1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

So sánh ảnh hưởng của bột lá sắn và bột lá keo giậu trong khẩu phần đến năng suất và chất lượng trứng của gà đẻ

113 570 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 113
Dung lượng 1,11 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn NGUYỄN VĂN ĐỨC “SO SÁNH ẢNH HƯỞNG CỦA BỘT LÁ SẮN VÀ BỘT LÁ KEO GIẬU TRONG KHẨU PHẦN ĐẾN NĂNG SUẤT VÀ CHẤT LƯỢNG TRỨNG CỦA GÀ ĐẺ” LU

Trang 1

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

NGUYỄN VĂN ĐỨC

“SO SÁNH ẢNH HƯỞNG CỦA BỘT LÁ SẮN VÀ BỘT LÁ KEO GIẬU

TRONG KHẨU PHẦN ĐẾN NĂNG SUẤT VÀ CHẤT LƯỢNG TRỨNG CỦA GÀ ĐẺ”

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP

Thái Nguyên - Năm 2013

Trang 2

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

NGUYỄN VĂN ĐỨC

“SO SÁNH ẢNH HƯỞNG CỦA BỘT LÁ SẮN VÀ BỘT LÁ KEO

GIẬU TRONG KHẨU PHẦN ĐẾN NĂNG SUẤT VÀ

CHẤT LƯỢNG TRỨNG CỦA GÀ ĐẺ”

Chuyên ngành: Chăn nuôi

Mã số: 60.62.40

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP

Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Từ Quang Hiển

Thái Nguyên - Năm 2013

Trang 3

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

Tôi xin cam đoan: các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn này là từ đề tài do bản thân tôi thực hiện, chưa từng được ai công bố dưới bất kỳ hình thức nào ở trong và ngoài nước Các thông tin, tài liệu trích dẫn trong luận văn này đã được ghi rõ nguồn gốc

Tác giả

Nguyễn Văn Đức

Trang 4

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

Để hoàn thành luận văn này, cùng với sự cố gắng của bản thân, tôi đã nhận được sự giúp đỡ tận tình của các thầy cô giáo, các cơ quan, các cấp lãnh đạo trong suốt quá trình thực hiện đề tài

Trước hết tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với thầy giáo hướng dẫn GS.TS Từ Quang Hiển người đã trực tiếp hướng dẫn tôi trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Tôi xin trân trọng cảm ơn: các thầy cô giáo phòng sau đại học, khoa chăn nuôi Thú y - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Viện Khoa học

sự sống, ban lãnh đạo, cán bộ công nhân viên Trung tâm Nghiên cứu và phát triển Chăn nuôi miền núi, thuộc Viện Chăn nuôi (đóng tại Thái Nguyên) cùng gia đình bạn bè đã tạo mọi điều kiện thuận lợi, giúp đỡ tôi trong quá trình hoàn thành luận văn này

Thái Nguyên, ngày tháng năm 2013

Tác giả

Nguyễn Văn Đức

Trang 5

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

Trang

MỞ ĐẦU 1

1 Đặt vấn đề 1

2 Mục đích của đề tài 2

3 Ý nghĩa của đề tài 2

3.1 Ý nghĩa khoa học 2

3.2 Ý nghĩa thực tiễn 2

Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

1.1 Giới thiệu về cây sắn và cây keo giậu 3

1.1.1 Giới thiệu về cây sắn 3

1.1.1.1 Tên khoa học 3

1.1.1.2 Nguồn gốc, phân bố 3

1.1.1.3 Năng suất chất xanh 3

1.1.1.4 Thành phần hóa học của lá sắn 5

1.1.1.5 Độc tố HCN trong sắn và phương pháp khử độc tố HCN 7

1.1.1.6 Phương pháp chế biến bột lá sắn 11

1.1.2 Giới thiệu về cây keo giậu 12

1.1.2.1 Tên gọi 12

1.1.2.2 Nguồn gốc phân bố 12

1.1.2.3 Năng suất chất xanh 13

1.1.2.4 Thành phần hóa học của bột lá keo giậu 15

1.1.2.5 Độc tố của keo giậu và phương pháp loại bỏ, hạn chế độc tính của độc tố 18

1.1.2.6 Phương pháp chế biến bột lá keo giậu 21

1.2 Sắc tố trong thức ăn chăn nuôi 22

1.2.1 Giới thiệu chung về sắc tố 22

1.2.1.1 Nguồn gốc của sắc tố 22

1.2.1.2 Sắc tố trong thực vật 23

1.2.1.3 Sắc tố trong thức ăn chăn nuôi 25

Trang 6

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

gà sinh sản 30

1.3.1 Kết quả nghiên cứa sử dụng bột lá sắn trong chăn nuôi gà sinh sản 30

1.3.2 Kết quả nghiên cứu sử dụng bột lá keo giậu nuôi gà sinh sản 32

Chương 2: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 36

2.1 Đối tượng, địa điểm, thời gian nghiên cứu 36

2.1.1 Đối tượng: 36

2.1.2 Địa điểm: 36

2.1.3 Thời gian: 36

2.2 Nội dung nghiên cứu 36

2.3 Phương pháp nghiên cứu 36

2.3.1 Nội dung 1: Xác định ảnh hưởng của BLS và BLKG đến năng suất trứng 36

2.3.2 Nội dung 2: Xác định ảnh hưởng của BLS và BLKG đến một số chỉ tiêu lý học và hóa học của trứng 39

2.3.3 Nội dung 3: Xác định ảnh hưởng của BLS và BLKG đến chất lượng trứng giống 40

2.3.4 Phương pháp theo dõi các chỉ tiêu 40

2.3.5 Phương pháp xử lý các số liệu 44

Chương 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 45

3.1 Tỷ lệ nuôi sống và khả năng sản xuất trứng của gà thí nghiệm 45

3.2 Kết quả nghiên cứu một số chỉ tiêu lý hóa học của trứng 51

3.4 Tiêu tốn thức ăn và chi phí thức ăn cho sản xuất trứng và gà con loại I 66

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 70

1 Kết luận 70

2 Đề nghị 71

TÀI LIỆU THAM KHẢO 72

I Tài liệu tiếng Việt 72

II Tài liệu tham khảo tiếng nước ngoài 76

Trang 7

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

Trang 8

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

Trang

Bảng 2.1: Sơ đồ bố trí thí nghiệm 37

Bảng 2.2: Công thức và giá trị dinh dưỡng của thức ăn thí nghiệm 38

Bảng 3.1: Tỷ lệ nuôi sống của gà qua 10 tuần thí nghiệm 45

Bảng 3.2: Tỷ lệ đẻ của gà ở các tuần thí nghiệm 47

Bảng 3.3: Năng suất và sản lượng trứng của gà thí nghiệm 49

Bảng 3.4: Một số chỉ tiêu lý học của trứng 52

Bảng 3.5: Thành phần hóa học của lòng đỏ trứng 54

Bảng 3.6: Thành phần hóa học của lòng trắng trứng 56

Bảng 3.7: Hàm lượng carotenoid và điểm số quạt của lòng đỏ trứng 58

Bảng 3.8: Tỷ lệ trứng có phôi ở các giai đoạn thí nghiệm 61

Bảng 3.9: Tỷ lệ trứng nở/trứng có phôi ở các giai đoạn thí nghiệm 63

Bảng 3.10: Tỷ lệ gà con loại 1/số gà con ra nở ở các giai đoạn thí nghiệm 64

Bảng 3.11: Tiêu tốn thức ăn cho 10 trứng và 10 trứng giống 67 Bảng 3.12: Chi phí thức ăn cho 10 trứng, 10 trứng giống và 1 gà con loại I 68

Trang 9

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

Trang

Hình 1.1: Sơ đồ carotenoid tổng số trong thức ăn chăn nuôi 26

Hình 3.1: Đồ thị tỷ lệ đẻ của gà ở các tuần thí nghiệm 49Hình 3.2: Biểu đồ sản lượng trứng và trứng giống của các lô thí nghiệm 51

Hình 3.3: Đồ thị carotenoid trong lòng đỏ trứng theo thời gian thí nghiệm 60

Hình 3.4: Biểu đồ tỷ lệ gà con loại I/trứng ấp của các lô thí nghiệm 66

Trang 10

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

và mức độ an toàn thực phẩm cao hơn so với sử dụng sắc tố tổng hợp

Một số loại bột lá như bột lá sắn (BLS), bột lá keo giậu (BLKG), bột cỏ stylo (BCSL) rất giàu protein và đặc biệt là giàu sắc tố Hàm lượng protein trong bột lá chiếm khoảng 23 - 32 % đối với BLS, 25 - 30 % đối với BLKG

và 15 - 18 % đối với BC stylo Hàm lượng caroten trong vật chất khô (VCK)

của BLS từ 476 - 625 mg/kg VCK (Trần Thị Hoan, 2012) [12]; của BLKG từ

227 - 248 mg/kg VCK (dẫn theo Từ Quang Hiển và CS, 2008) [11]; còn của

BC stylo từ 228 - 259 mg/kg VCK (Hồ Thị Bích Ngọc, 2012) [25]

Các nghiên cứu khẳng định, sắc tố làm tăng tỷ lệ đậu thai ở gia súc, tỷ

lệ sống sau sinh, tăng sinh trưởng, giảm tiêu tốn thức ăn, làm tăng sản lượng trứng, tỷ lệ trứng có phôi và ấp nở ở gia cầm Đặc biệt sắc tố làm tăng độ đậm màu của lòng đỏ trứng gà và độ vàng của da gà, đáp ứng được thị hiếu của người tiêu dùng Đối với cá sắc tố làm tăng sản lượng và chất lượng trứng của

cá (Wantanabe, 2003) [112]

Chính vì những ưu điểm trên mà đã có nhiều nghiên cứu về ảnh hưởng của bột lá sắn (BLS) và bột lá keo giậu (BLKG) trong khẩu phần đến năng suất và chất lượng trứng Tuy nhiên, chưa có nghiên cứu nào so sánh ảnh hưởng của chúng trên cùng một giống gà đẻ để biết được loại bột lá nào tốt hơn, cũng chưa có các nghiên cứu về ảnh hưởng của BLS và BLKG theo thời gian gà được ăn bột lá đến chất lượng của trứng (tỷ lệ trứng có phôi, ấp

Trang 11

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

nở, gà con loại I) Xác định được điều đó rất có ích cho sản xuất, vì ứng dụng các kết quả nghiên cứu vào sản xuất sẽ nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm chăn nuôi

Để giải quyết vấn đề nêu trên và nhằm đáp ứng yêu cầu của sản xuất,

chúng tôi thực hiện đề tài “So sánh ảnh hưởng của bột lá sắn và bột lá keo

giậu trong khẩu phần đến năng suất và chất lượng trứng của gà đẻ”

Biết được ảnh hưởng của hai loại bột lá đến khả năng sản xuất trứng và chất lượng trứng của gà đẻ, trên cơ sở đó người chăn nuôi có thể sản xuất và

sử dụng từng loại bột lá cho phù hợp

Trang 12

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Giới thiệu về cây sắn và cây keo giậu

1.1.1 Giới thiệu về cây sắn

1.1.1.1 Tên khoa học

Cây sắn có tên khoa học là Manihot Esculenta Crantz, thuộc giới Plantae, bộ malpighiales, họ cây thầu dầu Euphorbiaceae, phân họ Crtonoideae, chi Malihot, loài M Esculenta Ở một số nước, cây sắn còn có

tên gọi khác là Casava, Manioc, Tapioca Plant, Maniva Casava, Manlioke, Yeueca Brava, Ở Việt Nam cây sắn còn có các tên gọi khác như khoai mì, cây củ mì, sắn tầu,

1.1.1.2 Nguồn gốc, phân bố

Cây sắn có nguồn gốc ở vùng nhiệt đới thấp Theo Jalaludin, 1977 [71] cây sắn được bắt nguồn từ 4 trung tâm lớn, đó là: (1) Guatemala, (2) Mexico, (3) Đông Brazil và Bolivia, (4) Tây Bắc Argentina và dọc theo bờ biển vùng Sarana của miền Tây Bắc thuộc Nam Mỹ Dựa trên nghiên cứu tài liệu khảo

cổ học của Colombia, Venezuala, người ta chứng minh rằng cây sắn đã được trồng cách đây khoảng 3000 - 7000 năm (Trần Ngọc Ngoạn, 1990) [23]

