1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu mức độ tồn dư hợp chất họ Clo trong môi trường đất tại một số khu vực kho chứa hóa chất bảo vệ thực vật trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên

108 399 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 108
Dung lượng 2,78 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM ---***--- DƯƠNG THỊ YẾN NGHIÊN CỨU MỨC ĐỘ TỒN DƯ HỢP CHẤT HỌ CLO TRONG MÔI TRƯỜNG ĐẤT TẠI MỘT SỐ KHU VỰC KHO CHỨA HÓA CHẤT BẢO VỆ THỰC VẬT

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

-*** -

DƯƠNG THỊ YẾN

NGHIÊN CỨU MỨC ĐỘ TỒN DƯ HỢP CHẤT HỌ CLO TRONG MÔI TRƯỜNG ĐẤT TẠI MỘT SỐ KHU VỰC KHO CHỨA HÓA CHẤT BẢO VỆ THỰC VẬT TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THÁI NGUYÊN

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG

Thái nguyên - năm 2013

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

-*** -

DƯƠNG THỊ YẾN

NGHIÊN CỨU MỨC ĐỘ TỒN DƯ HỢP CHẤT HỌ CLO TRONG MÔI TRƯỜNG ĐẤT TẠI MỘT SỐ KHU VỰC KHO CHỨA HÓA CHẤT BẢO VỆ THỰC VẬT TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THÁI NGUYÊN

Chuyên ngành : Khoa học Môi trường

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Bản luận văn tốt nghiệp này là công trình nghiên cứu thực

sự của cá nhân tôi, được thực hiện trên cơ sở nghiên cứu lý thuyết, nghiên cứu

khảo sát và phân tích từ thực tiễn dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS TS Đỗ Thị Lan

Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn này là hoàn toàn trung thực, phần trích dẫn tài liệu tham khảo đều được ghi rõ nguồn gốc

Thái Nguyên, ngày 12 tháng 12 năm 2013

Người viết cam đoan

Dương Thị Yến

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận được sự dạy bảo tận tình của các thầy cô, sự giúp đỡ của các bạn đồng nghiệp, sự động viên to lớn của gia đình và những người thân

Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tôi xin chân thành cảm ơn PGS

TS Đỗ Thị Lan cùng những thầy, cô trong Khoa Tài nguyên và Môi trường -

Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên đã tận tâm hướng dẫn, giúp đỡ động viên tôi học tập, nghiên cứu khoa học và thực hiện luận văn, đã dìu dắt tôi từng bước trưởng thành trong chuyên môn cũng như trong cuộc sống

Xin chân thành cảm ơn Chi cục Bảo vệ môi trường, Trung tâm Quan trắc và Công nghệ môi trường – Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Thái Nguyên đã cho tôi sử dụng số liệu để hoàn thành luận văn

Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban lãnh đạo UBND thành phố Thái Nguyên, Phòng Quản lý đô thị thành phố Thái Nguyên cùng tập thể anh chị em đồng nghiệp đã tạo mọi điều kiện thuận lợi để giúp tôi hoàn thành luận văn này

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên, ngày 12 tháng 12 năm 2013

Tác giả luận văn

Dương Thị Yến

Trang 5

MỤC LỤC

1.1.2.3 Độc tính của một số hoá chất hoá chất bảo vệ thực vật điển hình 09 1.1.2.4 Con đường phát tán của hoá chất bảo vệ thực vật trong môi trường 15 1.1.2.5 Tác động của hoá chất bảo vệ thực vật đến môi trường 16 1.1.2.6 Tác động của thuốc bảo vệ thực vật đến sức khỏe con người 18

1.1.3.2 Tình hình quản lý và sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật ở Việt Nam 21 1.1.3.3 Tình hình quản lý và sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật trên địa bàn tỉnh

Chương 2: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 35

Trang 6

2.4.1 Phương pháp thu thập, tổng hợp, phân tích và xử lý tài liệu, số liệu 36

2.4.3 Phương pháp phỏng vấn trực tiếp lãnh đạo và người dân 36 2.4.4 Phương pháp quan trắc, khảo sát thực địa, lấy mẫu đất 37 2.4.5 Phương pháp phân tích trong phòng thí nghiệm 47

3.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội tỉnh Thái Nguyên 48

3.2.5 Hiện trạng điểm tồn lưu hoá chất bảo vệ thực vật tại xã Thịnh Đức, thành

3.3 Đánh giá mức độ tồn dư các hợp chất họ clo trong môi trường đất tại một 62

Trang 7

số kho chứa hoá chất hoá chất cũ trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên

3.3.1 Đánh giá mức độ tồn lưu các hợp chất họ clo trong môi trường đất tại kho hoá chất bảo vệ thực vật của Trạm vật tư nông nghiệp huyện Phú Bình cũ 62 3.3.2 Đánh giá mức độ tồn lưu các hợp chất họ clo trong môi trường đất tại kho hoá chất bảo vệ thực vật của Trạm vật tư nông nghiệp huyện Đồng Hỷ cũ 65 3.3.3 Đánh giá mức độ tồn lưu các hợp chất họ clo trong môi trường đất tại kho hoá chất bảo vệ thực vật của Trạm vật tư nông nghiệp huyện Định Hoá cũ 68 3.3.4 Đánh giá mức độ tồn lưu các hợp chất họ clo trong môi trường đất tại kho hoá chất bảo vệ thực vật của Trạm vật tư nông nghiệp huyện Phổ Yên cũ 71 3.3.5 Đánh giá mức độ tồn lưu các hợp chất họ clo trong môi trường đất tại điểm tồn lưu xã Thịnh Đức, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên 75 3.4 Ảnh hưởng của kho chứa hoá chất bảo vệ thực vật đến cộng đồng dân cư xung quanh qua công tác thu thập thông tin bằng phiếu điều tra 77 3.4.1 Thông tin về ảnh hưởng của hoá chất bảo vệ thực vật tồn lưu đến môi

3.4.1.3 Thông tin về mức độ ảnh hưởng của hoá chất bảo vệ thực vật đến môi

3.4.2 Thông tin về mức độ ảnh hưởng của hoá chất bảo vệ thực vật đến đời

3.5 Xây dựng phương án xử lý ô nhiễm hoá chất bảo vệ thực vật tại khu vực

3.5.1 Lựa chọn công nghệ xử lý hoá chất bảo vệ thực vật 81

3.5.3 Hiện trạng ô nhiễm hoá chất bảo vệ thực vật tại khu vực đề xuất xử lý 82

3.5.5 Xử lý đất bị ô nhiễm hóa chất bảo vệ thực vật theo phương án đã chọn 85

Trang 8

- POP: Chất hữu cơ khó phân hủy

- QCVN: Quy chuẩn Việt Nam

- QĐ-TTg: Quyết định - Thủ tướng chính phủ

- TCVN: Tiêu chuẩn Việt Nam

- TT-BNNPTNT: Thông tư - Bộ Nông nghiệp phát triển nông thôn

- WHO: World Health Organization - Tổ chức y tế thế giới

Trang 9

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1 Phân loại hóa chất nông nghiệp theo độ độc hại của WHO 7

Bảng 1.3 Lượng thuốc bảo vệ thực vật được sử dụng ở Việt Nam từ năm 1990 -

Bảng 1.4 Số lượng thuốc bảo vệ thực vật được kinh doanh trên địa bàn tỉnh

Bảng 2.1 Thông tin mẫu đất lấy tại các khu vực nghiên cứu 39

Bảng 3.6 Kết quả phân tích dư lượng thuốc bảo vệ thực vật trong môi trường

đất tại kho hoá chất bảo vệ thực vật của Trạm vật tư nông nghiệp huyện Đồng

Hỷ cũ

65

Bảng 3.7 Kết quả phân tích dư lượng thuốc hoá chất bảo vệ thực vật trong môi

trường đất tại kho hoá chất bảo vệ thực vật của Trạm vật tư nông nghiệp huyện

Định Hoá cũ

69

Bảng 3.8 Kết quả phân tích dư lượng thuốc bảo vệ thực vật trong môi trường

đất tại kho hoá chất bảo vệ thực vật của Trạm vật tư nông nghiệp huyện Phổ

Yên cũ

72

Bảng 3.9 Kết quả phân tích dư lượng thuốc bảo vệ thực vật trong môi trường

đất tại điểm tồn lưu xã Thịnh Đức, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên 75 Bảng 3.10 Tổng hợp phiếu đánh giá mức độ ảnh hưởng của kho hoá chất bảo

vệ thực vật tới môi trường xung quanh các khu vực nghiên cứu 79 Bảng 3.11 Kết quả phân tích dư lượng hoá chất bảo vệ thực vật trong môi

trường đất tại khu vực ô nhiễm hoá chất bảo vệ thực vật xóm Na Long, xã Hóa 83

Trang 10

DANH MỤC HÌNH

Hình 1.1 Con đường phát tán của hoá chất bảo vệ thực vật trong môi trường 15 Hình 1.2 Con đường duy chuyển của hoá chất bảo vệ thực vật trong môi trường đất 17 Hình 1.3 Kho thuốc sâu của nông trường chè Phú Lương hiện bỏ hoang, kho hoá chất bảo vệ thực vật tại xã Úc Kỳ, huyện Phú Bình hiện được sử dụng làm trường mầm non 27 Hình 1.4 Kho hoá chất bảo vệ thực vật của Công ty Vật tư Bảo vệ thực vật Thái

Hình 3.4 Sơ đồ mô tả điểm tồn lưu hoá chất bảo vệ thực vật (xóm Na Long, xã

Hình 3.5 Vườn vải nhà ông Phạm Văn Tứ, xóm Na Long - Hoá Trung - Đồng Hỷ 58 Hình 3.6 Sơ đồ mô tả điểm tồn lưu hoá chất bảo vệ thực vật (Khu chợ Quán

Hình 3.7 Ảnh mô tả điểm tồn lưu hoá chất bảo vệ thực vật (Khu chợ Quán

Hình 3.8 Sơ đồ tả điểm tồn lưu hoá chất bảo vệ thực vật (Xóm Thành Lập, xã

Hình 3.9 Sơ đồ mô tả khu vực tồn dư hóa chất (kho thuốc hoá chất bảo vệ thực vật cũ) Xóm Mới, xã Thịnh Đức, thành phố Thái Nguyên 61 Hình 3.10 Khu vực tồn dư hoá chất bảo vệ thực vật tại xóm Mới, xã Thịnh Đức, thành phố Thái Nguyên (kho thuốc hoá chất bảo vệ thực vật cũ) 61

Trang 11

Hình 3.11 Biểu đồ dư lượng hoá chất bảo vệ thực vật trong môi trường đất tại Khu trung chuyển của Trạm vật tư nông nghiệp huyện Phú Bình cũ (Đợt 1) 63 Hình 3.12 Biểu đồ dư lượng hoá chất bảo vệ thực vật trong môi trường đất tại kho hoá chất bảo vệ thực vật của Trạm vật tư nông nghiệp huyện Phú Bình cũ (Đợt 2) 64 Hình 3.13 Biểu đồ dư lượng hoá chất bảo vệ thực vật trong môi trường đất tại kho hoá chất bảo vệ thực vật của Trạm vật tư nông nghiệp huyện Đồng Hỷ cũ (Đợt 1) 67 Hình 3.14 Biểu đồ dư lượng hoá chất bảo vệ thực vật trong môi trường đất tại kho hoá chất bảo vệ thực vật của Trạm vật tư nông nghiệp huyện Đồng Hỷ cũ (Đợt 2) 68 Hình 3.15 Biểu đồ dư lượng hoá chất bảo vệ thực vật trong môi trường đất tại kho hoá chất bảo vệ thực vật của Trạm vật tư nông nghiệp huyện Định Hóa cũ (Đợt 1) 70 Hình 3.16 Biểu đồ dư lượng hoá chất bảo vệ thực vật trong môi trường đất tại kho hoá chất bảo vệ thực vật của Trạm vật tư nông nghiệp huyện Định Hóa cũ (Đợt 2) 71 Hình 3.17 Biểu đồ dư lượng hoá chất bảo vệ thực vật trong môi trường đất tại Khu trung chuyển của Trạm vật tư nông nghiệp huyện Phổ Yên cũ (Đợt 1) 73 Hình 3.18 Biểu đồ dư lượng hoá chất bảo vệ thực vật trong môi trường đất tại kho HC BVTV của Trạm vật tư nông nghiệp huyện Phổ Yên cũ (Đợt 2) 74 Hình 3.19 Biểu đồ dư lượng hoá chất bảo vệ thực vật trong môi trường đất tại điểm tồn lưu xã Thịnh Đức, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên (Đợt 1) 76 Hình 3.20 Biểu đồ dư lượng hoá chất bảo vệ thực vật trong môi trường đất tại điểm tồn lưu xã Thịnh Đức, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên (Đợt 2) 77 Hình 3.21 Biểu đồ đánh giá mức độ ảnh hưởng của kho hoá chất bảo vệ thực vật

