chăm lo sản xuất để phục vụ

kháng chiến, vừa nhớ thương chồng:

―Em nhớ ruộng nhớ vườn Không nhớ anh răng được ‖

(Thăm lúa- Tràn Hữu Thung)

Càng nhớ chồng chị càng hăng say lao động, đó thực sự là một nỗi nhớ thương rất

khoẻ khắn và mạnh mẽ Điều đó đã làm nên một hậu phương vững chắc để những

người lính yên tâm đánh giặc, giành thắng lợi nơi tiền tuyến

Trang 18

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

13

Cùng với những chiến sĩ cầm súng, những người chiến sĩ làm nhiệm vụ tăng gia sản xuất cũng hăng say chăm lo sản xuất:

―Khoai trồng thắm rẫy Lúa cấy xanh rừng

Hết khoai ta lại gieo vừng

Không cho đất nghỉ, không ngừng tay ta‖

(Bài ca vỡ đất- Hoàng Trung Thông)

Tố Hữu cũng ghi lại hình ảnh những cô gái "phá đường" rất sinh động Những người phụ nữ nông thôn theo lời kêu gọi của Chính phủ, đi phá đường để chặn xe cơ giới của địch Đó là chị phụ nữ Bắc Giang:

Nhà em phơi lúa chửa khô Ngô chửa vào bồ, sắn thái chưa xong Nhà em con bế con bồng

Em cũng theo chồng đi phá đường quan

Trước hết đó là hình ảnh những đoàn dân công phục vụ tiền tuyến:

―Bác thương đoàn dân công Đêm nay ngủ ngoài rừng Rải lá cây làm chiếu Manh áo phủ làm chǎn ‖

(Đêm nay Bác không ngủ- Minh Huệ)

Những con người ấy, họ luôn có một tình yêu nước sâu sắc, khi cần họ không quản khó khăn gian khổ, sẵn sàng gác công việc riêng vì mục đích chung của cuộc kháng chiến Còn mãi trong tâm trí người đọc hôm nay hình ảnh đoàn dân công ra tiền tuyết với

Trang 19

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

14

khí thế ngút trời ―Dân công đỏ đuốc từng đoàn- bước chân nát đá muôn vàn lửa bay‖

Bên cạnh đó, thơ ca kháng chiến chống Pháp còn đưa ta đến với cuộc sống và chiến đấu của những anh vệ quốc quân nơi chiến trường Ở đó, họ phải đối mặt với nhiều gian nan,

thử thách Với những chàng trai trẻ chốn Hà Thành, phải vượt qua những con đường “Dốc lên khúc khuỷu, dốc thăm thẳm” rồi ―ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống‖, phải đối mặt với cảnh “Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người” Trong cuộc sống hàng ngày, cơm không

đủ ăn, những anh vệ quốc phải ―thương nhau chia củ sắn lùi‖, quân tư trang đều thiếu thốn

―Áo anh rách vai, quần tôi có vài mảnh vá chân không giày‖, ốm không có thuốc chữa đến mức nước da xanh mầu lá, tóc rụng không mọc lại được và “Rét run người vầng trán toát mồ hôi‖ Ra chiến trường, họ không chỉ đối mặt với cái chết do mưa bom bão đạn của

kẻ thù, mà họ còn phải đối mặt với cái chết do sốt rét rừng mang lại Có những người lính, trên đường hành quân đã một mình âm thầm lặng lẽ, tách ra khỏi đoàn quân, và ngủ giấc ngủ

ngàn thu không bao giờ trở dậy nữa: “Anh bạn dãi dầu không bước nữa- Gục trên súng mũ

bỏ quên đời‖

* Trong thơ kháng chiến, cuộc sống kháng chiến hiện lên không chỉ có những

gian khổ mất mát và hi sinh mà còn có cả cuộc sống vui tươi, rộn ràng trong tình quân dân thắm thiết

Đi tới đâu," Người lính trường chinh áo mỏng manh" ấy cũng mang lại nguồn vui

cho nhân dân tới đó:

Anh về cối lại vang rừng Chim reo quanh mái, gà mừng dưới sân

Anh về sáo lại ái ân Đêm trăng hò hẹn trong ngần tiếng ca

Các anh về làng như là trở về ngôi nhà yêu dấu của chính mình trong tình cảm

thân thương ấm áp, ân tình của người ―mẹ già bịn rịn áo nâu”, trong niềm vui hớn hở của các em thơ; trong không gian gần gũi, thân thương: nhà lá đơn sơ, nối cơm nấu

dở, bát nước chè xanh; trong không khí hân hoan, vui tươi rộn ràng khắp làng, khắp

xóm Tất cả đều giản dị mà lại sâu lắng biết bao nhiêu

1.2 Hình ảnh con người trong thơ kháng chiến chống Pháp

Thơ kháng chiến chống Pháp không chỉ cho ta biết về cuộc sống kháng chiến

Trang 20

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

15

mà còn cho ta bắt gặp những con người tham gia kháng chiến Qua thơ kháng chiến,

ta bắt gặp hình ảnh ―Nhân vật quần chúng trong thơ kháng chiến là một thế giới nhân vật phong phú, nhiều tầng lớp, lứa tuổi, điạ phương dân tộc, với nhiều nét phẩm chất,

vẻ đẹp, được thể hiện trong nhiều tình huống, hoàn cảnh Nhưng có lẽ, tiêu biểu và nổi bật nhất là hình ảnh những người mẹ, người phụ nữ, và anh bộ đội vệ quốc quân‖ (Lịch sử văn học Việt Nam, Nguyễn Đăng Mạnh chủ biên, Nguyễn Văn Long đồng

chủ biên, NXB Giáo dục - 2004)

* Trước hết đó là hình ảnh anh vệ quốc quân

Ngày nay, khi chiến tranh đã lùi xa, thế hệ lớp trẻ sinh ra và lớn lên trong thời

kì hoà bình vẫn không thể không rung động trước hình ảnh đẹp về anh vệ quốc quân trong thơ kháng chiến chống Pháp

Phần lớn, họ là những người nông dân nghèo khổ: ―Quê hương anh đất mặn đồng chua- Làng tôi nghèo đất cầy lên sỏi đá‖ ( Đồng chí – Chính Hữu)

Bên cạnh đó, cón có rất nhiều thanh niên, học sinh rời bỏ phố phường, trường học để tham gia kháng chiến:

“ Người ra đi đầu không ngoảnh lại Sau lưng thềm nắng lá rơi đầy.‖

( Đất Nước- Nguyễn Đình Thi )

Từ khắp mọi miền đất nước, những con người yêu nước tụ hội với nhau trong cuộc kháng chiến gian khổ Thế nhưng, nguồn gốc xuất thân, khoảng cách về không gian của những miền quê khác nhau vẫn không làm họ trở nên xa lạ Họ gặp nhau và sát cảnh bên nhau, chiến đấu hết mình, sẵn sàng quyết tử cho tổ quốc quyết sinh và làm nên tình đồng chí thiêng liêng

Vào quân ngũ, họ phải sống với một cuộc sống vật chất đầy thiếu thốn, gian khổ: Các anh vệ quốc quân đến với chiến trường mà quân tư trang của họ cũng không

đầy đủ:

―Áo anh rách vai Quần tôi có vài mảnh vá Miệng cười buốt giá Chân không giày

Trang 21

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

16

Thương nhau tay nắm lấy bàn tay!‖

( Đồng chí - Chính Hữu) Không những thế, học còn phải đối mặt với đói rét, bệnh tật

Rồi: ―Tây tiến đoàn binh không mọc tóc Quân xanh màu lá dữ oai hùm‖

( Tây Tiến - Quang Dũng) Thơ kháng chiến còn cho ta biết đời sống tinh thần của những anh bộ đội thời

ấy Vào lính, họ mang theo nỗi nhớ quê hương và những người yêu dấu:

―Ba năm rồi gửi lại quê hương Mái lều tranh

Tiếng mõ đêm trường Luống cày đất đỏ‖

được thơ kháng chiến miêu tả đầy gợi cảm

* Bên cạnh hình ảnh các anh vệ quốc quân, hình ảnh bà mẹ chiến sĩ trong thơ kháng chiến cũng hiện lên rất đậm nét

Trong thời kì kháng chiến, hình ảnh các bà mẹ chiến sĩ đã khơi gợi cảm xúc của biết bao nhà thơ Những bài thơ viết về đề tài này thường mang lại sự xúc động sâu

xa cho biết bao thế hệ bạn đọc Đó là các bài thơ: Bầm ơi, Bà Bủ, bà mẹ Việt Bắc của

Tố Hữu, Người mẹ của Lê Đức Thọ, Bà cụ mù loà của Xuân Diêu, Kể chuyện Vũ Lăng của Anh Thơ Những bà mẹ thời kì kháng chiến chống Pháp hiện lên trong thơ

thật đẹp! Đó là những bà mẹ Việt Nam chứa chan tình cảm yêu thương, giầu đức hi sinh, vượt mọi gian khổ Nhận xét về những vần thơ viết về mẹ, tác giả Phạm Huy

Thông trong cuốn ―Cái đẹp trong thơ kháng chiến Việt Nam‖ (Nxb Giáo dục,

Trang 22

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

theo tiếng gọi sông núi, nhiều người đã ngã xuống, đã hi sinh không bao giờ trở về

Vì thế, nên những người mẹ ở nhà, thay chồng, thay con gánh vác tất cả công việc

Đó là hình ảnh người mẹ trong bài thơ ―Dọn về làng‖ của Nông Quốc Chấn, “Kể chuyện Vũ Lăng‖ cuả Anh Thơ

Những người mẹ tuổi đã cao, không còn sức ra tiền tuyến giết giặc cứu nước, mẹ cống hiến chút công sức nhỏ bé của mình vào cuộc kháng chiến trường kì bằng những công

việc cụ thể: chở che và nuôi nấng người chiến sĩ Trong bài thơ “Bầm ơi‖ của Tố Hữu,

người chiến sĩ xa nhà đã tâm sự:

“Bao bà cụ từ tâm như mẹ Yêu quý con như đẻ con ra

Cho con nào áo nào quà Cho củi con sưởi, cho nhà con ngơi‖

Cùng với hình ảnh người mẹ, thơ kháng chiến còn dành nhiều yêu thương cho nhân

vật người vợ của chiến sĩ Viết về hình ảnh nhân vật này, Vũ Huy Thông trong cuốn ―Cái đẹp trong thơ kháng chiến Việt Nam 1945- 1975‖ (Nxb Giáo dục, H 1998) đã khảng định: ―Hai nhân vật thơ được các nhà thơ yêu quý và trân trọng nhất là người mẹ và người vợ Đó là loại nhân vật xuất hiện với tần số cao nhất trong hình tượng nhân dân, người hậu phương hay người anh hùng vô danh‖ Đó là những người vợ đảm đang tháo vát, hai vai gánh vác việc nhà, việc nước như người vợ trong: ―Cô lái đò‖ của Lương

An, ―Thăm lúa‖ Trần Hữu Thung, ―Phá đường‖ của Tố Hữu, ―Nhớ‖ của Hồng Nguyên,

“Mầu tìm hoa sim‖ của Hữu Loan

Trang 23

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

18

Trong thơ kháng chiến chống Pháp, người vợ hiện lên là người chăm lo sản xuất

Trong cuộc kháng chiến chống Pháp, toàn dân đánh giặc, sản xuất với một tinh thần hăng hái lập công Khi người chồng ra trận, người vợ ở nhà lao động sản xuất hăng say:

―Anh đang mùa thắng lợi Lúa em cũng chín rồi Lúa tốt lắm anh ơi Giải thi đua em giật‖

(Thăm lúa- Trần Hữu Thung)

Tâm hồn người phụ nữ nông thôn Việt Nam thời đánh Pháp: thật giản dị, hồn nhiên, chân chất như hạt lúa, củ khoai Anh ra chiến trường, thi đua lập công, em ở nhà chăm lo

sản xuất

Đến với bài thơ “Kể chuyện Vũ Lăng” của Anh Thơ, ta bắt gặp hình ảnh người

vợ nông dân miền núi đảm đang tháo vát Chồng bị bắt “lao tù”, chị ở nhà một tay quán xuyến tất cả các công việc ruộng đồng “Một mình bừa sớm, cấy trưa ” và nuôi dạy đàn con thơ “Tám năm vất vả nuôi bầy con thơ” Những người vợ ấy vừa mang vẻ đẹp

truyền thống của người phụ nữ Việt Nam, vừa có nét mới của người phụ nữ ở thời đại mới – thời đại thoát khỏi ách nô lệ của thực dân để trở thành công dân của một nước

độc lập

Và trong thơ kháng chiến chống Pháp, ta còn bắt gặp những người phụ nữ phục

vụ kháng chiến Đó là hình ảnh người vợ tham gia phá đường trong thơ của Tố Hữu:

―Hì hà hì hục Lục cục lào cào Anh cuốc em cuôc

Đá lở đất nhào‖

(Phá đường- Tố Hữu) Lại có cả những người phụ nữ làm công việc lái đò ―chở người cán bộ lên vùng chiến khu‖:

―Người ta giết giặc bắt tù

Em thì kháng chiến, đưa đò sang sông‖

(Cô lái đò- Lương An)

Trang 24

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

19

Trong bài thơ ―Người đàn bà Ninh Thuận‖, Tế Hanh lại đưa ta đến hình ảnh người vợ trong vùng địch hậu Họ luôn luôn vận động “nhắc nhở hô hào bà con” để cùng nhau phục vụ kháng chiến “Giấu từng nắm gạo, miếng cơm” rồi “Chị tiếp tế thì anh địch vận- Chị giao thông dắt dẫn đường hầm”

Qua những tác phẩm thơ viết về người vợ chiến sĩ, ta thấy rõ vẻ đẹp truyền thống trong những người phụ nữ Việt Nam thời kháng chiến chống Pháp: đảm đang, tháo vát,

yêu chồng, yêu con và hết lòng phục vụ kháng chiến

* Các em thiếu nhi trong thời kì kháng chiến chống Pháp cũng là đối tượng được các nhà thơ yêu mến và phản ánh trong thơ