Cây sắn được du nhập vào Việt Nam khoảng giữa thế kỷ 18, (Phạm Văn Biên, Hoàng Kim, 1991) [2] Hiện chưa có tài liệu chắc chắn về nơi trồng và năm trồng đầu tiên

1.1.1.3 Năng suất chất xanh

Ở Việt Nam, sắn là một cây trồng có tiềm năng cho việc sản xuất bột lá thực vật Diện tích trồng sắn ở nước ta vào khoảng 600.000 ha, chỉ riêng tận thu ngọn, lá khi thu củ sắn cũng có thể sản xuất được gần 1 triệu tấn bột lá Việc trồng sắn thu lá cũng có nhiều hứa hẹn, có thể thu được 30 tấn lá tươi và sản xuất được trên dưới 8 tấn bột lá/ha/năm

Trang 13

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

Wanapat (1997) [110] cho biết trồng sắn lấy lá với mật độ dầy và thu hoạch lần đầu sau khi trồng 3 tháng, còn thu các lần tiếp theo là 2 tháng/lần thì sản lượng vật chất khô có thể đạt 12,6 tấn/ha/năm

Wanapat (2002) [111] khi thử nghiệm trồng 16 dòng sắn với mật độ 27.788 cây/ha để thu cắt lấy lá đã thấy: Sản lượng vật chất khô (VCK) qua

3 lứa cắt từ 4,043 đến 7,768 tấn/ha/năm, còn khi trồng 25 dòng sắn khác với mật độ 111.111 cây/ha thì cho sản lượng VCK dao động từ 2,651 đến 8,239 tấn/ha/năm

Atchara và cs (2002) [50] tổng hợp các kết quả nghiên cứu về trồng sắn thu lá từ năm 1977 đến năm 1979 về dòng sắn Rayong 1, tác giả cho biết người ta có thể trồng sắn với nhiều mật độ khác nhau Các kết quả nghiên cứu đều cho thấy sản lượng đạt từ 6,94 đến 8,85 tấn lá tươi/ha/năm và không

có sự sai khác thống kê có ý nghĩa giữa sản lượng lá tươi được trồng với mật

độ khác nhau

Theo Wargiono (2002) [113] thì năng suất lá phụ thuộc vào số lần thu hoạch lá Theo ông trồng sắn với mật độ 8000 cây/ha thu hoạch lá hàng tuần

từ tháng thứ 3 đến tháng thứ 7 (4 tầng lá/lần thu) sẽ cho năng suất cao nhất

Li Kaimian và cs (2002) [77] cho biết, sản lượng VCK đạt cao nhất ở mật độ trồng 15.625 cây/ha là 3,04 tấn/ha

Theo Cadavid (2002) [54] thì trồng sắn CMC 92 lấy lá tại Colombia

có mật độ từ 20.000 đến 62.000 cây/ha thì sản lượng chất khô thu được khoảng trên dưới 24 tấn/ha/năm Cũng theo ông, giống CM 4843 - 1 với mật

độ 11.200 cây/ha ở vùng đất xám pha cát có thể thu 24.45 tấn VCK/ha/năm (91,4 tấn tươi): giống sắn CM 2758 với mật độ 11.200 cây/ha trong 2 năm

có thể thu 83,01 tấn chất tươi/ha; Giống CM 523 - 7 86,81 tấn chất tươi/ha; giống Mcol 2737 102,9 tấn/ha, trồng dòng HMC 1 với mật độ 31.250 đến 112.000 cây/ha với khoảng cách cắt là 3 tháng/lần, sản lượng lá thu được trên dưới 80 tấn/ha Cần lưu ý là sản lượng chất tươi nói trên bao gồm cả

Trang 14

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

thân, cành, lá sắn Ở các thông báo khác sản lượng lá sắn thấp hơn nhiều so với thông báo nêu trên là vì sản lượng này chỉ có riêng lá, không bao gồm thân, cành, ngọn và cuống lá sắn

Ở Việt Nam, theo dõi năng suất lá sắn trong hai năm (2009 - 2010) ở những khoảng cách trồng khác nhau; (1,0 m x 0,4 m), (0,8 m x 0,4 m) và (0,6 m x 0,4 m) Mỗi năm thu hoạch được 3 lứa, năng suất lá sắn tươi đạt trung bình 41,11 - 52,66 tạ/ha/lứa Còn theo dõi năng suất lá sắn khi bón các mức phân đạm khác nhau, mỗi năm thu hoạch 3 lứa, năng suất trung bình/lứa/2 năm (tính chung cho cả 3 lứa cắt trong 2 năm) đạt từ 34,55 đến 54,95 tạ/ha/lứa (Trần Thị Hoan 2012) [12]

1.1.1.4 Thành phần hóa học của lá sắn

Sắn là loại cây thức ăn gia súc có giá trị; ngoài sản phẩm khai thác chính là củ sắn thì phụ phẩm ngọn, lá sắn cũng là nguồn thức ăn thô xanh giàu dinh dưỡng cho gia súc và có sản lượng khá lớn Thành phần hóa học của lá sắn tươi giống như một số loại rau xanh giàu dinh dưỡng khác, đặc biệt là hàm lượng protein và caroten chiếm tỷ lệ khá cao

Theo Dương Thanh Liêm (1999) [16], Nguyễn Thị Hoa Lý (2008) [19], hàm lượng protein thô trong VCK của lá sắn tương đối cao, dao động từ

20 - 34,7 % Theo Alhasan và cs (1982) (trích Nguyễn Nghi và cs, 1984 [26]) thì lá sắn giàu protein hơn củ sắn, hàm lượng protein trong lá sắn từ 23 - 32

% trong VCK Từ Quang Hiển và Phạm Sỹ Tiệp (1998) [10] cho biết: protein trong lá của các giống sắn bản địa của Việt Nam dao động từ 24,06 - 29,80 % trong VCK Lá của các giống sắn có hàm lượng protein cao trong nước ta là sắn Xanh Vĩnh Phú, sắn Dù, Sắn Chuối Trắng, KM 60, Chuối đỏ Liu và Zhuang (2000) [78] cho biết bột lá sắn có hàm lượng protein là 25,0 %, còn chế biến sắn cả cuống thì hàm lượng protein giảm xuống còn 20,30 % VCK

Lá sắn vào thời điểm thu khác nhau thì hàm lượng protein cũng khác nhau Tác giả còn cho biết protein trong lá sắn cao hơn các loại cây thức ăn khác

Trang 15

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

(protein trong VCK của hòa thảo là 12,60 %: ngô 11,90 %) nhưng thấp hơn

đỗ tương (45,70 %)

Theo Phạm Sỹ Tiệp (1999) [32], Chavez và cs (2000) [55] thì hàm lượng axit amin trong lá sắn cao hơn củ sắn và cân đối so với trứng gà, tuy

nhiên hàm lượng methionin và histidin trong lá sắn thấp, tương ứng là 1,99

và 1,14 % Hàm lượng lysin trong protein của lá sắn tương đối cao (5,68 %) đáp ứng đầy đủ nhu cầu lysin của gia súc, gia cầm Hoài Vũ (1980) [36] nhận

định: về mặt chất lượng, trong protein của lá sắn có đầy đủ các axit amin thiết yếu, so với các loại rau tươi khác thì chất lượng protein của lá sắn hơn

hẳn Ví dụ: Hàm lượng lysin, methionin, triptophan của lá sắn tươi là 0,3;

0,4; 0,11 (g/100g) Trong khi đó, rau muống là 0,14; 0,07; 0,04 (g/100g); rau ngót là 0,16; 0,13; 0,05 (g/100g); rau cải là 0,07; 0,03; 0,02 (g/100g)

Adrian và cs (1970) (trích theo Nguyễn Nghi, 1984 [26]), Eruvbetine

và cs (2003) [64] cho biết methionin là yếu tố hạn chế của bột lá sắn, trong khi đó hàm lượng lysin và arginin trong protein của lá sắn lại tương đối cao, tương ứng 4,45 và 4,35 g/100g, nếu được bổ sung methionin sẽ làm cân đối

hàm lượng axit amin và làm tăng tỷ lệ tiêu hóa của thức ăn

Thành phần khoáng đa lượng và vi lượng trong bột lá sắn tương đối cao, đặc biệt hàm lượng Fe và Mn rất cao, tương ứng là 344,0 - 655,2 mg trong 1kg chất khô (Nguyễn Khắc Khôi, 1982 [14]; Nguyễn Nghi, 1984 [26]; Muchnick, 1984 [82]; Ravindran, 1984 [92]) Theo Phạm Sỹ Tiệp (1999) [32] thì hàm lượng khoáng tổng số của các loại sắn Xanh Vĩnh Phú,

Dù, Chuối Trắng, KM 60, Chuối đỏ, 205 dao động từ 6,60 - 7,80 % Còn các giống H34, 202 hàm lượng khoáng lần lượt là 5,62 % và 5,80 % Trong

đó hàm lượng canxi dao động từ 0,74 - 1,13 %; photpho từ 0,25 - 0,38 %; kali từ 1,52 - 1,71 %

Ngoài ra, trong vật chất khô của lá sắn có chứa đường + tinh bột là

24,2 %, chất béo 6 %, xơ 11 %,, xanhthophyll 350 ppm

Trang 16

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

Hàm lượng vitamin trong lá sắn cũng cao Theo Hoài Vũ (1980) [36] thì hàm lượng vitamin B1 là 0,25 mg/100g, B2 là 0,66 mg/100g Đặc biệt, vitamin C trong lá sắn có tới 2,95 mg/100g

Bột lá sắn giàu carotenoid, xanthophyll, là nguồn bổ sung sắc chất cho

gia súc, gia cầm Theo Từ Quang Hiển (1983) [8], trong bột lá sắn khô có chứa tới 66,7 mg caroten/100g VCK Còn theo Hoài Vũ (1980) [36] thì hàm lượng caroten trong lá sắn nói chung cao hơn so với củ Dương Thanh Liêm

và cs (1999) [16] cho biết tỷ lệ caroten trong bột lá sắn phụ thuộc vào quá trình chế biến, sấy ở nhiệt độ 1000C giữ được caroten cao nhất là 351 mg/kg

1.1.1.5 Độc tố HCN trong sắn và phương pháp khử độc tố HCN

* Độc tố HCN

Ngoài các giá trị dinh dưỡng, thì yếu tố hạn chế sử dụng các sản phẩm

từ sắn như củ, lá làm lương thực cho con người và thức ăn cho gia súc là trong sắn có chứa một lượng độc tố HCN đáng kể

Giống sắn khác nhau thì lượng độc tố trong nó không giống nhau Lượng HCN ở lá non nhiều hơn lá già; phần củ thì cao nhất ở phần vỏ thịt, sau đó là 2 phần đầu củ và lõi sắn: ở thân thì thân già nhiều hơn thân non Ở mỗi phần thân, lá, củ của cây sắn thì hàm lượng HCN có tỷ lệ rất khác nhau, nhưng HCN tập chung chủ yếu ở phần củ, căn cứ vào đây mà phân chia làm

2 loại sắn: sắn ngọt và sắn đắng Giống sắn ngọt có từ 30 - 80 ppm HCN trong chất tươi, giống sắn đắng có từ 80 - 400 ppm HCN trong chất tươi (Trần Ngọc Ngoạn (2007) [24] Theo Shinha và Nair (1968) (Trích Silvestre

và Arraudeau, 1990 [27]) thì sắn ngọt là những giống sắn có tỷ lệ HCN nhỏ hơn 80 ppm trong chất tươi, nhóm sắn đắng là những giống sắn có tỷ lệ HCN lớn hơn 80 ppm

Trong cây sắn, lượng độc tố phân bố không đều, chủ yếu tập chung ở

bộ phận dưới mặt đất Theo Phạm Sỹ Tiệp (1999) [32] thì sự phân bố HCN trong các bộ phận của cây sắn được chia ra như sau: Các bộ phận trên mặt đất

Trang 17

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

gồm thân lá có 29,3 %, trong đó độc tố chủ yếu nắm ở thân là 27,2 % còn lại

ở lá chỉ có 2,1 % Lượng HCN ở các bộ phận dưới mặt đất chiếm tới 70,7 % tổng lượng độc tố trong cây Trong đó gốc già dưới đất có 8,9 % và rễ củ chiếm 61,8 %, tập chung chủ yếu ở vỏ và hai đầu củ sắn