Hình 3.22 Bản vẽ mặt bằng bể xử lý đất ô nhiễm hoá chất bảo vệ thực vật 87 Hình 3.23 Bản vẽ mặt cắt bể xử lý đất ô nhiễm hoá chất bảo vệ thực vật 88 Hình 3.24 Mặt cắt ngang ô bố trí ống dẫn hóa chất xử lý 90 Hình 3.25 Mặt cắt dọc ô bố trí ống dẫn hóa chất xử lý 90

Trang 12

MỞ ĐẦU

1 Đặt vấn đề

Việt Nam đang trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước với mục tiêu phấn đấu đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại Tuy nhiên, cùng với quá trình tăng trưởng kinh tế, Việt Nam đang phải đối mặt với nhiều thách thức lớn như suy thoái đất, ô nhiễm không khí, ô nhiễm nguồn nước, suy giảm diện tích rừng và đa dạng sinh học Trong đó, ô nhiễm môi trường do hoá chất bảo vệ thực vật (BVTV) tồn lưu gây ra đang trở lên nghiêm trọng, việc quản

lý sử dụng hoá chất BVTV không hợp lý đang gây tác động không nhỏ, ảnh hưởng kéo dài đến môi trường và sức khỏe cộng đồng Đặc biệt, trong thời kỳ kinh tế kế hoạch hóa tập trung, một lượng lớn hóa chất BVTV có độc tính cao, bền vững trong môi trường, rất khó phân hủy như DDT, Lindan, Hecxanclobenzen (thuốc 666), Aldrin, Heptalo, Endrin… đã được sử dụng tại Việt Nam Đây là những chất nằm trong nhóm

9 hóa chất BVTV trên tổng số 12 chất hữu cơ khó phân hủy (POP) đã bị cấm sử dụng tại Việt Nam theo yêu cầu của Công ước Stockhom

Theo số liệu thống kê chưa đầy đủ, trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên có 13 khu vực kho chứa hoá chất BVTV đã dừng hoạt động nằm rải rác khắp các địa phương của tỉnh Các khu vực này hầu hết không còn lưu giữ được các hồ sơ liên quan và chưa được khảo sát điều tra đánh giá mức độ ô nhiễm

Ngoài những khu vực tồn lưu ô nhiễm hóa chất BVTV đã biết, còn rất nhiều địa điểm chưa được phát hiện, thống kê và đánh giá mức độ ô nhiễm Theo ước tính, tổng số khu vực ô nhiễm hóa chất BVTV có thể vào khoảng 20 - 25 vị trí trên địa bàn toàn tỉnh Các kho tồn lưu hóa chất BVTV trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên có số lượng lớn, rải rác trên địa bàn, chủ yếu là kho tạm, hầu hết được xây dựng từ những năm 1980 trở

về trước, khi xây dựng chưa quan tâm đến việc xử lý, kết cấu nền móng nên việc ô nhiễm đất tại các kho thuốc này là điều không thể tránh khỏi Hơn nữa, các kho này hiện nay không còn hồ sơ lưu trữ và thông tin về các khu vực này cũng hết sức hạn chế Một thực tế cho thấy, do thiếu thông tin và nhận thức về sự nguy hiểm của hoá chất

Trang 13

BVTV còn rất hạn chế nên hầu hết các khu vực hóa chất BVTV trước đây đã trở thành các công trình công cộng, ruộng canh tác thậm chí là đất ở của người dân

Xuất phát từ thực tiễn trên, tôi thực hiện đề tài “Nghiên cứu mức độ tồn dư hợp

chất họ clo trong môi trường đất tại một số khu vực kho chứa hóa chất bảo vệ thực vật trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên” với mục đích phát hiện và khoanh vùng, đánh giá

mức độ ô nhiễm các khu vực tồn lưu hóa chất BVTV và đề ra các phương án xử cho khu vực có mức độ tồn lưu cao nhất

2 Mục tiêu nghiên cứu

- Đánh giá mức độ tồn dư hợp chất họ clo trong môi trường đất tại 05 khu vực kho chứa hoá chất BVTV cũ trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên

- Đánh giá ảnh hưởng của kho chứa hóa chất BVTV đến cộng đồng dân cư xung quanh khu vực nghiên cứu

- Đề xuất giải pháp nhằm xử lý ô nhiễm hóa chất BVTV tại khu vực có mức độ tồn lưu cao nhất

3 Ý nghĩa của đề tài

- Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học:

+ Nâng cao kiến thức, kỹ năng và rút ra nhiều kinh nghiệm thực tế phục vụ cho công tác sau này

+ Vận dụng và phát huy được các kiến thức đã học tập và nghiên cứu…

- Ý nghĩa trong thực tiễn:

Nghiên cứu mức độ tồn dư các hợp chất cơ clo trong môi trường đất ở một số khu vực kho chứa hóa chất bảo vệ thực vật trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên với mục đích phát hiện và khoanh vùng, đánh giá mức độ ô nhiễm các khu vực tồn lưu hóa chất BVTV và đề xuất phương án xử cho khu vực có mức độ tồn lưu cao nhất

Trang 14

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 1.1 Cơ sở khoa học của đề tài

- Nghị định 21/2008/NĐ-CP ngày 28 tháng 2 năm 2008 của Chính phủ sửa đổi,

bổ sung một số điều của Nghị định số 80/2006/NĐ-CP ngày 9 tháng 8 năm 2006 về việc quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo vệ môi trường

- Nghị định số 117/2009/NĐ-CP ngày 31 tháng 12 năm 2009 của Chính phủ về

xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ môi trường

- Chỉ thị số 29/1998/CT-TTg ngày 25 tháng 08 năm 1998 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường công tác quản lý việc sử dụng thuốc BVTV và các chất hữu cơ độc hại khó phân hủy

- Điều lệ Quản lý thuốc BVTV (Ban hành kèm theo nghị định số 58/2002/NĐ-CP ngày 3/6/2002) của Chính phủ;

- Quyết định số 184/2006/QĐ-TTg ngày 10 tháng 8 năm 2006 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt kế hoạch quốc gia thực hiện công ước Stockholm về các chất ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy;

- Công văn số 2975/BKHCN & MT-MTg ngày 18 tháng 11 năm 1998 của Bộ trưởng Bộ KHCN&MT về việc điều tra đánh giá các chất ô nhiễm hữu cơ khó phân huỷ ở Việt Nam và ảnh hưởng của chúng đến môi trường

Trang 15

- Công văn số 3923/VPCP – NN ngày 17 tháng 7 năm 2002 của Văn phòng chính phủ về việc xử lý thuốc bảo vệ thực vật tồn đọng cần tiêu huỷ;

- Công văn số 78/Mtg – Ks ngày 15 tháng 8 năm 2002 của Cục môi trường về việc xử lý thuốc bảo vệ thực vật tồn đọng;

- Quyết định số 1780/QĐ-UBND ngày 28 tháng 7 năm 2009 của Ủy ban nhân dân tỉnh Thái nguyên về việc phê duyệt đề cương dự án Điều tra đánh giá thực trạng ô nhiễm các các khu vực tồn lưu hoá chất bảo vệ thực vật tỉnh Thái Nguyên;

- Quyết định số 1946/QĐ-TTg ngày 21 tháng 10 năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ Quyết định phê duyệt Kế hoạch xử lý, phòng ngừa ô nhiễm môi trường do hóa chất bảo vệ thực vật tồn lưu trên phạm vi cả nước;

- Quyết định số 2537/QĐ-BTNMT ngày 30 tháng 12 năm 2010 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành chương trình của bộ tài nguyên và môi trường triển khai Quyết định số 1946/QĐ-TTg ngày 21 tháng 10 năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ về “Kế hoạch xử lý, phòng ngừa ô nhiễm môi trường do hóa chất bảo vệ thực vật tồn lưu trên phạm vi cả nước” giai đoạn 2010 - 2015

- Thông tư số 10/2012/TT-BNNPTNT ngày 22 tháng 02 năm 2012 của Bộ Nông nghiệp phát triển nông thôn về việc ban hành Danh mục thuốc bảo vệ thực vật được phép sử dụng, hạn chế sử dụng, cấm sử dụng ở Việt Nam

- Thông tư số - 02 tháng 05 năm 2012 Sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 10/2012/TT-BNNPTNT ngày 22 tháng 2 năm 2012

- Thông tư số 22/2012/TT-BNNPTNT ngày 5 tháng 6 năm 2012 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 10/2012/TT-BNNPTNT ngày 22 tháng 2 năm 2012

- Thông tư 54/2012/TT-BNNPTNT ngày 30 tháng 10 năm 2012 về việc sửa đổi,

bổ sung một số nội dung của Thông tư số 10/2012/TT-BNNPTNT và Thông tư số 22/2012/TT-BNNPTNT

- Thông tư số 03/2013/TT-BNNPTNT ngày 11 tháng 01 năm 2013 của Bộ Nông

nghiệp phát triển nông thôn quy định về Quản lý thuốc bảo vệ thực vật

Trang 16

1.1.2 Cơ sở lý luận

1.1.2.1 Khái niệm về hóa chất BVTV

Hóa chất BVTV là những hợp chất độc nguồn gốc tự nhiên hoặc tổng hợp hóa học được dùng để phòng và trừ sâu, bệnh, cỏ dại, chuột… hại cây trồng và nông sản (được gọi chung là sinh vật gay hại cho cây trồng) Hóa chất BVTV gồm nhiều nhóm khác nhau, gọi theo tên nhóm sinh vật hại, như thuốc trừ sâu dùng để trừ sâu hại, thuốc trừ bệnh dùng để trừ bệnh cây… trừ một số trường hợp còn nói chung mỗi nhóm thuốc chỉ

có tác dụng đối với sinh vật gây hại thuộc nhóm đó Hóa chất BVTV nhiều khi còn gọi

là thuốc trừ hại (pesticide) và khái niệm này bao gồm cả thuốc trừ các loại ve, rệp hại vật

nuôi và trừ côn trùng hại cây, thuốc điều hòa sinh trưởng cây trồng

1.1.2.2 Phân loại hóa chất BVTV

Có nhiều cách để phân loại hóa chất BVTV, một số cách phổ biến như sau:

1.1.2.2.1 Theo đối tượng phòng trừ

- Thuốc trừ sâu: là những thuốc phòng trừ các loại côn trùng gây hại cây trồng, nông sản, gia súc, con người

- Thuốc trừ bệnh: là những thuốc phòng trừ các loài vi sinh vật gây bệnh cho cây (nấm, vi khuẩn, tuyến trùng)