Trong cuộc kháng chiến chống Pháp chín năm gian khổ, các em thiếu nhi đã có những đóng góp tích cực cho kháng chiến Thơ viết về thiếu nhi giai đoạn này có thể

kể đến các tác phẩm: Lượm (Tố Hữu), Em liên lạc (Lê Đức Thọ), Gửi cháu Phạm Đỗ Hải, Gửi cháu Lê Văn Thực, Gửi các cháu nhi đồng nhân dịp trung thu năm 1953 (Hồ Chí Minh) Các tác giả đã gửi gắm ở đó biết bao tình cảm: ngợi ca, trân trọng;

thương cảm, xót xa; hi vọng ở các em

Tố Hữu yêu chú bé liên lạc- một em bé hồn nhiên, trong sáng và rất nhiệt tình, dũng cảm khi tham gia kháng chiến Ngay trong những nét phác tả chú bé ấy ta đã thấy thật mến yêu:

Chú bé loắt choắt Cái chân thoăn thoắt Cái đầu nghênh nghênh

(Lượm- Tố Hữu)

Lê Đức Thọ cũng dành tình cảm mến yêu cho một em bé liên lạc, nhưng ở trong

một hoàn cảnh khác em Lượm “Gió lùa chi mấy gió ơi- Em đi trốn gió lại ngồi bên anh‖ (

Em liên lạc- Lê Đức Thọ) Hay những vần thơ khen ngợi của Bác dành cho hai em

bé liên lạc Được tin cháu Phạm Đỗ Hải và cháu Lê Văn Thục bắt sống Tây, Bác viết

2 bài thơ khen: “Thế là cháu giỏi, biết cách tuyên truyền, Bác gửi lời khen." và: "Bác gửi lời khen, khuyên cháu tập rèn, ngày càng tiến bộ"

Trong thơ viết về thiếu nhi trong thơ ca kháng chiến chống Pháp, niềm vui, tình yêu

và hi vọng ở các em thiếu nhi được thể hiện rõ nét trong chùm thơ trung thu của Bác:

Trang 25

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

("Gửi các cháu nhi đồng nhân dịp trung thu năm 1953 – Hồ Chí Minh)

Đây là tấm lòng của người ông đối với các cháu, của người trên đối với trẻ nhỏ, của người lãnh đạo cao nhất của Đảng và Nhà nước đối với thế hệ tương lai

* Trong thơ thời kì kháng chiến chống Pháp, còn hiện lên hình ảnh Bác Hồ- vị lãnh tự tối cao của cuộc kháng chiến

Tác giả Vũ Duy Thông cũng khẳng định: ―Một trong hình tượng rất thành công trong thơ ca kháng chiến là hình tượng Chủ tịch Hồ Chí Minh Bác Hồ trong thơ được khắc hoạ như một người cha, người bác, người anh hiền từ, giản dị, gần gũi Lần đầu trong thơ, giữa lãnh tụ và nhân dân không có ngăn cách Tâm hồn Người được miêu tả như tấm lòng của tiên, của bụt trong ca dao, cổ tích: thanh thản, chan chứa yêu thương‖(Sdd Tr 105) Trong những vần thơ viết về Bác giai đoạn này,

ta phải kể đến những tác phẩm: Sáng tháng Năm, Hoan hô chiến sĩ Điện Biên, Việt Bắc của Tố Hữu; Đêm nay Bác không ngủ của Minh Huệ, Mẹ con của Nguyễn Xuân Sanh, Bộ đội ông cụ của Nông Quốc Chấn Qua những tác phẩm đó, ta thấy được cuộc đời, con người của Bác

Với Sáng tháng Năm, Tố Hữu đã viết nên những vần thơ đầy tự hào và kính yêu

Bác vô hạn:

Bác kêu con đến bên bàn Bác ngồi Bác viết nhà sàn đơn sơ Con bồ câu trắng ngây thơ

Nó đi tìm thóc quanh bồ công văn

Hình ảnh Bác đời thường, giản dị, gần gũi còn hiện lên trong cái nhìn và sự cảm

nhận của những người dân tộc miền núi Trong bài “Bộ đội ông cụ‖, những câu thơ chân chất, mộc mạc của nhà thơ Nông Quốc Chấn đã đưa ta đến với hình ảnh “Bộ đội ông cụ‖ Có ai ngờ, vị Chủ tịch nước Hồ Chí Minh lại đời thường, giản dị đến thế:

“chân đi đất,”, “Mặc bộ quần áo Nùng”, “Tay cầm cái gậy mây rừng- Miệng ngậm

Trang 26

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

21

một điếu thuốc không khói‖

Trong thơ kháng chiến, Bác hiện lên là một người có phẩm chất cao đẹp Nhắc

đến phẩm chất cao đẹp của Người, ta không thể không nhắc đến tình yêu thương vô

hạn của Bác đối với vệ quốc quân, dân công (Sáng tháng Năm, Hoan hô chiến sĩ Điện Biên của Tố Hữu, Đêm nay Bác không ngủ của Minh Huệ,, Mẹ con của Nguyễn Xuân Sanh ) tình yêu của Bác với nhân dân, đồng bào (Bộ đội ông cụ của Nông Quốc Chấn, Sáng tháng năm của Tố Hữu) yêu thiếu niên, nhi đồng: (Gửi các cháu nhi đồng nhân dịp tết trung thu 1953)

Qua những bài thơ viết về Bác, các tác giả thay lời nhân dân, đồng bào nói lên tấm lòng của người dân Việt Nam với Bác kính yêu Với nhân dân Việt Nam, Bác là một

lãnh tụ hiền minh Người là "Hồ Chí Minh vĩ đại", là "mặt trời cách mạng", nhưng cũng

"là Cha, là Bác, là Anh": ―Ôi người cha, đôi mắt mẹ hiền sao”, là kết tinh sức mạnh của nhân dân ―Quả tim lớn lọc trăm dòng máu đỏ‖, là hiện thân sức mạnh của nhân dân, của chính nghĩa: “Người rực rỡ một mặt trời cách mạng’ Chính vì thế nên: ―Bác bảo đi

là đi- Bác bảo thắng là thắng‖

Đặc điểm 2: Thơ kháng chiến diễn tả tâm tư và tình cảm mới mẻ của nhân dân

ta trong chín năm kháng chiến

2.1 Tình yêu nước trong thơ kháng chiến

Tình yêu quê hương trong thơ ca thời kì kháng chiến chống Pháp đã trở thành

chủ đề chính, chủ đề lớn nhất: ―Chưa bao giờ, chủ nghĩa yêu nước lại hoà quyện cái tôi và cái ta, lý trí và tình cảm, lý tưởng và hiện thực để cất lên tiếng nói thơ trong sáng, sảng khoái như vậy” (Vũ Duy Thông, Sđd, Tr.96) Đó là tình cảm thiêng liêng

và cao quý của mỗi con người Việt Nam Tình cảm ấy đã trở thành nội dung phản ánh, được các nhà thơ thể hiện sâu sắc, phong phú với nhiều cung bậc khác nhau: yêu vẻ đẹp của thiên nhiên đất nước, lòng căm thù giặc sâu sắc trong hoàn cảnh đất nước có chiến tranh

* Tình yêu nước được thể hiện qua tình yêu vẻ đẹp thiên nhiên của quê hương, đất nước

Trong thơ ca kháng chiến, các nhà thơ gửi gắm tình cảm yêu nước trong tình

yêu vẻ đẹp thiên nhiên của quê hương đất nước ―Trong thơ, tình cảm ấy được thể

Trang 27

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

22

hiện thành muôn nghìn trạng thái Đó là tình cảm thiết tha và nỗi nhớ da diết về một quê hương Kinh Bắc trù phú, tươi đẹp đang bị giầy xéo dưới gót giầy của quân xâm lược (Bên kia sông Đuống của Hoàng Cầm), hay một ―Xứ Đoài mây trắng lắm‖ (Mắt người Sơn Tây của Quang Dũng), một mùa thu Hà Nội với hương cốm mới và