Khi gia súc thu nhận hàm lượng HCN quá cao thì sẽ làm cho con vật bị trúng độc Thường thấy gia súc bị ngộ độc HCN ở hai thể cấp tính và mãn tính, ngộ độc cấp tính làm cho con vật chết rất nhanh và ngộ độc mãn tính thường không có biểu hiện rõ ràng (Theo Oke, 1969 [86]) Theo Lê Đức Ngoan và cs (2005) [22], gia súc thường xuất hiện dấu hiệu ngộ độc khi được cho ăn liên tiếp những lượng nhỏ HCN và thường xuyên, nhưng gan vẫn có khả năng giải độc HCN nhờ vào lưu huỳnh trong axit amin để tạo ra chất thiociannat ít độc hơn HCN Silvestre và Araudeau (1990) [27] đã cho biết; Lượng độc tố HCN có thể gây chết động vật khoảng 2,5 mg/kg khối lượng cơ thể Theo Humphreys (1988) (dẫn theo Lê Đức Ngoan và cs (2005) [22]) thì liều ngộ độc tối thiểu là 2 - 2,3 mg/khối lượng cơ thể, nhưng theo Du Thanh Hang và Preston (2005) [59] thì ở mức 6 - 15 mg/kg khối lượng cơ thể vẫn không thấy ngộ độc Tuy nhiên theo các tác giả trên thì mức độ gây ngộ độc còn tùy thuộc vào dạng glucosid có trong thức ăn

Ngộ độc HCN có thể giải thích trên cơ sở của mối liên hệ giữa axit cyanhydric với các ion kim loại như Cu+2

và Fe+2 Gốc Cyanua (CN) sẽ liên kết chặt chẽ với hemoglobin của hồng cầu để tạo thành phức chất cyanohemoglobin Chất này không có khả năng vận chuyển oxy trong máu làm cho cơ thể thiếu oxy dẫn đến con vật ngạt thở, niêm mạc, da tím bầm và chết nhanh

Chính vì tác hại của loại độc tố này trong sắn, thì việc nghiên cứu làm giảm đến mức tối đa HCN trong củ và lá sắn trước khi dùng làm thức ăn gia súc, gia cầm là không thể thiếu được

Trang 18

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

* Phương pháp khử độc tố HCN trong sắn

Để sử dụng sắn cho gia súc, gia cầm với tỷ lệ cao trong khẩu phần thì cần phải nghiên cứu để tìm ra các biện pháp làm giảm được tối đa lượng độc

tố trong sắn, nhưng lại bảo tồn được các thành phần dinh dưỡng, tăng khẩu vị,

dễ tiêu hóa, hấp thu, giá thành rẻ, dễ làm và dễ bảo quản

Theo Gomez (1983) [66] việc loại bỏ độc tố HCN trong củ và lá sắn thường áp dụng theo nguyên tắc sau:

Loại bỏ trực tiếp cyanogen glucocid bằng cách hòa tan trong nước Vì cyanogen glucocid sản sinh ra HCN, chất này bị loại bỏ thì HCN cũng bị loại bỏ

Làm phân giải cyanogen glucocid thành aceton và HCN, sau đó dùng nhiệt làm bốc hơi HCN hoặc dùng nước làm rửa trôi HCN

Làm phá hủy hoặc ức chế enzym linamariaza và glucocidaza Các enzym này không hoạt động thì cyanogen glucocid không thể phân hủy thành aceton và HCN

Cơ chế thứ nhất chắc chắn dễ thực hiện và có hiệu quả vì glucosid dễ hòa tan trong nước Nguyên tắc này được sử dụng nhiều trong các phương pháp như ngâm sắn: Sắn cả củ, hoặc thái lát được ngâm 5 - 7 ngày trong nước chảy hoặc nước đọng, sau đó lọc lấy tinh bột Như vậy, một phần lớn glucosid bị loại bỏ theo dòng nước

Cơ chế thứ hai được áp dụng vào các phương pháp chế biến như: Thái lát phơi khô, băm nhỏ (lá sắn) phơi khô, thái lát xử lý bề mặt lát cắt bằng ngâm nước (nước lã, nước vôi, nước muối, axit HCl, axit axetic, ) sắn sợi (nạo), làm sắn hạt, làm bột sắn thô, chế biến tinh bột sắn, ủ chua (lá sắn), ủ tươi củ sắn và lên men vi sinh vật cho bột sắn

Sự phân hủy các glucosid nhờ tác động của enzym được dễ dàng thêm khi người ta nghiền tế bào hoặc để cho tế bào tự tiêu do đó glucosid

và enzym tiếp xúc với nhau Nghiền hay nói đúng hơn mài sát củ sắn được thực hiện không những phổ biến trong nhân dân mà còn được thực hiện với

Trang 19

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

quy mô công nghiệp Theo Serrs và Tillon, 1973 (trích P.Silvestre, 1990 [27]) trường hợp này không chỉ có sự phân hủy các glucosid và loại bỏ HCN bằng nước rửa, mà nước còn cuốn theo các glucosid chưa bị phân hủy

Phương pháp chế biến đơn giản dễ làm và cổ điển nhất đó là thái lát phơi khô Việc phơi sắn củ đã thái lát hoặc phơi héo lá cùng với những sự thay đổi tế bào (về hình thái, cấu trúc và sinh hóa) đồng thời cũng chính là quá trình thực hiện sự tiếp xúc giữa glucosid và enzym và kết quả là HCN tự

do được giải phóng và bay hơi (Đinh Văn Lữ, 1972 [18]; Nguyễn Phước Tương và cs, 1996 [33])

Phương pháp luộc lá sắn làm giảm đáng kể hàm lượng HCN, trong lá sắn luộc hàm lượng HCN chỉ còn khoảng 1 - 5 mg

Từ Quang Hiển (1983) [8], Bùi Văn Chính (1995) [4], đã thí nghiệm muối dưa lá sắn kết quả cho thấy trong lá sắn đã muối dưa chỉ còn 1 - 2 mg

% HCN Tuy nhiên theo các tác giả trên thì biện pháp phơi khô lá sắn và nghiền thành bột là tốt nhất Trong lá sắn phơi khô, chỉ còn chứa 1 - 2 mg % HCN Sau khi nghiền thành bột thì hàm lượng HCN lại giảm đi rất nhiều và nếu cất giữ cẩn thận sau 4 - 5 tháng vẫn còn chất lượng tốt Lượng bột lá sắn gia súc, gia cầm ăn được gấp 3 - 4 lần so với số lượng chúng ăn được ở dạng

lá tươi, luộc hoặc muối dưa

Ngoài các phương pháp chế biến trên còn có một số phương pháp tích cực để khử độc tố HCN như sấy khô bằng lò sấy điện 70 - 80o

C, hoặc sấy bằng lò sấy thủ công, trong quá trình sấy glucosid bị thủy phân thành dạng HCN tự do, sau đó bị bốc hơi cùng với nước trong sản phẩm

Theo Bùi Văn Chính, 1995 [4]; Gomez, 1983 [66] thì cũng có thể làm giảm HCN trong sắn bằng cách muối dưa (lá sắn) và ủ xilo (củ sắn) Nhờ tác động của men sẵn có có trong sắn mà glucosid được phân hủy giải phóng HCN tự do Khi cho gia súc ăn lá sắn ủ chua hay ủ xilô các sản phẩm nên rửa qua bằng nước lã rồi vắt bỏ nước

Trang 20

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

1.1.1.6 Phương pháp chế biến bột lá sắn

Có nhiều phương pháp chế biến bột lá sắn như phơi khô dưới ánh nắng mặt trời và phương pháp sấy khô rồi nghiền thành bột

Phương pháp phơi khô dưới ánh nắng mặt trời:

Theo Dương Thanh Liêm và cs (1999) [16] thì phương pháp chế biến bột lá sắn bằng phương pháp này như sau: Lá sắn đến tuổi thu hoạch thích hợp được thu gom, cắt, hái và loại bỏ hết cuống lá, phơi dưới ánh nắng mặt trời cho đến khi khô giòn Sau khi phơi khô giòn thì lá sắn được đưa vào nghiền nhỏ thành bột, trải mỏng bột lá cho bay hơi nước và HCN Cho bột

lá sắn vào bao nhưng để hở miệng túi sau 2 tuần mới đóng gói để trong thời gian này HCN tiếp tục thoát ra ngoài

Phương pháp sấy khô bằng nhiệt độ của hệ thống sấy nhiệt:

Cũng theo Dương Thanh Liêm và cs (1999) [16] thì chế biến bột lá sắn bằng phương pháp này như sau: thu gom lá sắn và loại bỏ hết cuống, phơi héo một ngày tại ruộng cho giảm bớt nước, sau đó đưa vào hệ thống sấy ở nhiệt độ 60 - 1000 C cho khô giòn, sau đó nghiền nhỏ thành bột Đưa vào bảo quản và đóng gói như phương pháp trên

Sau khi chế biến, bột lá sắn được bổ sung vào khẩu phần ăn cho gia súc, gia cầm hoặc lưu trữ trong các túi nilon để côn trùng và nấm, mối sẽ không tấn công được

Trước khi đưa bột lá sắn vào sử dụng cần kiểm tra đánh giá chất lượng, bằng phương pháp trực quan qua mầu sắc của bột lá sắn: Bột lá có màu xanh nhạt, giống với màu xanh của lá sắn và không có mùi mốc, không lẫn cành, cuống lá và tạp chất, tỷ lệ nước trong bột lá sắn nhỏ hơn hoặc bằng 10 %

Đối với từng loại vật nuôi khác nhau mà bổ sung các chế phẩm từ cây sắn vào thức ăn hỗn hợp với tỷ lệ khác nhau

Trang 21

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

1.1.2 Giới thiệu về cây keo giậu

1.1.2.1 Tên gọi

Keo giậu là một cây thuộc bộ đậu, sống ở vùng nhiệt đới, có tên khoa

học là Leucaena leucocephala (Lam) de - Wit Tên gọi “Leucaena” là danh

pháp quốc tế gọi chung cho loài cây này Ngoài ra, keo giậu còn có các tên

khác như: Leucaena Glauca (Wind) Benth, Mimosa leucocephala Lam, Mimosa glauca L, Acacia glauca (L.) Moenth Ở các quốc gia khác nhau, keo giậu còn có các tên khác nhau Ở Trung Mỹ, keo giậu có tên là Huakin; Mexico và Tây Ban Nha gọi là Guaje; Philippin gọi là Ipil - ipil; Ấn Độ gọi là Kubabul hoặc Subabul; Indonesia gọi là Lamtoro; Hawaii gọi là Kaohaole; Trung Quốc gọi là Yin huehuan và Quần đảo Thái Bình Dương gọi là Tanggantangan…

Ở Việt Nam, keo giậu được phân bố rộng từ Bắc vào Nam, tỉnh nào cũng có keo giậu và keo giậu đã trở thành cây mọc tự nhiên ở một số địa phương (Nguyễn Đăng Khôi, 1979) [15] Ở các địa phương khác nhau, keo

giậu cũng có các tên khác nhau Miền Bắc gọi là Keo giậu; Miền Trung gọi là Táo nhơn; Miền Nam gọi là Bình linh Giống keo giậu mọc hoang ở nước ta

thuộc kiểu Hawaii (Dương Hữu Thời và cs, 1982) [31], năng suất không cao (Ngô Văn Mận, 1977) [20]

1.1.2.2 Nguồn gốc phân bố

Keo giậu được xác định có nguồn gốc từ Trung Mỹ và Mexico (NAS, 1984) [84] Phần lớn các vùng đất này có độ cao trung bình dưới 1500 m so với mực biển, đất nửa khô hạn, hơi kiềm hay axit nhẹ

Năm 1965, người Tây Ban Nha đưa keo giậu từ Mexico vào Philippin

để trồng làm thức ăn cho đàn dê của họ (Brewbaker, 1979 [52]; Oakes, 1968 [85]) Cuối thế kỷ VXII và đầu thế kỷ XIX, keo giậu đã được đưa tới các nước nhiệt đới ven bờ biển Thái Bình Dương: Indonesia, Malaysia, Paypua New Guinea, Tây và Nam Phi (NAS, 1984) [84] Keo giậu được nhập vào

