Mối liên quan giữa chỉ số tăng vòng eo với tăng huyết áp trên bệnh nhân có hội chứng chuyển hóa .... Mối liên quan giữa chỉ số tăng triglyceride với tăng huyết áp và không tăng huyết á
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y - DƯỢC
HOÀNG VIỆT DŨNG
ĐẶC ĐIỂM TĂNG HUYẾT ÁP Ở NGƯỜI
CÓ HỘI CHỨNG CHUYỂN HÓA TẠI PHÒNG KHÁM QUẢN LÝ SỨC KHỎE CÁN BỘ TỈNH THÁI NGUYÊN
Chuyên ngành: Nội khoa
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu và kết quả trong Luận văn là trung thực và chưa từng được công bố dưới bất kỳ hình thức nào
Thái Nguyên, tháng 11 năm 2013
Tác giả Hoàng Việt Dũng
Trang 3Lời cảm ơn
Tôi xin trân trọng cảm ơn: Ban giám hiệu, phòng Quản lý đào tạo sau
Đại học, Bộ môn Nội Trường Đại Y - Dược Thái Nguyên đã giúp đỡ và tạo
điều kiện thuận lợi cho tôi học tập và nghiên cứu
Tôi xin chân thành cám ơn: Ban giám hiệu, Bộ môn Y học Cổ truyền
Trường Cao đẳng Y tế Thái Nguyên đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá
trình học tập
Tôi xin cám ơn: Lãnh đạo Ban Bảo vệ, chăm sóc sức khỏe cán bộ tỉnh
Thái Nguyên đã cộng tác, giúp đỡ tôi tiến hành nghiên cứu và hoàn thành
luận văn này
Với lòng biết ơn chân thành nhất, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới:
PGS.TS Trịnh Xuân Tráng, người thầy đã trực tiếp hướng dẫn, tận tình giúp
đỡ tôi trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn tại nhà trường
Tôi xin cám ơn: Các thầy, cô giáo Bộ môn Nội, các bộ môn liên quan đã
tận tình giảng dạy, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu
Xin được gửi lời cảm ơn sâu sắc tới: Gia đình, bạn bè, các bạn đồng
nghiệp cùng tập thể anh chị em học viên lớp cao học Nội K15 đã động viên,
ủng hộ tôi rất nhiều trong quá trình hoàn thành luận văn này
Hoàng Việt Dũng
Trang 4DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
BMI Chỉ số khối cơ thể (Body mass index)
HATT Huyết áp tâm thu
HATTr Huyết áp tâm trương
HCCH Hội chứng chuyển hóa
HDL-c High Density Lipoprotetin cholesterol
HTL Hút thuốc lá
ISH Hội tăng huyết áp Quốc tế (Associaton of Hypertension Internation)
LDL-c Lipoprotein tỉ trọng thấp (Low Density Lipoprotein cholesterol)
NMCT Nhồi máu cơ tim
RLGMLĐ Rối loạn glucose máu lúc đói
RLLP Rối loạn lipit
TĐH Tăng đường huyết
THA Tăng huyết áp
TMCT Thiếu máu cơ tim
WHO Tổ chức Y tế thế giới (Word Health Organization )
WHR Tỉ lệ vòng bụng/vòng mông (Waist-hip ratio)
YTNC Yếu tố nguy cơ
Trang 5MỤC LỤC
Trang
Đặt vấn đề 1
Chương 1 Tổng quan tài liệu 3
1.1 Tình hình bệnh tăng huyết áp ở trên thế giới và ở Việt Nam 3
1.2 Hội chứng chuyển hóa 16
1.3 Tăng huyết áp và hội chứng chuyển hóa 27
Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu 30
2.1 Đối tượng nghiên cứu 30
2.2 Thời gian và địa điểm 30
2.3 Phương pháp nghiên cứu 30
2.4 Chỉ tiêu nghiên cứu 31
2.5 Một số tiêu chuẩn được áp dụng trong nghiên cứu 33
2.6 Kỹ thuật thu thập số liệu 36
2.7 Phương tiện nghiên cứu 39
2.8 Xử lý số liệu 40
2.9 Đạo đức trong nghiên cứu 40
Chương 3: Kết quả nghiên cứu 41
3.1 Một số đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng của người có hội chứng chuyển hoá trên tăng huyết áp tại phòng khám quản lý sức khỏe cán bộ tỉnh Thái Nguyên 41
3.2 Mối liên quan giữa huyết áp và một số đặc điểm của HCCH trên bệnh nhân có HCCH 49
Chương 4: Bàn luận 54
4.1 Một số đặc điểm tăng huyết áp ở người có hội chứng chuyển hoá tại phòng khám quản lý sức khỏe cán bộ tỉnh Thái Nguyên 554
Trang 64.2 Mối liên quan giữa huyết áp và một số đặc điểm của HCCH trên
bệnh nhân có HCCH 63
KẾT LUẬN 67
KHUYẾN NGHỊ 68
TÀI LIỆU THAM KHẢO
BỆNH ÁN NGHIÊN CỨU
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Phân loại huyết áp cho người trưởng thành ( 18 tuổi) theo
JNC VI (Joint National Committee VI) 3
Bảng 1.2 Định nghĩa và phân loại huyết áp theo WHO - ISH 4
Bảng 1.3 Phân dộ huyết áp 4
Bảng 1.4 Chẩn đoán lâm sàng HCCH theo tiêu chuẩn NCEP-ATPIII 18
Bảng 2.1 Phân độ huyết áp 33
Bảng 2.2 Ngưỡng cắt BMI chẩn đoán thừa cân và béo phì 34
Bảng 3.1 Đặc điểm tuổi của đối tượng nghiên cứu 41
Bảng 3.2 Tỉ lệ sử dụng rượu/bia và thuốc lá của đối tượng nghiên cứu 42
Bảng 3.3 Đặc điểm sử dụng rượu bia ở bệnh nhân mắc HCCH có THA và không THA 43
Bảng 3.4 Đặc điểm hút thuốc lá ở bệnh nhân mắc HCCH có THA và không THA 44
Bảng 3.5 Đặc điểm hoạt động thể lực ở bệnh nhân mắc HCCH có THA và không THA 44
Bảng 3.6 Đặc điểm THA và không THA ở bệnh nhân có HCCH phân bố theo giới 45
Bảng 3.7 Đặc điểm THA và không THA ở bệnh nhân có HCCH phân bố theo nhóm tuổi 45
Bảng 3.8 Tỉ lệ tăng chỉ số BMI và WHR ở bệnh nhân THA và không THA có HCCH 46
Bảng 3.9 Đặc điểm huyết áp ở bệnh nhân THA có hội chứng chuyển hóa 46
Bảng 3.10 Biến đổi điện tim ở bệnh nhân mắc hội chứng chuyển hóa có tăng huyết áp 47
Trang 8Bảng 3.11 Tỉ lệ xuất hiện các tiêu chuẩn của hội chứng chuyển hóa ở
nhóm bệnh nhân mắc HCCH có THA 47
Bảng 3.12 Tỉ lệ xuất hiện các tiêu chuẩn của HCCH ở bệnh nhân mắc
tăng huyết áp có hội chứng chuyển hóa 48
Bảng 3.13 Tổn thương cơ quan đích ở bệnh nhân mắc hội chứng chuyển
hóa có tăng huyết áp 48
Bảng 3.14 Mối liên quan giữa chỉ số tăng vòng eo với tăng huyết áp trên
bệnh nhân có hội chứng chuyển hóa 49
Bảng 3.15 Mối liên quan giữa chỉ số tăng triglyceride với tăng huyết áp
và không tăng huyết áp trên bệnh nhân có hội chứng chuyển hóa 49
Bảng 3.16 Mối liên quan giữa thấp HDL-C với tăng huyết áp và không
tăng huyết áp trên bệnh nhân có hội chứng chuyển hóa 50
Bảng 3.17 Mối liên quan giữa chỉ số tăng glucose máu với tăng huyết áp
và không tăng huyết áp trên bệnh nhân có hội chứng chuyển hóa 50
Bảng 3.18 Mối liên quan giữa chỉ số tăng cholesterol với tăng huyết áp
và không tăng huyết áp trên bệnh nhân có hội chứng chuyển hóa 51
Bảng 3.19 Mối liên quan giữa chỉ số tăng LDL-C với tăng huyết áp và
không tăng huyết áp trên bệnh nhân có hội chứng chuyển hóa 51
Bảng 3.20 Mối liên quan giữa tổn thương não với tăng huyết áp và
không tăng huyết áp trên bệnh nhân có hội chứng chuyển hóa 52
Bảng 3.21 Tỉ lệ tổn thương thận ở nhóm bệnh nhân THA và không THA
có HCCH 52
Bảng 3.22 Tỉ lệ tổn thương tim ở nhóm bệnh nhân THA và không THA
có HCCH 53
Trang 9DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ
Trang 10ĐẶT VẤN ĐỀ
Tăng huyết áp là bệnh tim mạch phổ biến trong cộng đồng hiện nay Bệnh gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng như: tai biến mạch máu não, thiếu máu cơ tim, suy tim, suy thận… Trên thế giới, ở các nước đang phát triển, tỉ
lệ bệnh tăng huyết áp ở người lớn chiếm khoảng gần 30,0% dân số và có trên nửa dân số trên 50 tuổi có tăng huyết áp [58] Ở Việt Nam, tỉ lệ THA vào năm