―những phố dài xao xác hơi may‖ trong thơ của Nguyễn Đình Thi, mảnh đất miền Đông trong thơ Xuân Miễn, Đồng tháp Mười trong thơ Nguyễn Bính ‖ (Nguyễn

(Tây Tiến - Quang Dũng)

Bức tranh trở nên huyền ảo như sương, như khói Chính vẻ đẹp huyền ảo, vừa thực, vừa hư ấy đã làm vơi đi sự mệt mỏi của đoàn quân trên con đường hành quân Trong thơ ca kháng chiến chống Pháp, nhiều nhà thơ thể hiện tình cảm của

mình với thiên nhiên ở chiến khu Việt Bắc như: Hồ Chí Minh, Tố Hữu, Nguyễn Đình

Thi Đặc biệt khi viết về thiên nhiên Việt Bắc, các tác giả luôn coi thiên nhiên như người bạn đồng hành cùng người chiến sĩ

* Trong hoàn cảnh đất nước có chiến tranh, tình yêu quê hương, đất nước còn thể hiện ở lòng căm thù giặc

―Lòng yêu nước cũng đi liền với lòng căm thù quân giặc cướp nước‖ (Nguyễn

Đăng Mạnh Sđd Tr 93):

―Ôi những cánh đồng quê chảy máu

Dây thép gai đâm nát trời chiều‖

(Đất nước- Nguyễn Đình Thi)

Hình ảnh ấy biểu hiện cái nhìn tinh tế và tình cảm chân thật của người viết: chiến tranh tàn phá tất cả, chiến tranh đồng nghĩa với sự huỷ hoại, với cái ác Và

từ nỗi đau mất mát đó đã “bật lên những tiếng căm hờn‖

Trang 28

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

23

Lòng căm thù giặc của người mẹ trong bài thơ Dọn về làng của Nông Quốc

Chấn xuất phát từ nỗi đau mất mát của bản thân, gia đình

―Mày sẽ chết thằng giặc Pháp hung tàn Băm xương thịt mày tau mới hả!‖

(Dọn về làng - Nông Quốc Chấn)

Như vậy, lòng căm thù giặc xuất phát từ những nỗi đau mất mát lớn của gia đình, của quê hương Lòng căm thù giặc sẽ thôi thúc những con người vốn dĩ hiền lành quanh giếng nước gốc đa biết cầm súng giết giặc để giành lại độc lập, tự do cho quê nhà

2.2 Những tình cảm mới mẻ nảy sinh trong cuộc kháng chiến chống Pháp

* Các nhà thơ thời kì kháng chiến chống Pháp đã có những khám phá sâu sắc về tình đồng chí giữa những người vệ quốc quân - một quan hệ vừa mới nẩy nở trong cuộc kháng Phản ánh tình cảm mới mẻ này là các tác phẩm: Đồng chí của Chính Hữu, Nhớ của Hồng Nguyên, Viếng bạn của Hoàng Lộc

Tình đồng chí được hình thành từ những lời bộc bạch, tâm tình giữa những

người nông dân vào lính :

―Quê hương anh nước mặn đồng chua Làng tôi nghèo, đất cày lên sỏi đá…‖

nói, đó là cơ sở đầu tiên tạo nên tình đồng chí

Tình đồng chí giúp người chiến sĩ có thể vượt qua mọi khó khăn gian khổ Từ góc bể chân trời, họ đã tụ về chia sẻ ngọt bùi:

―Giữa nước lũ tràn qua Những đồng chí chúng ta Len mình qua lô cốt Những đồng chí chúng ta

Trang 29

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

24

Run mình trong cơn sốt‖

(Những đồng chí trung kiên- Thanh Hải ) Rồi cùng sẻ chia những nỗi cơ hàn: Đầu tha hồ mưa xối- Mình, tha hồ vắt sên (Một cuộc hành quân của Khương Hữu Dụng), đồng cam cộng khổ: Áo anh rách vai - Quần tôi

có vài mảnh vá - Miệng cười buốt giá - Chân không giày- Thương nhau tay nắm lấy bàn tay‖ (Đồng chí- Chính Hữu )

* Trong thơ kháng chiến chống Pháp, ta không chỉ thấy được tình đồng chí mà còn thấy được tình cảm mẹ con- vừa mang nét đẹp truyền thống, vừa mang những nét mới mẻ: Tình yêu con của mẹ đã hoà cùng tình yêu đất nước mẹ yêu con, mẹ yêu

đồng chí Tình cảm riêng tư của mẹ đã lớn thành tình cảm chung của quê hương, đất

nước

Có thể nói, thơ ca kháng chiến chống Pháp viết rất chân thực và xúc động về

tình cảm mẹ con Các tác phẩm: Bầm ơi, Bà Bủ, bà mẹ Việt Bắc của Tố Hữu, Người

mẹ của Lê Đức Thọ, Bà cụ mù loà của Xuân Diệu, Kể chuyện Vũ Lăng của Anh Thơ

là những tác phẩm tiêu biểu Đó là tình cảm đẹp, vừa gần gũi vừa thiêng liêng với mỗi con người, tấm lòng người con với mẹ đã được ghi nhận chân thành ở trong thơ:

―Bầm ơi sớm sớm chiều chiều Thương con bầm chớ lo nhiều bầm nghe

Con đi trăm núi, ngàn khe Chưa bằng muôn nỗi tái tê lòng bầm‖

( Bầm ơi—Tố Hữu)

Người mẹ là nguồn sức mạnh trực tiếp nuôi dưỡng cho tình cảm của con,

người mẹ là tượng trưng cho hậu phương, cho đất nước

Rồi những người chiến sĩ ra chiến trường gặp biết bao bà mẹ ―cho con nào áo nào quà- Cho củi con sưởi, cho nhà con ngơi” (Bầm ơi- Tố Hữu), và ―Giấu từng nắm goạ bữa cơm- Giúp anh cán bộ đêm hôm trở về” (Người đàn bà Ninh Thuận- Tế

Hanh) Và có thể nói đó chính là nét riêng biệt và mới mẻ trong tình cảm mẹ con trong thơ kháng chiến chống Pháp

* Trong kháng chiến chống Pháp, bên cạnh tình cảm mẹ con, thơ kháng chiến còn đi sâu miêu tả những cung bậc tình cảm rất mới của tình cảm vợ chồng Đó là

Trang 30

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

25

tình cảm của những người vợ nơi hậu phương dành cho chồng ngoài chiến trường

(Thăm lúa của Trần Hữu Thung, Dọn về làng của Nông quốc Chấn, Người đàn bà Ninh Thụân của Tế Hanh, Kể chuyện Vũ Lăng của Lương An ) và tình yêu, nỗi nhớ của chồng nơi tiền tuyến dành cho vợ (Nhớ của Hồng Nguyên, Tây Tiến của Quang Dũng, Mầu tìm hoa sim của Hữu Loan )

Người vợ được thể hiện ở những hoàn cảnh cụ thể khác nhau:

―Một buổi sáng mai ri Anh tình nguyện ra đi Chiền chiện cùng cao hót Lúa cũng vừa sẫm hột