Trang 22

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

Hawaii, Fijii, bắc Austrailia, Ấn Độ, Đông Phi, vùng biển Caribbean Đông Nam Á là vùng phát triển keo giậu tương đối sớm và nhiều Trong những năm

70 của thế kỷ XX, các nước Ấn Độ, Indonesia, Philippin, Thái Lan đã trồng nhiều keo giậu và sử dụng chúng như một nguồn thức ăn trong chăn nuôi

Ở Việt nam một số địa phương đã chú ý trồng keo giậu với mục đích khai thác những tiềm năng đa dạng của nó đặc biệt là cải tạo đất, chống xói mòn, phủ xanh

1.1.2.3 Năng suất chất xanh

Keo giậu có khả năng sinh trưởng rất nhanh và có khả năng sản sinh ra một khối lượng lớn cành, lá, hoa, quả và hạt mà động vật đều có thể sử dụng làm thức ăn Người ta còn sử dụng những phần non và lá của keo giậu để chế biến thành bột khô để làm thức ăn cho gia súc, gia cầm, nhất là vào mùa khô khan hiếm thức ăn xanh Bởi bột này, chứa nhiều vitamin tự nhiên, đặc biệt là caroten và sắc tố vàng cung cấp cho vật nuôi Trong bột keo giậu còn có vitamin E, C và caroten là những chất chống oxy hóa, ngăn cản tích tụ cholesterol trong máu, ngoài ra còn chứa các chất chống viêm nhiễm và bài tiết chất độc cho động vật như quinol và phenol Chính vì vậy, bột cỏ nói chung và bột keo giậu nói riêng được nhiều nước trên thế giới quan tâm sử dụng làm thức ăn chăn nuôi

NAS (1984) [84] cho biết, những cánh đồng keo giậu có lợi ích hơn bất

cứ một cánh đồng cỏ nào, nó có thể trở thành một nguồn cung cấp chất xanh

to lớn Trong điều kiện chăm sóc, quản lý tốt những cánh đồng keo giậu có thể duy trì một năng suất chất xanh cao và chịu đựng được cường độ chăn thả lớn Những cánh đồng keo giậu được quản lý theo phương pháp luân phiên có thể tồn tại trong thời gian trên 20 năm mà không cần phải trồng lại (Jones và Harrison, 1980) [73] Năng suất chất khô của keo giậu hàng năm dao động từ

2 đến 20 tấn/ha (Jones, 1979) [72] Những giống keo giậu tốt, được trồng trên đất có độ phì cao có thể cho năng suất vật chất khô hàng năm lên tới 12 - 20

Trang 23

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

tấn/ha, tương đương với 2,4 đến 6,4 tấn protein/ha/năm (NAS, 1984) [84]

NAS (1984) [84] cũng cho biết, năng suất và chất lượng keo giậu tươi đạt mức tối ưu ở chế độ gieo trồng và thu hoạch như sau: mật độ gieo trồng là 100.000 - 140.000 cây/ha; độ cao thu hoạch của cây là 60 - 70 cm; chu kỳ thu hoạch là 50 - 60 ngày, trong điều kiện thời tiết tương đối thuận lợi, năng suất keo giậu đạt 12 - 14 tấn chất khô/ha/năm Trong những vùng nhiệt đới khô hạn năng suất keo giậu giảm ở mùa khô Ngoài ảnh hưởng của thời tiết, khí hậu, năng suất keo giậu còn bị ảnh hưởng bởi yếu tố giống, mật độ cây trồng, tần số khai thác và chiều cao thu hoạch của cây

Ở Việt Nam, keo giậu là loài cây dễ trồng và dễ thích nghi, năng suất chất xanh và vật chất khô khá cao, phù hợp với nhiều loài động vật nên được

nhiều nhà khoa học trong nước quan tâm nghiên cứu để đưa vào thực tiễn sản

xuất chăn nuôi Bùi Xuân An và Ngô Văn Mận (1981) [1] cho biết, khi được

bón lót 10 tấn phân chuồng/ha và bón thúc bằng 30 kg N, 60 kg P2O5, 40 kg K2O/ha đã đưa năng suất chất khô đạt 4 tấn/ha/năm, trong đó, số lượng lá

chiếm tới 46 %

Nguyễn Bách Việt (1994) [35] đã cho biết, năng suất chất khô của keo giậu Peru trồng tại Trại thực tập trường Đại học Nông Nghiệp I ở năm đầu là 10,12 tấn/ha; năm thứ hai là 12,46 tấn/ha

Lê Thị Hòa Bình và cộng sự (1990) [3] đã khảo sát năng suất của các

giống keo giậu Ipil - ipil, Đồng Mô, Ba Vì hạt lớn, Ba Vì hạt nhỏ, Peru và Ấn

Độ Kết quả khảo sát cho thấy, các giống Ba Vì hạt lớn, Ipil - ipil và Ấn Độ

cho năng suất chất xanh cao, lần lượt là 45,05; 43,35 và 40,20 tấn/ha/năm, tương đương khoảng 10.000 đơn vị thức ăn Tuy nhiên, về mùa khô, keo giậu sinh trưởng kém, chỉ đạt gần 50 % so với mùa mưa Riêng giống Ba Vì hạt lớn, sinh trưởng ở mùa đông có ưu thế hơn các giống khác

Nguyễn Ngọc Hà (1996) [6] đã thử nghiệm trồng khảo sát tốc độ sinh trưởng của keo giậu trên các loại đất khác nhau cho biết, trong số 12 loài được

Trang 24

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

khảo sát thì loài keo giậu Leucaena leucocephala có nhiều ưu điểm hơn cả

Tốc độ sinh trưởng đạt 1,26 cm/ngày, cao hơn 2 lần tốc độ sinh trưởng trung bình của 12 loài khảo sát Tác giả cũng cho biết, năng suất chất khô trung bình của keo giậu là 11,5 tấn/ha/năm Giống Peru - Cunnigham có năng suất chất khô là 13,36 tấn/ha/năm, cao hơn giống Salvador - Mỹ là 3,62 tấn Tuy nhiên, năng suất chất khô của keo giậu còn phụ thuộc khá nhiều vào độ chua

của đất, vì ở đất chua khả năng cộng sinh của vi khuẩn Rhyzobium với keo

giậu kém, làm cho keo giậu thiếu đạm, năng suất thấp

Từ các kết quả nghiên cứu trên cho thấy, keo giậu là một loại cây có khả năng sinh trưởng nhanh, cho năng suất chất xanh cao, giầu protein, vitamin, sắc tố và các khoáng vi lượng rất phù hợp trong chăn nuôi Tuy nhiên, năng suất của keo giậu còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: pH, độ phì của đất, lượng mưa, cường độ bức xạ mặt trời, nhiệt độ…và các đặc tính của từng loài, giống keo giậu

1.1.2.4 Thành phần hóa học của bột lá keo giậu

Thành phần các chất dinh dưỡng có trong keo giậu vừa phong phú vừa rất biến động và phụ thuộc vào nhiều yếu tố Nhìn chung các kết quả phân tích cho thấy, keo giậu là một loại cây giàu protein, khoáng, vitamin và các chất sắc tố

* Protein

Hàm lượng protein thô trung bình trong bột lá keo giậu biến động từ 24,0 - 34,4 %, trong hỗn hợp cành và lá từ 10 - 30 % VCK Như vậy, hàm lượng protein trong BLKG là khá cao và có thể so sánh với bột cỏ Medi (là một cây họ đậu có hàm lượng protein cao (Garcia và cs, 1996) [65] Hàm lượng protein cũng biến động giữa các phần của cây Lá non của keo giậu chứa nhiều protein và có khả năng tiêu hóa cao, lá ở đỉnh ngọn có hàm lượng protein cao nhất từ 28,4 - 30,0 % VCK (Desmukh và cs, 1987) [57] Ronia và

Trang 25

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

cs (1979) [95] cho biết, hàm lượng protein trong lá non cao gấp 1,5 lần so với

lá già, các phần lá phân bố ở giữa có hàm lượng protein là 23,8 - 28,2 % VCK, phần lá bên dưới có hàm lượng protein là 17,4 - 24,1 % VCK

Người ta nhận thấy, protein của lá và hạt keo giậu khá giầu các axit amin không thay thế như isoleucin, leucin, phenylalanin và histidin, còn hàm lượng lysin và methionin ở mức tương đối thấp so với một số loại thức ăn có nguồn gốc động vật Dhamothiran và cs (1991) [58] cho biết, hàm lượng protein thô trong hạt keo giậu là 21,3 % VCK, còn Shejav và Prasad (1995) [97] cho rằng, hàm lượng protein thô trong hạt đạt 32,3 % VCK

Keo giậu trồng tại Việt Nam có hàm lượng protein thô khá cao Lê Thị Hòa Bình và cs (1990) [3] cho biết, hàm lượng protein thô trong lá keo giậu trồng tại Việt Nam dao động từ 20,8 - 26,6 % VCK

* Chất xơ

Keo giậu có hàm lượng chất xơ khá cao so với các loại thức ăn ngũ cốc khác nhưng lại thấp hơn nhiều so với các loại thức ăn xanh khác Do hàm lượng chất xơ cao nên đã hạn chế tỷ lệ tiêu hóa các chất dinh dưỡng có trong keo giậu, đặc biệt là đối với động vật dạ dày đơn và gia cầm Hàm lượng chất

xơ trong keo giậu cũng thay đổi theo giống và các phần khác nhau của cây, ngay trong cùng một loài, hàm lượng chất xơ cũng khác nhau Garcia và cs (1996) [65] cho biết, hàm lượng chất xơ thô trong hỗn hợp cành, lá keo giậu trung bình là 35 % (biến động từ 32 - 38 % VCK), trong bột lá keo giậu là 19,2 % VCK (biến động từ 18,0 - 20,4 % VCK) Hàm lượng chất xơ cũng thay đổi theo giống và các phần khác của cây

Ở Việt Nam, Nguyễn Ngọc Hà (1996) [6] cho biết, bột lá keo giậu có hàm lượng xơ trung bình từ 8,41 - 10,37 % VCK, còn theo Từ Quang Hiển và

cs (2008) [11] thì tỷ lệ này dao động từ 8,97 - 9,25 % VCK

Trang 26

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

* Chất khoáng

Keo giậu là loài cây giầu các chất khoáng, đặc biệt là trong thân và lá Hàm lượng các chất khoáng trong keo giậu có nhiều biến dộng, nó phụ thuộc vào các loài keo giậu và ngay trong cùng một loài cũng có sự biến động giữa các giống, các phần và các giai đoạn sinh trưởng của cây, mùa vụ, giai đoạn thu hoạch, vị trí địa lý và hàm lượng khoáng có trong đất

Garcia và cs (1996) [65] đã tổng hợp kết quả nghiên cứu của 65 báo cáo khoa học cho biết, hàm lượng trung bình các chất khoáng có trong keo giậu như sau: canxi là 1,80 % (biến động từ 0,88 - 2,90 %); phốt pho là 0,26

% (biến động 0,14 - 1,38 %); lưu huỳnh là 0,22 % (biến động 0,14 - 0,29

%); magie là 0,33 % (biến động từ 0,17 - 0,48 %); natri là 1,34 % (biến động 0,22 - 2,66 %); kali là 1,45 % (biến động từ 0,79 - 2,11 %) El - Ashry và cs (1993) [63] cũng cho biết, hàm lượng khoáng tổng số tăng lên với tuổi của cây, hàm lượng canxi, kali và magie tăng lên dần dần với sự tăng lên của tuổi cây, trong khi đó hàm lượng photpho, sắt, kẽm, mangan lại giảm đi khi tuổi của cây tăng lên

Hàm lượng khoáng phụ thuộc vào các phần khác nhau của cây Toruan

- Mathius và cs (1992) [106] cho biết, hàm lượng photpho của lá keo giậu non cao hơn so với lá trưởng thành Padmavathy và Shobha (1987) [88] cho biết, hạt keo giậu có hàm lượng canxi và photpho cao hơn so với lá

pháp này chứa tới 480 mg caroten và 932 mg xanthophyll/kg VCK

Ngoài các thành phần dinh dưỡng, keo giậu còn chứa một số alcaloid

có hại tới sinh trưởng, sinh sản và sức khỏe của động vật Đây chính là

Trang 27

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

nguyên nhân làm hạn chế sử dụng các sản phẩm của keo giậu trong khẩu phần

* Các yếu tố ảnh hưởng đến hàm lượng mimosin trong keo giậu

Mimosin là một axit amin phi protein có trong thành phần của cây keo giậu, hàm lượng mimosin biến động giữa các loài, giống, tuổi, các phần khác nhau của cây, khoảng cách thu hoạch và phương pháp chế biến