1982 là 11,7% [29], sau đó đã nhanh chóng tăng lên 27,2% vào năm 2008 [5] Tăng huyết áp là một trong những tiêu chuẩn chẩn đoán của hội chứng chuyển hóa Đây là một chuỗi các bất thường vể chuyển hoá bao gồm béo bụng, rối loạn chuyển hoá lipid máu, tăng huyết áp và rối loạn dung nạp glucose [48] Hội chứng chuyển hóa là một trong những mối quan tâm hàng đầu trong thế kỷ XXI, đây là tập hợp các yếu tố nguy cơ dẫn đến hai bệnh lý chính là bệnh tim mạch và đái tháo đường týp 2 Tỉ lệ mắc hội chứng chuyển hóa gia tăng ngày càng mạnh mẽ khắp thế giới đặc biệt ở các nước đang phát triển, do sự phát triển về kinh tế và những thay đổi về lối sống [48]
Tỉ lệ hội chứng chuyển hóa ở Mỹ vào năm 2002 là 21,8% [54]; tại Ý vào năm 2005 là 22,3% ở nam và 27,2% ở nữ đối với những người ≥ 20 tuổi [63]
Tỉ lệ hội chứng chuyển hóa ở Ấn Độ năm 2004 là 31,6%; trong đó nam là 22,9% và nữ là 39,9% [49] Tại Việt Nam, nghiên cứu ở những người ≥ 40 tuổi ở Hà Nam cho tỉ lệ người mắc hội chứng chuyển hóa là 28,3%; trong đó
tỉ lệ nam là 31,7% và nữ là 19,8% [22] Khảo sát về hội chứng chuyển hóa ở cán bộ tỉnh Bạc Liêu cho tỉ lệ mắc hội chứng chuyển hóa rất cao với 55,8% [24] Những bệnh nhân có hội chứng chuyển hóa có nguy cơ có bị biến chứng nhồi máu cơ tim và/hoặc tai biến mạch máu não cao gấp 3 lần; nguy cơ tử vong cao gấp 2 lần so với người bình thường [78], [54]
Trang 11Tăng huyết áp và hội chứng chuyển hóa có mối quan hệ chặt chẽ Sự kết hợp của cả hai bệnh làm tăng nguy cơ biến chứng và tử vong cao hơn cho bệnh nhân Hơn một nửa (52,76%) bệnh nhân tăng huyết áp có hội chứng chuyển hóa [28] Bệnh nhân THA có HCCH sẽ gia tăng thêm các tổn thương
ở các cơ quan đích như thận, não, tim Nghiên cứu của Lê Quốc Tuấn và cộng
sự (2012) trên 341 bệnh nhân tăng huyết áp nguyên phát cho kết quả: ở nhóm bệnh nhân tăng huyết áp có hội chứng chuyển hóa có nguy cơ bị tổn thương não cao gấp 15,2 lần, tổn thương thận cao gấp 1,9 lần và tổn thương tim cao gấp 2,4 lần so với nhóm chỉ có tăng huyết áp đơn thuần [33] Tuy nhiên hiện nay có rất ít nghiên cứu về đặc điểm tăng huyết áp ơ bệnh nhân có hội chứng chuyển hóa
Phòng Khám, quản lý sức khỏe cán bộ tỉnh Thái Nguyên là nơi khám, chữa bệnh, theo dõi và quản lý sức khỏe các cán bộ trung cao cấp trên địa bàn tỉnh Họ là những người luôn phải làm việc trong tình trạng chịu đựng áp lực
và cường độ lao động trí óc cao, dinh dưỡng không hợp lý, ít vận động thể lực… từ đó nguy cơ bị bệnh tăng huyết áp và rối loạn chuyển hoá cao
Để hiểu rõ hơn về đặc điểm của những bệnh nhân bị tăng huyết áp có hội chứng chuyển hoá ở cán bộ diện bảo vệ sức khỏe, từ đó đưa ra những biện pháp quản lý, phòng và điều trị thích hợp nhằm làm giảm nguy cơ biến chứng
của bệnh Chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đặc điểm tăng huyết áp ở
người có Hội chứng chuyển hoá tại Phòng khám, quản lý sức khỏe cán bộ tỉnh Thái Nguyên” với 02 mục tiêu:
1 Xác định một số đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng của tăng huyết áp
ở người có hội chứng chuyển hoá tại phòng khám quản lý sức khỏe cán bộ tỉnh Thái Nguyên
2 Mô tả mối liên quan giữa huyết áp và một số đặc điểm của hội chứng chuyển hoá
Trang 12Chương 1 TỔNG QUAN
1.1 Tình hình bệnh tăng huyết áp ở trên Thế giới và ở Việt Nam
1.1.1 Định nghĩa tăng huyết áp
Theo Tổ chức y tế thế giới (Word Health Organization - WHO) và Hiệp hội tăng huyết áp quốc tế (International Society of Hypertension - ISH) đã
thống nhất đưa ra định nghĩa về tăng huyết áp (THA) như sau: “Tăng huyết áp
được xác định khi huyết áp tâm thu ≥ 140 mmHg và/hoặc huyết áp tâm trương ≥ 90 mmHg” [4], [66]
1.1.2 Phân loại tăng huyết áp
Có nhiều cách phân loại THA như phân loại THA của WHO – ISH [79] hay cách phân loại của Liên ủy ban Quốc gia về dự phòng, phát hiện, đánh giá
và điều trị THA Hoa Kỳ (Joint National Committee – JNC) [66] Nhiều tác giả theo trường phái Mỹ sử dụng phân loại theo JNC VI, vì nó đơn giản và có
tính chất thực hành, cảnh báo nguy cơ các biến chứng THA nhiều hơn [66]
Bảng 1.1 Phân loại huyết áp cho người trưởng thành (≥ 18 tuổi)
theo JNC VI (Joint National Committee VI )
Tăng huyết áp
THA giai đoạn II 160 – 179 và/hoặc 100 - 109
Nguồn: The Sixth report of the Joint National Committee on Prevention, Detection, Evaluation, and Treatment of High Blood Pressure (1997)[66]
Trang 13Đến năm 1999, WHO-ISH đã đưa ra cách phân loại THA mới: Họ chọn
từ “độ” thay cho từ “giai đoạn” vì từ “giai đoạn” chỉ sự tiến triển theo thời gian, do đó không phù hợp cho phân độ
Bảng 1.2 Định nghĩa và phân loại huyết áp theo WHO-ISH
Nguồn: 1999 World Health Organization-International Society of
Hypertension Guidelines for the Management of Hypertension [79]
Hầu hết hiện nay người ta sử dụng cách phân loại của JNC VI (Uỷ ban phòng chống THA Hoa Kỳ) do tính chất thực tiễn và khả thi của nó Theo hướng dẫn chẩn đoán và điều trị của Bộ Y tế Việt Nam (2010) [4] (ban hành kèm theo Quyết định số 3192/QĐ-BYT ngày 31 tháng 08 năm 2010) thì THA được phân độ như sau:
Nguồn: Bộ Y tế - Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị tăng huyết áp (2010) [4]
Trang 141.1.3 Nguyên nhân tăng huyết áp
Nguyên nhân THA được chia làm 2 loại: THA nguyên phát và THA thứ phát
1.1.3.1 Tăng huyết áp nguyên phát
Phần lớn THA không tìm thấy nguyên nhân hoặc chưa rõ nguyên nhân được gọi là THA nguyên phát hay bệnh THA Tỉ lệ THA nguyên phát chiếm khoảng 90% THA nói chung [3]
1.1.3.2 Tăng huyết áp thứ phát: là THA do hậu quả của các bệnh khác như:
- THA do bệnh thận: Viêm cầu thận cấp, viêm thận mạn, thận đa nang…
- THA do bệnh nội tiết: hội chứng cường aldosteron tiên phát, hội chứng Cushing, u tuỷ thượng thận, cường giáp, cường tuyến yên
- THA do các bệnh tim mạch: bệnh hẹp eo động mạch chủ, hở van động mạch chủ, bệnh vô mạch (Takayashu)
- THA do thuốc và hoá chất: các hormon chống thụ thai, cam thảo, corticoid, chất gây chán ăn, các thuốc cường alpha giao cảm
- THA do nguyên nhân khác: nhiễm độc thai nghén, rối loạn thần kinh
- THA do bệnh chuyển hoá: Bệnh đái tháo đường (ĐTĐ), bệnh tăng acid uric máu (bệnh gute) [3], [35]
1.1.4 Các yếu tố nguy cơ tăng huyết áp
THA là bệnh phổ biến, bệnh do nhiều yếu tố nguy cơ (YTNC) gây nên, các YTNC được chia thành 2 nhóm chủ yếu là YTNC có thể thay đổi như BMI, hút thuốc lá và nhóm YTNC không thể thay đổi như tuổi, tiền sử gia đình có người bị THA
1.1.4.1 Tuổi
THA tăng đần theo tuổi, đặc biệt ở nhóm tuổi có độ tuổi ≥ 60 [35], [42] Kết quả nghiên cứu tại Hàn Quốc (2001) đã chứng minh THA có liên quan đến tuổi, tuổi càng cao thì nguy cơ THA càng cao [56] Nghiên cứu tại