Em tiễn anh lên đường‖

(Thăm lúa- Trần Hữu Thung)

Trong cảnh chia tay ấy, ta không thấy cái lưu luyến vấn vương của cảnh

―Người lên ngựa, kẻ chia bào‖, cũng không có cái nhìn đau đáu đầy ám ảnh ―Ngàn dâu xanh biếc một mầu- lòng chàng, ý thiếp ai sầu hơn ai‖ mà người đọc chỉ thấy

một tâm hồn phơi phới tin yêu Tất cả đều tươi tắn, rộn ràng cũng như tâm trạng đầy

hồ hởi, tin yêu của người vợ dành cho chồng khi ra trận Như vậy, tình cảm vợ chồng

đã hoà quyện nhuần nhuyễn trong tình yêu đất nước

Chiến tranh là đau thương và mất mát Không ít những người vợ đã phải đau xót với nỗi đau mất chồng Trong hoàn cảnh ấy, họ không bi lụy, gục ngã:

―Mẹ tháo khăn phủ mặt cho chồng

Con cởi áo liệm thân cho bố ‖

(Dọn về làng- Nông quóc Chấn)

Nỗi đau của người vợ, người mẹ khi chồng bị bắn chết được đẩy lên đến không cùng Thế nhưng, nỗi đau lại bị kìm nén, muốn khóc cho lòng vơi đi nhưng lại

sợ giặc phát hiện Cảnh chôn cất người cha đầy thương tâm đã khiến cho trái tim mọi

người quặn thắt, xót xa

Cùng với những nỗi đau mất mát của người vợ, các nhà thơ thời kháng chiến chống Pháp cũng đồng cảm với nỗi đau mất mát của người lính nơi chiến trường khi hay tin người vợ yêu dấu nơi quê nhà không còn nữa

Trang 31

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

26

―Nhưng không chết

người trai khói lửa

Mà chết người gái nhỏ hậu phương‖

(Mầu tím hoa sim- Hữu Loan)

Như vậy cả một thời kỳ lịch sử được đưa vào trong thơ kháng chiến chống Pháp một cách sinh động và chân thực Thế hệ trẻ ngày nay, những người được sống trong thời kì hoà bình, đọc thơ kháng chiến và có thể hình dung được phần nào chân dung và diện mạo của cuộc sống kháng chiến chống Pháp- một thời kì lịch sử vẻ vang, oanh liệt và cả đau thương, mất mát

Đặc điểm 3 : Nhân vật trữ tình trong thơ kháng chiến chống Pháp

* Nét độc đáo của thơ thời kì kháng chiến chống Pháp là ở chỗ, đọc ngay nhan

đề của các thi phẩm, ta cũng thấy rõ được nhân vật quần chúng được đưa vào trong thơ rất phong phú và đa dạng: Tặng cụ Bùi Bằng Đoàn của Hồ Chí Minh, Hoan hô chiến sĩ Điện Biên của Tố Hữu, Người đàn bà Ninh Thuận của Tế Hanh, Đêm nay Bác không ngủ của Minh Huệ, Em liên lạc của Lê Đức Thọ, Cô lái đò của Lương An, Bài ca vỡ đất của Hoàng Trung Thông, Dọn về làng của Nông Quốc Chấn Và có lúc, nhân vật trữ tình là nhân vật quần chúng, nhân vật đám đông: Tặng các lão du kích của Hồ Chí Minh, Người dân quân xã của Vĩnh Mai, Người mẹ của Lê Đức Thọ, Những đồng chí trung kiên của Thanh Hải, Thương người cộng sản của Ngọc Anh

Nhân vật quần chúng đã trở thành nhân vật trung tâm trong sáng tác thơ thời kì kháng chiên chống Pháp Họ chính là nguồn cảm hứng để các tác giả đưa thơ trở về với hiện thực cuộc sống

* Nhân vật trữ tình trong thơ kháng chiến thường được các nhà thơ sáng tác

từ nguyên mẫu có thật trong cuộc kháng chiến Cụ Bùi Bằng Đoàn (1989- 1955) là

một ông quan nổi tiếng thanh liêm, chính trực và yêu thương dân chúng trong triều đình Huế Cách mạng Tháng Tám thành công, trong thế nên “xuất” hay nên “xử” của một nhà Nho, Cụ đã nhận lời mời của Hồ Chủ Tịch ra nhậm chức Trưởng ban Thanh tra đặc biệt Chính phủ Cụ Bùi Bằng Đoàn làm việc trong một thời gian ngắn tại chiến khu Việt bắc Tại đây, mối thâm giao giữa cụ Hồ và cụ Bùi Bằng Đoàn không chỉ là tình cảm cách mạng mà còn là của những người bạn tri ân

Trang 32

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

27

Cuộc đời, sự cồng hiến cho cách mạng của cụ Bùi Bằng Đoàn đã là nguồn cảm

hứng cho Chủ tịch Hồ Chí Minh viết bài thơ Tặng cụ Bùi Bằng Đoàn

Còn nhà thơ Tố Hữu sáng tác bài thơ ―Bầm ơi‖ xuất phát từ tâm tư tình cảm

của bà Gái với người con trai xa nhà Ban ngày, bà Gái vẫn vác cuốc lên đồi, xuống ruộng tăng gia, tối về các văn nghệ sĩ cứ thấy bà vẻ mặt đượm buồn, có khi thút thít khóc bên căn nhà ngang vì thương nhớ anh Khải đã lâu không thấy “đánh thư” về Để giúp bà Gái nguôi ngoai nỗi nhớ, niềm thương người con trai đánh giặc xa nhà, anh

em văn nghệ sĩ đã thống nhất kế hoạch viết một bài thơ mạo danh anh Khải gửi về

cho bầm, đem đọc cho bà Gái nghe Bài thơ ―Bầm ơi‖ của nhà thơ Tố Hữu ra đời từ

câu chuyện đó

Bài thơ làm xong vài hôm, anh em văn nghệ sĩ nói dối là thơ của anh Khải gửi

về và ra xã nhận hộ, rồi cử một người đọc chậm từng câu để bà Gái nghe cho rõ Nghe xong, nét mặt bà Gái rạng rỡ hẳn

Với nhà thơ Hữu Loan, câu chyện về cuộc đời của chính mình- câu chuyện của người lình xa nhà- đã cháy thành thơ trong tâm trí tác giả: “Tôi nhận được tin dữ : vợ tôi qua đời ! Em chết thật thảm thương : Hôm đó là ngày 25/05 âm lịch năm 1948, Con nước lớn đã cuốn em vào lòng nó, cướp đi của tôi người bạn lòng tri kỷ, để lại tôi nỗi đau không gì bù đắp nổi Nỗi đau ấy, gần 60 năm qua, vẫn nằm sau thẳm trong trái tim tôi … Tôi ngồi lặng đi ở đầu làng, hai mắt tôi đẫm nước, tôi lấy bút ra ghi chép Chẳng cần phải suy nghĩ gì, những câu những chữ mộc mạc cứ trào ra”

Những câu chuyện trên chỉ là một trong muôn vàn những câu chuyện sáng tác của các tác giả trong thời kì kháng chiến Qua đó, ta có thể thấy rằng cuộc sống của quần chúng nhân dân luôn là cảm hứng sáng tác cho các tác giả Những câu chuyện