- Thuốc trừ cỏ: là những thuốc phòng trừ các loài thực vật, rong, tảo, mọc lẫn với cây trồng, làm cản trở đến sinh trưởng cây trồng

- Thuốc trừ chuột: là những thuốc dùng phòng trừ chuột và các loại gậm nhấm khác

- Thuốc trừ nhện: là những thuốc chuyên dùng phòng trừ các loài nhện hại cây trồng Ngoài ra còn có các loại thuốc trừ tuyến trùng, thuốc trừ ốc sên, thuốc điều tiết sinh trưởng cây trồng (còn gọi là thuốc kích thích sinh trưởng), …

1.1.2.2.2 Phân loại theo gốc hóa học

- Nhóm Clo hữu cơ: trong thành phần hóa học có chất Clo (Cl), là những dẫn xuất clorobenzen (DDT), cyclohexan (BHC) hoặc dẫn xuất đa vòng (aldrin, dieldrin) Nhóm này có độ độc cấp tính thấp nhưng tồn lưu lâu trong cơ thể người, động vật và môi

Trang 17

trường, gây độc mãn tính nên nhiều sản phẩm đã bị hạn chế và cấm sử dụng Các chất điển hình là DDT, Aldin, Lindan, Thiordan, Heptaclor, [1]

- Nhóm Lân hữu cơ: là những dẫn xuất của axit photphoric Nhóm này có thời gian bán phân hủy trong môi trường tự nhiên nhanh hơn nhóm clo hữu cơ Các chất điển hình là Monocrotophos, Clorphenphot, Clorophos, Malathion, Acephat

- Nhóm Carbamate: là dẫn xuất của axit Carbamat tác dụng như lân hữu cơ ức chế men cholinesterase, hóa chất thuộc nhóm này thường ít bền vững trong môi trường tự nhiên nhưng lại có độc tính rất cao với người và độc vật Thuộc nhóm này gồm có Padan, Furadan, Bassa,

- Nhóm Pyrethroide và pyrethrum (Cúc tổng hợp): là nhóm thuốc tổng hợp dựa

vào cấu tạo chất Pyrethrin có trong hoa của cây Cúc sát trùng Hoạt chất này có tác dụng nhanh, phân hủy dễ dàng, ít gây độc cho người và gia súc Các chất điển hình như: Sherpa, Permethrin, Cypermethrin

- Nhóm thuốc chứa các kim loại nặng (KLN): Các hợp chất hữu cơ được gắn thêm các KLN vào Nhóm này tác động trực tiếp vào hệ thành kinh hoặc ngấm vào màng tế bào làm tế bào ngừng hoạt động Khi phân giải, các KLN lại được giải phóng

và lại một lần nữa gây độc, tiêu diệt tiếp côn trùng vừa được phục hồi

- Nhóm thuốc trừ sâu sinh học: thường tập trung ở ba nhóm vi khuẩn, vi nấm, virus, điển hình là Bacillus Thuringensic (BT) [1]

1.1.2.2.3 Theo tính độc của hóa chất BVTV

- Độ độc cấp tính: thuốc xâm nhập vào cơ thể gây nhiễm độc tức thời gọi là nhiễm độc cấp tính Độ độc cấp tính của thuốc được biểu thị qua liều gây chết trung bình, viết tắt là LD50 (Letal dosis), tức là liều thuốc ít nhất có thể gây chết cho 50% số cá thể vật thí nghiệm (thường là chuột), được tính bằng mg hoạt chất/kg trọng lượng cơ thể

Trang 18

- Độ độc mãn tính: nhiều loại thuốc có khả năng tích lũy trong cơ thể người và động vật máu nóng, gây đột biến tế bào, kích thích tế bào khối u ác phát triển, gây bệnh ung thư [5]

1.1.2.2.4 Theo độ bền của thuốc đối với khả năng phân hủy

- Rất bền (thời gian phân hủy thành các hợp phần không độc >2 năm)

- Bền (6 tháng đến 24 tháng)

- Tương đối bền (<6 tháng)

- Ít bền (thời gian phân hủy dưới 1 tháng)

Bền nhất là nhóm clo hữu cơ

1.1.2.2.5 Phân loại hóa chất BVTV theo nhóm độc

Bảng 1.1 Phân loại hóa chất nông nghiệp theo độ độc hại của WHO[1]

Biểu tượng nhóm

độc

Độc cấp tính bằng LD 50 (chuột nhà) mg/kg

Thể rắn

Thể lỏng

Thể rắn

Thể lỏng

Trang 19

Bảng 1.2 Phân chia nhóm độc của Việt Nam [1]

Độc tính LD 50 qua miệng (mg/kg)

màu xanh nước biển)

Vạch đen không liên tục trên

Ở nước ta, tạm thời theo cách phân nhóm độc của WHO và lấy căn cứ chính là liều

LD50 qua miệng (chuột), phân chia thành 3 nhóm độc là nhóm I (rất độc, gồm cả Ia và Ib), nhóm II (độc cao), nhóm III (ít độc) Theo quy định hiện nay chỉ có 3 nhóm độc (bảng 2)

1.1.2.2.6 Theo dạng hóa chất BVTV

Hóa chất BVTV thường có hai dạng chính là thuốc kỹ thuật và thuốc thành phẩm:

- Thuốc kỹ thuật (thuốc nguyên chất): là thuốc mới qua công nghệ chế tạo ra, có hàm lượng chất độc cao, dùng làm nguyên liệu gia công các loại thuốc thành phẩm

- Thuốc thành phẩm (thuốc thương phẩm): là thuốc được gia công từ thuốc kỹ thuật, có tiêu chuẩn chất lượng, tên và nhãn hiệu hàng hóa được phép lưu thông và sử dụng Thuốc có hàm lượng chất độc thấp, có thêm chất phụ gia để dễ sử dụng [7] Dạng thành phẩm gồm có:

+ Dạng dung dịch, thường có các ký hiệu: DD, L, SL, AS, SC

+ Dạng nhũ dầu, ký hiệu là: ND, E hoặc EC

+ Dạng huyền phù, ký hiệu là: HP, AS, F hoặc FL, FC, SC

+ Dạng bột thấm nước, thường có các ký hiệu là: BTN, BHN, WP

Dạng bột hòa tan, thường có ký hiệu: SP

Dạng thuốc hạt, có ký hiệu: H, G hoặc GR

Ngoài các dạng thuốc phổ biến trên, còn có một số dạng và ký hiệu như:

Trang 20

AC: Dung dịch đặc OD: Huyền phù trong dầu

DF: Huyền phù khô SD: Hạt tan trong nước

Thuốc trừ sâu DDT là chữ viết tắt tiếng Anh của hoá chất Dichlo - Dibenzen - Trichlothan, được phát minh năm 1872 DDT có tính năng trừ sâu rất tốt, dùng để diệt các loài sâu phá hoại lương thực, cây ăn quả, rau xanh và các loài côn trùng gây bệnh DDT còn được biết đến với các tên thương mại Anfex, Arkotin, Dicofol, Genitox, Ixodex, Neoxid, Pentachlorin, Peprothion DDT ở dạng bột trắng hay xám nhạt, không tan trong nước, rất tan trong cychlorhexanon, tan ít hơn trong xylen và aceton, ít tan trong dầu hoả [17]

Tính chất của DDT khá ổn định, có hiệu quả lâu dài, hơn nữa DDT không dễ hoà tan trong nước (sau khi phun thuốc không bị nước mưa rửa sạch) cho nên về kinh tế, nó

đã thể hiện tính ưu việt so với các loài thuốc trừ sâu khác Bắt đầu từ năm 1943 thuốc trừ sâu DDT đã được sử dụng rộng rãi với số lượng lớn trên toàn thế giới

* Độc tính với con người:

Liều gây độc đối với người là 30 gam DDT có tác dụng tích luỹ, có tính độc thần kinh, phá hủy sự cân bằng muối và kali trong sợi trục tế bào thần kinh, ngăn cản sự dẫn

Trang 21

truyền thần kinh Tuy nhiên khoảng cách an toàn giữa nồng độ diệt được côn trùng và liều gây độc cho người khá lớn

- Độc tính cấp:

Theo phân loại của Tổ chức sức khoẻ thế giới (WHO), DDT có độc tính trung bình Đường xâm nhập chủ yếu của DDT là qua hô hấp, tiêu hoá và qua da, hiếm gặp nhiễm độc gây tử vong ở người Liều nhỏ DDT gây rối loạn tiêu hoá (nôn, tiêu chảy) kèm theo nhức đầu, suy nhược, lo lắng, mất trí nhớ Các biểu hiện thần kinh chủ yếu ở các chi: giảm cảm giác sờ mó, vô cảm ngoài da, chuột rút, dị cảm, giật cơ Ở liều cao hơn, có thể gây co giật liên tục và tử vong [17]

- Độc tính mãn:

DDT có thể gây ung thư Trong các thực nghiệm trên động vật, DDT và chất chuyển hoá của nó đã được chứng minh gây khối u ở phổi và gan động vật thí nghiệm DDT làm giảm số lượng tinh trùng, hạ thấp tỷ lệ sinh sản ở người và động vật, còn gây

đẻ non, sảy thai và trẻ sơ sinh nhẹ cân

Tác hại do phơi nhiễm lâu dài với DDT là tổn thương gan, thoái hoá hệ thần kinh trung ương, viêm da, suy nhược Tác hại của DDT đặc biệt nghiêm trọng với những người tiếp xúc thường xuyên (ví dụ như công nhân sản xuất trực tiếp)

Thực tế ở các tồn lưu (ví dụ như khu vực Núi Căng, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên) đã ghi nhận nhiều trường hợp những người dân trực tiếp tham gia đục phá các thùng chứa, đào đất nhiễm về vãi ruộng bị mắc các chứng rối loạn da (nứt nẻ, chảy nước vàng), ung thư gan, mất trí nhớ [18]

* Lan truyền và ảnh hưởng đến môi trường:

Với đặc tính khó phân giải trong môi trường, DDT có thể tồn lưu trong đất hàng chục năm Từ ô nhiễm đất tất yếu sẽ dẫn tới ô nhiễm hồ ao, sông ngòi do lan truyền qua nước mưa

DDT tồn tại trong môi trường, qua sinh vật tích luỹ và thông qua các chuỗi thức

ăn, có thể được phóng đại và khuếch tán có tính nguy hại rất lớn đối với con người và

Trang 22

các loài sinh vật khác DDT phá hoại sự hấp thụ và đào thải bình thường đối với chất Canxi, khiến cho vỏ trứng mỏng hơn, dễ vỡ và làm cho trứng không nở thành chim non DDT phá hoại môi trường và sinh thái ở mức độ rất lớn Bắt đầu từ những năm 60 của thế kỷ XX, rất nhiều nước đã cấm sử dụng thuốc trừ sâu DDT

1.1.2.3.2 HCH (666) và Lindan

* Đặc điểm:

Tên chung: BHC (Benzene hexachloride)

- HCH (666): Hexachlorcychlorhexane

- Lindan: tên chung của 99% đồng phân gamma HCH

Tên thương mại:

- HCH (666): Benzex, Denzex, Dolmox, Hexafur, Hexyclan, Kotol, Submar.v.v

- Lindan: Exaggama, Forlin, Gammex, Inexit, Isotox Lindanrgam, Lindanlo, Bovigam,

HCH (666) là bột trắng mùi sốc, không tan trong nước, dễ tan trong cồn, benzen aceton, xylen, dầu hoả Sản phẩm thương nghiệp là hỗn hợp 5 đồng phân, trong đó đồng phân gamma, hay lindan, còn gọi là gammexan, không vị, không mùi [17]

* Độc tính với con người:

- Độc tính cấp:

Theo cấp phân loại của WHO, HCH và Lindan có độc tính vừa (II)