Trang 15Malaysia (2010) cho thấy độ tuổi tăng theo phân nhóm 10 năm thì nguy cơ mắc THA tăng 2.29 (95% CI: 1.53-3.43) lần giữa các nhóm tuổi [80]
1.1.4.2 Tiền sử gia đình có người mắc bệnh THA
Tiền sử gia đình (bố, mẹ, anh chị em ruột có người bị THA trước tuổi 60)
là YTNC gây THA [3], [35] Trong nghiên cứu của tác giả Masahiko Tozawa
và cộng sự (cs) (2001) cho thấy, sau khi hiệu chỉnh với các YTNC khác như: tuổi, giới, hút thuốc lá, uống rượu thì người có tiền sử gia đình có 1 người, 2 người, ≥ 3 người bị THA có nguy cơ mắc THA cao gấp 2,74 (95%CI: 2,43-3,10); 4,62 (95%CI: 3,62-5,90) và 6,04 (95%CI: 3,51-10,04) lần so với người không có tiền sử gia đình bị THA [83]
1.1.4.3 Đái tháo đường
Bệnh ĐTĐ và bệnh THA có mối liên quan đặc biệt THA là hậu quả của ĐTĐ hoặc có thể là YTNC gây ĐTĐ Nghiên cứu ở Morocco (2012) cho thấy 70,4% bệnh nhân ĐTĐ týp 2 bị THA [46], hay theo nghiên cứu của tác giả Wayne V Moore và cs (1998) thì có 78,0% bệnh nhân ĐTĐ týp 2 tại bệnh viên tuyến trên (huyến huyện trở lên) có THA và 55% bệnh nhân ĐTĐ týp 2 tại tuyến y tế cơ sở có THA [64]
1.1.4.4 Rối loạn lipid máu
RLLP máu làm tăng nguy cơ mắc THA và THA cũng có liên quan mật thiệt đến RLLP máu Trong nghiên cứu có thời gian theo dõi dọc trung bình 14,1 năm của tác giả Ruben O Halperin và cs (2006) cho thấy, trong tổng số
3110 nam giới, nhóm có total cholesterol (TC) và tỉ số TC/HDL-C (high density lipoprotein – cholesterol) cao trên 4/5 tổng giá trị có nguy cơ mắc THA cao hơn 23,0% và 54,0% so với nhóm có TC và của tỉ số TC/HDL-C chiếm 1/5 tổng giá trị Nhóm có hàm lượng HDL-C máu cao trên 4/5 tổng giá trị giảm nguy cơ mắc THA 32,0% so với nhóm có hàm lượng HDL-C máu chiếm 1/5 tổng giá trị [52] Nghiên cứu về RLLP máu ở bệnh nhân THA
Trang 16(2007) cho thấy tỉ lệ RLLP máu ở bệnh nhân THA là 68,49%; tăng TC chiếm 49,32%; tăng Triglyceride (TG) là 41,1%; thấp HDL-C là 9,59% và tăng (low density lipoprotein – cholesterol) LDL-C là 31,51% [18] Tỉ lệ RLLP ở nhóm bệnh nhân THA kịch phát chiếm 97,8%; cao gấp 11,3 lần so với nhóm THA nguyên phát (có tỉ lệ RLLP là 79,6%) và cao gấp 22,0 lần so với nhóm bệnh nhân bệnh nhân khác (có độ tuổi tương tự) [25]
1.1.4.5 Chỉ số khối cơ thể (Body mass index-BMI)
Thừa cân và béo phì là YTNC cao của THA và được xác định bằng chỉ
số khối cơ thể Một nghiên cứu năm 2008 cho thấy tỉ lệ bệnh nhân THA ở người béo phì cao gấp 2 lần ở những người không bị béo phì [61] Nghiên cứu về THA ở quần thể người trưởng thành ở thành phố Maracaibo (Venezuela) cho thấy người có BMI ≥ 25 bị THA chiếm tỉ lệ cao so với người
có BMI < 25 (47,6% so với 24,2%, theo thứ tự) Nghiên cứu ở Hàn Quốc (2001) cũng chỉ ra rằng BMI và vòng eo (vòng bụng) (VE) liên quan có ý ngĩa thống kê với tỉ lệ THA ở cả nam và nữ [56] Theo nghiên cứu của Lý Huy Khanh và cs (2011) thì người có BMI ≥ 23 kg/m2 có nguy cơ mắc THA cao gấp 4,7 lần so với người có BMI < 23 kg/m2
[14]
1.1.4.6 Tỉ lệ vòng eo/vòng mông (Waist-hip ratio - WHR):
WHR là giá trị của phép chia giữa số đo chu vi VE và số đo chu vi vòng mông (tại vị trí lớn nhất có thể của vòng mông) Bệnh nhân được gọi là béo phì khi WHR > 0,95 ở nam và WHR > 0,85 ở nữ và WHR có liên quan tới THA [90] Trong một nghiên cứu tại Nigeria, tác giả Sanya đã chứng minh rằng BMI và WHR có mối liên quan tuyến tính với THA [77], theo tác giả Lý Huy Khanh thì béo phì theo WHR làm tăng nguy cơ THA 3,2 lần [14]
1.1.4.7 Thói quen hút thuốc lá
Trong thuốc lá có nicotin mà nicotin kích thích thần kinh giao cảm làm
co mạch ngoại vi gây THA Hút một điếu thuốc lá làm huyết áp tâm thu
Trang 17(HATT) có thể tăng lên 11 mmHg, huyết áp tâm trương (HATTr) tăng lên 9mmHg và tình trạng này có thể kéo dài 20 - 30 phút, hút nhiều có thể có những cơn THA kịch phát nguy hiểm [9] Hút thuốc lá (HTL) làm xơ cứng động mạch và những trường hợp THA có hút thuốc gặp nhiều biến chứng nguy hiểm của THA so với THA không HTL [86], hay theo tác giả Âu Bích Thủy (2010) nghiên cứu ở đàn ông Việt Nam thì những nam giới hút thuốc từ
30 năm trở lên hoặc 20 gói/năm trở lên có nguy cơ bị THA cao gấp 1.52 lần
và 1.34 lần (theo thứ tự) so với nhóm nam giới không bao giờ hút thuốc [82]
1.1.4.8 Uống nhiều bia, rượu
Rượu là một trong số những yếu tố thuận lợi gây THA [3] Theo WHO thì “rượu làm THA và đó là YTNC của tai biến mạch não, thường thấy phối hợp với bệnh tim, loạn nhịp tim, tăng xuất huyết não”; hàng năm có khoảng 4% tử vong trên toàn thế giới có liên quan đến rượu [91] Theo nghiên cứu của tác giả Chu Hồng Thắng và Dương Hồng Thái (2008) thì tỉ lệ THA ở nhóm uống rượu cao hơn 1,28 lần so với nhóm không uống rượu [26]
1.1.4.9 Ăn mặn
Muối ăn đóng vai trò quan trọng trong điều hoà thể tích ngoại bào và là yếu tố chính điều hoà huyết áp (HA) Giữa muối ăn và HA có mối quan hệ tiến triển và liên tục, không có ngưỡng rõ ràng [41] Lượng muối ăn càng nhiều thì HA càng tăng: cứ tăng mỗi 100 mmol muối ăn hàng ngày thì HATT tăng 12 mm Hg và HATTr tăng 7 mm Hg [1] Bệnh nhân THA nên giảm hàm lượng muối ăn xuống dưới 4g/ngày [53] Nếu giảm hàm lượng muối ăn hàng ngày ở mức cao (3,3 ± 1,3g/ngày) xuống mức độ trung bình (2,4 ± 1,2g/ngày)
sẽ làm giảm 2,1 mmHg HATT, còn nếu giảm hàm lượng muối ăn hàng ngày
ở mức trung bình (2,4 ± 1,2g/ngày) xuống mức độ thấp (1,5 ± 0,8g/ngày) sẽ làm giảm 4,6 mmHg HATT [70]
Trang 181.1.4.10 Lối sống tĩnh tại
Thói quen sống tĩnh tại rất nguy hại đối với hệ tim mạch; không vận động được coi là nguyên nhân của 5-13% các trường hợp THA hiện nay [72] Trong nghiên cứu tổng quan về lợi ích của việc tập thể dục thể thao (2006), Darren E.R Warburton và cs [88] đã cung cấp những bằng chứng không thể chối cãi về tác dụng của tập thể dục thể thao đối với việc phòng ngừa THA Nghiên cứu tại Jakarta (Indonesia) cho thấy ở nhóm đối tượng có thói quen vận động giảm nguy cơ mắc THA thấp hơn 0,4 (95%CI: 0,16 – 0,97) lần so với nhóm ít vận động [76]
1.1.4.11 Có nhiều stress (căng thẳng, lo âu quá mức)
Yếu tố tâm lý, tình trạng căng thẳng (stress) thường xuyên là một trong những yếu tố thuận lợi gây THA [2][3] Căng thẳng thần kinh, stress làm tăng nhịp tim Dưới tác dụng của các chất trung gian hóa học là Adrenalin, noradrenalin làm động mạch bị co thắt dẫn đến THA
1.1.5 Tổn thương cơ quan đích do tăng huyết áp
1.1.5.1 Tổn thương tim
Tổn thương tim có thể gặp gồm có các tổn thương cấp tính như: Phù phổi cấp, nhồi máu cơ tim cấp; ngoài ra THA sẽ gây các tổn thương mạn tính tại tim như: dày thất trái, suy mạch vành mạn, suy tim [35] Bệnh nhân bị THA, sức cản mạch máu tăng lên dẫn đến tim phải tăng hoạt động bù trừ, lâu dài dẫn đến dày thất trái, lưu lượng tim và lưu lượng tâm thu giảm, gây suy tim Ngoài khám lâm sàng, X quang và điện tim sẽ thấy có biểu hiện này [3]