đó không còn là câu chuyện của một con người, một số phận nữa mà nó là câu chuyện của cả dân tộc trong những năm tháng kháng chiến

B Đặc điểm nghệ thuật của thơ kháng chiến chống Pháp giai đoạn 1946- 1954

* Đặc điểm 1: Ngôn ngữ thơ kháng chiến là thứ ngôn ngữ gần gũi với tiếng nói hàng ngày của quần chúng nhân dân

1.1 Ngôn ngữ thơ thời kháng chiến chống Pháp giản dị, mang tính khẩu ngữ, giàu chất hiện thực

Trang 33

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

28

Những năm đầu của cuộc kháng chiến, ảnh hưởng của ngôn ngữ thơ lãng mạn còn khá rõ trong sáng tác của một số người cầm bút Người làm thơ chưa từ bỏ được thói quen dùng ngôn ngữ hoa mĩ đài các hay lối tượng trưng ước lệ cầu kì Tuy nhiên chỉ trong thời gian ngắn hiện tượng này đã được khắc phục Ngôn ngữ thơ mộc mạc, giản

dị, đại chúng là xu hướng mà nhiều nhà thơ đã tìm đến và nó sớm trở thành khuynh hướng chủ đạo trong thơ ca giai đoạn này Có thể bắt gặp điều này trong nhiều sáng tác của Nguyễn Đình Thi, Tố Hữu, Hồng Nguyên, Chính Hữu, Hoàng Trung

Thông,… Bài thơ Nhớ của Hồng Nguyên là những lời thơ giản dị như lời ăn tiếng nói

hàng ngày của dân ta:

Lũ chúng tôi Bọn người tứ xứ Gặp nhau hồi chưa biết chữ Quen nhau từ buổi "một hai"

(Nhớ- Hồng Nguyên) Chính Hữu trong bài Đồng chí và những bài thơ tiếp theo cũng là một trường

hợp rất tiêu biểu cho sự chuyển biến theo hướng đưa thơ trở về với đời sống thực tại hàng ngày của quần chúng kháng chiến, tìm chất thơ trong cái giản dị, bình thường

Hoàng Trung Thông cũng với ngôn ngữ đời thường đã đem đến cho thơ kháng chiến hình ảnh đẹp về tình cảm dân quân gắn bó:

Các anh về Mái ấm nhà vui

Trang 34

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

29

Tiếng hát câu cười Rộn ràng xóm nhỏ

(Bao giờ trở lại- Hoàng Trung Thông )

Nguyễn Đình Thi ít chú trọng vần trong thơ vậy mà thơ ông vẫn hồn nhiên

như bản tính của ông Nó chứa đầy chất sống, nó là sự sống, là cuộc đời Ông không

sử dụng những lời lẽ cao siêu, trau chuốt mà sử dụng những từ ngữ thuần Việt, mộc mạc, tự nhiên Thậm chí sử dụng nhiều những thán từ, những lời gọi, lời hỏi có tính chất khẩu ngữ:

“Ôi em!

Chúng ta như hai ngôi sao

Hai đầu chân trời lấp lánh

(Bài thơ viết cạnh đồn Tây- Nguyễn Đình Thi)

Có thể bắt gặp khá phổ biến trong thơ những từ ngữ, cách nói mang tính khẩu ngữ của quần chúng nhất là những so sánh, theo lối ví von:

Mưa phùn ướt áo tứ thân, Mưa bao nhiêu hạt thương bầm bấy nhiêu

(Bầm ơi - Tố Hữu)

Ngôn ngữ thơ thời bấy giờ là gần với tiếng nói hằng ngày, tự nhiên, bình dị, sinh động Tuy đưa ngôn ngữ đời sống vào thơ nhưng các nhà thơ không dung tục hóa thơ Vì vậy ngôn ngữ thơ tuy đơn sơ, mộc mạc mà có khả năng thấm sâu vào hồn người Những câu thơ rất đỗi giản dị song vẫn có thể tạo được một ấn tượng không thể nào phai được trong lòng người đọc

1.2 Từ địa phương cũng được đưa vào trong thơ rất nhuần nhị Thời kháng chiến chống Pháp từ địa phương được đưa vào khá rộng rãi và nhiều trường hợp đã góp phần tạo nên chất liệu hiện thực với sắc thái riêng, độc đáo:

Đồng chí nứ vui vui Đồng chí nứ dạy tôi dăm cái chữ Đồng chí mô nhớ nữa

Kể chuyện Bình Trị Thiên

(Nhớ - Hồng Nguyên)

Trang 35

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

30

Hoặc: Ăn bao nhiêu bữa ―đuối cưa‖

Lều dột bao bận bị mưa ngủ ngồi (Thơ Khuyết danh)

Lối viết này làm cho người đọc cảm nhận được sự gắn bó sâu sắc của các nhà thơ đối với hiện thực cuộc sống và định vị được vùng đất mà tác phẩm nhắc đến

1.3 Nhiều địa danh cũng được đưa vào trong thơ rất sáng tạo Một đặc điểm của ngôn ngữ thơ kháng chiến là việc sử dụng rộng rãi các địa danh Trong thơ Việt Nam chưa bao giờ các địa danh của mỗi vùng, miền lại xuất hiện nhiều và phổ biến như ở thời kỳ này, thậm chí nó dày đặc trong một bài hay một câu thơ, vậy mà hầu như không có trường hợp nào gây ra sự phản cảm cho người đọc Bởi đằng sau những địa danh đó là một vùng đất đai, xứ sở của tổ quốc, là sự chất chứa những vẻ đẹp, những đau thương, cả những kỉ niệm và lòng yêu mến của con người Chẳng hạn:

Quanh co, chen nhau rộn ràng Đồng Xuân Xanh tươi bát ngát Tây Hồ

Hàng Đào ríu rít Hàng Đường, Hàng Bạc, Hàng Gai

(Người Hà Nội – Nguyễn Đình Thi)

Tây Tiến (Quang Dũng) là bài thơ hay về hình ảnh người lính Tây Tiến hành quân gian khổ với tinh thần “chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh” Những địa danh

được Quang Dũng đưa vào bài thơ là những nơi in đậm dấu chân cùng nhiều kỉ niệm của đoàn quân Tây Tiến:

Sông Mã xa rồi, Tây Tiến ơi!

Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi Mường Lát hoa về trong đêm hơi

Đó là những địa danh thân thuộc với nhà thơ Quang Dũng trong bài “Đôi mắt ngày Sơn Tây”

Bao giờ trở lại đông Bương Cấn

Về núi Sài Sơn ngắm lúa vàng Sông Đáy chậm nguồn qua Phủ Quốc

Trang 36

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

31

Sáo diều khuya khoắt thổi đêm trăng

Hoàng Cầm trong Bên kia sông Đuống dày đặc những địa danh ghi dấu một

vùng quê thanh bình trù phú

Chợ Hồ, chợ Sủi người đua chen Bãi Trầm Chỉ người chăng tơ nghẽn lối Những nàng dệt sợi

Đi bán lụa mầu Những người thợ nhuộm Đồng Tỉnh, Huê Cầu Bây giờ đi đâu về đâu?