Hauad Marroquin và Foroughbakhch (1991) [69] cho biết, ngay trong cùng loài, hàm lượng mimosin trung bình cũng rất biến động (từ 3 - 9 %

VCK đối với loài L leucocephala; từ 1 - 2 % VCK đối với loài L.gregii, từ

2 - 5 % VCK đối với loài L pulverulenta) Rushkin (1977) [96] cho biết,

hàm lượng mimosin thay đổi trong phạm vi rộng giữa các loài keo giậu

Hàm lượng này có mức cao là 5,4 % VCK ở loài L.macrophylla và mức thấp 1,2 % VCK ở loài L.diversifolia

Hàm lượng mimosin biến động nhiều giữa các phần của cây, ở mức cao trong hạt và lá non của cây Hàm lượng này trong hạt là 7,2 %; trong lá non là 6,8 % và trong vỏ quả là 3,7 % VCK (Ronia và cs, 1979 [95]); trong hỗn hợp thân lá là 2,4 %; trong bột lá 4,3 % VCK (Garia và cs, 1996 [65]) Nghiên cứu của Wong và Wan Zahari (1995) [116] cho thấy, hàm lượng mimosin trong cuống lá là 3,6 %, trong lá non là 8,6 % và trong chồi, búp lá

là 12 % VCK

Hauad và Foroughbakhch (1991) [69] nhận thấy, hàm lượng mimosin

Trang 28

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

có xu hướng tăng lên theo tuổi của cây và hàm lượng mimosin thấp nhất lúc cây bắt đầu thời kỳ ra hoa Hàm lượng mimosin của keo giậu cao trong mùa

hè (tháng 6 đến 8) và thấp trong mùa đông và đầu mùa xuân

* Độc tính, cơ chế gây độc và liều lượng gây độc của mimosin đối với động vật

Jones (1979) [72], Brewbaker và Hutton (1979) [52], Ter Meulen và

cs (1981) [104] cho biết mimosin là tác nhân gây ra các hội chứng độc như: chứng rụng lông, chán ăn, tiết nước bọt quá mức, sưng tuyến giáp trạng, sinh trưởng chậm và làm giảm khả năng sinh sản khi khẩu phần chứa quá nhiều

Theo Ter Meulen và cs (1981) [104] cho biết, do sự giống nhau về cấu trúc giữa mimosin và L - Thyrosin có thể gây ra các tác động tương tự như thyrosin hoặc ngược lại với thyrosin Những tác động ngược này ức chế quá trình sinh tổng hợp protein trong cơ thể và gây nên các triệu chứng độc, như

là làm chậm sinh trưởng

Khả năng gây độc của mimosin là do “cái càng” của nhóm chức 3 - hydroxy - oxo của vòng pyridin trong mimosin gây ra (Tsai và Ling, 1973) [108] “Cái càng” này có thể làm xáo trộn tác động của các enzym có liên quan tới kim loại, nhất là enzym có chứa cation sắt, làm ức chế một số phản ứng sinh học (Tsai và Ling, 1972) [107]

Tsai và Ling (1973) [108] cho rằng, mimosin có ảnh hưởng xấu đến quá trình sinh tổng hợp collagen trong sụn bào thai gà do ức chế sự tổng hợp hydro - prolin Sự suy giảm hàm lượng collagen làm cho sụn mềm, dễ gẫy trong các tổ chức khác nhau có thể gây ra các triệu chứng như: xuất huyết các mao mạch, protein niệu và thủng tử cung ở động vật

Proverbs (1984) [89] cho rằng mimosin có thể gây ra những tác động xấu đối với động vật dạ dày đơn khi khẩu phần ăn có một lượng keo giậu lớn hơn 10 %, trong khi đối với động vật nhai lại, mimosin chỉ có ảnh hưởng độc

Trang 29

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

khi keo giậu trong khẩu phần lớn hơn 30 %

Szyszka và cộng sự (1984) [100] đã chứng minh, liều lượng mimosin

mà không gây độc biến động theo loài động vật cụ thể là: gà thịt 0,16 g/kg thể trọng/ngày; gà đẻ là 0,21 g/kg thể trọng/ngày; bò và dê là 0,18 g/kg thể trọng/ngày; cừu là 0,14 g/kg thể trọng/ngày

D’Mello và Acamovic (1989) [61] cho biết tốc độ sinh trưởng và khả năng tiêu thụ thức ăn của gà thịt bị giảm rõ rệt khi được nuôi với khẩu phần chứa 3,3g mimosin/kg thức ăn Những kết quả tương tự cũng thấy ở khẩu phần chứa 4,9g và 10g mimosin/kg thức ăn (Ter Meulen và cs, 1984) [105]

* Các phương pháp hạn chế và loại bỏ các chất độc của keo giậu

Để sử dụng keo giậu trong chăn nuôi đạt hiệu quả cao thì việc loại bỏ các chất độc hạn chế tiêu hóa trong nó là rất quan trọng Do vậy việc tìm ra các biện pháp loại bỏ độc tố của keo giậu rất đáng quan tâm Chất độc có hàm lượng và độc tính cao nhất trong keo giậu là mimosin, đồng thời trong quá trình loại bỏ và hạn chế tính độc của mimosin thì một số chất độc khác cũng

bị đào thải hoặc hạn chế tính độc

Mimosin dễ dàng bị phá hủy bởi các yếu tố lý, hóa học và vi sinh vật Trong tự nhiên nó có thể bị phá hủy bởi ánh nắng mặt trời, nhiệt độ cao và một

số vi sinh vật (Onwuca, 1997) [87] Có rất nhiều phương pháp hạn chế và loại

bỏ độc tính của mimosin, một số phương pháp thường được sử dụng như sau:

Phương pháp sấy khô và phơi dưới ánh nắng mặt trời và ngâm keo giậu trong nước là những phương pháp đơn giản nhất NAS (1977) [83] đã cho biết, hàm lượng mimosin trong thân, lá keo giậu giảm đáng kể khi được sấy khô ở nhiệt độ 70o

C Akbar và Gupta (1984) [46] đã cho biết, sấy lá keo giậu ở nhiệt độ cao hoặc phơi dưới ánh nắng mặt trời đã làm giảm đáng kể lượng mimosin trong bột lá

Ter Meulen và cs (1981) [105] cũng đã nhận thấy, ngâm lá keo giậu trong nước 36 giờ làm giảm đáng kể lượng mimosin Xử lý keo giậu bằng cách

Trang 30

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

ngâm trong nước ở nhiệt độ phòng trong 12 giờ và sấy khô ở nhiệt độ 100o

C trong 12 giờ làm giảm hàm lượng mimosin trong BLKG giống Sababul nhiều hơn so với xử lý bằng dung dịch FeSO4 2 % hoặc NaOH 0,05M

Người ta có thể sử dụng một số hóa chất để loại bỏ và hạn chế độc tính của mimosin Hàm lượng mimosin trong hạt keo giậu có thể giảm 80 % khi

xử lý với dung dịch ure và 88 % sau khi sử lý với dung dịch natri bicacbonat (Hossain và cs, 1991) [70]

Tawata và cs (1986) [103] đã cho biết, dùng dung dịch axetat natri là một trong những chất hóa học hiệu quả nhất mà có thể chiết suất tới 95 % mimosin trong keo giậu

Ủ xanh cũng là một phương pháp hiệu quả Khattha và cs (1987) [75] cho biết, hàm lượng mimosin trong thân, lá keo giậu giảm liên tục với sự tăng lên của thời gian ủ từ 1 đến 60 ngày

Tangendjaja và cs (1984) [102] cũng cho biết, chọn lọc và tạo các giống mới có hàm lượng mimosin thấp cũng là một giải pháp để hạn chế hàm lượng và độc tính của mimosin trong keo giậu Người ta đã thành công trong việc tạo ra các cây lai có hàm lượng mimosin thấp và protein cao từ những

giống keo giậu khác nhau Cây lai giữa 2 giống L.leucocephala và L.pulverulenta là một thí dụ

1.1.2.6 Phương pháp chế biến bột lá keo giậu

Để sản xuất được bột cỏ có chất lượng tốt phải làm khô ngay nguyên liệu ban đầu để lá nhanh khô, có tỷ lệ lá cao, lá khi khô vẫn giữ được mầu xanh, giầu protein, vitamin, hạn chế hoặc loại bỏ các chất kháng dinh dưỡng (chất độc đối với động vật)

Quá trình làm khô nguyên liệu người ta có rất nhiều phương pháp chế biến khác nhau:

Phơi dưới ánh nắng mặt trời: Đây là phương pháp đơn giản và phổ biến

mà giá thành lại thấp, nhưng lại làm hao hụt nhiều dinh dưỡng

Trang 31

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

Sấy nhanh ở nhiệt độ cao: Đưa nguyên liệu vào buồng sấy có nhiệt độ

từ 800 - 1000oC trong thời gian ngắn Đây là phương pháp làm khô nguyên liệu rất nhanh, hao hụt dinh dưỡng ít nhưng giá thành cao và tốn nhiều nhiên liệu vì thế mà phương pháp này ít được áp dụng

Người ta có thể kết hợp giữa phương pháp sấy và phơi nhằm hạ giá thành và giảm hao hụt dinh dưỡng

Sấy lạnh và thông thoáng: Phương pháp này làm thay đổi trạng thái cân bằng độ ẩm ở bề mặt nguyên liệu bằng cách lưu thông không khí trong buồng sấy Phương pháp này tốn ít năng lượng nhưng thời gian sấy kéo dài

và nguyên liệu không khô đến độ ẩm cần thiết (< 13,5 %) (Dương Hữu Thời

và cs, 1982) [31]

Sấy bằng năng lượng mặt trời: Đây là hệ thống thu nhiệt do bức xạ mặt trời và dùng hệ thống thông gió đưa khí nóng vào buồng sấy, tránh ánh sáng chiếu trực tiếp vào nguyên liệu Phương pháp này làm giảm hao hụt vitamin

và dinh dưỡng

1.2 Sắc tố trong thức ăn chăn nuôi

1.2.1 Giới thiệu chung về sắc tố

1.2.1.1 Nguồn gốc của sắc tố

Carotenoid là chất màu tự nhiên và là sắc tố hữu cơ được tìm thấy ở

thực vật và các loài vi sinh vật có thể tiến hành tự quang hợp được như tảo, một số loài nấm và vi khuẩn Các sắc tố này có hai vai trò quan trọng; thứ nhất là hấp thụ năng lượng từ ánh sáng mặt trời trong quá trình quang hợp, thứ hai là bảo vệ tế bào cây trồng khỏi thối rữa

Carotenoid không phải là tên riêng của chất nào mà là tên của một

nhóm các hợp chất hữu cơ có công thức cấu tạo tương tự nhau và có tác dụng bảo vệ cơ thể tương tự nhau

Hiện nay, các nhà khoa học đã tìm được 750 loại carotenoid và được chia thành hai nhóm là caroten (Betacaroten, lycopen hay alpha caroten) và

Trang 32

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

xanthophyll (astaxanthin, lutein và zeaxanthin) Trong đó có 50 loại hiện

diện trong thức ăn của người và động vật Còn trong máu người và động vật chỉ có khoảng 15 loại và đóng vai trò quan trọng đối với sự sống của con người và động vật Khác với cây cỏ, con người và động vật không thể tự tổng

hợp được carotenoid mà phải lấy qua thức ăn thực vật chúng giúp chống lại

các tác nhân oxy hóa từ bên ngoài để bảo vệ cơ thể

Carotenoid được biết đến sớm nhất và có vai trò lớn trong cuộc sống

là beta - caroten hay còn được gọi là tiền vitamin A Trong những năm gần đây, người ta mới biết thêm về vai trò của các carotenoid khác như astaxanthin, lycopen, lutein và zeaxanthin; đó là những sắc tố quan trọng

nhất có tác động đến sức khỏe con người và động vật

Carotenoid là sắc tố tự nhiên tạo ra màu vàng, da cam, đỏ của rất

nhiều loại quả (gấc, chanh, đào, mơ, cam, nho…), rau (cà rốt, cà chua…), nấm và hoa Chúng cũng có mặt trong các sản phẩm động vật như trứng, tôm hùm, cá…Chúng cũng được tìm thấy trong lục lạp của thực vật bậc cao Những chất này cũng tìm thấy trong tảo, vi khuẩn, nấm men