1.1.5.2 Tổn thương mạch máu
THA là yếu tố sinh vữa xơ động mạch [3] THA làm tăng độ dày nội mạc động mạch cảnh và phát hiện mảng vữa xơ động mạch cảnh có giá trị cao trong dự báo nhồi máu cơ tim Động mạch chủ vồng cao, nếu kết hợp vữa xơ
Trang 19động mạch có vôi hoá cung động mạch chủ; phình, giãn, bóc tách động mạch chủ, động mạch chậu và động mạch chi dưới
1.1.5.3 Tổn thương thận
THA làm tăng sức cản mạch thận, giảm lưu lượng máu tại thận, từ đó làm cho chức năng thận giảm [3] THA gây ra nhiều tổn thương tại thận với các biểu hiện như: đái máu, đái ra protein, suy thận [35] Tổn thương thận ở người THA có biểu hiện là nồng độ creatinin tăng hoặc độ thanh thải creatinin giảm, có albumin niệu vi thể hoặc đại thể Tăng creatinin phản ánh giảm mức lọc cầu thận, tăng đào thải protein niệu phản ánh thương tổn cầu thận
1.1.5.4 Tổn thương mắt
THA gây tổn thương mắt theo các mức độ khác nhau [3], các dấu hiệu tổn thương hay gặp ở các bệnh nhân ≥ 40 tuổi [89] Ở người THA, khám đáy mắt đánh giá tổn thương mắt là dấu hiệu quan trọng để tiên lượng bệnh Trong nghiên cứu của tác giả Lê Hoàng Anh Tú, Lê Minh Tuấn (2009) thì tỉ
lệ bệnh nhân THA có tổn thương võng mạc với các triệu chứng: bắt chéo động – tĩnh mạch chiếm 38,28%, hẹp tiểu động mạch toàn bộ 89,84%; hẹp tiểu động mạch khu trú 13,28%; xuất huyết võng mạc 22,66%; xuất tiết 19,53%, nốt dạng bông 14,66% và phù gai là 8,6% [31]
1.1.5.5 Tổn thương não
THA là YTNC cao dẫn đến các tổn thương não, trong đó tai biến mạch máu não (TBMMN) là biến chứng hay gặp nhất [3] Các triệu chứng của tổn thương não do THA bao gồm:
- Thiếu máu não: đau đầu, hoa mắt, chóng mặt, rối loạn giấc ngủ
- Rối loạn tâm thần do THA, sa sút trí tuệ, động kinh
- Cơn thiếu máu não cục bộ thoáng qua: bệnh nhân bị tổn thương thần kinh khu trú (ví dụ: bại liệt nửa mặt, rối loạn ngôn ngữ, liệt trung ương dây thần kinh VII, mù ) nhưng phục hồi hoàn toàn trong 24 giờ
Trang 20- Tùy thuộc vào vị trí tổn thương của động mạch não mà gây những triệu chứng lâm sàng khác nhau như: liệt trung ương 1/2 người, liệt trung ương dây thần kinh VII, rối loạn ngôn ngữ, rối loạn cơ vòng, thất điều
1.1.6 Điều trị tăng tăng huyết áp
1.1.6.1 Nguyên tắc điều trị
- Điều trị đúng, đủ hàng ngày, theo dõi đều và điều trị lâu dài
- Mục tiêu điều trị là đạt HA mục tiêu và giảm tối đa nguy cơ tim mạch
- HA mục tiêu cần đạt là HA < 140/90mmHg hoặc < 130/80mmHg nếu bệnh nhân có nguy cơ tim mạch cao [3], [4], [35]
Do đó phải giải quyết 3 vấn đề là [3]: Điều trị nguyên nhân THA (nếu
có); Điều trị triệu chứng THA và Điều trị biến chứng của THA (nếu có)
1.1.6.2 Điều trị không dùng thuốc bằng cách điều chỉnh lối sống
- Giảm cân nặng: duy trì chỉ số BMI từ 18,5 - 22,9
- Hạn chế uống rượu: Mỗi ngày uống ít hơn 3 cốc chuẩn/ngày (nam), ít hơn 2 cốc chuẩn/ngày (nữ) và tổng cộng ít hơn 14 cốc chuẩn/tuần (nam), ít hơn 9 cốc chuẩn/tuần (nữ) Một cốc chuẩn tương đương 10g ethanol, tương đương 330 ml bia hoặc 120 ml rượu vang hoặc 30 ml rượu mạnh [4]
- Hoạt động thể lực: HA có thể giảm ở những người hoạt động thể lực mức độ thích hợp như tập thể dục, đi bộ hoặc vận động ở mức độ vừa phải, đều đặn khoảng 30-60 phút mỗi ngày [4]
- Thực hiện chế độ dinh dưỡng hợp lý: Mỗi ngày ăn không quá 4g muối [53] ngoài ra cần ăn đủ lượng kali, canxi và magiê Hạn chế ăn chất có nhiều cholesterol, chất mỡ động vật, ăn đủ lượng rau, quả …
- Không hút thuốc lá/thuốc lào
- Tránh lo âu căng thẳng (stress), tránh lạnh [3], [4], [35]
Trang 211.1.6.3 Điều trị bằng các loại thuốc hạ huyết áp
Có rất nhiều loại thuốc hạ áp và được xếp thành 06 nhóm lớn Sử dụng thuốc tùy theo từng trường hợp người bệnh cho phù hợp
- Nhóm thuốc lợi tiểu
- Nhóm thuốc tác động lên thần kinh giao cảm
- Nhóm thuốc giãn mạch trực tiếp
- Nhóm thuốc chẹn kệnh canxi
- Nhóm thuốc ức chế men chuyển
- Nhóm thuốc ức chế thụ thể angiotensin II [3], [4], [35]
1.1.7 Tình hình bệnh tăng huyết áp trên thế giới
THA là một bệnh tim mạch phổ biến ở tất cả các nước trên thế giới Bệnh gây ảnh hưởng lớn đến nhiều cơ quan như tim, não, thận và gây nhiều biến chứng nặng nề [3][35] Theo WHO, THA là nguyên nhân gây tử vong 9 triệu người mỗi năm và chiếm 12,8% nguyên nhân tử vong toàn cầu [92]
Tỉ lệ bệnh THA trong cộng đồng hiện tại đang ở mức cao và là một bệnh
có tốc độ gia tăng nhanh chóng Tỉ lệ bệnh nhân THA ở người trưởng thành nói chung trên toàn thế giới là 26,4% vào năm 2000, trong đó tỉ lệ THA ở nam chiếm 26,6% và ở nữ chiếm 26,1% [58] Dự kiến tỉ lệ bệnh nhân THA sẽ tăng lên 29,2% (95%CI: 28,8%-29,7%) vào năm 2025; trong đó tỉ lệ THA ở nam giới là 29,0% (95%CI: 28,6%-29,4%) và nữ là 29,5% (95%CI:29,1%-29,9%) Năm 2025, tổng số bệnh nhân THA ở độ tuổi trưởng thành sẽ tăng lên 60% so với năm 2000 và đạt khoảng 1,56 tỉ bệnh nhân (95%CI: 1,54-1,58
tỉ người) [58] Tỉ lệ mắc mới bệnh THA vào khoảng 3% - 18%, phụ thuộc vào các yếu tố tuổi, giới, dân tộc và kích cỡ cơ thể của từng dân số [51]
Mỗi quốc gia, mỗi dân tộc khác nhau thì tỉ lệ bệnh nhân mắc bệnh THA lại khác nhau Một nghiên cứu ở Mỹ cho thấy, tỉ lệ THA ở người trưởng thành giai đoạn 1999-2000 chiếm 28,6%; giai đoạn 2001-2002 chiếm 27,9%
Trang 22và giai đoạn 2003-2004 chiếm 29,6% Nghiên cứu ở những đối tượng ≥ 30 tuổi ở vùng thành thị phía Bắc Ấn Độ (2008) cho kết quả tỉ lệ bệnh nhân THA
ở vùng thành thị chiếm 32,2% và tỉ lệ tiền THA là 32,3% [94] Nghiên cứu tại Hàn Quốc (2001) nhận định tỉ lệ THA ở đối tượng từ 18-92 tuổi chiếm 33,7%; trong đó THA độ I chiếm 64,9%, THA độ II chiếm 22,5% và 12,5% bệnh nhân THA độ III [56] Nghiên cứu về THA ở Malaysia (2010) ở đối tượng ≥ 18 tuổi cho kết quả tỉ lệ THA ở vùng nông thôn chiếm 29,8% so với
tỉ lệ THA chung của Malaysia là 32,2% [80] Kết quả nghiên cứu của T.Sulbarán và cs cho tỉ lệ THA ở Maracaibo, Venezuela (2000) chiếm 36,9% THA là một YTNC cao đối với bệnh tim mạch [71] và hội chứng chuyển hóa Bệnh được coi là nguyên nhân của gần 80% trường hợp tử vong do bệnh tim mạch ở các nước đang phát triển [92], [93] Đồng thời, THA là nguyên nhân của 45% trường hợp tử vong do bệnh tim và 51% trường hợp tử vong do đột quỵ [92] THA đóng vai trò chủ yếu hoặc góp phần chính trong 11,4% tổng số ca tử vong ở Mỹ năm 2003 Trong vòng 10 năm (1993 - 2003), tỉ lệ tử vong do THA tăng 29,3% THA giai đoạn II trở lên (HA 160/95 mmHg) làm tăng nguy cơ đột quỵ thêm 4 lần so với người có HA bình thường THA cũng tăng nguy cơ phát triển suy tim ứ huyết 2 – 3 lần Năm 1999 – 2000 có tới 37,5 triệu lượt bệnh nhân phải đi khám vì THA tại Mỹ