Đường hấp thu chủ yếu của lindan và các đồng phân khác của HCH là đường hô hấp, tiêu hoá và qua da Tác động chủ yếu do phơi nhiễm với lindan là kích thích hệ thần kinh gây co giật Các dấu hiệu và triệu chứng của nhiễm độc lindan và HCH từ nhẹ đến vừa là: chóng mặt, buồn nôn, đau dạ dày, nôn, suy yếu, dễ kích thích, lo âu và

dễ cáu giận ở thể nhiễm độc nặng hơn có thể gây giật cơ, có giật, khó thở Tiếp xúc với da có thể thấy phát ban

- Độc tính mãn:

+ Gây ung thư, gây quái thai và giảm tỷ lệ sinh sản

Trang 23

+ Tác hại khác gồm hại đến thận, tuỵ, phá huỷ niêm mạc mũi, suy nhược, cao huyết áp, co giật, thiếu máu Lindan còn gây giảm sản hay bất sản tuỷ xương, gan nhiễm mỡ, thoái hoá cơ tim, hoại tử mạch máu ở thận, phổi, não

Tên chung Aldrin, dieldrin và Endin

Các hoá chất này cũng được biết đến dưới tên thương mại:

- Aldrin: Aglutox, Agodin, Aldinal, Aldrex, Aldrosol, Altox, Drinox, Octalene,

- Dieldrin: Aldrin epoxide, Alvit, Dieldrex, Dorytox, Octalox, Pestex, Quintox, Supadiel, Tazol, termitox

* Aldrin:

- Đặc điểm:

Tên thường: Aldrin; Aldrine; HHDN; Phức hợp 118; Octalene; OMS 194

Tên hóa học: Hexachloro-hexahydro-endo-exo-dimethanonaphthalene; 1,2,3,4,10,10-hexachloro-1,4,4a,5,8,8a-hexahydro-1,4: 5,8- dimethanonapthalene 1.4 Số

ký hiệu trong danh mục hoá chất trong các CSDL trong và ngoài nước (CAS - Chemical Abstracts Service number)

Aldrin tinh khiết có dạng tinh thể rắn màu trắng Thang màu kỹ thuật của aldrin là màu nâu Aldrin có mùi nhẹ, rất dễ tan trong các dung môi hữu cơ (aromatics, esters, ketones, paraffins, halogenated dung môi)

- Độc tính với con người:

+ Độc tính cấp tính:

Đường tiêu hóa: Các báo cáo mô tả các triệu chứng khởi phát trong vòng 15 phút sau khi đưa vào qua đường miệng Đáp ứng quá mức của hệ thần kinh trung ương là triệu chứng thường gặp gây ra do aldrin Các triệu chứng có thể có như đau đầu, hoa

Trang 24

mắt, kích thích, buồn nôn và nôn, lo lắng, giật cơ, và chuyển nhanh sang co giật Co giật có thể kéo dài và dấu hiệu của kích thích có thể kéo dài vài ngày Sau nhiễm độc aldrin cấp thường có rối loạn chức năng thận Nó làm tăng nồng độ ure trong máu, có hồng cầu và albumin niệu [18]

Đường hô hấp: Đường này thường xảy ra khi công nhân đang sản xuất hay đang phun thuốc trừ sâu Dù sao, không có trường hợp nhiễm độc cấp nào xảy ra với đường tiếp xúc này Đa số các ca bệnh đều là bán cấp và không có triệu chứng nhiễm độc, triệu chứng lâm sàng đầu tiên thường là cơn động kinh co giật

Đường qua da: Đường tiếp xúc này rất khó phân biệt với đường hô hấp, và có lẽ

cả hai cùng tác động Giống như phơi nhiễm qua đường hô hấp, hấp thụ qua da thường xảy ra đầu tiên với các công nhân Nếu phơi nhiễm cấp nặng, triệu chứng tiến triển giống như với nhiễm qua đường miệng Dù sao, rất nhiều trường hợp nhiễm độc bán cấp không có triệu chứng và triệu chứng đầu tiên là cơn co giật động kinh

+ Độc mãn tính:

Đường tiêu hóa: Không có ảnh hưởng về thần kinh học, huyết học và gan trên người nồng độ dưới 0.003 mg/kg/ngày [17]

Đường hô hấp: Co giật có thể xuất hiện đột ngột không có triệu chứng báo trước

có thể do sự tích lũy aldrin (và chất chuyển hóa của nó là dieldrin) sau nhiều ngày Thiếu máu và chậm phục hồi vết thương có thể xảy ra sau thời gian dài tiếp xúc

- Ảnh hưởng tới môi trường:

Drins bền vững, có khả năng tích luỹ sinh học và có thể tồn tại nhiều năm trong đất, có độc tính cao với cá, với loài không xương sống nước ngọt và chim Các Drins ảnh hưởng đến sinh sản ở các loài hoang dại và làm mỏng vỏ trứng các loài chim

* Dieldrin

- Đặc điểm:

Dieldrin được chế tạo vào những năm thế chiến thứ 2 (1948) Dieldrin là chất bền vững trong đất và khá bền trước tác động của tia UV và ánh sáng nhìn thấy Dieldrin được dùng phổ biến ở dạng thuốc xử lý vào đất để trừ mối và các côn trùng đất có giai

Trang 25

đoạn ấu trùng ăn phá rễ non Ở Mỹ, từ năm 1984 cơ quan bảo vệ môi trường đã cấm dùng dieldrin Việt Nam đã cấm sử dụng dieldrin từ tháng 5 năm 1996

- Ảnh hưởng tới con người:

Dieldrin có khả năng gây ung thư, gây quái thai cho người và động vật Bên cạnh

đó Dieldrin làm giảm khả năng sinh sản của cả nam và nữ Dieldrin tập trung ở sữa mẹ, làm cho trẻ bú mẹ cũng nhiễm dieldrin Các biểu hiện do phơi nhiễm lâu dài với dieldrin bao gồm: tổn thương gan, co cơ, run, ăn kém ngon, sút cân, phát ban, ngất, cơ giật muộn

1.1.2.3.4 Pentachlorophenol

* Đặc điểm:

Tên chung: Pentachlorophenol, Penta, hoặc PCP

Tên thương mại: Antimicrobial, Pentacon, Penwar, Priltor, Santophen, Weedone

* Ảnh hưởng tới con người:

- Độc tính cấp:

Theo phân loại của WHO, Pentachlorophenol có độc tính cao Pentachlorophenol

dễ hấp thu qua da, hô hấp và đường tiêu hoá, kích thích mắt, mũi, họng, gây phát ban hoặc cảm giác bỏng ở nơi da tiếp xúc Nhiễm độc chưa đến mức tử vong có biểu hiện: suy yếu, sút cân, ăn kém ngon, ra mồ hôi nhiều Có thể nhức dầu, chóng mặt, buồn nôn

và nôn Trường hợp nhiễm độc nặng thường tử vong và tử vong xảy ra rất nhanh:

- Độc tính mãn:

+ Gây ung thư, tính gây quái thai và giảm tỷ lệ sinh sản

+ Ảnh hưởng khác: Phơi nhiễm lâu dài với Pentachlorophenol có thể gây tổn thương gan, viêm phế quản, tổn thương thận, sút cân, suy nhược, ra mồ hôi nhiều Gây bệnh về máu như bệnh thiếu máu bất sản

* Ảnh hưởng tới môi trường:

Penta có khả năng tích luỹ sinh học, dư lượng của nó được phát hiện ở nhiều loài động

vật Các loài thuỷ sinh cực kỳ nhạy cảm với ảnh hưởng của Penta

Trang 26

1.1.2.4 Con đường phát tán của hoá chất BVTV trong môi trường

Môi trường thành phần như đất, nước, không khí là những môi trường chính nhưng có sự tương tác và tương hỗ lẫn nhau Sự ô nhiễm của môi trường này sẽ gây tác

động đến môi trường xung quanh

Hoá chất BVTV khi phun rải lên nông sản, lúa, hoa màu, cây ăn trái… chịu tác động của nhiều yếu tố môi trường làm giảm hiệu lực và thất thoát Một phần thuốc bị phân hủy do tác động của các yếu tố vô sinh (độ ẩm, ánh sáng, oxy ) và yếu tố sinh học như tác động của của vi sinh vật trong đất, thực vật và đi vào môi trường, một phần

bị tồn lưu trong cơ thể sinh vật, sâu hại Con đường phát tán hoá chất BVTV trong môi trường được trình bày theo hình sau:

Hình 1.1 Con đường phát tán của hóa chất BVTV trong môi trường

Hoá chất BVTV có thể khuếch tán bằng nhiều con đường khác nhau Khi di chuyển

đi xa, các nhóm clo hữu cơ không dễ tan trong nước nên tích tụ nhanh chóng ở lớp trầm tích dưới đáy các vũng nước, ao hồ… do hoá chất BVTV có chứa trong khí quyển nên ta thấy trong nước mưa có nồng độ bằng hoặc cao hơn nồng độ cao nhất tìm thấy trong nước sông Hoá chất BVTV có thể khuếch tán bằng nhiều con đường khác nhau

Trang 27

Trong môi trường không khí: khi phun hoá chất BVTV vào môi trường không khí

bị ô nhiễm dưới dạng bụi, hơi Dưới tác dụng của ánh sáng, nhiệt độ, gió… và tính chất hóa học, hoá chất BVTV có thể lan truyền trong không khí Lượng tồn lưu trong không khí sẽ khuếch tán và có thể di chuyển xa đến nơi khác

Trong môi trường nước: ô nhiễm môi trường đất dẫn đến ô nhiễm nguồn nước thuốc trừ sâu trong đất, dưới tác động của mưa và rửa trôi sẽ tích lũy, lắng đọng trong lớp bùn đáy ở sông, hồ, ao… sẽ làm ô nhiễm nguồn nước thuốc trừ sâu có thể phát hiện trong các giếng, ao, hồ, suối cách nơi sử dụng hoá chất BVTV vài km

Hoá chất BVTV phun lên cây trồng thì trong đó có đến khoảng 50% rơi xuống đất, sẽ tạo thành lớp mỏng trên bề mặt, một lớp lắng gọi là dư lượng gây hại đáng kể cho cây trồng Sự lưu trữ của hoá chất BVTV trong đất là yếu tố quan trọng để đánh giá khả năng gây ô nhiễm môi trường và trồng

1.1.2.5 Tác động của hoá chất BVTV đến môi trường

Các động của hoá chất BVTV lên môi trường là do những tính chất chủ yếu sau:

dễ bay hơi, dễ hoà tan trong nước và dung môi, bền với quá trình biến đổi sinh học Hoá chất BVTV cũng được những cây cối và động vật hấp thụ và theo chuỗi

thức ăn sẽ xâm nhập và tích luỹ trong cơ thể người Đặc biệt, trong chuỗi thức ăn này

cứ qua mỗi bậc dinh dưỡng, hoá chất BVTV lại được tích luỹ với số lượng theo cấp số nhân và được gọi là khuếch đại sinh học

* Tác động đến môi trường đất:

Sự tồn tại và chuyển vận hoá chất BVTV trong đất phụ thuộc vào nhiều yếu tố cấu trúc hóa học của hoạt chất, các dạng thành phẩm, loại đất, điều kiện tiết thủy lợi, loại cây trồng và các vi sinh vật trong đất

Hoá chất BVTV có thể hấp thụ từ đất vào cây trồng, đặc biệt các loại rễ của rau như củ cà rốt và cỏ Hoá chất BVTV được hấp thu từ đất vào cỏ, súc vật ăn cỏ như trâu

bò sẽ hấp thu toàn bộ dư lượng hoá chất BVTV trong cỏ vào thịt và sữa

Nhiều hoá chất BVTV có thể tồn lưu lâu dài trong đất, ví dụ DDT và các chất clo hữu cơ sau khi đi vào môi trường sẽ tồn tại ở các dạng hợp chất liên kết trong môi