Bài thơ Tình sông núi của Trần Mai Ninh là một trong những bài thơ mở đầu

cho dòng thơ cách mạng và kháng chiến cũng dày đặc địa danh:

Bồng Sơn dìu dịu như bài thơ

Mờ soi Bình Định trăng mờ Phú Phong rộng

Phú Cát lì

An Khê cao vút

Ngôn ngữ thơ thời kháng chiến có những nét đặc sắc so với ngôn ngữ thơ thời

kì trước Cách mạng So với các thi sĩ Thơ mới thì các nhà thơ thời kì kháng chiến chống Pháp đã đem đến cho thơ ca những cách tân đáng kể trong ngôn ngữ thơ Thơ

ca giai đoạn này dày đặc những từ ngữ thuần Việt, mộc mạc, tự nhiên, bình dị

Đặc điểm 2: Thể thơ trong thơ thời kì kháng chiến cũng đa dạng và phong phú

Các công trình nghiên cứu thơ Việt Nam rất quan tâm tới thể thơ dân tộc Theo Dương Quảng Hàm, thể loại thơ dân tộc gồm truyện (lục bát, lục bát biến thể), ngâm

(song thất lục bát), hát nói (hát ả đào) Trong cuốn ―Lịch sử Văn học Việt Nam‖, GS Nguyễn Đăng Mạnh đã nhận xét về thể thơ thời kì kháng chiến chống Pháp: ―Thơ kháng chiến sử dụng phổ biến các thể thơ có nguồn gốc dân gian, dân tộc, đồng thời phát triển thể thơ tự do‖

2.1 Thể thơ lục bát truyền thống

Trong giai đoạn này, thể thơ lục bát vẫn tiếp tục được các nhà thơ quan tâm và

Trang 37

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

32

sáng tác ―Lục bát giai đoạn này nghiêng về phía ca dao hơn là kế tục truyền thống lục bát cổ điển hay thơ Mới‖ (SGK Ngữ văn) Có thể nói, điển hình và tiêu biểu cho

những nhà thơ sáng tác theo thể thơ lục bát là nhà thơ Tố Hữu

Tố Hữu “là nhà thơ vận dụng thành thực lục bát ca dao‖ Thơ lục bát của ông kết hợp được lục bát cổ điển của bình dân vừa phảng phất lối đối theo từng vế với lục bát của bình dân trong ca dao Với thể thơ này, ông đã thành công ở rất nhiều tác phẩm: Bầm

ơi, Bà bủ, Phá đường và đỉnh cao là bài Vịêt Bắc:

Mình về mình có nhớ ta

Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng

Câu thơ phảng phất hương vị của câu ca dao xưa:

Xa xôi đầu xóm tre xanh

Có bà ru cháu nằm khoanh lòng già Cháu ơi cháu ngủ với bà

Bố mày đi đánh giặc xa cha về

( Cá nước-Tố Hữu)

Những câu thơ lục bát hay nhất của Tố Hữu đã tiếp nối và gắn nối được cái truyền thống của ca dao và thơ ca cổ điển Việt Nam, khai thác triệt để khả năng diễn đạt của câu thơ lục bát trong truyền thống văn học dân tộc để miêu tả cuộc sống kháng chiến một cách sinh động Với việc sử dụng linh hoạt các thể thơ, các nhà thơ thời kì kháng chiến chống Pháp đã thể hiện một cách thật sinh động không khí kháng chiến sục sôi của đất nước trong những ngày chống giặc Pháp xân lược

Trang 38

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

Nguyễn Đình Thi, Tố Hữu, Hồng Nguyên, Trần Mai Ninh, Hữu Loan, Hoàng Cầm, Văn Cao đã có những bài thơ tự do có giá trị về nội dung và nghệ thuật

Có hai nhánh thơ tự do, đó là thơ tổng hợp nhiều thể loại và thơ leo thang Thơ tổng hợp nhiều thể loại là thơ đan xen các thể loại khác nhau như 7 chữ, 4 chữ, lục bát Việc đan xen các thể thơ này có tác dụng tạo nên tiết tấu đa dạng cho bài thơ vừa gần với thói quen cảm thụ của người đọc

―Lá đa lác đác trước lều

Vài ba vết máu loang chiều mùa đông

Chưa bán được một đồng

Mẹ già lại quẩy gánh hàng rong‖

(Bên kia sông Đuống- Hoàng Cầm)

Kiểu thứ hai là thơ leo thang: xuống dòng giữa các câu, không viết hoa đầu câu Các nhà thơ Trần Huyền Trân, Hữu Loan, Trần Dần thường dùng kiểu này:

―Này đây:

Phu phen cực khổ Ngủ với chuột

ăn với ruồi Cha gục xuông đàn con bước nối‖

(Hải Phòng đêm 19- 11- Trần Huyền Trân)

1.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài

1.2.1 Thơ ca thời kì kháng chiến chống Pháp trong chương trình và sách giáo khoa Ngữ văn bậc Trung học

Trang 39

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

34

NĂM SÁNG TÁC

KHỐI

TIẾT THEO PPCT

* Nhận xét

Các tác phẩm thơ thời kì kháng chiến chống Pháp được sắp xếp ở cả hai bậc THCS và THPT Việc sắp xếp này làm nổi bật vai trò của thể loại, đồng thời phù hợp với việc dạy đọc - hiểu, phân tích văn bản theo đặc trưng thể loại

Các tác phẩm được lựa chọn vào chương trình giảng dạy của cả hai bậc học đều tiêu biểu cho đặc điểm nội dung cũng như hình thức nghệ thuật của thơ thời kì kháng chiến chống Pháp (1946- 1954)

Ở giai đoạn đầu, từ năm 1946- 1948, có các tác phẩm: Cảnh khuya, Rằm tháng riêng của chủ tịch Hồ Chí Minh, Đồng chí của Chính Hữu, Tây Tiến của Quang Dũng Giai đoạn sau có các tác phẩm: Đất nước của Nguyễn Đình Thi và ở chặng phát triển cuối cùng có Việt Bắc của Tố Hữu Sự lựa chọn các tác phẩm ở các

giai đoạn khác nhau đã giúp học sinh thấy được toàn bộ diện mạo của thơ thời kì kháng chiến chống Pháp từ buổi đầu cho đến khi kết thức

1.2.2 Giáo viên với việc dạy học thơ thời kì kháng chiến chống Pháp

Chúng tôi đã tiến hành khảo sát việc dạy học thơ kháng chiến chống Pháp tại các địa điểm:

- THCS Phục Linh- xã Phục Linh- huyện Đại Từ- tỉnh Thái Nguyên

- THPT Nguyễn Hụê- huyện Đại Từ- tỉnh Thái Nguyên

Trang 40

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

35

- THPT Đại Từ- huyện Đại Từ- tỉnh Thái Nguyên

- THPT Lương Ngọc Quyến- thành phố Thái Nguyên- tỉnh Thái Nguyên

Chúng tôi thu được kết quảt như sau:

- Về hứng thú dạy học: Các giáo viên giảng dạy môn Ngữ văn đều yêu thích và hứng thú dạy học các tác phẩm thơ kháng chiến chống Pháp trong chương trình sách giáo khoa Ngữ văn bậc Trung học Cô giáo Hương Giang- giáo viên giảng dạy môn Ngữ văn trường THPT Đại Từ- huyện Đại Từ- tỉnh Thái Nguyên đã tâm sự về hứng

thu dạy học những tác phẩm thơ kháng chiến chống Pháp trong bậc THPT: ―Thơ ca kháng chiến chống Pháp trong chương trình sách giáo khoa bậc THPT đa phần là những tác phẩm hay, thể hiện rõ được bức tranh chiến đấu và quyết tâm giành độc lập, tự do cho dân tộc Các tác phẩm thơ đều có sự sáng tạo nghệ thuật độc đáo, thể hiện rõ nội dung tư tưởng chủ để của tác phẩm‖ Trong tổng số 40 phiếu phát ra cho

giáo viên ở các trường khác nhau, chúng tôi thấy có 37 số phiếu giáo viên cho rằng các tác phẩm thơ kháng chiến chống Pháp hay Và đây là một động lực tốt giúp người giáo viên có thể hướng dẫn học sinh cảm nhận được cái hay, cái đẹp của tác phẩm Đồng thời,

các giáo viên đều mong muốn có thể mang ―thuyền văn chảy hết mọi bến bờ‖ để khơi

dạy trong các em hứng thú và tình yêu, lòng say mê đối với môn Ngữ văn nói chung

- Về phương pháp giảng dạy: Sau mấy lần đổi mới về phương pháp dạy học, giáo viên được học về đổi mới về phương pháp Trước đây, phần lớn các giáo viên từ chỗ thuyết trình, học sinh nghe và tiếp thu kiến thức một cách thụ động Thì bây giờ, trên thực tế giảng dạy, chúng tôi nhận thấy, giáo viên đã áp dụng kiểu dạy học nêu vấn đề, phát huy tính tích cực, chủ động của các em trong hoạt động tiếp thu kiến thức của chính mình Hình thức tổ chức hoạt động giữa thầy và trò ngày càng phong phú và linh hoạt trong các giờ giảng Giáo viên sử dụng các hình thức: trao đổi, thảo luận nhóm trong việc dạy các bài thơ thời kì kháng chiến chống Pháp Việc ứng dụng khoa học công nghệ thông tin trong giảng dạy được nhiều giáo viên chú ý quan tâm

Họ thường sưu tầm các tư liệu sát hơn để bài giảng phong phú hấp dẫn hơn

Tuy nhiên, khi trao đổi với nhiều giáo viên về giảng dạy thơ kháng chiến chống Pháp, họ cho biết những khó khăn, vướng vắc trong việc vận dụng phương pháp mới

Cô giáo Lê Thu Hương- trường THPT Đại Từ- huyện Đại Từ- tỉnh Thái Nguyên đã

Ngày đăng: 19/11/2014, 20:01

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Hoàng Hữu Bội,1997, Dạy và học tác phẩm văn học ở trường phổ thông trung học miền núi, Nhà xuất bản giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy và học tác phẩm văn học ở trường phổ thông trung học miền núi
Nhà XB: Nhà xuất bản giáo dục
2. Hoàng Hữu Bội, 2003, bộ sách Thiết kế bài học Ngữ văn theo hướng tích hợp, Nhà xuất bản giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiết kế bài học Ngữ văn theo hướng tích hợp
Nhà XB: Nhà xuất bản giáo dục
3. Hoàng Hữu Bội, 2008, Thiết kế dạy học Ngữ văn 12 (Nâng cao), Nhà xuất bản giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiết kế dạy học Ngữ văn 12 (Nâng cao
Nhà XB: Nhà xuất bản giáo dục
4. Trần Đình Chung, 2006, Thiết kế hệ thống câu hỏi Ngữ văn 6, NxbGD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiết kế hệ thống câu hỏi Ngữ văn 6
Nhà XB: NxbGD
5. Nguyễn Viết Chữ, Phương pháp dạy học tác phẩm văn chương theo loại thể. NXB- ĐHSP, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học tác phẩm văn chương theo loại thể
Nhà XB: NXB- ĐHSP
6. Nguyễn Khắc Đàm - Nguyễn Lê Huân, 2008, Giới thiệu giáo án Ngữ văn 12 - tập II, Nhà xuất bản Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giới thiệu giáo án Ngữ văn 12 - tập II
Nhà XB: Nhà xuất bản Hà Nội
7. Trương Dĩnh, 2005, Thiết kế dạy học Ngữ văn 9 theo hướng tích hợp NxbGD 8. Hà Minh Đức,1998, Nhà văn nói về tác phẩm. NXB Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trương Dĩnh, 2005," Thiết kế dạy học Ngữ văn 9 theo hướng tích hợp" NxbGD 8. Hà Minh Đức,1998, "Nhà văn nói về tác phẩm
Nhà XB: NxbGD 8. Hà Minh Đức
9. Nguyễn Văn Đường, 2008, Thiết kế bài giảng ngữ Văn 12, tập2 , NXB Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiết kế bài giảng ngữ Văn 12, tập2
Nhà XB: NXB Hà Nội
10. Lê Bá Hán - Trần Đình Sử - Nguyễn Khắc Phi, 1998, Từ điển thuật ngữ văn học, NXB Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Nhà XB: NXB Đại học quốc gia Hà Nội
11. Nguyễn Thị Thanh Hương, 2001, Dạy học văn ở trường phổ thông. NXB- ĐHQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy học văn ở trường phổ thông
Nhà XB: NXB- ĐHQG
13. Hướng dẫn thực hiện chương trình, sách giáo khoa Ngữ văn 12, Bộ GD -ĐT, 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn thực hiện chương trình, sách giáo khoa Ngữ văn 12
14. Mã Giang Lân (1995), Thơ Việt Nam (1945-1954), Nxb Giáo dục, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ Việt Nam (1945-1954)
Tác giả: Mã Giang Lân
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1995
15. Mã Giang Lân ( 2004), Tiến trình thơ Việt Nam hiện đại, Nxb Giáo dục, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiến trình thơ Việt Nam hiện đại
Nhà XB: Nxb Giáo dục
16. Phan Trọng Luận, 1999, Đổi mới giờ học tác phẩm văn chương ở trường phổ thông, Sách bồi dưỡng thường xuyên chu kì 1997- 2000 cho giáo viên phổ thông, NXB giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới giờ học tác phẩm văn chương ở trường phổ thông
Nhà XB: NXB giáo dục
17. Phan Trọng Luận, 2008, Thiết kế dạy học Ngữ Văn 12 , NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiết kế dạy học Ngữ Văn 12
Nhà XB: NXB Giáo dục
18. Phong Lê ( chủ biên), Văn học Việt Nam kháng chiến chống Pháp ( 1945- 1954), Nxb Khoa học xã hội, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam kháng chiến chống Pháp ( 1945- 1954)
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
19. Nguyễn Văn Long (2003), Văn học Việt Nam trong thời đại mới, Nxb Giáo dục, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam trong thời đại mới
Tác giả: Nguyễn Văn Long
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2003
20. Hoàng Nhƣ Mai (1961), Văn học Việt Nam 1945-1960, Nxb Giáo dục, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam
Tác giả: Hoàng Nhƣ Mai
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1961
21. Nguyễn Đăng Mạnh chủ biên, 2004, “Lịch sử Văn học Việt Nam‖- Tập 3, Nxb Đại học sƣ phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Văn học Việt Nam‖-
Nhà XB: Nxb Đại học sƣ phạm
22. Nguyễn Kim Phong, 2008, Kĩ năng đọc - hiểu văn bản Ngữ Văn 12, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kĩ năng đọc - hiểu văn bản Ngữ Văn 12
Nhà XB: NXB Giáo dục

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w