Các nghiên cứu ở bệnh viện tuyến tỉnh tại Nigeria cho thấy, trong tổng số bệnh nhân nhập viện thì có 23,7% bệnh nhân nhập viện do THA [60], trong
đó có 52,5% bệnh nhân có tiền sử được chẩn đoán THA [84] Biến chứng THA hay gặp nhất ở bệnh nhân là TBMMN (44,4% [60]), tiếp theo đó là các biến chứng suy tim sung huyết và suy thận mạn [84] Tử vong do biến chứng THA chiếm 10,5% [84] nguyên nhân tử vong ở bệnh nhân trưởng thành toàn viện; trong đó tử vong do TBMMN chiếm 39,3% và tử vong do các bệnh thận
Trang 23mạn tính chiếm 36,6% [60] Tỉ lệ tử vong hàng năm của bệnh nhân trưởng thành nhập viện do THA là 22,1% [84]
Kiểm soát HA có hiệu quả cũng làm giảm tỉ lệ tử vong và biến chứng của các bệnh tim mạch [93] Tuy vậy, tỉ lệ kiểm soát tốt HA bằng thuốc trên thế giới chỉ đạt từ 25 – 40% Điều trị thuốc hạ áp tích cực cho phép giảm số
đo HATT 6,3 mmHg so với nhóm chứng không dùng thuốc hạ áp tích cực, hơn nữa nhóm chứng không dùng thuốc hạ áp tích cực lại làm tăng số đo HA thêm 4,8 mmHg [38] Các mô hình như bệnh nhân tự theo dõi HA, nhân viên
y tế theo dõi phải được xây dựng và đánh giá thêm Giáo dục truyền thông trực tiếp cho người bệnh hoặc thầy thuốc đơn thuần không có tác dụng đáng
kể trong việc làm giảm số đo HA ở bệnh nhân THA
Tuy nhiên trên thực tế, có một tỉ lệ lớn bệnh nhân không được chẩn đoán
và quản lý THA Một nghiên cứu cho thấy trong tổng số bệnh nhân THA, có hơn một nửa (54,3%) không nhận thức được sự nguy hiểm trong tình trạng THA của mình, 22,8% bệnh nhân không đi kiểm tra HA thường xuyên và chỉ
có 4,5% bệnh nhân thực hiện kiểm soát tốt HA Tỉ lệ này còn cao hơn ở vùng nông thôn với 50% bệnh nhân THA không được chẩn đoán và 48% bệnh nhân không được quản lý THA [80]
1.1.8 Tình hình bệnh tăng huyết áp ở Việt Nam
Tại Việt Nam, bệnh THA đang là vấn nạn của toàn xã hội Bệnh THA có
xu hướng gia tăng nhanh chóng, khi nền kinh tế ngày càng phát triển Năm
1976, tỉ lệ THA ở dân số trưởng thành miền Bắc chỉ chiếm 1,9% thì vào năm
2008, nghiên cứu về THA đối với người ≥ 24 tuổi trên toàn quốc cho thấy tỉ
lệ này đã tăng lên đến 27,2% [5] Kết quả điều tra dịch tễ học bệnh THA năm 1989-1992 của Trần Đỗ Trinh và cs cho thấy: Tỉ lệ THA ở Việt Nam năm
1982 là 11,7% trong đó THA chính thức là 5,1%, THA giới hạn là 6,7%, ngoài ra còn THA không bền là 0,7% [29] Phạm Gia Khải và cs đã điều tra
Trang 24trong dân số trên 2,5 triệu người ở Hà Nội năm 1999 cho thấy tỉ lệ mắc bệnh THA là 16,05% trong dân số cần phải được điều trị [13], đồng thời, theo tác giả thì tỉ lệ THA tăng lên theo tuổi đời, ở nam cao hơn nữ (p<0,01) [12]
Ở Việt Nam đã có nhiều nghiên cứu về THA với tỉ lệ THA khác nhau giữa các vùng miền Nghiên cứu của tác giả Chu Hồng Thắng và Dương Hồng Thái (2008) tại Thái Nguyên cho thấy có có 17,7% người dân trong cộng đồng bị THA và tỉ lệ THA ở nam (20,3%) cao hơn nữ (15,4%) [26] Kết quả nghiên cứu tại Bắc Bình Định cho thấy tần suất THA chung là 34,33%; trong đó có nam giới mắc THA chiếm 11,67% và nữ là 22,65% [20] Hồ Lan
và cs (2007) nghiên cứu trên đối tượng là cán bộ diện bảo vệ chăm sóc sức khỏe (BVCSSK) ở Nghệ An cho kết quả tỉ lệ THA chung là 37,2%; trong đó THA độ I chiếm 43,27%; THA độ II là 42,39% và THA độ III là 4,04% [16] Phần lớn bệnh nhân THA có phơi nhiễm với từ 2-3 YTNC, trong đó tăng TC máu là 51,37%; tăng TG máu 41,0%; uống rượu bia 32,11%; hút thuốc lá/lào 34,25%; ít vận động 60,55%; yếu tố gia đình chiếm 27,0% [16] Nghiên cứu ở Vũng Tàu (2009) chỉ ra rằng tỉ lệ bệnh nhân THA có các hành vi nguy cơ như
ăn mặn chiếm cao nhất 81,0%; không hoạt động thể lực 60,0%; tiếp theo đó là uống rượu bia 55,0% và hút thuốc lá 35,0% [21]
Kiến thức, thái độ và thực hành (KAP) phòng chống THA của người dân
là một vấn đề cần được quan tâm trong việc phòng và điều trị THA, nhưng thực tế cho thấy KAP phòng chống THA của người dân trong cộng đồng và của bệnh nhân THA còn hạn chế Nghiên cứu của Đào Ngọc Quân và Trần Thị Xuân Hòa cho thấy: phần lớn (75,5%) bệnh nhân THA không quan tâm đến bệnh; 13,0% bệnh nhân THA cho rằng HTL không ảnh hưởng đến tim mạch và 22,0% bệnh nhân không biết vấn đề này; 29,5% bệnh nhân không biết ăn mặn làm THA; 24,5% bệnh nhân không biết uống rượu bia làm ảnh
Trang 25hưởng đến HA; 38,5% bệnh nhân cho rằng THA không cần điều trị thường xuyên và 25,5% bệnh nhân không biết THA cần điều trị thường xuyên [23]
Ở Việt Nam, THA cũng là nguyên nhân hàng đầu gây ra TBMMN nói riêng và các bệnh về tim mạch nói chung Nghiên cứu của Trường Đại học Y
tế công cộng (2008), bệnh tim mạch gây ra một phần lớn gánh nặng bệnh tật ở Việt Nam năm 2008 với số năm sống tàn tật hiệu chỉnh (DALYs)/100.000 dân chiếm 10,4% đối với bệnh đột quỵ; 2,5% với bệnh mạch vành và 5,3% đối với các bệnh tim mạch khác [30] Kể cả đối với bệnh nhân được quản lý
và dùng thuốc liên tục, tỉ lệ tai biến xảy ra vẫn chiếm 3,54%, cơn THA kịch phát 0,32%, nhồi máu cơ tim 0,32% và tỉ lệ tử vong 0,32% [16]
Bệnh nhân THA đòi hỏi phải có sự quản lý tốt nhằm đề phòng các biến chứng do THA và giảm thiểu nguy cơ tử vong Tuy nhiên trên thực tế, công tác quản lý THA, đặc biệt ở tuyến y tế cơ sở còn chưa cao Theo nghiên cứu tại Trà Vinh cho thấy, trong tổng số bệnh nhân THA thì tỉ lệ bệnh nhân THA
độ 1 là 44,92%; THA độ 2 là 22,93% và THA độ 3 là 7,33% Trong tổng số bệnh nhân THA, tỉ lệ phơi nhiễm với ≥ 3 YTNC chiếm 31,02% và tỉ lệ bệnh nhân THA điều trị đạt HA mục tiêu chỉ có 24,08% [15]
1.2 Hội chứng chuyển hóa
1.2.1 Đại cương
Hội chứng chuyển hóa (HCCH) là một vấn đề nổi cộm của y tế công cộng hiện nay Bệnh được phát hiện lần đầu tiên vào năm 1923 khi tác giả Kylin mô tả một hội chứng bao gồm sự phối hợp giữa THA, tăng đường máu
và tăng axit uric máu [62] Vào những năm 1940 tác giả Vague đã mô tả béo bụng, phân bố béo phì trong cơ thể và mối liên quan đến ĐTĐ và các bệnh lý khác [85] Năm 1965, Avogaro và Crepaldi lại mô tả một hội chứng bao gồm THA, tăng đường huyết và béo phì [43]
Trang 26Năm 1988, Gerry Reaven (Mỹ) đã xếp các bệnh nhân mắc nhóm các YTNC tim mạch như THA, bất dung nạp glucose, TG tăng cao và nồng độ HDL-C thấp vào một nhóm gọi là hội chứng X [74] Đây chính là một yếu tố cho sự hình thành khái niệm “kháng insulin” Năm 1989, hội chứng này được đổi tên thành “Hội chứng tử thần” [57], sau đó đến năm 1992, hội chứng này được đổi tên thành “Hội chứng đề kháng insulin” [48]
Tên gọi “Hội chứng chuyển hoá” (HCCH) được chính thức công nhận bởi WHO vào năm 1998, nhóm Hội nghiên cứu về kháng insulin ở châu Âu (European Group for the Study of Insulin Resistance) [44] năm 1999 và Chương trình giáo dục quốc gia (Mỹ) về cholesterol - Hướng dẫn điều trị cho người lớn lần thứ III (NCEP – ATPIII) năm 2001 Theo đó, HCCH là một chuỗi các bất thường vể chuyển hoá bao gồm béo bụng, rối loạn chuyển hoá lipid máu, THA, rối loạn dung nạp glucose [48]