Người ta ước tính rằng thiên nhiên sản xuất hàng năm khoảng 100

triệu tấn carotenoid

1.2.1.2 Sắc tố trong thực vật

Sắc tố trong thực vật được chia thành các nhóm sau: chlorophyll, carotenoid (caroten và xanthophyll), flavonoid (Chalcon, anthocyanin, flavon, flavonol) và betalain (betaxanthin, betacyanin) Sắc tố tồn tại ở các

bộ phận khác nhau của thực vật, flavonoid và carotenoid tồn tại ở hầu hết các

mô thực vật như lá, củ, hoa, quả và hạt Anthocyanin, chlorophyll có một vị trí cụ thể ở tế bào hoặc dưới cấp độ tế bào Anthocyanin thường được tìm thấy trong tế bào biểu bì của cánh hoa, trong khi chlorophyll và carotenoid trong thể hạt của các tế bào dưới biểu bì quang hợp của lá Anthocyanin, betalain xuất hiện trong không bào Tất cả các đặc tính hình thức vẻ đẹp của

Trang 33

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

các thực vật là thông tin cho động vật, côn trùng, chim và dơi, tìm đến thực vật để kiếm thức ăn

Chlorophyll là sắc tố quan trọng nhất đối với thực vật Chlorophyll và carotenoid là những chất quan trọng cho chức năng quang hợp Một vài sắc

tố quan trọng khác là flavonoid, nó có vai trò chủ yếu trong tương tác giữa

thực vật và động vật như tín hiệu để thụ phấn và phát tán hạt

Chlorophyll ở thực vật có hai loại đó là chlorophyll a có màu xanh nhạt và chlorophyll b có màu vàng xanh Số lượng loại này phụ thuộc vào

loài thực vật, điều kiện ánh sáng và điều kiện dinh dưỡng khoáng magie

Carotenoid tồn tại ở sắc lạp và lục lạp được chia thành 2 nhóm: caroten màu đỏ da cam và xanthophyll vàng da cam

Caroten là một loại cacbua hydro chưa bão hòa, chỉ tan trong dung môi hữu cơ Caroten là một trong những nhóm sắc tố quan trọng nhất trong

tự nhiên Nó tạo nên màu sắc rực rỡ của màu vàng, đỏ cho nhiều loại trái cây, rau, củ, hoa và lá mùa thu, tạo ra màu sắc lòng đỏ trứng gà, tảo, nấm men và nấm, mầu lông và da của nhiều loài chim

Xanthophyll là nhóm sắc tố màu vàng sẫm Có nhiều loại xanthophyll: kriptoxanthin, lutein, violacxanthin (Trịnh Xuân Vũ và cs, 1976) [37] Trong

đó violacxanthin và lutein chủ yếu tạo ra màu sắc vàng của lá cây, cỏ trong

mùa thu

Flavonoid phổ biến nhất là anthocyanin tạo ra các màu đỏ tươi, đỏ,

xanh và màu tím cho hoa, quả, thân cây

Betalain được chia thành hai nhóm là betaxanthin có màu vàng và betacyanin có màu đỏ, màu tím

Một số sắc tố thường gặp trong thực vật bao gồm 4 nhóm và được hệ thống hóa như sau:

* Chlorophyll trong thực vật gồm có hai loại đó là Chlorophyll a và chlorophyll b

Trang 34

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

* Carotenoid được chia thành hai nhóm: caroten và xanthophyll

Caroten trong thực vật gồm có α, β, z, γ caroten; lycopen và phytofluen

Xanthophyll gồm có zeaxanthin; astaxanthin; canthaxanthin; citranaxanthin; capxanthin; α, β cryptoxanthin và violaxanthin

* Flavonoid bao gồm auron flavon, flavonol, anthocyanin, chancon

* Betalain được chia thành hai nhóm là betaxanthin và betacyanin 1.2.1.3 Sắc tố trong thức ăn chăn nuôi

Sắc tố trong thực vật gồm có 4 nhóm (chlorophyll, carotenoid, flavonoid và betalain); trong thức ăn chăn nuôi chỉ đề cập đến một trong bốn nhóm nói trên, đó là carotenoid Khi nói đến hàm lượng sắc tố trong thức ăn, có nghĩa là nói đến carotenoid tổng số Nó gồm 2 nhóm là xanthophyll và caroten

Xanthophyll còn có tên gọi là oxy - carotenoid Nó cũng có hai nhóm là carotenoid không màu và có màu Carotenoid không màu có hai đại diện chính là cryptoxanthin và violaxanthin, còn carotenoid có màu thì có 2 nhóm nhỏ, nhóm thứ nhất là xanthophyll với đại diện là lutein và zeaxanthin, còn nhóm thứ 2 có các đại diện như apoester, canthaxanthin, citranaxanthin, capxanthin (capsorubin), astaxanthin Chính vì vậy khi nói đến hàm lượng xanthophyll trong thức ăn, có nghĩa là nói đến xanthophyll tổng số, chứ không

phải là sắc tố cụ thể nào trong nhóm này

Caroten có các đại diện là anpha (α), beta (β), gama (γ), caroten, lycopen và phytofluen Vì vậy, khi nói tới hàm lượng caroten trong thức ăn,

có nghĩa là nói đến caroten tổng số chứ không phải là một sắc tố cụ thể

Sắc tố trong thức ăn chăn nuôi được hệ thống hóa bằng sơ đồ dưới đây:

Trang 35

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

Carotenoid tổng số

Xanthophyll tổng số (hay oxy - carotenoid) Caroten (α, β,

z, γ caroten, lycopen, phytofluen)

Cryptoxanthin Violaxanthin

Hình 1.1: Sơ đồ carotenoid tổng số trong thức ăn chăn nuôi

1.2.2 Vai trò của sắc tố đối với vật nuôi

* Vai trò của sắc tố đối với gia cầm sinh sản

Carotenoid có một vai trò rất lớn đối với gia cầm, nó không chỉ tăng

độ đậm màu của sản phẩm mà nó còn làm cho gà khỏe mạnh và mau lớn Đối với gà sinh sản còn làm tăng sản lượng trứng, tỷ lệ ấp nở, tỷ lệ nuôi sống…

Tuy nhiên, động vật hoàn toàn không có khả năng tự tổng hợp

carotenoid nên bắt buộc phải được cung cấp từ thức ăn (Marusich, 1981 [81], Liufa và cs, 1997 [79]) Với khẩu phần ăn thông thường thì nguồn carotenoid

sử dụng để tạo màu da và lòng đỏ trứng là xanthophyll hay oxycarotenoid của ngô, gluten ngô và bột lá thực vật (Latscha, 1990 [76])

Màu sắc tự nhiên của lòng đỏ chính là màu sắc của xanthophyll (Sirri

và cs, 2007) [99] Ở gà đẻ xanthophyll tích trữ ở cơ, da sẽ được huy động

mạnh mẽ vào buồng trứng khi thành thục và một phần được chuyển vào lòng

đỏ (Gouveia và cs,1996 [68]; Goodwin, 1986 [67]) Gà đẻ có thể huy động 20

- 60 % tổng lượng sắc tố lấy từ thức ăn vào lòng đỏ (Bornstein, 1996 [51])

Màu sắc lòng đỏ và tính đồng nhất của lòng đỏ gắn liền với chất lượng trứng tốt và là những tiêu chí quan trọng cho người tiêu dùng lựa chọn trứng Tuy nhiên nếu chỉ sử dụng khẩu phần thông thường hoặc có sử dụng ngô đến

50 % khẩu phần thì sắc tố trong ngô cho màu sắc lòng đỏ đạt 5,6 - 7 điểm,

Trang 36

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

nhưng yêu cầu của các nước Châu Mỹ thì màu sắc lòng đỏ phải đạt 7 - 10, còn Châu Âu, Châu Á 10 - 14 theo thang điểm của Roche (1988) [93] Do vậy chỉ sử dụng khẩu phần tự nhiên thì không thể đáp ứng được yêu cầu trên cho nên việc việc bổ sung sắc tố vào thức ăn của gà đẻ là rất quan trọng

Sắc tố không chỉ phụ thuộc vào tổng lượng sắc tố mà còn phụ thuộc

vào tỷ lệ các chất carotenoid màu vàng và đỏ được hấp thụ vào cơ thể

Thức ăn có hàm lượng thấp các sắc tố đỏ nếu được thêm sắc tố vàng với hàm lượng cao kết quả làm màu sắc lòng đỏ đậm hơn (De Groote, 1970)

[56], khi bổ sung vào khẩu phần cơ sở canthaxanthin làm cho lòng đỏ trứng

có màu sắc vàng nhạt thành màu đỏ tươi Vì vậy, để đạt được màu sắc mong

muốn của lòng đỏ, việc bổ sung sắc tố màu vàng và canthaxanthin trong khẩu phần phải dựa vào tính toán tỷ lệ ban đầu của xanthophyll tự nhiên sẵn

có trong thức ăn

Theo Sidibe (2001) [98] cho biết, sau khi cho gà đẻ ăn thức ăn có

chứa 2 - 6 mg canthaxanthin/kg thức ăn, màu lòng đỏ đạt đỉnh điểm ở ngày thứ 10 và hàm lượng canthaxanthin trong lòng đỏ trứng phân tích được giữa

ngày 9 và 25 là như nhau, điều đó phản ánh mối quan hệ ổn định giữa

canthaxanthin trong thức ăn và lòng đỏ trứng Trứng tươi đạt điểm 14 thì hàm lượng canthaxanthin cao nhất được tìm thấy trong trứng tương ứng là

0,35 mg/quả hay 5,9 mg/kg trứng Vì vậy, cần phải tính toán hàm lượng sắc

tố trong thức ăn để đáp ứng được sự tích tụ sắc tố với hàm lượng nêu trên trong lòng đỏ trứng

Nói chung, mức bổ sung carotenoid tổng hợp trong thức ăn chăn nuôi

có thể thay đổi từ 0 - 8 mg/kg thức ăn cho cả sắc tố màu vàng và đỏ, tổng cả hai loại là từ 10 - 15 mg/kg khẩu phần

Astaxanthin tự nhiên cũng được các nhà sản xuất thức ăn cho gà sử

dụng để làm tăng sắc tố lòng đỏ Ngoài ra nó còn có nhiều lợi ích khác như; giảm tỷ lệ tử vong của gà, tăng khả năng sinh sản và cải thiện tình trạng sức

Trang 37

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

khỏe Ngoài sản xuất trứng tăng lên thì các bệnh nhiễm trùng do Salmonella

lại giảm đang kể

* Vai trò của sắc tố với gia cầm nuôi thịt

Đối với gà thịt, thì thị hiếu của người tiêu dùng quan tâm đến màu da

của gia cầm, đó là da phải có màu vàng tươi Sắc tố apocarotenoic acid ethyl ester là một carophyll có màu vàng khi bổ sung vào có tác dụng làm tăng màu sắc da gà (Latscha, 1990) [76] Khi các carotenoid tích lũy đầy đủ thì

hương vị của thịt gà tăng, do đó làm tăng chất lượng của thịt gà, cải thiện độ vàng da ngực và thành phần axit béo của thịt

Theo Latscha (1990) [76]; Wiliams (1992) [114] cho biết, trong chăn nuôi gà công nghiệp, gà bị nuôi nhốt, ăn thức ăn hỗn hợp không đủ lượng sắc

tố nên đã giảm màu sắc da thịt, làm mất đi hương vị thơm ngon của thịt gà

Màu tốt nhất sử dụng cho gà thịt là màu vàng, vì thế sắc tố được sử

dụng là lutein (màu vàng) và zeaxanthin (màu cam), xanthophyll Bình thường da gà broiler có màu vàng là do trong khẩu phần ăn có ngô Lutein và zeaxanthin có trong ngô, cỏ alfalfa, gluten, ngô, cúc vạn thọ