Trang 28

trường, mà những chất mới thường có độc tính hơn hẳn, xâm nhập vào cây trồng và tích luỹ ở quả, hạt, củ sau đó di truyền theo thực phẩm đi vào gây hại cho người, vật như ung thư, quái thai, đột biến gen

Khi hoá chất BVTV (chủ yếu là nhóm lân hữu cơ) xâm nhập vào môi trường đất làm cho tính chất cơ lý của đất giảm sút (đất cứng), cũng giống như tác hại của phân bón hoá học dư thừa trong đất Do khả năng diệt khuẩn cao nên thuốc bảo vệ thực vật đồng thời cũng diệt nhiều vi sinh vật có lợi trong đất, làm hoạt tính sinh học trong đất giảm Ở trong đất, hoá chất BVTV tác động vào khu hệ vi sinh vật đất, giun đất và những động vật khác làm hoạt động của chúng giảm, chất hữu cơ không được phân huỷ, đất nghèo dinh dưỡng Theo kết quả nghiên cứu thì phun hoá chất BVTV cho cây trồng có tới 50% số thuốc rơi xuống đất một phần được cây hấp thụ, phần còn lại thuốc được keo đất giữ lại Thuốc tồn tại trong đất dần dần được phân giải qua hoạt đông sinh học của đất và qua tác động của các yếu tố hóa, lý [14]

Hình 1.2: Con đường duy chuyển của hóa chất BVTV trong môi trường đất

* Tác động đến môi trường nước:

Theo chu trình tuần hoàn các hóa chất BVTV, thuốc tồn tại trong môi trường đất

sẽ rò rỉ ra sông ngòi theo các mạch nước ngầm hay do quá trình rửa trôi, xói mòn đất bị

Trang 29

nhiễm thuốc trừ sâu Mặt khác, khi sử dụng hóa chất BVTV, nước có thể bị nhiễm thuốc trừ sâu nặng nề do nông dân đổ hóa chất dư thừa, chai lọ chứa hóa chất, nước súc rửa… điều này đặc biệt có ý nghĩa nghiêm trọng khi các nông trường, vườn tược lớn nằm gần kề sông xịt xuống ao

Trong nước, hóa chất BVTV có thể tồn tại ở các dạng khác nhau và đều có thể ảnh hưởng đến tác động của nó đối với sinh vật đó là: hòa tan, bị hấp thụ bởi các thành phần vô sinh hoặc hữu sinh và lơ lửng trong nguồn nước hoặc lắng tụ xuống đáy và tích tụ trong cơ thể sinh vật

Hóa chất BVTV tan trong nước có thể tồn tại bền vững và duy trì được đặt tính lý hoá của chúng trong khi di chuyển và phân bố trong môi trường nước Các chất bền vững có thể tích tụ trong môi trường nước đến mức gây độc Hóa chất BVTV khi xâm nhập vào môi trường nước chúng phân bố rất nhanh theo gió và nước

* Tác động đến môi trường không khí:

Ô nhiễm không khí do hoá chất BVTV chủ yếu do phun thuốc Ngay trong quá trình phun thuốc, các hạt nhỏ bay hơi tạo thành những hạt mù lỏng có thể bay rất xa theo gió Thông thường hoá chất BVTV loại tương đối ít bay hơi như DDT cũng bay hơi trong không khí rất nhanh khi ở vùng khí hậu nóng gây ô nhiễm không khí và rất nguy hiểm nếu hít phải hoá chất BVTV trong không khí Tuy vậy, hoá chất BVTV cũng có thể bám dính theo các hạt bụi và xâm nhập cơ thể con người qua hít thở hoặc

bám lên rau quả xâm nhập cơ thể người qua ăn uống

1.1.2.6 Tác động của thuốc BVTV đến sức khỏe con người

Các yếu tố quyết định mức độ độc hại của thuốc BVTV phụ thuộc vào độ độc hại của thuốc, tính mẫn cảm của từng người, thời gian tiếp xúc và con đường xâm nhập vào cơ thể Có 3 con đường xâm nhập vào cơ thể người:

- Đường hô hấp: khi hít thở thuốc dưới dạng khí, hơi hay bụi

- Hấp thụ qua da: khi thuốc dính vào da

- Đường tiêu hóa: do ăn, uống phải thức ăn nhiễm thuốc hoặc sử dụng những dụng cụ ăn nhiễm thuốc

Trang 30

Ở các nước đang phát triển, tỷ lệ ngộ độc và tử vong vì thuốc BVTV cao hơn do những nguyên nhân sau:

- Các tiêu chuẩn an toàn lao động không đủ nghiêm ngặt

- Thuốc BVTV không được dán nhãn mác đầy đủ trong khi số dân mù chữ còn nhiều và nói chung người dân thiếu hiểu biết về nguy hiểm thuốc BVTV

- Thiếu thốn các điều kiện vệ sinh và phòng hộ cá nhân

Các thuốc BVTV xâm nhập vào cơ thể tích tụ lâu dài sẽ gây bệnh ung thư, tổn thương bộ máy di truyền, gây sự vô sinh ở nam và nữ, giảm khả năng đề kháng của cơ thể, mắc các bệnh về thần kinh như giảm trí nhớ, bệnh tâm thần,

Ảnh hưởng của thuốc BVTV đối với trẻ em đang gây ra những lo ngại ngày càng tăng Trẻ em có thể bị nhiễm BVTV vào cơ thể qua ăn uống, qua tiếp xúc với môi trường xung quanh, kể cả môi trường ở ngay trong gia đình mình Hoạt động sinh lý của cơ thể trẻ em khác với người lớn: tốc độ trao đổi chất cao hơn, khả năng khử độc

và loại thải chất độc thấp hơn người lớn Ngoài ra, do trọng lượng cơ thể thấp nên mức

dư lượng thuốc BVTV trên một đơn vị thể trọng ở trẻ em cũng cao hơn so với người lớn Trẻ em nhạy cảm thuốc trừ sâu cao hơn người lớn gấp 10 lần Đặc biệt thuốc trừ sâu làm cho trẻ em thiếu oxy trong máu, suy dinh dưỡng, giảm chỉ số thông minh, chậm biết đọc, biết viết

Ngoài các vấn đề sức khỏe con người, hàng năm thuốc BVTV còn gây ra hàng chục ngàn vụ ngộ độc ở gia súc, thú nuôi Các sản phẩm thịt, trứng, sữa, cũng có thể nhiễm thuốc BVTV và gây ra thiệt hại kinh tế rất lớn

1.1.3 Cơ sở thực tiễn

1.1.3.1 Sự ra đời của hóa chất BVTV

1.1.3.1.1 Sự ra đời của hóa chất BVTV trên thế giới

Khi con người bắt đầu canh tác nông nghiệp và có sự đấu tranh với dịch hại để bảo vệ mùa màng thì một số biện pháp phòng trừ dịch hại đã hình thành chính vì vậy, lịch sử của thuốc BVTV có từ rất lâu đời (cách đây khoảng 10.000 năm)

Trang 31

Vào thời kỳ năm 2500 trước công nguyên, hợp chất lưu huỳnh được sử dụng để diệt côn trùng và nhện

Năm 1500 trước công nguyên, có hợp chất để diệt bọ chét trong nhà

Năm 1200 trước công nguyên, Trung Quốc đã có thuốc xử lý hạt giống

Năm 900 sau công nguyên, người ta dùng arsenic sulfides để trừ côn trùng trong vườn Thế kỷ thứ IV, người ta đã biết xử lý hạt lúa bằng arsen trắng

Từ cuối thế kỷ XVIII đến cuối thế kỷ XIX là thời kỳ cách mạng nông nghiệp ở Châu âu Sản xuất nông nghiệp tập trung và năng suất cao hơn, đồng thời tình hình dịch hại càng nhiều hơn xảy ra trong phạm vi toàn thế giới Một số thuốc trừ sâu, dịch hại, diệt hại phổ biến ở cuối thế kỷ XIX đến năm 1930, chủ yếu là chất vô cơ như arsen, selenium, antimony, sulfur… hoặc một số chất thảo mộc vốn có chất độc Song thời điểm này chưa ai biết được đến độc hại của nó

Từ đầu thế kỷ XX, xuất hiện một biện pháp trừ sâu hại tích cực hơn và hiêu quả hơn Đó là sự ra đời của DDT thuộc nhóm clor hữu cơ vào năm 1939, và liên tục sau

đó ra đời nhiều các hợp chất hóa học khác Đây là hợp chất đầu tiên trong chuỗi thuốc trừ sâu được khám phá, nó tiêu diệt được một số lượng lớn côn trùng Trong suốt 25 năm sau đó, nó được xem như là vị cứu tinh của nhân loại, giúp diệt trừ côn trùng và tăng sản lượng nông sản Chu trình sản xuất cũng tương đối rẻ nên nó được áp dụng phổ biến rộng rãi ở mọi nơi trên thế giới

Năm 1940, người ta tổng hợp nên các hợp chất có gốc lân hữu cơ

Năm 1947, người ta tổng hợp nên hóa chất carbamate

Năm 1970 phát triện được các loại thuốc pyrethroide

Hiện nay, thuốc trừ sâu tồn tại 3 thế hệ, tính độc hại của thế hệ sau thường thấp hơn thế hệ trước

Thuốc trừ sâu thế hệ thứ nhất thường là thuốc chiết từ chất nicotin, hay pyrethrum chiết từ một loại cúc khô, những chất vô cơ như phèn xanh, thạch tín…

Thuốc trừ sâu thế hệ thứ 2 là tổng hợp các chất hữu cơ: DDT, 666, Wofatox… (xuất hiện vào thập niên 40)

Trang 32

Thuốc trừ sâu thế hệ thứ 3, xuất hiện vào những năm 70 và 80 như gốc lân hữu cơ, cardbamate và sự ra đời của pyrethroide, thuốc sinh học [17]

1.1.3.1.2 Sự ra đời của thuốc BVTV ở Việt Nam

Tại Việt Nam, việc sử dụng thuốc BVTV chỉ phổ biến từ thế kỷ thứ XIX trước

đó, việc việc diệt trừ sâu, bệnh chủ yếu bằng phương pháp bắt sâu hay biện pháp mang tính mê tín, bùa phép

Đầu thế kỷ 20, khi nền nông nghiệp việt nam bắt đầu phát triển đến một mức nhất định, hình thành nên các đồn điền, trang trại nông nghiệp lớn thì việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật bắt đầu gia tăng Trong thời kỳ này, Việt Nam cũng sử dụng chủ yếu các hợp chất hóa học vô cơ như các nước trên khu vực và trên thế giới

Từ những năm 50, Việt Nam chỉ sử dụng một số thuốc bảo vệ thực vật như DDT, Lindan, Oarathion-ethyl, Polyclorocamphene… Tình hình sử dụng thuốc BVTV ở Việt Nam có những bước chậm hơn so với các nước phát triển Thập niên 70 và 80 Việt Nam còn sử dụng hợp chất hóa học gốc clor hay gốc phosphor hữu cơ (DDT thuộc nhóm Clor hữu cơ, Metyl parathion, Monocrophos thuộc nhóm lân hữu cơ, Furadan thuộc nhóm Carbamate) thì các nước phát triển đã ngưng sử dụng các loại hợp chất này

Ví dụ như ở mỹ đã cấm sử dụng DDT từ năm 1992, mãi đến năm 1993 Việt Nam mới

có lệnh cấm sử dụng thuốc bảo vệ thực vật có nhóm clor hữu cơ [17]

1.1.3.2 Tình hình quản lý và sử dụng hóa chất BVTV ở Việt Nam

Mặc dù cho đến nay vẫn có nhiều quan điểm khác nhau về sử dụng thuốc BVTV trong sản xuất nông nghiệp, nhưng phải công nhận rằng thuốc BVTV đã góp phần không nhỏ vào việc bảo vệ và tăng năng suắt cây trồng trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng Do đó, nhiều nông dân coi thuốc BVTV như một thứ thần dược duy nhất để bảo vệ sản lượng trên diện tích nhỏ nhoi của họ mà lãng quên đi mặt trái của chúng