1.2.2 Chẩn đoán hội chứng chuyển hóa
1.2.2.1 Chẩn đoán hội chứng chuyển hóa theo tiêu chuẩn của WHO
Tiêu chuẩn chính: ĐTĐ týp 2 (glucose ≥ 7 mmol/L hoặc nghiệm pháp
dung nạp glucose ≥ 11,1 mmol/L) hoặc RLGMLĐ (glucose ≥ 6,1 mmol/L) hoặc giảm dung nạp glucose (7,8 mmol/L ≤ glucose ≤ 11,0 mmol/L) hoặc glucose máu bình thường nhưng có tăng nồng độ insulin và kết hợp 2 hoặc hơn các tiêu chuẩn phụ dưới đây:
- Tăng TG ≥ 1,7 mmol/L, hoặc giảm HDL-C (< 0,9 mmol/L ở nam và < 1,0 mmol/L ở nữ)
- Béo trung tâm (WHR ≥ 0,9 ở nam và ≥ 0,85 ở nữ), hoặc BMI >30 kg/m2 ở châu Âu và BMI >25 kg/m2 ở châu Á - Thái Bình Dương
- THA (HATT ≥140 mmHg và /hoặc HATTr ≥ 90 mmHg)
- Microalbumin niệu dương tính: ≥ 20 g/phút hoặc albumin/creatinin ≥
30 mg/kg
Trang 271.2.2.2 Chẩn đoán lâm sàng của NCEP - ATP III
Theo NCEP ATP III để chẩn đoán HCCH trên một bệnh nhân phải có ≥
3 yếu tố trong 5 YTNC sau đây:
Bảng 1.5 Chẩn đoán lâm sàng HCCH theo tiêu chuẩn NCEP - ATP III
Béo phì trung tâm*
* Với người châu Á – Thái Bình Dương tiêu chuẩn VE đã được điều chỉnh cho phù hợp là: VE: Nam > 90 cm; Nữ: > 80 cm
Nguồn: NECP-Detection, Evaluation, and Treatment of High Blood Cholesterol in Adults (Adult Treatment Panel III)-trang II-27
1.2.2.3 Chẩn đoán lâm sàng của Liên đoàn đái tháo đường quốc tế
(International Diabetes Federation-IDF) [95]
- Béo phì nếu VE của nam > 90cm và nữ > 80 cm
- Phối hợp với 2 trong 4 yếu tố sau:
+ Tăng TG > 150 mg/ dl (1,7 mmol/l) hoặc có điều trị RLLP bằng thuốc + Giảm HDL – cho < 40 mg/dl (1,03 mmol/l) ở nam và < 50 mg/dl (1,29 mmol/l) ở nữ
+ THA ≥ 130/85 mmHg hoặc đã điều trị bằng các thuốc hạ áp
Trang 28+ Tăng Glucose máu đói ≥ 100 mg/dl (5,6 mmol/l ) hay ĐTĐ týp 2 hoặc
đã được chẩn đoán và điều trị ĐTĐtýp 2 trước đó
+ Nếu Glucose máu bất kỳ trên 5,6 mmol/l hay trên 100 mg/dl, nghiệm pháp dung nạp glucose uống được khuyến cáo áp dụng
1.2.3 Cơ chế bệnh sinh của hội chứng chuyển hoá
Cho đến nay cơ chế bệnh sinh của HCCH còn chưa được hiểu biết đầy
đủ, nhưng béo phì (nhất là béo bụng), kháng insulin, RLLP máu, sự bất thường glucose máu và THA là những biểu hiện cơ bản của HCCH
Sự chứa lượng mỡ được chia ra làm hai vùng: mỡ nội tạng và mỡ dưới
da, cả hai vùng chứa mỡ này có mối liên quan mật thiết đến các triệu chứng trong HCCH (nhất là sự đề kháng insulin) Sự tăng mỡ nội tạng là kết quả của
sự tích tụ acid tự do từ gan qua tuần hoàn trung tâm, ngược lại kết quả của sự phân giải, giải phóng acid béo từ tuần hoàn cơ thể và ngăn ngừa sự chuyển hoá của acid béo ở gan chính là do mỡ dưới da Vì vậy, khi tăng mỡ dưới da thì lượng acid béo tự do được giải phóng vào hệ tuần hoàn, sự thừa thãi của các acid này sẽ gây ra những rối loạn trong cơ thể và gây HCCH
1.2.3.2 Kháng insulin
Vị trí hoạt động chính của insulin là ở cơ xương, mô mỡ, gan và có thể
có cả ở hệ thống thần kinh trung ương Ở cơ xương thì insulin tăng vận chuyển glucose, tăng oxi hoá glucose và tăng tổng hợp glucose, ức chế phân
Trang 29huỷ các protein và lipid Ở mô mỡ, insulin tăng vận động chuyển hoá glucose
và các acid béo thông qua hoạt động lipoprotein lipase, nhưng lại ức chế phân huỷ lipid Ở gan, insulin ức chế phân huỷ glycogen kích thích tạo mỡ và bài tiết lipoprotein có tỷ trọng rất thấp Các nghiên cứu trong y văn đều công nhận rằng có sự đề kháng insulin trong HCCH và kháng insulin làm tăng cường giải phóng acid béo tự do vào tuần hoàn từ các mô mỡ gây HCCH
1.2.3.3 Rối loạn lipid máu
Tăng acid béo tự do sẽ làm tăng nồng độ insulin trong máu và gây nhiễm độc mỡ tế bào β tụy làm tế bào này sẽ chết nhanh hơn so với chết theo chương trình Khi acid béo tự do và TG tích luỹ trong tế bào β tụy làm tăng tổng hợp
NO gây ra rối loạn chức năng tế bào và hậu quả của hiện tượng này làm các tế bào β tụy bị tổn thương, giảm số lượng tế bào β tụy sẽ làm mất khả năng duy trì tiết insulin Khi sự kháng insulin được thiết lập, có sự giải phóng acid béo đến gan làm tăng quá trình tổng hợp TG, ngăn cản sự tăng bài tiết LDL-C vào tuần hoàn, đồng thời lipoprotein lipase cũng được tiết ra ở các mô ngoại vi và dẫn đến HCCH Sự kháng insulin gây rối loạn enzyme cholesterol ester transferase làm giảm HDL-C và gây HCCH Vì vậy, sự kết hợp tăng TG và giảm HDL-C có mối liên quan mật thiết đến HCCH Đó là lý do các nghiên cứu thường lấy TG và HDL-C làm tiêu chuẩn chấn đoán HCCH
1.2.3.4 Sự bất thường glucose máu
Sự bất thường glucose máu (gồm ĐTĐ týp 2, rối loạn glucose máu lúc đói (RLGMLĐ) và giảm dung nạp glucose) có mối liên quan mật thiết đến cơ chế bệnh sinh trong HCCH Nhiều nghiên cứu thấy rằng có mối liên quan giữa RLGMLĐ với sự đề kháng insulin ở người Ở những người được dự đoán là sẽ tiến triển thành ĐTĐ týp 2 thì sự đề kháng insulin, rối loạn chức năng tế bào β tụy là những nguyên nhân của sự bất thường glucose máu này
Có sự phối hợp giữa RLGMLĐ và giảm dung nạp glucose máu với nguy cơ
Trang 30bệnh tim mạch và tiến triển thành ĐTĐ týp 2 Trong đó, có vai trò tích luỹ chất AGE (advanced glycation end products) kết hợp với tăng đường máu có mối liên quan đến bệnh tim mạch bằng sự tác động lên thụ cảm thể AGE ở thành động mạch gây ra một phản ứng viêm làm tăng sinh tế bào và hình thành mảng vữa xơ động mạch
1.2.3.5 Tăng huyết áp
Cơ chế bệnh sinh hiện nay cho rằng mối liên quan giữa kháng insulin với
HA được giải thích là do tăng hoạt động của hệ thần kinh giao cảm, làm tăng hoạt động tế bào cơ trơn thành mạch, tăng vận chuyển ion Ca++
và tăng sự giữ muối trong lòng mạch Sự tăng hoạt động thần kinh giao cảm cũng có nghĩa là tăng sự kích thích của adrenergic receptor hay có mối liên quan giữa sự kích thích β adrenergic receptor với đề kháng insulin
1.2.4 Các yếu tố nguy cơ của hội chứng chuyển hóa
1.2.4.1 Cân nặng trẻ sơ sinh
Giảm cân hoặc suy dinh dưỡng trẻ sơ sinh mới đẻ có liên quan đến sự bất thường glucose, RLLP máu, tăng nồng độ insulin sau này khi là người trưởng thành Trong nghiên cứu thuần tập của Ramadhani và cs (2006) cho thấy nhóm trẻ có cân nặng 1250 - 3209g và nhóm trẻ từ 3210 - 3649g có nguy cơ mắc HCCH cao hơn nhóm trẻ từ 3650 - 5500g 1,8 và 1,4 lần [73] Nghiên cứu
ở toàn bộ thanh niên Iran (2006) về HCCH cho thấy những trường hợp cân nặng sơ sinh > 4000g làm tăng nguy cơ mắc HCCH ở tuổi thanh niên 1,4 lần (95%CI: 1,007-2,05) [59]
Trang 31Quốc (2012) cho thấy nguy cơ mắc HCCH ở trẻ bị thừa cân cao gấp 67,33 (95%CI: 21,32-212,61) so với trẻ có cân nặng bình thường và nguy cơ mắc HCCH ở trẻ béo phì cao gấp 249,99 (95%CI: 79,51 – 785,98) lần so với trẻ có cân nặng bình thường [47]
1.2.4.4 Uống rượu
Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra mối liên quan giữa mức độ uống rượu và rối loạn các thành phần của HCCH Uống rượu có mối liên quan mật thiết làm tăng nguy cơ mắc THA và tăng TG, tuy nhiên uống rượu lại có mối liên quan ngược đối với giảm HDL-C Do đó mối liên quan giữa uống rượu và HCCH chưa thật sự rõ ràng Trong cuộc khảo sát ở Hàn Quốc cho thấy: nhóm nam giới sử dụng từ 1 - 14,9 g rượu/ngày có nguy cơ mắc HCCH 0,71 lần (95%CI: 0,53 - 0,95) và nhóm nữ giới sử dụng từ 1 - 14,9 g rượu/ngày có nguy cơ mắc HCCH 0,80 lần (95%CI: 0,65 – 0,98) so với nhóm nam giới và nữ giới (theo thứ tự) không sử dụng rượu Trong cuộc khảo sát cấp quốc gia ở Mỹ cho thấy
tỉ lệ mắc HCCH ở nhóm nam giới không bao giờ uống rượu hoặc uống rượu nhiều cao gấp 1,1 lần (95%CI: 0,8 - 1,5) và 1,1 lần (95%CI: 0,8 - 1,6), theo thứ tự, so với nhóm nam giới ít uống rượu; cũng trong cuộc khảo sát này thì tỉ
Trang 32lệ mắc HCCH ở nhóm nữ giới không bao giờ uống rượu hoặc uống rượu nhiều cao gấp 1,5 lần (95%CI: 1,2 - 1,9) và 0,8 lần (95%CI: 0,6 - 1,0) so với nhóm nữ giới ít uống rượu [69]
1.2.4.5 Tuổi
Tuổi có mối liên quan đến đề kháng insulin, tăng VE và THA Nhiều nghiên cứu dịch tễ thấy rằng ở người cao tuổi thì tỉ lệ mắc HCCH và bệnh tim mạch cao hơn so với những người trẻ Nghiên cứu của Park Y và cs (2003) cho kết quả nhóm nam giới từ 35 - 64 và ≥ 65 tuổi có nguy cơ mắc HCCH cao hơn 2,8 lần (95%CI: 1,8 - 4,5) và 5,8 lần (95%CI: 3,9 - 8,7), theo thứ tự,
so với nhóm nam giới có độ tuổi từ 20 – 34 Nhóm nữ giới ở độ tuổi 35 - 64
và ≥ 65 tuổi có nguy cơ mắc HCCH cao hơn 2,4 lần (95%CI: 1,5 - 3,7) và 4,9 lần (95%CI: 3,0 - 7,8) so với nhóm nữ giới từ 20 - 34 tuổi [69]
độ ăn cung cấp carbonhydrate ở mức trung bình [69]
1.2.4.7 Ít vận động
Lối sống tĩnh tại và giảm hoạt động thân thể, ngồi nhiều ở người có mối liên quan đến các triệu chứng trong HCCH, nhất là liên quan đến béo phì (béo bụng) Đối với người ít vận động, nguy cơ mắc HCCH tăng 1,4 lần (95%CI: 1,0-2,0) ở nam giới và tăng 1,2 lần (95%CI: 1,0 - 1,4) ở nữ giới so với nhóm người thường xuyên vận động [69] Nếu vận động thường xuyên sẽ làm giảm các biến chứng của HCCH [72]
Trang 331.2.4.8 Các protein có tính sinh học
Sự tăng các cytokine trong cơ thể như: IL - 6, resistin, TNF- , CRP… do
mô mỡ tiết ra có mối liên quan mật thiết đến HCCH Sự xuất hiện của các cytokine này làm tăng sự đề kháng insulin, gây ra RLLP máu, THA… Gần đây, một số nghiên cứu thấy rằng CRP liên kết LDL-C gắn vào màng tế bào nội mạc thành mạch và gây ra một phản ứng viêm thành mạch hình thành mảng vữa xơ động mạch Vì vậy, ở người NMCT cấp hoặc bệnh mạch vành nồng độ CRP thường tăng cao Bên cạnh đó adiponectin lại là một protein sinh học duy nhất của mô mỡ chống lại sự hiện diện của HCCH, adiponectin
có mối tương quan nghịch với đề kháng insulin, giảm nồng độ adiponectin máu gây chuyển hoá như: giảm dung nạp glucose, insulin
1.2.4.9 Gen
Sự khác nhau giữa các chủng tộc, tiền sử gia đình có người mắc HCCH
và anh em sinh đôi đã cung cấp những bằng chứng có vai trò của gen trong HCCH Hệ gen nhận dạng khác nhau vùng chromosome có liên quan đến các đặc điểm của HCCH ở người da trắng: địa điểm chromosome 3 (3q27) có liên quan mật thiết đến các đặc điểm: BMI, VE, vòng mông, cân nặng, insulin, insulin/glucose máu và chromosome 17 (17q12) với biểu hiện liên quan đến nồng độ leptin máu
1.2.5 Dịch tễ học hội chứng chuyển hóa trên thế giới
HCCH là một trong những yếu tố nguy hiểm gây tác hại đến tim mạch nói riêng và sức khỏe con người nói chung Hiện nay, HCCH đang gia tăng nhanh chóng trên khắp thế giới đặc biệt ở các nước đang phát triển, do sự phát triển về kinh tế và những thay đổi về lối sống Theo IDF (2006) thì có khoảng 20-25% người trưởng thành trên thế giới bị HCCH Những người bị HCCH
có nguy cơ bị biến chứng nhồi máu cơ tim, TBMMN cao gấp 3 và nguy cơ tử vong cao gấp 2 lần so với nhóm người trưởng thành không có HCCH [54]
Trang 34Bên cạnh đó, những người bị HCCH có nguy cơ mắc ĐTĐ týp 2 cao gấp 5 lần so với người bình thường [78] Trong nghiên cứu thuần tập của tác giả Hildrum và cs (2009) trên các bệnh nhân có HCCH cho thấy HCCH có liên quan đến tăng nguy cơ của bệnh tim mạch và tử vong với HR (hazard ratio) = 3.97 (95% CI: 2.00-7.88) và 2.06 (95%CI: 1.35-3.13), theo thứ tự Đồng thời trong nghiên cứu này cũng chỉ ra rằng có mối ảnh hưởng qua lại giữa tuổi và HCCH đối với nguy cơ tử vong trên bệnh nhân có HCCH
Kết quả từ khảo sát quốc gia ở Mỹ (2002) cho thấy HCCH chiếm tỉ lệ cao (21,8%) tại Mỹ Tỉ lệ HCCH ở nhóm tuổi 60-69 và ≥ 70 tuổi chiếm 43,5% và 42% (theo thứ tự), cao hơn 6,7% so với nhóm tuổi từ 20-29 Tỉ lệ HCCH ở nam chiếm 24,0% và nữ chiếm 23,4% Nghiên cứu ở Italy (2005) cho thấy tỉ lệ mắc HCCH ở người ≥ 20 tuổi chiếm tương đối cao với tỉ lệ 22,3% ở nam và 27,2% ở nữ [63] Đối với nữ giới thì tăng BMI, thấp HDL-C, tăng VE và tăng đường huyết có liên quan đến việc tăng HCCH; trong khi đó yếu tố liên quan đến việc tăng HCCH ở nam chủ yếu là THA và tăng TG Sự thay đổi thành phần của HCCH cũng khác nhau giữa 2 giới nữ và nam [45]
Tỉ lệ HCCH ở vùng thành thị cao hơn vùng nông thôn Nghiên cứu về HCCH ở vùng thành thị của Ấn Độ cho kết quả tỉ lệ HCCH chiếm 31,6%; trong đó nam là 22,9% và nữ là 39,9% Không tập TDTT, THA, tăng LDL-C
có tỉ lệ cao ở nhóm có HCCH ở cả 2 giới so với nhóm không có HCCH Độ tuổi của đối tượng nghiên cứu liên quan có ý nghĩa thống kê với tăng tỉ lệ HCCH [49] Trong cuộc khảo sát về HCCH ở Trung Quốc (2009-2010) cho thấy tỉ lệ HCCH ở vùng thành thị là 35,1% ở nam giới và 32,5% ở nữ giới (theo tiêu chuẩn chẩn đoán của Trung Quốc) Tỉ lệ HCCH tăng theo tuổi với 12,1% ở độ tuổi 32-45 và 45,4% ở độ tuổi ≥ 75 tuổi [87] Nghiên cứu về HCCH ở vùng nông thôn Ghana cho thấy tỉ lệ HCCH theo chẩn đoán ATP III
là 15,0%; trong đó nam giới bị HCCH là 5,9% và nữ là 24,0%; sự khác biệt
Trang 35về HCCH theo giới có ý nghĩa thống kê Thành phần HCCH hay gặp nhất là béo phì chiếm 55,3%; tiếp theo đó là thấp HDL-C chiếm 42,7% và THA 39,5% [50] Đồng thời tuổi, hút thuốc lá, tiền sử gia đình có người bị ĐTĐ và trình độ học vấn có liên quan đến nguy cơ mắc HCCH [87]
1.2.6 Dịch tễ học hội chứng chuyển hóa tại Việt Nam
Tại Việt Nam đã có một số công trình nghiên cứu về HCCH ở với tỉ lệ mắc khá cao Nghiên cứu về HCCH ở những người có BMI ≥ 23 kg/m2
cho thấy tỉ lệ bị HCCH ở người có BMI ≥ 23 kg/m2 là 16,06%; trong đó 100% bệnh nhân có tăng TG và 95,45% có THA [19]
HCCH ở người cao tuổi (NCT) có những đặc điểm khác đối với HCCH ở người trưởng thành Trong nghiên cứu ở Nghệ An (2012) cho thấy trong 358 người cao tuổi có HCCH thì tỉ lệ gặp ở nữ (70,1%) cao hơn nam (29,9%); trong đó tỉ lệ người ít rèn luyện thể lực (57,8%); hút thuốc lá (26,3%); ăn mặn (29,1%) Phần lớn người cao tuổi (74,3%) có tăng chỉ số WHR; 66,5% NCT tăng chu vi VE và 43% có thừa cân hoặc béo phì Các yếu tố tham gia vào HCCH gồm: giảm HDL-C chiếm 90,2%; tăng triglyxerit là 74,6%; HA ≥ 130/85 mmHg chiếm 79,1% và glucose máu ≥ 6,1 mmol/l chiếm 31,3% [36] Trong nghiên cứu về HCCH ở đối tượng cán bộ thuộc diện quản lý ở Bạc Liêu cho thấy tỉ lệ cán bộ thuộc diện quản lý có HCCH khá cao, chiếm 55,8%; trong đó tỉ lệ bị HCCH ở nam cán bộ (54,23%) thấp hơn nữ cán bộ (62,24%) Trong các thành phần của HCCH thì THA chiếm 64,8%; tăng TG chiếm 81,8%; tăng LDL-C là 66,4%; giảm HDL-D là 49,4%; VE vượt ngưỡng 28,8% Đồng thời nghiên cứu này cũng chỉ ra rằng có sự gia tăng HCCH theo tuổi [24]
Nghiên cứu về YTNC của HCCH trên các đối tượng từ 40 trở lên đang công tác tại các cơ quan thuộc tỉnh Hà Nam cho thấy tỉ lệ có HCCH chung là 28,3% ở nam là 31,7%, nữ là 19,8% Tỉ lệ HCCH gặp cao nhất ở nhóm tuổi ≥ 50
Trang 36Tỉ lệ HCCH trong số đối tượng có BMI < 23kg/m2
là 19,9% và 33,6% ở đối tượng với BMI ≥ 23kg/m2 Chế độ ăn không hợp lý (ăn nhiều đạm, mỡ, chất ngọt, uống bia, rượu, hút thuốc lá), không luyện tập thể lực hoặc luyện tập mức độ ít đều có tỉ lệ HCCH cao hơn [22]
1.3 Tăng huyết áp và hội chứng chuyển hóa
Nhiều nghiên cứu cho thấy các YTNC của HCCH và THA là tương đối giống nhau Điều này làm cho bệnh nhân có nguy cơ mắc HCCH cũng có nguy cơ mắc THA, và ngược lại HCCH gồm có 5 thành phần thì trong đó THA là một triệu chứng của HCCH Tuy nhiên các nghiên cứu đã chỉ ra rằng HCCH và THA có mối liên quan mật thiết, đặc biệt là khi có sự kết hợp cả 2 bệnh thì sẽ tăng nguy cơ biến chứng và hậu quả cho bệnh nhân
Bệnh nhân mắc HCCH có THA sẽ làm thổi phồng các biến chứng trên tim so với bệnh nhân mắc HCCH thông thường HA tăng có liên quan đến béo phì và tăng kháng insulin, đồng thời dẫn đến rối loạn hệ thống rennin – angiotensin và rối loạn chức năng đào thải muối ở thận Nghiên cứu Copenhagen trên 2906 nam cho thấy nam giới có HA cao và rối loạn mỡ máu tăng nguy cơ biến chứng tim so với nhóm nam giới có HA không cao [55] Nghiên cứu theo dõi dọc trên 1742 bệnh nhân THA (2004) cho tỉ lệ mắc biến chứng tim mạch chiếm 2,28 lần / 100 bệnh nhân - năm; sau khi hiệu chỉnh với các yếu tố tuổi, giới, hút thuốc thì nguy cơ mắc biến chứng tim mạch ở nhóm bệnh nhân HCCH có THA cao gấp 1,73 lần (95%CI: 1,25 - 3,38) so với nhóm không có HCCH [39] Nghiên cứu có thời gian theo dõi dọc trung bình 4,1 năm trên 2225 bệnh nhân (2005) cho thấy nhóm bệnh nhân có rối loạn mỡ máu và THA có nguy cơ bệnh tim mạch cao hơn 1,57 lần (95%CI: 1,08 - 2,28) so với nhóm bệnh nhân có THA nhưng không có rối loạn mỡ máu [67] THA có HCCH đang ngày càng gia tăng do sự gia tăng của bệnh béo phì Điều trị bệnh nhân mắc HCCH có THA cần hết sức chú ý làm giảm nguy cơ
Trang 37biến chứng tim mạch, thận và ĐTĐ týp 2 [75] Mục tiêu điều trị cho nhóm bệnh nhân này là giảm HA xuống dưới 130/80 mmHg, LDL – C < 75 mg /dl
và đường huyết lúc đói là < 100 mg/dl
Ở Việt Nam hiện nay đã có một số nghiên cứu về THA có HCCH Nghiên cứu ở Đà Nẵng cho thấy hơn một nửa (52,76%) bệnh nhân THA có HCCH; trong đó tần suất HCCH ở bệnh nhân THA cao nhất ở nhóm tuổi từ 40-50 đối với nam và 61-70 đối với nữ Trong HCCH tỉ lệ tăng TG là cao nhất (89,16%); tỉ lệ tăng VE (dành cho người châu Á) chiếm 77,23%; tỉ lệ giảm HDL-C chiếm 73,21%; tỉ lệ tăng glucose máu chiếm 41,64% HCCH hay gặp ở dạng phối hợp giữa nhóm 3 yếu tố là THA - tăng TG - giảm HDL-
C và nhóm THA – tăng TG - tăng VE [28] Đối với bệnh nhân nữ THA tại Đà Nẵng (2007), gần một nửa (48,7%) bệnh nhân nữ trên 45 tuổi THA bị HCCH
Tỉ lệ THA có HCCH gia tăng theo tuổi và BMI Tỉ lệ rối loạn thành phần trong HCCH cao nhất hay gặp là tăng TG 82,3%; tiếp theo đó là giảm HDL-C 67,4%; tăng đường huyết 59,7% và tăng VE chiếm 32% [10]
Theo kết quả nghiên cứu tại Tiền Giang [8] cho thấy, tỉ lệ có HCCH trên bệnh nhân đột quỵ thiếu máu não cấp chiếm tới 69,1% Đồng thời HCCH có liên quan đến trình độ học vấn và thói quen tập thể dục thể thao (TDTT), người có học vấn càng cao thì tỉ lệ bị HCCH thấp và người tập TDTT thường xuyên thì có tỉ lệ HCCH thấp hơn người không tập Hầu hết (95,6%) bệnh nhân có HCCH có THA, tỉ lệ bệnh nhân HCCH có biểu hiện béo phì bụng chiếm 42,1% [8] Đối với bệnh nhân có nhồi máu não động mạch lớn trên lều thì tỉ lệ bị HCCH chiếm 71,9%; tỉ lệ này tăng dần theo tuổi, tập trung chủ yếu
Trang 38lệ có tổn thương não ở nhóm có HCCH (59,4%) cao hơn so với nhóm không
có HCCH (8,8%) với p<0,001; OR = 15,2 (95%CI: 8,3-28,1) Tỉ lệ tổn thương thận ở nhóm có HCCH (49,4%) cao hơn so với nhóm không có HCCH (34,5%) với p<0,001; OR = 1,9 (95%CI: 1,2-2,9) Tỉ lệ tổn thương tim
ở nhóm có HCCH (49,4%) cao hơn so với nhóm không có HCCH (29,2%) với p<0,001; OR = 2,4 (95%CI: 1,5-3,7) [33]
Trang 39Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
2.1.1 Tiêu chuẩn chọn đối tượng nghiên cứu
Gồm các cán bộ diện BVCSSK đang được quản lý sức khỏe tại Phòng Khám, quản lý sức khỏe cán bộ tỉnh Thái Nguyên mắc HCCH
2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ
- Đang bị bệnh nhiễm trùng cấp tính nặng
- Bệnh nhân mắc bệnh ác tính hay suy tim, suy gan, suy thận nặng
- Bệnh nhân mắc các bệnh ảnh hưởng đến chuyển hóa glucose và lipid máu: Thận hư nhiễm mỡ, Cushing, to đầu chi
- Bệnh nhân đang dùng các loại thuốc ảnh hưởng đến chuyển hóa glucose, lipid máu: corticoid, thuốc ức chế miễn dịch
2.2 Thời gian và địa điểm
- Thời gian: Từ tháng 7 năm 2012 đến tháng 8 năm 2013
- Địa điểm: Tại phòng khám quản lý sức khỏe cán bộ tỉnh Thái Nguyên
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Thiết kế nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu mô tả, thiết kế cắt ngang
2.3.2 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu
- Cỡ mẫu: Cán bộ diện BVSKCB được khám lâm sàng, cận lâm sàng xác
định HCCH Chọn toàn bộ các bệnh nhân bị HCCH, đồng ý tham gia vào nghiên cứu (qua thực tế, xác định có 155 bệnh nhân có HCCH)
- Phương pháp chọn mẫu
Áp dụng phương pháp chọn mẫu có chủ đích: chọn toàn bộ cán bộ diện BVCSSK thực hiện khám sức khỏe định kỳ trong thời gian nghiên cứu
Trang 402.3.3 Sơ đồ tiến hành nghiên cứu
Sơ đồ 2.1 Sơ đồ tiến hành nghiên cứu
2.4 Chỉ tiêu nghiên cứu
HCCH không
THA
Không có hội chứng chuyển hóa
HCCH có THA
So sánh
Kết luận