Để có màu đỏ người ta sử dụng sắc tố như canthaxanthin hoặc citranaxanthin Để màu sắc thịt gà đỏ đậm, cần có các thành phần nguyên liệu

và mối liên hệ giữa các màu như sau: 3 mg màu vàng (lutein) - 1,5 mg màu cam (zeaxanthin) - và 1 mg màu đỏ (canthaxanthin) Trong thực tế, canthxanthin

trong chế độ ăn uống bình thường có thể là từ 2 - 6 mg/kg thức ăn

* Vai trò của sắc tố đới với cá

Nếu thiếu carotenoid nhiều loại cá nuôi, động vật giáp xác sẽ không có

màu sắc tự nhiên của chúng, điều này thấy rõ khi nuôi các giống cá hồi

không có astaxanthin trong khẩu phần, thịt chúng xuất hiện màu xám Thị hiếu người tiêu dùng lại thích màu hồng đậm Vì vậy, astaxanthin được đưa

vào khẩu phần ăn với mục đích tăng tính ngon miệng và để mọi người thích mua chúng

Trang 38

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

Nhưng một lý do đặc biệt cần phải bổ sung sắc tố vào thức ăn của cá

là: nếu không có astaxanthin trong thức ăn thì chỉ có 17 % những con cá nhỏ

còn sống sót đến khi trưởng thành Trong thực tế, khi tăng từ 0 đến 1,0 ppm,

số lượng cá sống sót tăng từ 17 % lên 70 %, nếu tiếp tục bổ sung cao hơn thì

tỷ lệ sống tăng lên 87 % và khi sử dụng tới mức tối đa là 13,7 ppm, tỷ lệ sống tăng lên đến 98 % Cá con phát triển rất chậm, khi trong thức ăn nuôi chỉ

chứa 1,0 ppm astaxanthin, phát triển gấp đôi khi thức ăn có chứa 13,7 ppm,

và phát triển nhanh hơn gấp 6 lần so với cá không sử dụng astaxanthin, thời

gian nuôi được rút ngắn lại

Những lợi ích khác của sắc tố là cải thiện chất lượng trứng, sức đề kháng, khả năng miễn dịch và khả năng chuyển đổi thức ăn Tỷ lệ chuyển đổi thức ăn cải thiện 30 % Sắc tố làm tăng khả năng miễn dịch của cá tầm và cá hồi do các yếu tố nâng cao miễn dịch dịch thể (Luzzano và cs, 2003) [80] Ở Nhật Bản, theo Watanabe và cs (2003) [112]; Aquis và cs (2001) [48] cho

biết, astaxanthin làm tăng cả về số lượng trứng tự nhiên cũng như chất lượng

trứng của cá Cũng theo Watanabe và cs (2003) [112] thì, bổ sung 10 ppm vào thức ăn của cá vền bố mẹ đã làm tăng số lượng trứng được sản xuất gấp

3 lần Ngoài ra, astaxanthin có khả năng giúp kháng lại tress

* Vai trò của sắc tố đối với động vật có vú

Nhiều nghiên cứa cho thấy astaxanthin làm tăng khả năng sinh sản của

lợn, trâu, bò, cừu…cải thiện tỷ lệ sống sót, cải thiện tốc độ sinh trưởng ở động vật nhỏ, cải thiện khả năng miễn dịch…

Một nghiên cứu về tăng triglycerid ở thỏ phát hiện thấy rằng

astaxanthin có tác dụng tốt hơn vitamin E trong việc giúp đỡ để ổn định

màng bám trong động mạch và kết luận rằng có thể hữu ích trong cuộc chiến

xơ vữa động mạch

Khi thêm astaxanthin vào thức ăn thì sự xâm nhập của chất béo vào

thành động mạch gần như là hoàn toàn bị ngăn chặn

Trang 39

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

1.3 Kết quả nghiên cứu sử dụng bột lá sắn và bột lá keo giậu trong chăn nuôi gà sinh sản

1.3.1 Kết quả nghiên cứa sử dụng bột lá sắn trong chăn nuôi gà sinh sản

Trên thế giới đã có rất nhiều nghiên cứu trồng và sử dụng bột lá để bổ sung vào khẩu phần ăn của vật nuôi như các loại bột lá cây họ đậu, bột lá keo giậu, bột cỏ stylo, bột lá sắn …và đạt nhiều kết quả tốt trong chăn nuôi

Theo Juilian Buitrago (2006) [74], thân lá cây sắn sau khi trồng 3 tháng, nghiền thành bột và bổ sung vào thức ăn hỗn hợp của gia cầm với tỷ

lệ < 6 % sẽ đạt được kết quả tốt

Một số nghiên cứu về sử dụng bột lá sắn cho gà sinh sản như sau: Buitrago và cs (2002) [53] cho biết đối với bột lá sắn thì yếu tố gây hạn chế sử dụng là xơ của lá sắn Vì vậy, không nên sử dụng quá 6 - 8 % trong khẩu phần Khi sử dụng với số lượng thấp trong khẩu phần thì lá sắn vẫn là thành phần quan trọng cấu thành protein và sắc tố trong trứng của gà đẻ

Theo Agudu (1972); Miranda (1957); Enquiez (1969); Jalaladin (1973) (Trích Silvestre và Araudeau, 1990 [27]) thì khi sử dụng bột lá sắn từ 2 - 6 % trong khẩu phần ăn của gà đẻ là có hiệu quả nhất, ngoài ra còn có tác dụng làm tăng sắc tố trong lòng đỏ trứng

Ross và cs (1969) [94] đã thí nghiệm bổ sung bột lá sắn cho gà đẻ trứng và kết luận: Bổ sung từ 4 - 5 % bột lá sắn trong khẩu phần của gà sinh sản có bổ sung thêm methionin và dầu thực vật đã làm tăng sắc tố lòng đỏ trứng gà Vậy bột lá sắn có một số sắc tố màu vàng cung cấp cho sắc tố lòng

đỏ trứng, và nó có thể thay thế hòa toàn cho cỏ đinh lăng trong khẩu phần ăn của gà đẻ

Ở Ấn Độ, người ta đã nghiên cứu sử dụng bột lá sắn thay thế 50 % bột

củ sắn trong khẩu phần của gà đẻ, kết quả cho thấy khẩu phần có bột lá sắn

đã làm tăng tỷ lệ đẻ lên 12 % so với bột củ sắn (Pillai và cs, 1968) [90]

Theo Duong Thanh Liem và cs (1998) [60] khi sử dụng bột lá sắn với

Trang 40

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

các tỷ lệ 0; 2; 4; 6 % bổ sung vào thức ăn cho gà sinh sản thì có tác dụng tốt,

tỷ lệ caroten và vitamin A trong lòng đỏ trứng tăng theo tỷ lệ bổ sung bột lá sắn vào thức ăn Theo tác giả thì mức thích hợp là 3 % sẽ đem lại hiệu quả cao nhất

Ngành chăn nuôi nước ta đặc biệt là chăn nuôi gia cầm đang có một tiềm năng phát triển lớn nhất là khi Việt Nam gia nhập WTO, chúng ta đang đứng trước nhiều cơ hội lớn cũng như nhiều thách thức mới, điều đó đòi hỏi ngành chăn nuôi gia cầm phát triển theo hướng công nghiệp hóa và hiện đại hóa, tăng nhanh cả về quy mô, sản lượng hiệu quả kinh tế

Trong những năm gần đây có nhiều nhà khoa học nghiên cứu chế biến

và sử dụng bột lá thực vật trong chăn nuôi

Từ Quang Hiển (1995) [9] đã nghiên cứu chế biến bột lá sắn để nuôi

gà thịt, gà đẻ trứng, lợn thịt cho kết quả tốt Tác giả đã kết luận có thể phối hợp 4 - 6 % trong khẩu phần ăn gà thịt, 10 - 15 % trong khẩu phần của lợn

Đường Hồng Dật (2004) [5] cho biết bổ sung bột lá sắn vào khẩu phần thức ăn cho gà thịt làm tăng sắc tố thịt gia cầm, tăng khả năng sinh trưởng và làm tăng thị hiếu người tiêu dùng Ngoài ra khi bổ sung bột lá sắn vào khẩu phần ăn cho gà mái đẻ làm tăng sắc tố lòng đỏ trứng

Trần Thị Hoan (2012) [12] cho biết bổ sung 4 - 8 % BLS vào khẩu phần ăn của gà sinh sản bố mẹ Lương Phượng làm tăng năng suất trứng, tỷ lệ trứng giống, tỷ lệ trứng có phôi, tỷ lệ ấp nở hàm lượng β caroten trong lòng

đỏ trứng tăng cao hơn đối chứng

Tóm lại, qua một số công trình nghiên cứu về chế biến và sử dụng lá sắn trong và ngoài nước, cho thấy sắn là loại thức ăn cho gia súc, gia cầm rất tốt, đặc biệt là với gà sinh sản Sắn và lá sắn sau khi đã xử lý để làm giảm hàm lượng độc

tố HCN bằng cách phơi khô nghiền thành bột, có thể bổ sung các loại thức ăn tinh bột khác như: Bột ngô, cám trong khẩu phần thức ăn hỗn hợp mà kết quả tăng trọng, sản lượng trứng vẫn bình thường và làm tăng chất lượng trứng