Theo thống kê của cục tài nguyên môi trường, lượng hóa chất BVTV được sử dụng ở Việt Nam từ năm 1986 - 1990 khoảng 13 nghìn - 15 nghìn tấn [11] và thống kê của viện bảo vệ thực vật Việt Nam, năm 1990 lượng thuốc bảo vệ thực vật từ 10.300

Trang 33

tấn lên 33.000 tấn, đến năm 2003 tăng lên 45.000 tấn và năm 2005 là 50.000 tấn [12] đây là con số đáng báo động

Bảng 1.3 Lượng thuốc BVTV được sử dụng ở Việt Nam từ năm 1990 - 1996

Năm Tổng số (Tấn) Giá trị

(Triệu usd)

Thuốc BVTV

Khối lượng (Tấn)

Tỉ lệ (%)

(Nguồn Viện Bảo vệ thực vật)

Trong những năm qua, cùng với việc mở rộng diện tích, sự chuyển dịch cơ cấu và quá trình đầu tư thâm canh tăng năng suất các loại cây trồng đặc biệt là việc sử dụng ngày càng nhiều các giống lúa Trung Quốc, diện tích nhiễm sâu bệnh ngày càng tăng,

do đó lượng thuốc BVTV đươc dụng cũng có xu hướng tăng lên Theo thống kê của cục BVTV, Tổng cục Thống kê và Tổng cục Hải quan thì lượng thuốc nhập khẩu vào Việt Nam năm 1998 là 42738 tấn thành phẩm, tăng gấp 2 lần so với năm 1991 Lượng thuốc trừ sâu không có xu hướng tăng lên nhưng cũng không có xu hướng giảm đi, trong khi đó lượng thuốc trừ bệnh tăng từ 2600 tấn năm 1991 lên 7532 tấn năm 1996

và 10.406 tấn năm 1998 Lượng thuốc trừ cỏ có xu hướng tăng nhanh và cho đến nay

đã cao hoơn thuốc trừ bệnh nhìn vào tỷ trọng các loại thuốc thì tỷ trọng thuốc trừ sâu tuy có giảm nhưng vẫn đang dẫn đầu trong 3 nhóm thuốc này Tuy nhiên, đây là con số thống kê theo con đường nhập khẩu chính thức, thực tế thì lượng thuốc nhập lậu vào nước ta cũng không nhỏ, trong khi đó phần lớn thuốc được nhập khẩu là các loại thuốc

Trang 34

trừ sâu có giá rẻ và dĩ nhiên đó là các thuốc có độ độc cao thậm chí đã bị hạn chế hay cấm sử dụng như methaidophos, methyl parathion v.v…

Mặc dù số lượng hoạt chất và thương phẩm được đăng ký sử dụng ở Việt Nam trong những năm qua còn tăng nhanh hơn lượng thuốc sử dụng Năm 1992 chỉ có 77 hoạt chất với 96 tên thương phẩm khác nhau thì các năm sau lần lượt tăng lên 111 hoạt chất và 159 thương phẩm năm 1993; 132 hoạt chất và 259 thương phẩm năm 1994; 231

111 hoạt chất và 413 thương phẩm năm 1995; 240 hoạt chất và 590 thương phẩm năm 1996; 257 hoạt chất và 707 thương phẩm năm 1997; 257 hoạt chất và 773 thương phẩm năm 1998; 296 hoạt chất và 784 vào năm 1999 [14] Tuy vậy số chủng loại thuốc được

sử dụng trên đồng ruộng còn rất thấp so với số lượng đăng ký trên

Xu hướng sử dụng thuốc trong nông dân hiện đang có sự thay đổi, đã quan tâm đến việc lựa chọn các loại thuốc thế hệ mới để sử dụng thay thế cho các thuốc có độ độc cao nhằm đáp ứng yêu cầu của một nền nông nghiệp sạch Tuy có một thực trạng

là hiện nay nông dân đã nhận thức được sự độc hại của các loại thuốc cấm nên họ thường giấu diếm và không khai nhận là mình có sử dụng

Các loại thuốc BVTV đang lưu thông trên thị trường sử dụng ở nước ta phần lớn được nhập khẩu từ nước ngoài, vì vậy khâu quản lý nhập khẩu thuốc là vấn đề cực kỳ quan trọng Trong những năm qua, việc quản lý nhập khẩu thuốc được thực hiện theo hai nhóm: thuốc BVTV trong danh mục được phép sử dụng và thuốc BVTV trong danh mục hạn chế sử dụng Theo Quyết định số 145/2002/QĐ-BNN ngày 18/12/2002 của

Bộ NN&PTNT việc nhập khẩu thuốc BVTV trong danh mục được phép sử dụng, thì mọi tổ chức cá nhân trong và ngoài nước đều có thể nhập khẩu thuốc không cần phải

có giấy phép Các loại thuốc BVTV trong danh mục hạn chế sử dụng phải được Bộ NN&PTNT cấp giấy phép nhập khẩu

Trước năm 1991 mỗi năm nước ta nhập khoảng 7.500-8.000 tấn thành phẩm thuốc BVTV hạn chế sử dụng Từ 1994, nhà nước chỉ cho phép nhập 3.000 tấn thành phẩm mỗi năm Đến năm 1997, giảm xuống còn 2.500 tấn, và đến năm 1999 giảm xuống còn 1.000 tấn thành phẩm Như vậy chủ trương giảm dần các loại thuốc BVTV

Trang 35

có độc tính cao, dễ gây hại cho con người và môi trường đã được nhà nước thực hiện

Từ năm 1994-1997, nhà nước chỉ cho phép 22 doanh nghiệp đủ điều kiện nhập khẩu thuốc BVTV hạn chế sử dụng, năm 2004, số đầu mối được nhập chỉ còn 18 doanh nghiệp Một điều đáng chú ý nữa là tỷ lệ thuốc trừ sâu nhập khẩu đã giảm dần từ 88,3% năm 1991 xuống còn 48,3% năm 1999; ngược lại cũng trong thời gian này số lượng thuốc trừ bệnh và trừ cỏ đã tăng từ 20% lên khoảng 50% Tình hình biến đổi tương quan tỷ lệ đó đã phù hợp với xu thế quy luật chung của lĩnh vực BVTV [15] Tình hình thực tế hiện nay còn cho thấy thuốc BVTV nhập lậu, không có giấy phép đối với loại thuốc trong danh mục cấm sử dụng, không rõ nguồn gốc xuất xứ vẫn chưa kiểm soát được, nông dân vẫn mua và sử dụng bừa bãi trên các loại cây trồng khác nhau

1.1.3.3 Tình hình quản lý và sử dụng hoá chất BVTV trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên

1.1.3.3.1 Các đơn vị thực hiện chức năng kinh doanh phân phối hoá chất BVTV

Các đơn vị quản lý hoá chất BVTV có thay đổi qua các thời kỳ Một số đơn vị chính được kinh doanh phân phối hóa chất BVTV trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên bao gồm:

- Công ty Vật tư nông nghiệp tỉnh Thái Nguyên

- Chi cục BVTV tỉnh Thái Nguyên

- Công ty cây trồng thành phố Thái Nguyên

- Trạm Vật tư các Huyện, Thành, Thị (nay là chi nhánh vật tư các Huyện, Thành, Thị)

- Công ty cổ phần vật tư Bảo vệ thực vật Thái Nguyên

- Công ty TNHH một thành viên Bảo vệ thực vật Thái nguyên

- Các đại lý cấp I của các công ty thuốc BVTV Việt Nam

1.1.3.3.2 Khối lượng thuốc BVTV được kinh doanh sử dụng hàng năm

* Khối lượng thuốc BVTV sử dụng trước năm 1985:

- Nguồn thuốc được nhận từ Trung ương, sau đó tỉnh tiếp tục phân phối tới các huyện và các xã Lúc này, do nông dân chưa biết dùng nên nhu cầu sử dụng thuốc BVTV chưa cao

Trang 36

- Cả tỉnh được phân phối khoảng 12 tấn thuốc/năm Trong đó có khoảng 20% thuốc nước, còn lại là thuốc bột Các loại thuốc nước như Metaphos 40,50EC; Wophatox 50EC; Bassa 50EC….Các loại thuốc bột như: DDT, 666, BHC, Dipterex, 2,4D

* Khối lượng thuốc BVTV sử dụng từ năm 1986-1992:

- Ngoài nguồn thuốc được phân phối, một số đơn vị đã bắt đầu giao dịch với các tỉnh ngoài để kinh doanh thuốc BVTV như công ty Cây trồng thành phố Thái Nguyên, chi cục Bảo vệ thực vật Thái Nguyên Thuốc được phân phối cho các hợp tác xã (với nguồn thuốc phân phối bao cấp từ trên) và được bán tự do (với nguồn thuốc đơn vị tự kinh doanh)

- Số lượng thuốc sử dụng tăng lên hàng năm Năm 1990 số lượng thuốc được sử dụng khoảng 100 tấn/năm trong đó có 40% là thuốc nước (đa số thuộc gốc lân hữu cơ), còn lại là thuốc bột (đa số là gốc clo hữu cơ)

* Khối lượng thuốc BVTV sử dụng từ năm 1993 đến nay:

Bảng 1.4 Số lượng thuốc BVTV được kinh doanh trên địa bàn tỉnh

Thái Nguyên qua các năm gần đây

Năm Thuốc trừ sâu Thuốc trừ bệnh Thuốc trừ cỏ Tổng số

(Nguồn Chi cục BVTV tỉnh Thái Nguyên)

Hiện không còn nguồn thuốc phân phối bao cấp Các tổ chức, cá nhân, đơn vị kinh doanh thuốc BVTV tự mua bán phân phối các loại thuốc BVTV (căn cứ tình hình sâu bệnh, nhu cầu thị trường và các qui định của nhà nước)

Trang 37

Số lượng, chủng loại thuốc sử dụng tăng lên hàng năm Không chỉ thuốc trừ sâu, thuốc trừ bệnh mà còn thuốc trừ cỏ, thuốc trừ chuột, thuốc điều hoà sinh trưởng cây trồng

Số lượng thuốc BVTV sử dụng trong những năm gần đây có xu hướng giảm, do sâu bệnh không xảy ra thành dịch lớn và nông dân đã nhận thức tốt hơn về kỹ thuật phòng trừ sâu bệnh, họ đã bỏ được một số lần phun không cần thiết, không dùng thuốc BVTV tràn lan theo cảm tính

1.1.3.3.3 Tình trạng các khu vực kho lưu giữ tại tỉnh Thái nguyên

* Tình trạng các khu vực kho lưu giữ trước năm 1985:

- Đa số thuốc được phân phối từ tổng kho về tỉnh và lưu giữ tại kho Phúc Trìu, xã Phúc Trìu, thành phố Thái Nguyên

- Các huyện lĩnh từ kho tỉnh về phân phối cho các xã Số lượng thuốc không nhiều và hầu như cả huyện và xã đều chưa có nơi chuyên để lưu chứa thuốc BVTV Sự hiểu biết về độc hại của thuốc BVTV của đa số cán bộ và nông dân còn rất thấp Việc mua bán thuốc BVTV thực hiện rất thô sơ thủ công (thuốc nước được đong rót từ thùng phi lớn sang chai nhỏ, thuốc bột được xúc cân lẻ từ những bao thùng lớn sang

bất cứ một loại bao túi nào do người mua mang đến) như mua bán thực phẩm

* Tình trạng các khu vực kho lưu giữ từ năm 1986 đến năm 2002:

- Kho thuốc các huyện (do trạm vật tư Huyện quản lý), kho Chi cục BVTV (do Chi cục BVTV quản lý) được xây dựng Ở các xã đều có nơi chuyên để thuốc BVTV do hợp tác xã nông nghiệp quản lý, nhà để thuốc có cửa khoá có thủ kho (có xã có tới 2,3 nơi để thuốc như xã Phúc Xuân thành phố Thái Nguyên, xã Úc kỳ huyện Phú Bình…)

- Quy mô kho cấp huyện tuỳ thuộc mức độ kinh doanh khác nhau của mỗi trạm vật tư Huyện Kho Chi cục BVTV là kho do Tỉnh đầu tư xây dựng, ngoài việc là nơi để thuốc phục vụ kinh doanh thuốc BVTV, kho còn có nhiệm vụ dự trữ thuốc BVTV phòng chống dịch

- Nơi để thuốc tại các hợp tác xã nông nghiệp thường là nơi gần ban quản lý hợp tác xã làm việc, gần trường học, khu dân cư đông người Khi có nhu cầu, nông dân đến

đó mua thuốc về sử dụng

Trang 38

* Tình trạng các khu vực kho lưu giữ từ năm 2003 đến nay:

- Các kho thuốc cấp huyện, cấp xã cũ được chuyển đổi dần mục đích sử dụng; có nơi được chuyển thành thổ cư, có nơi chuyển thành trường học, nhà mẫu giáo, trung tâm dạy nghề…Hiện nay chỉ có các công ty Cổ phần vật tư BVTV, Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Bảo vệ thực vật và 1 số các đại lý cấp I có kho lưu chứa thuốc

- Nguyên nhân: Do việc kinh doanh thuốc BVTV đã thay đổi và thực hiện theo Pháp lệnh BVTV Không còn việc phân phối bao cấp thuốc BVTV

Thuốc BVTV lưu thông trên thị trường đã được đóng lẻ trong các chai, gói, thùng kiện theo qui định, có thời hạn sử dụng và luôn được đáp ứng đầy đủ trên thị trường nên cũng không cần số lượng nhiều lưu trữ trong kho Các tập thể cá nhân kinh doanh không được Cục BVTV cho phép sang chai đóng gói thuốc BVTV thì không được tự sang chai đóng gói

Tại các xóm, xã đều có các cá nhân và tập thể tham gia kinh doanh thuốc BVTV (những người đã có chứng chỉ kinh doanh thuốc BVTV) Các nhà kinh doanh thường nhập thuốc để bán với số lượng nhỏ theo nhu cầu thị trường (bán hết lại lấy tiếp, không

để tồn lưu) cho nên không phải cần đến kho để lưu trữ thuốc BVTV Nông dân không phải đi mua thuốc xa, không bị thiếu thuốc khi có dịch hại

Hình 1.3 Kho thuốc sâu của nông trường chè Phú Lương hiện bỏ hoang, kho HC BVTV tại xã Úc Kỳ, huyện Phú Bình hiện được sử dụng làm trường mầm non

Trang 39

Hình 1.4 Kho HCBVTV của Công ty Vật tư Bảo vệ thực vật Thái Nguyên hiện nay

1.1.4 Một số loại hình công nghệ xử lý hóa chất BVTV đã áp dụng tại Việt Nam

Ngay sau khi Việt Nam phê chuẩn Công ước Stockholm, Cục Môi trường thuộc

Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường nay là Tổng cục môi trường thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường đã xây dựng kế hoạch nghiên cứu và triển khai các đề tài liên quan đến tiêu hủy thuốc BVTV nhóm POPs và các chất thải đặc biệt nguy hại khác Dưới sự hướng dẫn trực tiếp của Phòng Quản lý ô nhiễm, một loạt các đề tài nghiên cứu công nghệ xử lý thuốc BVTV nhóm POPs đã được các chuyên gia của Khoa Hóa

và Công nghệ Môi trường, Đại học Khoa học tự nhiên nghiên cứu và đưa vào áp dụng thực tế Kết quả là Quyết định số 1972/2002/QĐ-BKHCNMT đã được Bộ trưởng Bộ

KHCN&MT ban hành kèm theo Hướng dẫn kỹ thuật thực thi một số giải pháp tiêu hủy

thuốc BVTV nhóm nhóm POPs hoặc cấm sử dụng Dưới đây là một số loại hình công

nghệ xử lý thuốc BVTV tồn lưu nhóm POPs được hướng dẫn trong Quyết Định số 1972/2002/QĐ-BKHCNMT

Trang 40

như 666 được xử lý hoặc bằng kiềm để giảm mức chlor trong phân tử (dechlorination) sau đó dùng đồng kim loại để khử mạch vòng trong điều kiện nhiệt độ cao Có thể nhận thấy, công nghệ hóa học xử lý thuốc BVTV nhóm POPs hướng dẫn trong QĐ-1972/2002/BKHCN&MT có thể trở thành hiện thực nếu đó là hóa chất còn được bảo quản tốt, chúng còn được xếp chồng lên nhau (thành hàng, thành chồng, nói theo tiếng Anh đó là các stockpile) Tuy nhiên, thực tế ở Việt nam thì lại khác hoàn toàn Các kho thuốc BVTV quá hạn sử dụng nhóm POPs, gần như 100% không còn được bảo quản trong các kho bãi ở điều kiện tiêu chuẩn như có mái che, tường bao v.v…mà chúng thường là bị chôn vùi dưới những tầng đất sâu hàng mét và đã bị bỏ quên như đã tìm thấy dưới hố chôn hóa chất BVTV tại xã Phúc Trìu - thành phố Thái Nguyên Do bị chôn vùi trong đất nên do nhiều năm qua nước mưa đã thấm qua khối thuốc vận chuyển theo phương thẳng đứng cũng như nằm ngang làm cho nước giếng ăn của dân chúng địa phương khu vực chôn lấp thuốc thường có mùi thuốc trừ sâu Theo thời gian, tất cả các hóa chất này đều đã biến chất, chúng vón cục, đóng bánh và đất xung quanh chúng bị ô nhiễm nặng, tức là đất đã thấm thuốc với hàm lượng cao gần như thành phần thuốc Nếu áp dụng công nghệ xử lý theo Hướng dẫn 1972/2002 thì phải xây dựng nhà máy xử lý cố định ở một địa phương nào đó với các trang thiết bị công nghệ hiện đại rất tốn kém Sau đó từng địa phương phải điều tra để biết số lượng rồi nạo vét, đóng thùng phần thuốc chôn lấp theo đúng quy định để cuối cùng chở về nhà máy xử

lý Các khâu tiến hành tương tự như Hà Lan đã làm để đưa 666 chôn lấp sang Đức xử

lý đã nêu ở trên Cách làm này không hiện thực ở Việt Nam, khi mà địa phương nào cũng có thuốc chôn lấp nhưng khối lượng nhỏ lẻ, chi phí cho thu gom là rất tốn kém và đòi hỏi nhiều công sức

1.1.4.2 Công nghệ hóa học xử lý và cách ly triệt để tại chỗ kết hợp xử lý bằng công nghệ sinh học và thực vật học tái tạo sinh thái khu vực ô nhiễm

Các nhà khoa học độc lập từ Viện Khoa học & kỹ thuật hạt nhân và Đại học Mỏ Địa chất đã được Trung tâm Tư vấn và Bảo vệ môi trường, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam mời làm tư vấn công nghệ xử lý thuốc chôn lấp khối lượng nhỏ lẻ ở từng địa

Ngày đăng: 19/11/2014, 19:56

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Phạm Văn Biên, Bùi Cách Tuyến, Nguyễn Mạnh Chinh (2005), Cẩm nang thuốc BVTV, NXB Nông Nghiệp, TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cẩm nang thuốc BVTV
Tác giả: Phạm Văn Biên, Bùi Cách Tuyến, Nguyễn Mạnh Chinh
Nhà XB: NXB Nông Nghiệp
Năm: 2005
2. Nguyễn Hòa Bình, Hồ Trung Kiên - Tổng cục Môi trường (2011), “Triển khai thực hiện Kế hoạch xử lý, phòng ngừa ô nhiễm môi trường do hóa chất bảo vệ thực vật tồn lưu trên phạm vi cả nước giai đoạn 2010 - 2015”, Tạp chí Môi trường, (5), 17-18 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Triển khai thực hiện Kế hoạch xử lý, phòng ngừa ô nhiễm môi trường do hóa chất bảo vệ thực vật tồn lưu trên phạm vi cả nước giai đoạn 2010 - 2015”, "Tạp chí Môi trường
Tác giả: Nguyễn Hòa Bình, Hồ Trung Kiên - Tổng cục Môi trường
Năm: 2011
3. Phạm Ngọc Cảnh - Viện Hóa học, Môi trường quân sự Bộ Quốc Phòng (2011), “Kinh nghiệm khắc phục hậu quả chất độc tồn lưu và xử lý thuốc bảo vệ thực vật của Bộ Quốc Phòng”, Tạp chí Môi trường, (5), 36 - 37 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh nghiệm khắc phục hậu quả chất độc tồn lưu và xử lý thuốc bảo vệ thực vật của Bộ Quốc Phòng”, "Tạp chí Môi trường
Tác giả: Phạm Ngọc Cảnh - Viện Hóa học, Môi trường quân sự Bộ Quốc Phòng
Năm: 2011
4. Đỗ Thị Chiến (2005), Báo cáo điều tra, đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp việc quản lý, sử dụng thuốc Bảo vệ Thực vật của nông dân trong sản xuất nông nghiệp, Trung tâm Môi trường nông thôn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo điều tra, đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp việc quản lý, sử dụng thuốc Bảo vệ Thực vật của nông dân trong sản xuất nông nghiệp
Tác giả: Đỗ Thị Chiến
Năm: 2005
5. Lê Văn Chiến, Mai Văn Chung, Phan Xuân Thiệu (2005), “Dƣ lƣợng thuốc Bảo vệ Thực vật và Kim loại nặng trong một số loại rau trên địa bàn tỉnh Nghệ An”, Tuyển tập công trình khoa học hội nghị khoa học phân tích hóa, lý và sinh học Việt Nam lần thứ hai, Hà Nội, tr. 344-347 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dƣ lƣợng thuốc Bảo vệ Thực vật và Kim loại nặng trong một số loại rau trên địa bàn tỉnh Nghệ An”, "Tuyển tập công trình khoa h"ọc "hội nghị khoa học phân tích hóa, lý và sinh học Việt Nam lần thứ hai
Tác giả: Lê Văn Chiến, Mai Văn Chung, Phan Xuân Thiệu
Năm: 2005
6. Nguyễn Mạnh Chinh, Mai Văn Quyền, Nguyễn Đặng Nghĩa (2005), Thuốc Bảo vệ Thực vật, NXB Nông nghiệp, TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thuốc Bảo vệ Thực vật
Tác giả: Nguyễn Mạnh Chinh, Mai Văn Quyền, Nguyễn Đặng Nghĩa
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2005
7. Vương Trường Giang, Bùi Sỹ Doanh – Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2011), “Tình hình nhập khẩu và sử dụng thuốc bảo vệ thực vật ơ Việt Nam”, Tạp chí Môi trường, (5), 19- 22 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình nhập khẩu và sử dụng thuốc bảo vệ thực vật ơ Việt Nam”, "Tạp chí Môi trường
Tác giả: Vương Trường Giang, Bùi Sỹ Doanh – Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Năm: 2011
8. Trần Khắc Hiệp và các tác giả (2003), “Một số vấn đề về ảnh hưởng của đô thị hóa đến nông nghiệp và môi trường vùng ven đô TP. Hà Nội”, Hội thảo khoa học môi trường nông thôn Việt Nam, Đồ Sơn 1/2003, tr. 54-63 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về ảnh hưởng của đô thị hóa đến nông nghiệp và môi trường vùng ven đô TP. Hà Nội”, "Hội thảo khoa học môi trường nông thôn Việt Nam
Tác giả: Trần Khắc Hiệp và các tác giả
Năm: 2003
9. Nguyễn Văn Hoè (2005), Báo cáo chuyên đề “Một số nghiên cứu về biện pháp giảm thiểu rủi ro do thuốc BVTV với người sử dụng và môi trường sinh thái, Viện BVTV Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số nghiên cứu về biện pháp giảm thiểu rủi ro do thuốc BVTV với người sử dụng và môi trường sinh thái
Tác giả: Nguyễn Văn Hoè
Năm: 2005
10. Lê Văn Khoa, Nguyễn Đức Lương, Nguyễn Thế Truyền (2001), Nông nghiệp và môi trường, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nông nghiệp và môi trường
Tác giả: Lê Văn Khoa, Nguyễn Đức Lương, Nguyễn Thế Truyền
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2001
11. Hoàng Lê (2003), Ô nhiễm hoá chất bảo vệ thực vật - chúng ta đang tự đầu độc chính mình, Cục Bảo Vệ Tài Nguyên và Môi Trường, http://www.nea.gov.vn/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ô nhiễm hoá chất bảo vệ thực vật - chúng ta đang tự đầu độc chính mình
Tác giả: Hoàng Lê
Năm: 2003
12. Phương Liễu (2006), Lạm dụng HCBVTV là đầu độc đất đai , Sở Tài Nguyên và Môi Trường, http://www.donre.hochiminhcity.gov.vn/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lạm dụng HCBVTV là đầu độc đất đai
Tác giả: Phương Liễu
Năm: 2006
14. Lê Trường, Nguyễn Trần Oánh, Đào Trọng Ánh (2005), Từ điển sử dụng thuốc bảo vệ thực vật ở Việt Nam, Nxb Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển sử dụng thuốc bảo vệ thực vật ở Việt Nam
Tác giả: Lê Trường, Nguyễn Trần Oánh, Đào Trọng Ánh
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2005
19. Phùng Vân, “Nâng cao năng lực kiểm soát xuất nhập khẩu các vật liệu chứa PCB/POP” (2011), Tạp chí Môi trường, (4), 14 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao năng lực kiểm soát xuất nhập khẩu các vật liệu chứa PCB/POP” (2011), "Tạp chí Môi trường
Tác giả: Phùng Vân, “Nâng cao năng lực kiểm soát xuất nhập khẩu các vật liệu chứa PCB/POP”
Năm: 2011
20. Hoàng Thành Vĩnh - Cục Quản lý chất thải và Cải thiện môi trường, Đinh Sỹ Khánh Vinh - Chi cục Bảo vệ môi trường Nghệ An (2011), “Xây dựng năng lực nhằm loại bỏ hóa chất bảo vệ thực vật POP tồn lưu tại Việt Nam”, Tạp chí Môi trường, (5), 31- 32;II. Tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng năng lực nhằm loại bỏ hóa chất bảo vệ thực vật POP tồn lưu tại Việt Nam”, "Tạp chí Môi trường
Tác giả: Hoàng Thành Vĩnh - Cục Quản lý chất thải và Cải thiện môi trường, Đinh Sỹ Khánh Vinh - Chi cục Bảo vệ môi trường Nghệ An
Năm: 2011
21. B. Yaron, R. Calvet, R. Prost (1996), Soil Pollution - Processes and Dynamics, Springer, Verlag Berlin Heidelberg Sách, tạp chí
Tiêu đề: Soil Pollution - Processes and Dynamics
Tác giả: B. Yaron, R. Calvet, R. Prost
Năm: 1996
22. EJF (2003), What is your poison? Health threats posed by Pesticides in developing countries, Environmental Justice Foundation, Lon don, UK Sách, tạp chí
Tiêu đề: What is your poison? Health threats posed by Pesticides in developing countries
Tác giả: EJF
Năm: 2003
15. Sở Tài nguyên và Môi trường Thái Nguyên (2006), Báo cáo sơ bộ khoanh vùng các khu ô nhiễm do hoá chất BVTV ở Núi Căng xã Điềm Thuỵ, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên Khác
16. Sở Tài nguyên và Môi trường Thái Nguyên (2009), Điều tra đánh giá tình trạng ô nhiễm môi trường tại các khu vực tồn lưu hoá chất bảo vệ thực vật trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên Khác
17. Sở Tài nguyên và Môi trường Thái Nguyên (2009), Dự án xử lý triệt để ô nhiễm hoá chất bảo vệ thực vật tại xã Phúc Trìu Thái Nguyên Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.2. Phân chia nhóm độc của Việt Nam [1] - Nghiên cứu mức độ tồn dư hợp chất họ Clo trong môi trường đất tại một số khu vực kho chứa hóa chất bảo vệ thực vật trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên
Bảng 1.2. Phân chia nhóm độc của Việt Nam [1] (Trang 19)
Hình 1.1. Con đường phát tán của hóa chất BVTV trong môi trường - Nghiên cứu mức độ tồn dư hợp chất họ Clo trong môi trường đất tại một số khu vực kho chứa hóa chất bảo vệ thực vật trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên
Hình 1.1. Con đường phát tán của hóa chất BVTV trong môi trường (Trang 26)
Hình 1.2: Con đường duy chuyển của hóa chất BVTV trong môi trường đất - Nghiên cứu mức độ tồn dư hợp chất họ Clo trong môi trường đất tại một số khu vực kho chứa hóa chất bảo vệ thực vật trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên
Hình 1.2 Con đường duy chuyển của hóa chất BVTV trong môi trường đất (Trang 28)
Bảng 1.4. Số lượng thuốc BVTV được kinh doanh trên địa bàn tỉnh  Thái Nguyên qua các năm gần đây - Nghiên cứu mức độ tồn dư hợp chất họ Clo trong môi trường đất tại một số khu vực kho chứa hóa chất bảo vệ thực vật trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên
Bảng 1.4. Số lượng thuốc BVTV được kinh doanh trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên qua các năm gần đây (Trang 36)
Hình 1.3. Kho thuốc sâu của nông trường chè Phú Lương hiện bỏ hoang, kho HC  BVTV tại xã Úc Kỳ, huyện Phú Bình hiện được sử dụng làm trường mầm non - Nghiên cứu mức độ tồn dư hợp chất họ Clo trong môi trường đất tại một số khu vực kho chứa hóa chất bảo vệ thực vật trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên
Hình 1.3. Kho thuốc sâu của nông trường chè Phú Lương hiện bỏ hoang, kho HC BVTV tại xã Úc Kỳ, huyện Phú Bình hiện được sử dụng làm trường mầm non (Trang 38)
Hình 1.4. Kho HCBVTV của Công ty Vật tư Bảo vệ thực vật Thái Nguyên hiện nay  1.1.4. Một số loại hình công nghệ xử lý hóa chất BVTV đã áp dụng tại Việt Nam - Nghiên cứu mức độ tồn dư hợp chất họ Clo trong môi trường đất tại một số khu vực kho chứa hóa chất bảo vệ thực vật trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên
Hình 1.4. Kho HCBVTV của Công ty Vật tư Bảo vệ thực vật Thái Nguyên hiện nay 1.1.4. Một số loại hình công nghệ xử lý hóa chất BVTV đã áp dụng tại Việt Nam (Trang 39)
Hình 2.1. Sơ đồ khu vực lấy mẫu - Nghiên cứu mức độ tồn dư hợp chất họ Clo trong môi trường đất tại một số khu vực kho chứa hóa chất bảo vệ thực vật trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên
Hình 2.1. Sơ đồ khu vực lấy mẫu (Trang 49)
Hình 3.1. Bản đồ hành chính tỉnh Thái Nguyên - Nghiên cứu mức độ tồn dư hợp chất họ Clo trong môi trường đất tại một số khu vực kho chứa hóa chất bảo vệ thực vật trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên
Hình 3.1. Bản đồ hành chính tỉnh Thái Nguyên (Trang 59)
Hình 3.3. Ảnh hiện trạng kho HC BVTV tại Vạn Già, xã Bảo Lý, Phú Bình - Nghiên cứu mức độ tồn dư hợp chất họ Clo trong môi trường đất tại một số khu vực kho chứa hóa chất bảo vệ thực vật trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên
Hình 3.3. Ảnh hiện trạng kho HC BVTV tại Vạn Già, xã Bảo Lý, Phú Bình (Trang 67)
Hình 3.4. Sơ đồ mô tả điểm tồn lưu hóa chất BVTV  (xóm Na Long, xã Hóa Trung, Đồng Hỷ, Thái Nguyên) - Nghiên cứu mức độ tồn dư hợp chất họ Clo trong môi trường đất tại một số khu vực kho chứa hóa chất bảo vệ thực vật trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên
Hình 3.4. Sơ đồ mô tả điểm tồn lưu hóa chất BVTV (xóm Na Long, xã Hóa Trung, Đồng Hỷ, Thái Nguyên) (Trang 68)
Hình 3.5. Vườn vải nhà ông Phạm Văn Tứ, xóm Na Long - Hoá Trung - Đồng Hỷ  3.2.3. Hiện trạng kho HC BVTV của Trạm vật tư nông nghiệp huyện Định Hoá cũ - Nghiên cứu mức độ tồn dư hợp chất họ Clo trong môi trường đất tại một số khu vực kho chứa hóa chất bảo vệ thực vật trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên
Hình 3.5. Vườn vải nhà ông Phạm Văn Tứ, xóm Na Long - Hoá Trung - Đồng Hỷ 3.2.3. Hiện trạng kho HC BVTV của Trạm vật tư nông nghiệp huyện Định Hoá cũ (Trang 69)
Hình 3.6. Sơ đồ mô tả điểm tồn lưu hóa chất BVTV  (Khu chợ Quán Vuông, xã Trung Hội, Định Hóa, Thái Nguyên) - Nghiên cứu mức độ tồn dư hợp chất họ Clo trong môi trường đất tại một số khu vực kho chứa hóa chất bảo vệ thực vật trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên
Hình 3.6. Sơ đồ mô tả điểm tồn lưu hóa chất BVTV (Khu chợ Quán Vuông, xã Trung Hội, Định Hóa, Thái Nguyên) (Trang 69)
Hình 3.7. Ảnh mô tả điểm tồn lưu hóa chất BVTV - Nghiên cứu mức độ tồn dư hợp chất họ Clo trong môi trường đất tại một số khu vực kho chứa hóa chất bảo vệ thực vật trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên
Hình 3.7. Ảnh mô tả điểm tồn lưu hóa chất BVTV (Trang 70)
Hình 3.8. Sơ đồ tả điểm tồn lưu hóa chất BVTV  (Xóm Thành Lập, xã Hồng Tiến, Phổ Yên, Thái Nguyên) - Nghiên cứu mức độ tồn dư hợp chất họ Clo trong môi trường đất tại một số khu vực kho chứa hóa chất bảo vệ thực vật trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên
Hình 3.8. Sơ đồ tả điểm tồn lưu hóa chất BVTV (Xóm Thành Lập, xã Hồng Tiến, Phổ Yên, Thái Nguyên) (Trang 71)
Hình 3.9. Sơ đồ mô tả khu vực tồn dư hóa chất (kho thuốc hóa chất BVTV cũ)  Xóm Mới, xã Thịnh Đức, thành phố Thái Nguyên - Nghiên cứu mức độ tồn dư hợp chất họ Clo trong môi trường đất tại một số khu vực kho chứa hóa chất bảo vệ thực vật trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên
Hình 3.9. Sơ đồ mô tả khu vực tồn dư hóa chất (kho thuốc hóa chất BVTV cũ) Xóm Mới, xã Thịnh Đức, thành phố Thái Nguyên (Trang 72)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w