Ngày đăng: 19/11/2014, 19:56

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
50. Atchara Limsila, Saowaree Tungsakul, Peaingpen Sarawat, Watananonta, Atapon Boonsing, Somyot Pichitporn and Reinhardt Howeler H. (2002),“Cassava leaf producsin research in Thailand, Cassava Research and Development in Asia: Exploring New Opportunities for an Acient Crop”, Proceedings of the Seventh Regional Workshop held in Bangkok, Thailand, Oct 28 - Nov 1, 2002, The Nippon Foundation, pp. 472 - 478 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cassava leaf producsin research in Thailand, Cassava Research and Development in Asia: Exploring New Opportunities for an Acient Crop”, "Proceedings of the Seventh Regional Workshop held in Bangkok
Tác giả: Atchara Limsila, Saowaree Tungsakul, Peaingpen Sarawat, Watananonta, Atapon Boonsing, Somyot Pichitporn and Reinhardt Howeler H
Năm: 2002
51. Bornstein S., and Bartov I. (1996), Studies on egg yolk pigmentation. A comparison between visual scoring of yolk colour and colorimetric assay of yolk carotenoid”, Poultry Science 45, pp. 287 - 296 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Poultry Science 45
Tác giả: Bornstein S., and Bartov I
Năm: 1996
52. Brewbaker J.L and Hutoll M.E (1979), Leucaena. In: G.A.Ritchhie (Editor). New Agricultural Crops. AAAS Selected Symposium 38. West Viewb Press, Colorado, Chapter 10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: New Agricultural Crops
Tác giả: Brewbaker J.L, Hutoll M.E
Nhà XB: West Viewb Press
Năm: 1979
53. Buitrago J. A and Bernardo Ospina, Jorge Luis Gil and Hernando Aparicio (2002), “Casava root and leaf meals as the main ingredients in poultry feeding”. Some experiences in Colombia, Casava Research and development in Asia: Exploring New Opportunities for an Ancient Crop.Proceeding of the seventh Regional Workshop held in Bangkok, Thailand.Oct 28 - Nov 1, 2002, The Nippon foundation, pp. 523 - 541 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Casava Research and development in Asia: Exploring New Opportunities for an Ancient Crop
Tác giả: Buitrago J. A, Bernardo Ospina, Jorge Luis Gil, Hernando Aparicio
Nhà XB: The Nippon foundation
Năm: 2002
54. Cadavid L. F. (2002), “Suelo y Fertilizacion para la yuca. In: La yuca en el tercer milenio. Sistemas modernos de produccion, procesamiento, utilizacion y comercializacion (Soils and fertilization of cassava”. In:Cassava in the Third Millennium, Modern Systems of production, Processing, Utilization and Marketin, CIAT. Cali, Colombia. pp. 76 - 103 Sách, tạp chí
Tiêu đề: La yuca en el tercer milenio. Sistemas modernos de produccion, procesamiento, utilizacion y comercializacion
Tác giả: Cadavid L. F
Nhà XB: CIAT
Năm: 2002
55. Chavez A. L, Bedoya J. M, Sanchez T., Iglesias C., Ceballos H., and Roca W. (2000), “Iron, Carotene, and ascorbic acid in casava root and leaves”, Food and nutrition bulletin, vol.21, no4.p.410 - 413 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Iron, Carotene, and ascorbic acid in casava root and leaves
Tác giả: Chavez A. L, Bedoya J. M, Sanchez T., Iglesias C., Ceballos H., and Roca W
Năm: 2000
57. Deshumkh A.P., Doiphode D.S., Desale J.S and Deshmukh J.S (1987), “Chemical composition of Sababul as influenced by types and growth stages”.Journal of Maharashtra Agricultural University (Indian). 12: 25 - 27 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chemical composition of Sababul as influenced by types and growth stages”. "Journal of Maharashtra Agricultural University
Tác giả: Deshumkh A.P., Doiphode D.S., Desale J.S and Deshmukh J.S
Năm: 1987
58. Dhamothiran L. Ppanamathma M., Surendran C and Chandrasekhana (1991), Leucaena - a source of protein and concentrate”. Leucaena Research Reports. 12: 29 - 30 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Leucaena - a source of protein and concentrate
Tác giả: Dhamothiran L., Ppanamathma M., Surendran C, Chandrasekhana
Nhà XB: Leucaena Research Reports
Năm: 1991
59. Du Thanh Hang and Preston (2005), “The effects of simple processing methods of cassava leaves on HCN content and intake by growing pigs”.Livestock Research for Rural Development. Number (9) 2005, http://www.cipav.org.co/lrrd17/9/hang Sách, tạp chí
Tiêu đề: The effects of simple processing methods of cassava leaves on HCN content and intake by growing pigs
Tác giả: Du Thanh Hang, Preston
Nhà XB: Livestock Research for Rural Development
Năm: 2005
60. Duong Thanh Liem, Nguyen Phuc Loc, Nguyen Van Hao, Ngo Van Man, Bui Huy Nhu Phuc and Bui Xuan An (1998), “The use of cassava dried leaf powder as animal feed”. In Hoang Kim and Nguyen Dang Mai (Eds).Progress in cassava research and extension in Viet Nam. Proc. 7 th Vietnamese cassava Workshop, held at IAS, Ho Chi Minh city, Viet Nam. March 4 - 6, 1997, pp. 256 - 265 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Progress in cassava research and extension in Viet Nam
Tác giả: Duong Thanh Liem, Nguyen Phuc Loc, Nguyen Van Hao, Ngo Van Man, Bui Huy Nhu Phuc, Bui Xuan An
Năm: 1998
61. D’Mello J.P.F and Acamovic T (1989), Leucaena leucocephala in poultry nutrition - a review. Anim. Feed Sci. Technol. 26:1 - 2, 1 - 28 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Leucaena leucocephala in poultry nutrition - a review
Tác giả: D’Mello J.P.F and Acamovic T
Năm: 1989
62. Ekpenyong, T.E. (1989), “Effect of Leucaena leaf meal in layer rations”. Leucaena Research Reports. 10: 54 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), “Effect of Leucaena leaf meal in layer rations”
Tác giả: Ekpenyong, T.E
Năm: 1989
63. El - Ashry M.A; Khattab H.M; El - Nor S.A.A and Abo - El - Nor S.A (1993), “Leucaena leucocephala: a new forage for farm animals in Egypt. 2.The chemical composition of Leucaena leaves and mimosine detoxification at different stages of maturity” . Egyptian J. Anim. Prod.30: 1, 83 - 91 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Leucaena leucocephala: a new forage for farm animals in Egypt. 2.The chemical composition of Leucaena leaves and mimosine detoxification at different stages of maturity
Tác giả: El - Ashry M.A, Khattab H.M, El - Nor S.A.A, Abo - El - Nor S.A
Nhà XB: Egyptian J. Anim. Prod.
Năm: 1993
65. Garcia G.W., Ferguson T.U., Neckles F.A and Archibald K.A.E (1996), “The nutritive value and forage productivity of Leucaena leucocephala”.Anim. Feed Scie. Technol. 6: 29 - 41 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The nutritive value and forage productivity of Leucaena leucocephala
Tác giả: Garcia G.W., Ferguson T.U., Neckles F.A, Archibald K.A.E
Nhà XB: Anim. Feed Scie. Technol.
Năm: 1996
66. Gomez G; Valdisieso M; Santos J and Noyos C (1983). “Evaluation of cassava root meal prepared from low - or high - cyanide containing cultivals in Pigs and broiler diets”. Nutrition - report international Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Evaluation of cassava root meal prepared from low - or high - cyanide containing cultivals in Pigs and broiler diets”
Tác giả: Gomez G; Valdisieso M; Santos J and Noyos C
Năm: 1983
67. Goodwin T.W. (1986). Metabolism, nutrition and function of carotenoid. Annu. Rev. Nutr. 6:273 - 297 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Annu. Rev. Nutr
Tác giả: Goodwin T.W
Năm: 1986
68. Gouveia L., Veloso V., Reis A., Fernandes H., Novais J., and J. Empis (1996), Chlorella vulgaris used to colour egg yolk, Sci. Food Agric.10:167 - 172 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sci. Food Agric
Tác giả: Gouveia L., Veloso V., Reis A., Fernandes H., Novais J., and J. Empis
Năm: 1996
69. Hauad Marroquin L.A and Foroughbakhch R (1991), “Variation in mimosine content among three species of Leucaena in eastern Nuevo Leon, Mexico”.Leucaena Research Reports. 12: 63 - 65 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Variation in mimosine content among three species of Leucaena in eastern Nuevo Leon, Mexico”
Tác giả: Hauad Marroquin L.A and Foroughbakhch R
Năm: 1991
70. Hossain M.A., Mustapha A.I., Alam, M and Khan M.Z.A (1991), “Study on the removal of mimosine from Ipil - ipil (leucaena leucocephala) seed”. J. Bangladesh Chem. Soc. 4: 83 - 85 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Study on the removal of mimosine from Ipil - ipil (leucaena leucocephala) seed
Tác giả: Hossain M.A., Mustapha A.I., Alam M, Khan M.Z.A
Nhà XB: J. Bangladesh Chem. Soc.
Năm: 1991
71. Jalaludin S. (1977), “Cassava as feedstuffs for livestock”, In Devendra, C; Hutagalung RI: Proe, Symp, Feedstuffs for livestock in South East Asia, pp. 158 - 159 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cassava as feedstuffs for livestock”, In Devendra, C; Hutagalung RI: Proe, Symp, "Feedstuffs for livestock in South East Asia
Tác giả: Jalaludin S
Năm: 1977

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1: Sơ đồ carotenoid tổng số trong thức ăn chăn nuôi - So sánh ảnh hưởng của bột lá sắn và bột lá keo giậu trong khẩu phần đến năng suất và chất lượng trứng của gà đẻ
Hình 1.1 Sơ đồ carotenoid tổng số trong thức ăn chăn nuôi (Trang 35)
Bảng 2.1: Sơ đồ bố trí thí nghiệm - So sánh ảnh hưởng của bột lá sắn và bột lá keo giậu trong khẩu phần đến năng suất và chất lượng trứng của gà đẻ
Bảng 2.1 Sơ đồ bố trí thí nghiệm (Trang 46)
Bảng 2.2: Công thức và giá trị dinh dƣỡng của thức ăn thí nghiệm - So sánh ảnh hưởng của bột lá sắn và bột lá keo giậu trong khẩu phần đến năng suất và chất lượng trứng của gà đẻ
Bảng 2.2 Công thức và giá trị dinh dƣỡng của thức ăn thí nghiệm (Trang 47)
Bảng 3.1: Tỷ lệ nuôi sống của gà qua 10 tuần thí nghiệm (%) - So sánh ảnh hưởng của bột lá sắn và bột lá keo giậu trong khẩu phần đến năng suất và chất lượng trứng của gà đẻ
Bảng 3.1 Tỷ lệ nuôi sống của gà qua 10 tuần thí nghiệm (%) (Trang 54)
Hình 3.1: Đồ thị tỷ lệ đẻ của gà ở các tuần thí nghiệm - So sánh ảnh hưởng của bột lá sắn và bột lá keo giậu trong khẩu phần đến năng suất và chất lượng trứng của gà đẻ
Hình 3.1 Đồ thị tỷ lệ đẻ của gà ở các tuần thí nghiệm (Trang 58)
Bảng 3.3: Năng suất và sản lƣợng trứng của gà thí nghiệm - So sánh ảnh hưởng của bột lá sắn và bột lá keo giậu trong khẩu phần đến năng suất và chất lượng trứng của gà đẻ
Bảng 3.3 Năng suất và sản lƣợng trứng của gà thí nghiệm (Trang 58)
Hình 3.2: Biểu đồ sản lượng trứng và trứng giống của các lô thí nghiệm  Nhận  xét:  Cột  biểu  thị  sản  lượng  trứng  và  trứng  giống  của  lô  TN1 - So sánh ảnh hưởng của bột lá sắn và bột lá keo giậu trong khẩu phần đến năng suất và chất lượng trứng của gà đẻ
Hình 3.2 Biểu đồ sản lượng trứng và trứng giống của các lô thí nghiệm Nhận xét: Cột biểu thị sản lượng trứng và trứng giống của lô TN1 (Trang 60)
Bảng 3.4: Một số chỉ tiêu lý học của trứng - So sánh ảnh hưởng của bột lá sắn và bột lá keo giậu trong khẩu phần đến năng suất và chất lượng trứng của gà đẻ
Bảng 3.4 Một số chỉ tiêu lý học của trứng (Trang 61)
Bảng 3.5: Thành phần hóa học của lòng đỏ trứng - So sánh ảnh hưởng của bột lá sắn và bột lá keo giậu trong khẩu phần đến năng suất và chất lượng trứng của gà đẻ
Bảng 3.5 Thành phần hóa học của lòng đỏ trứng (Trang 63)
Bảng 3.7: Hàm lƣợng carotenoid và điểm số quạt của lòng đỏ trứng - So sánh ảnh hưởng của bột lá sắn và bột lá keo giậu trong khẩu phần đến năng suất và chất lượng trứng của gà đẻ
Bảng 3.7 Hàm lƣợng carotenoid và điểm số quạt của lòng đỏ trứng (Trang 67)
Hình 3.3: Đồ thị carotenoid trong lòng đỏ trứng theo thời gian thí nghiệm  Nhận  xét:  Đường  biểu  thị  hàm  lượng  carotenoid  trong  lòng  đỏ  trứng  của lô đối chứng ổn định và thấp hơn TN1 (BLS) và TN2 (BLKG) - So sánh ảnh hưởng của bột lá sắn và bột lá keo giậu trong khẩu phần đến năng suất và chất lượng trứng của gà đẻ
Hình 3.3 Đồ thị carotenoid trong lòng đỏ trứng theo thời gian thí nghiệm Nhận xét: Đường biểu thị hàm lượng carotenoid trong lòng đỏ trứng của lô đối chứng ổn định và thấp hơn TN1 (BLS) và TN2 (BLKG) (Trang 69)
Bảng 3.8: Tỷ lệ trứng có phôi ở các giai đoạn thí nghiệm (%) - So sánh ảnh hưởng của bột lá sắn và bột lá keo giậu trong khẩu phần đến năng suất và chất lượng trứng của gà đẻ
Bảng 3.8 Tỷ lệ trứng có phôi ở các giai đoạn thí nghiệm (%) (Trang 70)
Hình 3.4: Biểu đồ tỷ lệ gà con loại I/trứng ấp của các lô thí nghiệm  Nhận xét: Cột biểu thị tỷ lệ gà con loại I/trứng ấp của lô TN1 (BLS) và - So sánh ảnh hưởng của bột lá sắn và bột lá keo giậu trong khẩu phần đến năng suất và chất lượng trứng của gà đẻ
Hình 3.4 Biểu đồ tỷ lệ gà con loại I/trứng ấp của các lô thí nghiệm Nhận xét: Cột biểu thị tỷ lệ gà con loại I/trứng ấp của lô TN1 (BLS) và (Trang 75)
Bảng 3.11: Tiêu tốn thức ăn cho 10 trứng và 10 trứng giống - So sánh ảnh hưởng của bột lá sắn và bột lá keo giậu trong khẩu phần đến năng suất và chất lượng trứng của gà đẻ
Bảng 3.11 Tiêu tốn thức ăn cho 10 trứng và 10 trứng giống (Trang 76)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm