Xuất phát từ cơ sở lý luận và thực tiễn trên đây, để đáp ứng và hướng tới nhiệm vụ xây dựng Trung tâm GD - LĐXH Hải Phòng là môi trường thuận lợi tốt nhất cho công tác quản lý giáo dục,
Trang 1Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
LÊ ANH TUẤN
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG THAM VẤN TÂM LÝ TẠI TRUNG TÂM GIÁO DỤC LAO ĐỘNG
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
LÊ ANH TUẤN
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG THAM VẤN TÂM LÝ TẠI TRUNG TÂM GIÁO DỤC LAO ĐỘNG
XÃ HỘI HẢI PHÒNG Chuyên ngành: QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Trang 3i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng:
Số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là hoàn toàn trung thực
và chưa từng được sử dụng hoặc công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cám ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được ghi rõ nguồn gốc
Tác giả luận văn
Lê Anh Tuấn
Trang 4
ii
LỜI CÁM ƠN
Trong thời gian học tập, nghiên cứu chương trình đào tạo Thạc sĩ tại trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên Tôi đã tiếp thu được nhiều kiến thức bổ ích, giúp tôi nhận thức tổng quan về công tác quản lý giáo dục, có cái nhìn tổng thể về quản lý giáo dục nói chung và quản lý công tác cai nghiện
ma tuý nói riêng
Luận văn văn này là kết quả của quá trình học tập, nghiên cứu tại Trường
và quá trình công tác của tác giả tại Trung tâm Giáo dục Lao động xã hội Hải Phòng và được thực hiện, hoàn thành với sự giúp đỡ tận tình của các Giáo sư, Tiến sĩ Trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên
Tác giả xin chân thành cám ơn:
- Phó giáo sư, Tiến sĩ Phạm Hồng Quang - Chức vụ: Hiệu trưởng trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên đã giúp đỡ, định hướng cho tác giả trong suốt quá trình thực hiện Luận văn
- Ban Thường vụ Đoàn TNCS Hồ Chí Minh thành phố Hải Phòng
- Chi cục phòng chống tệ nạn xã hội - Sở Lao động Thương binh và Xã hội thành phố Hải Phòng
- Tổng đội thanh niên xung phong Hải Phòng
- Trung tâm Giáo dục - Lao động xã hội Hải Phòng
Đã tạo điều kiện thuận lợi cho tác giả hoàn thành luận văn này./
Trang 5
iii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CÁM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC BẢNG iv
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ, HÌNH v
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 3
4 Giả thuyết khoa học 3
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
6 Giới hạn phạm vi nghiên cứu 4
7 Phương pháp nghiên cứu 4
8 Đóng góp mới của luận văn 4
9 Cấu trúc của luận văn 5
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG THAM VẤN TÂM LÝ TẠI TRUNG TÂM GD – LĐXH HẢI PHÒNG 6
1.1 Lịch sử vấn đề nghiên cứu……….6
1.1.1 Lịch sử ra đời của ngành tham vấn tâm lý…….……….6
1.1.1.1 Lịch sử ra đời của ngành tham vấn tâm lý trên thế giới……… 6
1.1.1.2 Lịch sử ra đời của ngành tham vấn tâm lý ở Việt Nam……….12
1.1.2 Lịch sử nghiên cứu của đề tài……… 14
1.2 Những vấn đề lý luận chung về ma tuý, nghiện ma tuý 14
1.2.1 Một số vấn đề lý luận chung về ma tuý 14
1.2.1.1 Ma tuý 14
1.2.1.2 Phân loại ma tuý 15
1.2.2 Một số vấn đề về nghiện ma túy, người nghiện ma túy 17
1.2.2.1 Nghiện ma tuý 17
1.2.2.2 Người nghiện ma tuý 20
Trang 6iv
1.2.3 Tác hại của ma tuý 21
1.2.3.1 Đối với cá nhân người nghiện 21
1.2.3.2 Đối với gia đình và người thân 23
1.2.3.3 Đối với xã hội 23
1.2.4 Một số đặc điểm tâm lý của học viên……… 24
1.2.4.1 Giai đoạn cắt cơn (từ ngày thứ 1 đến ngày thứ 15) 24
1.2.4.2 Giai đoạn lạc quan tếu (từ ngày thứ 16 đến ngày thứ 45) 24
1.2.4.3 Giai đoạn bế tắc (từ ngày thứ 46 đến ngày thứ 120) 25
1.2.4.4 Giai đoạn tự điều chỉnh (từ ngày thứ 121 đến ngày thứ 180) 26
1.2.4.5 Giai đoạn bắt đầu phục hồi tâm sinh lý (trên 180 ngày) 26
1.3 Những vấn đề lý luận chung về tham vấn tâm lý 27
1.3.1 Một số khái niệm liên quan 27
1.3.2 Mục đích, nhiệm vụ của tham vấn tâm lý: 29
1.3.3 Các hình thức tham vấn 30
1.4 Những vấn đề lý luận chung về quản lý 31
1.4.1 Khái niệm về quản lý 31
1.4.2 Quản lý hoạt động tham vấn tâm lý 36
1.4.2.1 Hoạch định chính sách đối hoạt động tham vấn tâm lý: 36
1.4.2.2 Hoàn thiện tổ chức bộ máy quản lý và thực hiện công tác tham vấn tâm lý 37
1.4.2.3 Huy động và quản lý các nguồn lực cho công tác tham vấn tâm lý: 38
1.4.2.4 Nâng cao hiệu quả công tác giám sát và công tác kiểm tra, đánh giá trong hoạt động tham vấn tâm lý 38
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 40
Chương 2: THỰC TRẠNG VỀ HOẠT ĐỘNG THAM VẤN, CÔNG TÁC QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG THAM VẤN TÂM LÝ TẠI TRUNG TÂM GIÁO DỤC - LAO ĐỘNG XÃ HỘI HẢI PHÒNG 41
2.1 Tổng quan về địa bàn nghiên cứu 41
2.1.1 Đặc điểm thành phố Hải Phòng 41
2.1.2 Đặc điểm Trung tâm Giáo dục lao động xã hội Hải Phòng 44
Trang 7v
2.1.2.1 Về bộ máy tổ chức 45
2.1.2.2 Về tình hình lao động 45
2.1.2.3 Về cơ sở vật chất kỹ thuật 46
2.2 Tình hình chung về học viên đang cai nghiện tại Trung tâm Giáo dục - Lao động xã hội Hải Phòng 47
2.2.1 Về số lượng 47
2.2.2 Về độ tuổi 48
2.2.3 Về trình độ học vấn 48
2.2.4 Những dấu hiệu đặc trưng của học viên khi nghiện ma túy 49
2.3 Thực trạng hoạt động tham vấn tâm lý tại Trung tâm Giáo dục - Lao động xã hội Hải Phòng 51
2.3.1 Những khó khăn về mặt tâm lý của học viên Trung tâm GD - LĐXH Hải Phòng đang phải đối mặt 51
2.3.2 Thực trạng nhu cầu tham vấn tâm lý của học viên tại Trung tâm Giáo dục - Lao động xã hội Hải Phòng 55
2.4 Thực trạng công tác quản lý hoạt động tham vấn tâm lý tại Trung tâm Giáo dục - Lao động xã hội Hải Phòng 59
2.4.1 Những quy định về hoạt động tham vấn tâm lý 59
2.4.2 Về tổ chức bộ máy quản lý hoạt động tham vấn tâm lý: 60
2.4.3 Công tác xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác tham vấn 61
2.4.4 Về cở sở vật chất, trang thiết bị và kinh phí cho hoạt động tham vấn 64
2.4.5 Về kiểm tra đánh giá hoạt động tham vấn 65
2.5 Đánh giá chung về quản lý hoạt động tham vấn tâm lý tại Trung tâm Giáo dục - Lao động xã hội Hải Phòng 65
2.5.1 Đánh giá những mặt mạnh và thuận lợi: 65
2.5.2 Những mặt hạn chế 66
2.5.3 Một số bất cập, mâu thuẫn trong hoạt động tham vấn ở Trung tâm GD - LĐXH Hải Phòng 67
2.5.4 Nguyên nhân của các hạn chế và bất cập 67
Trang 8vi
2.5.5 Những vấn đề đặt ra cho hoạt động tham vấn tâm lý tại Trung tâm
GD - LĐXH Hải Phòng giai đoạn 2013 - 2020 69
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 71
Chương 3: GIẢI PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG THAM VẤN TÂM LÝ TẠI TRUNG TÂM GIÁO DỤC - LAO ĐỘNG XÃ HỘI HẢI PHÒNG 72 3.1 Hoàn thiện hệ thống văn bản pháp quy, tăng cường chỉ đạo của các cấp ngành đối với công tác tham vấn tâm lý cho học viên 72 3.1.1 Hoàn thiện hệ thống văn bản pháp quy, tạo ra môi trường có tính pháp
lý cho Trung tâm Giáo dục - Lao động xã hội Hải Phòng đẩy mạnh và nâng cao chất lượng hoạt động tham vấn tâm lý cho học viên 72 3.1.2 Tăng cường sự chỉ đạo của các cấp ngành về hoạt động tham vấn tâm lý cho học viên cai nghiện 73 3.2 Xác định rõ chức năng, nhiệm vụ và củng cố bộ máy tổ chức hoạt động tham vấn tâm lý của Trung tâm GD - LĐXH Hải Phòng 74 3.3 Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ tham vấn 76 3.3.1 Yêu cầu chung về đội ngũ cán bộ tham vấn 76 3.3.2 Xây dựng kế hoạch bồi dưỡng cán bộ làm nhiệm vụ tham vấn 78 3.3.2.1 Xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ làm công tác tham vấn dài hạn:Ị 79 3.3.2.2 Kế hoạch bồi dưỡng cán bộ làm công tác tham vấn ngắn hạn: 79 3.3.2.3 Xây dựng cơ chế tuyển cộng tác viên làm công tác tham vấn 80 3.3.3 Tổ chức thực hiện công tác bồi dưỡng cán bộ làm công tác tham vấn 80 3.3.3.1 Nội dung bồi dưỡng 81 3.3.3.2 Hình thức tổ chức bồi dưỡng 84 3.4 Tăng cường cơ sở vật chất, phương tiện và kinh phí cho công tác tham vấn 85 3.4.1 Lập kế hoạch dự trù nguồn kinh phí cho công tác tham vấn 85 3.4.2 Tổ chức nguồn kinh phí 85 3.4.3 Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác tham vấn tâm lý 86
Trang 9vii
3.5 Tăng cường kiểm tra, đánh giá hoạt động tham vấn 86
3.6 Kết quả thăm dò ý kiến về các giải pháp 87
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 89
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 90
1 Kết luận 90
2 Khuyến nghị 91
TÀI LIỆU THAM KHẢO 93
PHỤ LỤC
Trang 10Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn iv
DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Số lượng học viên được tiếp nhận tại Trung tâm Giáo dục - Lao động xã hội Hải Phòng 47 Bảng 2.2: Các biểu hiện bên ngoài của người nghiện 49 Bảng 2.3: Những biểu hiện khi nghiện một số loại ma túy thường gặp 51 Bảng 2.4: Ý kiến của học viên về mức độ khó khăn về mặt tâm lý mà họ phải
đối mặt 52 Bảng 2.5: Ý kiến của học viên về những lĩnh vực khó khăn về mặt tâm lý
mà họ phải đối mặt 52 Bảng 2.6: Ý kiến của học viên về cách thức giải quyết những khó khăn
tâm lý 54 Bảng 2.7: Nhu cầu tham vấn, hỗ trợ giải quyết những khó khăn tâm lý
của học viên 56 Bảng 2.8: Nguyên nhân cản trở tiếp cận dịch vụ tham vấn tâm lý, hỗ trợ
tâm lý của học viên 57 Bảng 2.9: Quy mô, số lượng, chất lượng các ca tham vấn tại Trung tâm
trong giai đoạn 2009 - 2013 58 Bảng 2.10: Các lĩnh vực chuyên môn của cán bộ làm công tác tham vấn
tâm lý của Trung tâm 61 Bảng 2.11: Trình độ đào tạo của cán bộ làm công tác tham vấn ở Trung
tâm GD - LĐXH Hải Phòng 62 Bảng 2.12: Bảng thống kê trình độ tin học, ngoại ngữ của cán bộ làm
công tác tham vấn tại Trung tâm GD - LĐXH Hải Phòng 63 Bảng 2.13: Kinh phí dành cho hoạt động tham vấn tâm lý tại Trung tâm 64 Bảng 3.1: Kết quả trưng cầu ý kiến về các giải pháp 87
Trang 11Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn v
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ
Sơ đồ 1.1: Các chức năng của quản lý 34
Sơ đồ 1.2 Chức năng của quản lý 35
Sơ đồ 3.1: Nội dung bồi dưỡng cán bộ làm công tác tham vấn 81
Biểu đồ 2.1: Độ tuổi của học viên trong Trung tâm 48
Biểu đồ 2.2: Trình độ học vấn của học viên trong Trung tâm 49
Trang 12Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn 1
2006, nước ta có khoảng 170.000 người nghiện ma tuý, đến năm 2012 có khoảng 210.000 người nghiện ma túy trong đó có khoảng 140.000 người đang được quản lý tại các Trung tâm, cơ sở cai nghiện Tại Hải Phòng theo số lượng thống kê của Trung tâm phòng chống HIV/AIDS thành phố hiện có khoảng 8.399 người nghiện ma túy, có khoảng 2.500 người đang được quản lý tại các Trung tâm Riêng tại Trung tâm Giáo dục - Lao động xã hội (GD - LĐXH) Hải Phòng hiện đang quản lý giáo dục 1000 học viên cai nghiện ma túy
Hiện nay, người nghiện ma túy được xếp vào nhóm có vấn đề về tâm thần, thời gian sử dụng ma tuý càng lâu, liều lượng càng tăng thì hậu quả càng nặng
nề Những tác động trên não bộ gây ra những tổn thương tạm thời hoặc vĩnh viễn làm người nghiện suy giảm khả năng suy đoán, xử lý thông tin, khả năng tự chủ
Nó tạo ký ức hồi tưởng làm người nghiện lệ thuộc vào cảm giác khoái cảm ngất ngây, bị kích động mạnh mẽ khi nghĩ đến hoặc sử dụng ma túy Hầu hết, người nghiện không có khả năng tự cai nghiện, không có khả năng để tự thay đổi hành
vi, nhận thức
Để tiếp nhận, quản lý, giáo dục người nghiện ma tuý, đồng thời giảm thiểu gánh nặng cho xã hội do tệ nạn ma tuý gây ra, Trung tâm GD - LĐXH Hải Phòng được Ủy ban nhân dân (UBND) thành phố Hải Phòng giao nhiệm
vụ trực tiếp tiếp nhận và quản lý, giáo dục người nghiện ma tuý một mặt giúp
đỡ người nghiện có cơ hội cai nghiện thành công tái hoà nhập cộng đồng, một mặt giảm thiểu các tệ nạn xã hội phát sinh do ma tuý trên địa bàn thành phố
Trang 13Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn 2
Hiện Trung tâm đang trực tiếp quản lý, giáo dục 1.000 học viên cai nghiện ma túy tập trung Công tác quản lý giáo dục được thực hiện theo Nghị định 135 của Chính phủ về công tác quản lý giáo dục người nghiện trong đó xác định liệu pháp tư vấn, tham vấn tâm lý là liệu pháp hàng đầu trong quản lý, giáo dục học viên
Bước đầu, Trung tâm GD - LĐXH Hải Phòng mới triển khai thực hiện công tác tham vấn, kết quả đã được ghi nhận, song số lượng học viên và thân nhân gia đình học viên được tham vấn chưa đáng kể, chủ yếu là được tư vấn; chất lượng của hoạt động tham vấn còn nhiều hạn chế, chưa phát huy được tính tích cực của hoạt động tham vấn trong việc giải quyết các khó khăn và khủng hoảng tâm lý cho học viên và thân nhân gia đình học viên Nguyên nhân khách quan vì đây là lĩnh vực mới, phức tạp, song cũng có nguyên nhân chủ quan thuộc về công tác quản lý, trong đó các cơ quan chức năng chưa quan tâm đầy
đủ về vấn đề này, nên chưa thực sự quan tâm chỉ đạo Việc tổ chức tham vấn thực hiện chưa đồng bộ, bài bản, khoa học, mặt khác cán bộ tham vấn chưa có kinh nghiệm, cơ sở vật chất, trang thiết bị còn thiếu, kinh phí hoạt động hạn hẹp, chất lượng, trình độ chuyên môn nghiệp vụ của độ ngũ cán bộ làm công tác tham vấn còn yếu kém chưa được đào tạo chuyên sâu, bài bản
Xuất phát từ cơ sở lý luận và thực tiễn trên đây, để đáp ứng và hướng tới nhiệm vụ xây dựng Trung tâm GD - LĐXH Hải Phòng là môi trường thuận lợi tốt nhất cho công tác quản lý giáo dục, điều trị cai nghiện phục hồi cho người
nghiện ma túy, tác giả lựa chọn nghiên cứu đề tài: “Quản lý hoạt động tham vấn tâm lý tại Trung tâm Giáo dục - Lao động xã hội Hải Phòng”
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng công tác quản lý hoạt động tham vấn tâm lý tại Trung tâm GD - LĐXH Hải Phòng những năm gần đây để đề xuất các biện pháp khả thi nhằm quản lý tốt hơn hoạt động tham vấn tâm lý góp phần nâng cao chất lượng công tác quản lý, giáo dục, điều trị cai nghiện phục hồi cho học viên và phòng chống tái nghiện tại Trung tâm GD - LĐXH Hải Phòng
Trang 14Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn 3
3 Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Hiệu quả công tác quản lý hoạt động tham vấn tâm lý cho học viên cai nghiện ma túy tại Trung tâm GD - LĐXH Hải Phòng
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Các biện pháp quản lý hoạt động tham vấn tâm lý tại Trung tâm GD - LĐXH Hải Phòng
4 Giả thuyết khoa học
Khi người nghiện sử dụng ma túy sẽ gây ra một số phản ứng, những tổn thất trên hệ thống thần kinh, tạo ra tâm lý họ một số thói quen, những khao khát đam mê khó có thể từ bỏ hoặc gây nên những trạng thái tâm lý không bình thường Vì vậy khi cai nghiện họ luôn gặp phải những khủng hoảng, ức chế dẫn đến hiệu quả công tác cai nghiện không cao Các liệu pháp tham vấn tâm lý phù hợp sẽ giúp họ ổn định về mặt tâm lý, tham gia tốt hơn vào quá trình cai nghiện
và chống tái nghiện Tuy nhên để các liệu pháp tham vấn tâm lý được tiến hành một cách bài bản, khoa học, hiệu quả và phù hợp với các liệu pháp điều trị khác cho học viên, yêu cầu đặt ra đối với nhà quản lý phải tổ chức quản lý tốt hoạt động tham vấn tâm lý cho học viên, tạo nên môi trường tham vấn chuyên nghiệp, hiệu quả, đồng thời nhà quản lý phải xây dựng được những biện pháp quản lý phù hợp, mang tính chuyên biệt, đặc thù cho hoạt động này
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận về ma túy, nghiện ma túy, quản lý giáo dục người nghiện ma túy, công tác tham vấn tâm lý, quản lý hoạt động tham vấn tâm lý đối với người nghiện ma túy tại Trung tâm GD - LĐXH Hải Phòng
5.2 Nghiên cứu, khảo sát thực trạng hoạt động tham vấn tâm lý và thực trạng công tác quản lý hoạt động tham vấn tâm lý đối với học viên cai nghiện
ma túy tại Trung tâm GD - LĐXH Hải Phòng
5.3 Đề xuất các biện pháp hợp lý, toàn diện, có tính khả thi nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý hoạt động tham vấn tâm lý đối với học viên cai nghiện ma túy góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý giáo dục học viên
và phòng chống tái nghiện
Trang 15Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn 4
6 Giới hạn phạm vi nghiên cứu
6.1 Về nội dung
- Thực trạng hoạt động tham vấn tâm lý, quản lý hoạt động tham vấn tâm
lý tại Trung tâm GD - LĐXH Hải Phòng và các yếu tố ảnh hưởng đến thực trạng này
- Xây dựng các biện pháp quản lý hoạt động tham vấn tâm lý tại Trung tâm GD - LĐXH Hải Phòng
6.2 Về địa bàn và khách thể khảo sát
Quá trình nghiên cứu được thực hiện tại Trung tâm GD - LĐXH Hải Phòng Khách thể khảo sát gồm 1000 học viên và 50 cán bộ quản lý Trung tâm
GD - LĐXH Hải Phòng
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận: Nghiên cứu các tài liệu, các văn bản pháp luật của Nhà nước về công tác cai nghiện phục hồi, hoạt động tham vấn tâm lý và quản lý hoạt động tham vấn tâm lý nhằm xây dựng lý luận cho đề tài
7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Khảo sát bằng phiếu hỏi, phỏng vấn, trò chuyện, quan sát, xin ý kiến chuyên gia nhằm phân tích thực trạng hoạt động tham vấn tâm lý và quản lý hoạt động tham vấn tâm lý
7.3 Các phương pháp hỗ trợ: Sử dụng các phương pháp thống kê toán học để phân tích, xử lý các thông tin, số liệu thu được
8 Đóng góp mới của luận văn
- Góp phần hệ thống hoá các vấn đề lý luận có liên quan tới hoạt động tham vấn, vấn đề nghiệp vụ quản lý hoạt động tham vấn tâm lý cho cán bộ làm công tác tham vấn tâm lý tại Trung tâm GD - LĐXH Hải Phòng
- Nghiên cứu và chỉ ra thực trạng hoạt động tham vấn tâm lý và quản lý hoạt động tham vấn tâm lý tại Trung tâm GD - LĐXH Hải Phòng
Trang 16Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn 5
- Kết quả nghiên cứu đạt được có thể vận dụng vào thực tiễn hoạt động tham vấn tâm lý, quản lý hoạt động tham vấn tâm lý tại Trung tâm GD - LĐXH Hải Phòng
9 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và danh mục các tài liệu tham khảo, luận văn bao gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động tham vấn tâm lý tại Trung tâm Giáo dục - Lao động xã hội Hải Phòng
Chương 2: Thực trạng về công tác tham vấn tâm lý, thực trạng công tác quản lý hoạt động tham vấn tâm lý tại Trung tâm GD - LĐXH Hải Phòng
Chương 3: Biện pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý hoạt động tham vấn tâm lý tại Trung tâm GD - LĐXH Hải Phòng
Trang 17Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn 6
1.1.1 Lịch sử ra đời của ngành tham vấn tâm lý
1.1.1.1 Lịch sử ra đời của ngành tham vấn trên thế giới
Dựa trên các mốc phát triển của các lý thuyết tiếp cận trong tham vấn và
sự phát triển toàn diện của hoạt động tham vấn có thể tạm phân ba mốc chính trong sự hình thành và phát triển ngành tham vấn chuyên nghiệp như sau:
- Giai đoạn từ cuối thế kỷ XIX sang nửa đầu thế kỷ XX: Ngành tham vấn trong giai đoạn khởi đầu với các nhà tiên phong triển khai các khái niệm cơ bản theo trường phái phân tâm, các lý thuyết nghiên cứu về quá trình phát triển tâm lý con người và sự ra đời của công tác hướng dẫn nghề, sau đó là tham vấn nghề
- Giai đoạn giữa thế kỷ XX: Ngành tham vấn phát triển mang tính chất chuyên nghiệp với các phương thức trị liệu đa dạng được triển khai
- Giai đoạn từ cuối thế kỷ XX đến nay: Tham vấn tập trung vào lĩnh vực văn hóa, còn gọi là tham vấn văn hóa với các phép trị liệu triết trung
* Giai đoạn khởi đầu của công tác hướng nghiệp và tham vấn với nghề -
từ cuối thế kỷ XIX sang đầu thế kỷ XX:
Trong thế kỉ XIX, công tác trợ giúp tập trung vào việc cung cấp những phúc lợi căn bản cho người nghèo, hướng đến việc cho lời khuyên và cung cấp thông tin mang tính giáo dục để cho mọi người nói chung, giới trẻ nói riêng trở nên sống tốt hơn và có khả năng thích ứng với lao động công nghiệp trong giai đoạn đầu của cách mạng công nghiệp Vào cuối thế ki XIX, sang nửa đầu thế
kỷ XX là giai đoạn đầu của công tác hướng dẫn nghề, và sau đó là tham vấn nghề với sự phát triển của phong trào sử dụng các thang đo - trắc nghiệm, của
Trang 18Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn 7
các lý thuyết nghiên cứu về tâm lí cá nhân và sự ứng dụng đầu tiên của lí thuyết Phân tâm học vào quá trình trị liệu những rối loạn tâm lý của con người Những người có đóng góp cho sự ra đời của tham vấn hướng nghiệp trong giai đoạn này là Francis Galton, Wilhelm Wundt, G.Stanley Hall, Alfrcd Binet, Jesse Davis, Frank Psrsons, Robert Yerkers
Trong suốt thế ki XIX, kết quả nghiên cứu của khoa học thực nghiệm ứng dụng cho con người là sự phát triển của các trắc nghiệm tâm lý và giáo dục Đặc biệt vào cuối thế kỷ XIX, tâm lý học đã ngày càng chịu nhiều ảnh hưởng của dược học hiện đại, y khoa và thuyết tiến hóa mới Wilhelm Wundt (1832 -1920) và Francis Galton (1822 - 1911) người Anh, những nhà tâm lý học thực nghiệm đầu tiên đã phát triển những phòng thực nghiệm để kiểm tra
sự khác biệt về thề chất của con người
Năm 1907, Jesse Davis (1817- 1955) đã xây dựng cơ sở đào tạo đầu tiên
về công tác hướng dẫn nghề tại Michigan Tuy nhiên, người có ảnh hưởng lớn nhất đến công tác hướng nghiệp ở Mỹ là Frank Parsons (1854 - 1908) ông đã xuất bản cuốn sách "Cẩm nang hướng nghiệp" nhằm trợ giúp các cá nhân trong việc lựa chọn nghề nghiệp F Parsons hi vọng công tác hướng nghiệp được đưa vào trường học - một hi vọng được trở thành hiện thực năm 1908, sau khi ông mất Năm 1909 cuốn sách “Chọn nghề” được coi là sự cống hiến to lớn mà ông
đã để lại cho công tác hướng nghiệp Phòng tư vấn đầu tiên trên thế giới đã được F Parsons thành lập ở Boston (Mỹ) vào năm 1908
Những ý tưởng của F Parsons trong công tác hướng nghiệp đã thực sự trở thành nguyên tắc của nghề tham vấn sau này Parsơns đã nhấn mạnh tầm quan trọng của việc phải có một người hướng dẫn chuyên nghiệp, và gợi ý rằng một người hướng dẫn tốt không thể đưa ra các quyết định cho người khác vì tự mỗi người mới biết phải quyết định điều gì tốt nhất cho chính bản thân mình Ông cũng cho rằng một nhà tham vấn nên trung thực và tốt bụng với thân chủ
Trang 19Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn 8
và điều đó có ý nghĩa quyết định đối với nhà tham vấn trong việc trợ giúp thân chủ phát triển những kĩ năng phân tích Với những tư tưởng nêu trên, Parsons không những xứng đáng với danh hiệu là người sáng tập ngành tham vấn nghề,
mà còn được coi là người sáng lập của lĩnh vực tham vấn nói chung
Sang thế kỷ XX, do sự phát triển của trào lưu hướng nghiệp và tham vấn nghề nến có sự bành trướng rộng hơn của các trắc nghiệm "Phong trào trắc nghiệm" được triển khai ở nhiều nước thuộc châu Âu và Bắc Mỹ Ở giai đoạn này các trắc nghiệm không chỉ trợ giúp trong lĩnh vực tham vấn nghề mà còn được sử dụng trong quân đội, trong các trường học, các cơ sở kinh doanh và công nghiệp để đo nhân cách - đo các biểu hiện của sự xúc động; đo khả năng nhận thức, hứng thú, trí thông minh Trắc nghiệm đi vào tất cả các loại hình thực hành tham vấn trong xã hội
Xét từ góc độ phát triển của các lí thuyết tâm lí học, các nhà tiên phong của trường phái Phân tâm là Sigmund Freud, Melanie Klein, Can Jung, Margaret Lawenfcrd, Alfred Adler Phần lớn phép trị liệu phân tâm của S.Freud đều xuất phát từ những khám phá về các quá trình vô thức và các cơ chế phòng vệ Chúng xuất hiện khi con người có xáo trộn về cảm xúc Nhằm để
tự vệ trước những kinh nghiệm đau buồn mà con người không đủ sức ứng phó Học thuyết của Freud đã mở ra một cách nhìn mới về sự phát triển của con người Các nhà tham vấn đã vận dụng những lí thuyết của Freud để ứng dụng trong việc giúp để thân chủ thoát khỏi những rối nhiễu tâm lí Những thuật ngữ như: bản năng xung động (vô thức), bản ngã (ý thức) và siêu ngã (siêu thức); các quá trình vô thức, các cơ chế phòng vệ, sự đề kháng và liên tưởng thông suốt ngày nay đã trở nên quen thuộc đối với các khoa học trợ giúp về tâm lý, đặc biệt là đối với các nhà tham vấn chuyên nghiệp
Theo E.D Neukrug, ba nhân tố chính để cấu thành nghề tham vấn xuất hiện trong giai đoạn này là các lý thuyết trắc nghiệm; công tác hướng nghiệp và
Trang 20Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn 9
các lí thuyết tiếp cận trong trị liệu tâm lý Trong đó, các lý thuyết tâm lý trị liệu
và các phép đo lường tâm lý đã can thiệp sâu vào các loại hình tham vấn khác nhau, làm hoàn thiện hệ thống lý thuyết giúp đỡ căn bản của ngành tham vấn chuyên nghiệp
* Giai đoạn tham vấn phát triển như một ngành chuyên nghiệp - giữa thế
kỷ XX:
Năm 1930, E.G Williamson đưa ra một lý thuyết hoàn chỉnh về tham vấn với tên gọi là "Tiếp cận đặc điểm và nhân tố" Williamson đề xuất các bước của một hoạt động tham vấn như sau:
1 Phân tích đánh giá vấn đề và lập hồ sơ về sự tiếp xúc và trắc nghiệm đối với thân chủ
2 Tổng hợp, tóm tắt và sắp xếp thông tin để hiện vấn đề
3 Chẩn đoán, làm sáng tỏ vấn đề
4 Tham vấn, trợ giúp cá nhân tìm cách giải quyết
5 Theo dõi sát sao sự tiến triển cùng thân chủ
Parerson (1973) cho rằng sự khác nhau căn bản của tiếp cận theo đặc điểm và nhân tố so với tham vấn hướng nghiệp giai đoạn đầu thế kỷ là việc xác định được một chuỗi các bước của một hoạt động trợ giúp Đây chính là tiền thân của "Quá trình tham vấn" Trong Chiến tranh thế giới thứ hai, nhiều nhà triết học, tâm thần học, tâm lý học đã từ châu âu sang Mỹ và ngay lập tức những tư tưởng của họ đã ảnh hưởng đến tâm ý trị liệu và giáo dục ở đây Vì vậy có một số phương pháp trị liệu nhân văn - hiện sinh đã dược triển khai tại
Trang 21Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn 10
trình phát triển tâm lý con người đã cho phép các nhà tham vấn vận dụng nó để giúp đỡ cho các thân chủ của mình Các học thuyết tâm lý này là cơ sở khoa học cho việc nhận biết, giải thích nguồn gốc của hành vi và các biểu hiện rối loạn tâm lý ở con người như: Thuyết phát triển tâm lý xã hội; Thuyết phát triển
tư duy trẻ em; Thuyết phát triển nhu cầu con người; Thuyết gắn bó mẹ - con; Thuyết tổn thương tâm lý; Thuyết phát triển tư duy, phát triển đạo đức con người v.v
Cũng vào những năm 50 của thế kỷ XX, phương pháp thân chủ trọng tâm của C.Rogers (1902 - 1981) là một bước chuyển từ sự tham vấn có định hướng do ảnh hưởng của hướng nghiệp, sang tham vấn tập trung vào thân chủ
và vấn đề của họ với tập sách Tham vấn và trị liệu lưu tâm lý (Counscling and Psychotherapy), cuốn sách có ảnh hưởng lớn lao đến nghề tham vấn chuyên nghiệp sau này
Sự ra đời tiêu chuẩn đạo đức nghề vào thập niên 60 đánh dấu sự hình thành các hiệp hội tham vấn nghề quốc gia Sự phát triển của công tác đào tạo các nhà tham vấn và tâm lý học trong lĩnh vực thực hành Công tác giám sát tham vấn ra đời cùng với việc xác định các tiêu chuẩn đánh giá về bằng cấp trong đào tạo tham vấn và việc cấp giấy phép hoạt động cho các nhà tham vấn
đã góp phần hình thành nghề tham vấn chuyên nghiệp
* Giai đoạn từ cuối thế kỷ XX đến nay - Tham vấn theo xu hướng đa văn hóa: Hiện nay đang có những quan điểm rất đa dạng bàn về việc nhà tham vấn nên dùng phương pháp tham vấn nào Trên thế giới đang tồn tại rất nhiều cách tham vấn: Một số người theo quan điểm của Phân tâm học tìm những nguồn gốc
vô thức, những cơ chế phòng vệ do lo hãi, sự chuyển vai tích cực Số khác theo phép tổ liệu hành vi cảm xúc thuần lý là cho lời khuyên giải thích trực tiếp hành vi của thân chủ do xuất phát từ hành vi phi lý của thân chủ dẫn đến những cảm nghĩ tiêu cực Phép tri liệu Gestalt nhấn mạnh nhiều đến kinh nghiệm hiện
Trang 22Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn 11
tại của xúc cảm - tư tưởng cũng được một số nhà tham vấn trấn thế giới quan tâm Quan điểm tư liệu nhân văn hướng tới việc giúp thân chủ tìm cách khám phá và tự giải quyết vấn đề của mình cũng được nhiều nhà tham vấn nhắc tới
Giai đoạn hiện nay, một trong những thay đổi lớn nhất của tham vấn là tập trung vào lĩnh vực văn hoá hay còn gọi là tham vấn xuyên với hoá Các nhà tham vấn cho rằng sẽ rất khó khăn trong việc giúp đỡ khách hàng nếu nhà tham vấn không nắm được nền tảng văn hóa của khách hàng Những vấn đề văn hóa liên quan đến đến di truyền, màu da, dòng giống, truyền thông hay vấn đề tiền bạc, quyền lực vị trí xã hội, vai trò xã hội đều có liên quan đến sự nảy sinh nan đề; cách nhìn nan đề và cách xử lý nan đề của mỗi thân chủ Khi các nhà tham vấn thiếu hiểu biết về nền tảng văn hóa của thân chủ thì họ dễ đứng trên quan điểm của bản thân để đánh giá thân chủ Mặt khác, nhà tham vấn sẽ có nguy cơ đánh giá thấp tác động của áp lực xã hội đối với khách hàng, giải thích nan đề của thân chủ theo xu hướng bệnh học mà không tính đến nguyên nhân từ cơ sở văn hóa Điều này có thể dẫn đến sự chẩn đoán nhầm và có thể gây ra những tồn thương cho thân chủ
Tham vấn đa văn hoá là hướng tiếp cận thân chủ mà nhà tham vấn có cân nhắc cụ thể đến nền tảng khác biệt về văn hoá truyền thống, hiện tại và những kinh nghiệm của các nhóm khách hàng khác nhau Sự hiểu biết về nền tảng văn hóa của thân chủ được thể hiện qua thái độ, kĩ năng và phương pháp tiếp cận thân chủ sẽ giúp cho nhà tham vấn lý giải được lý do nào, điều gì khiến họ cảm nhận, suy nghĩ và hành động như vậy Qua đó sẽ chấp nhận họ hơn và như vậy
sẽ giúp cho thân chủ hiểu được điều gì là nguyên nhân gây ra tình trạng hiện tại
và từ đó họ có thể tự vượt qua khó khăn của bản thân
Tóm lại, ngành tham vấn thật sự trở nên chuyên nghiệp khi :
- Các học thuyết nghiên cứu tâm lý người phát triển
- Các hướng tiếp cận trị liệu với cá nhân, nhóm đã thay đổi, hoàn chỉnh cho phù hợp với ngành tham vấn
Trang 23Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn 12
- Các tổ chức, các hiệp hội tham vấn ra đời quy định các chuẩn mực đạo đức và pháp lý cho người làm công tác trợ giúp
- Các phòng khám sức khoẻ tâm thần, các trung tâm tham vấn cộng đồng, hay trường học gia tăng nhu cầu về người trợ giúp tâm lí
- Các hiệp hội, trường học đào tạo nghề tham vấn phát triển mạnh, đa dạng và công tác giám sát tham vấn theo hướng ngày càng khoa học và kiểm soát chặt chẽ
- Bằng cấp hóa những người hoạt động trong lĩnh vực tham vấn và xây dựng được những mô hình đào tạo nhà tham vấn chuyên nghiệp theo các hướng chuyên sâu
1.1.1.2 Lịch sử ra đời của ngành tham vấn ở Việt Nam
Ở Việt Nam, vào những năm chín mươi của thế kỷ XX, một loạt các hoạt động mà nhìn bề ngoài có vẻ rời rạc, khác nhau như sự hình thành các trung tâm công tác xã hội với các hoạt động giúp đỡ người nghèo, những người có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn do sự thay đổi và ảnh hưởng của kinh tế - xã hội; sự xuất hiện các trung tâm tư vấn, các đường dây tư vấn điện thoại và các hình thức tư vấn qua mạng mà ban đầu là miễn phí; việc mạnh dạn sử dụng các sinh viên ngành tâm lý vào các hoạt động chăm chữa tâm thần tại các bệnh viện, phòng khám và
sự ứng dụng đa dạng các trắc nghiệm tâm lý vào hoạt động hướng nghiệp tại các trường trung học và cộng đồng tất cả đã góp phần hình thành nghề tham vấn ở Việt Nam, mà khởi đầu của nó là công tác tư vấn cho lời khuyên
Giai đoạn khởi đầu của hoạt động tham vấn ở Việt Nan Tâm lý học được
“du nhập” vào Việt Nam đã được gần 50 năm, với tư cách là một nghề - nghề dạy tâm lý (nghề sư phạm) và nghiên cứu tâm lí Mặc dù hiện nay ngành Tâm lý học vẫn chưa được cấp mã số cho "nghề trợ giúp tâm lý" Nhưng các hoạt động trợ giúp tâm lý nhằm đáp ứng nhu cầu xã hội vẫn phát triển và khẳng định “chỗ đứng” của mình trong xã hội Ngày nay, tại các đô thị lớn, khi các cá nhân hoặc gia đình có vấn đề tâm lý họ đều biết tìm đến các “bác sĩ tâm lý” để nhờ giúp đỡ
Trang 24Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn 13
Thực tế những hoạt động trợ giúp tâm lý cho những người có khó khăn
đã xuất hiện từ rất sớm trong xã hội Việt Nam Nhìn từ lịch sử ngành Công tác
xã hội, từ năm 1945 tại một số bệnh viện ở phía Bắc như Bệnh viện Bạch Mai, một số cán sự xã hội (nhân viên công tác xã hội) đã sử dụng tham vấn như một
kĩ năng quan trọng của Công tác xã hội vào quá trình trợ giúp bệnh nhân tại các bệnh viện ở phía Nam Trước năm 1975, cùng với hoạt động Công tác xã hội theo hướng chuyên nghiệp đã có tồn tại các hoạt động tham vấn cho cá nhân, gia đình tại cộng đồng Trường đào tạo Cán sự Xã hội Caritas, tại 43 Tú Xương, Thành phố Hồ Chi Minh đã triển khai chương trình đào tạo nhân viên công tác xã hội, trong đó có cung cấp các kĩ năng trợ giúp và kĩ năng tham vấn cho các học viên Các hoạt động công tác xã hội, trong đó có tham vấn học đường bị chững lại sau giải phóng
Vào cuối thập niên 80 và đầu thập niên 90 của thế kỉ XX các hoạt động
tư vấn tâm lý thường đi kèm với các chương trình cải thiện cuộc sống và kinh
tế cho các đối tượng thuộc diện chính sách xã hội Công tác tư vấn là một phần trong các hoạt động của công tác từ thiện, công tác xã hội, nhằm giải quyết những vấn đề mang tính thời đại, như đói nghèo, bệnh tật, mại dâm, người có HIV, trẻ mồ côi, trẻ lang thang, người già không nơi nương tựa với những tổn thương tâm lý sâu sắc
Nếu nhìn hoạt động tham vấn từ góc độ nghề trợ giúp tâm lý, theo đánh giá của ThS Nguyễn Thi Oanh, “Phòng Tư vân tâm lý” đầu tiên được thành lập
ở Thành phố Hồ Chí Minh là vào năm 1988 do TS Tô Thị Ánh phụ trách Các đối tượng tới đây xin tư vấn thuộc mọi thành phần và các nhu cầu trợ giúp cũng
đa dạng Do Trung tâm tư vấn tâm lý này có dịch vụ trị liệu tâm lý chuyên sâu nên các khách hàng có nan đề bị trầm trọng đã thường đến đây xin trợ giúp
Vào những năm 1997 - 2000, tại Thành phố Hồ Chí Minh có hàng chục phòng tham vấn HIV xuất hiện Nhiệm vụ của nó chủ yếu là cung cấp thông
Trang 25Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn 14
tin, giải đáp thắc mắc và cho lời khuyên Ngoài ra, sự xuất hiện của các Trung tâm tư vấn, như Trung tâm tư vấn “Tình yêu, hôn nhân, gia đình” (thuộc Hội Tâm lí giáo dục học thành phố), Trung tâm Tư vấn Hướng Dương (thuộc Liên đoàn Lao động thành phố) cũng đã góp phần làm tăng lượng khách hàng tới tư vấn trực tiếp hoặc tư vấn qua điện thoại 108 rất đông Sự xuất hiện của các dịch
vụ tham vấn trị liệu trực tiếp nhằm giúp đỡ cho các đối tượng là trẻ em bị lạm dụng tình dục, do Trung tâm Công tác Xã hội,thuộc Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam kết hợp với Tiến sĩ Tâm lí Trần Thị Giống đã dần làm thay đổi tính chất của hoạt động tham vấn - Từ tư vấn cho lời khuyên chủ yếu bằng điện thoại chuyển dần sang tư vấn trực tiếp, tập trung sâu vào vấn đề tâm lý của người xin trợ giúp
1.1.2 Lịch sử ra đời của đề tài
Qua nội lý luận về lịch sử ra đời của ngành tham vấn tâm lý tại Việt Nam
và trên thế giới, tác giả đã lựa chọn nghiên cứu đề tài về công tác quản lý hoạt động tham vấn tâm lý tại Trung tâm GD - LĐXH Hải Phòng Trong quá trình tiến hành và nghiên cứu các vấn đề lý luận tác giả nhận thấy đây là một vấn đề hết sức mới mẻ và đặc thù Hiện chưa có một đề tài hay một công trình khoa học nào nghiên cứu về vấn đề này Vì vậy đề tài chỉ tham khảo một số tài liệu
có liên quan đến các vấn đề về nghiện ma túy, tham vấn tâm lý, quản lý hoạt động tham vấn tâm lý Kết quả của đề tài là sự đánh giá thực trạng của hoạt động tham vấn tâm lý, quản lý hoạt động tham vấn tâm lý để đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động tham vấn tâm lý tại Trung tâm GD - LĐXH Hải Phòng
1.2 Những vấn đề lý luận chung về ma tuý, nghiện ma tuý
1.2.1 Một số vấn đề lý luận chung về ma tuý
1.2.1.1 Ma tuý
Theo từ Hán - Việt: Ma là “tê”, tê liệt; túy là “say”, say mê Ma túy là tên gọi chung của chất gây nghiện có đặc tính: Làm cho người sử dụng luôn có ham
Trang 26Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn 15
muốn phải sử dụng bất cứ lúc nào; Làm cho người sử dụng có khuynh hướng tăng liều dùng, ngày càng cao mới đủ độ “phê”; Làm cho người sử dụng nô lệ về vật chất lẫn tinh thần Nếu ngưng sử dụng sẽ bị lên cơn vật vã, đau đớn, thậm chí tính mạng bị đe dọa
Do vậy khái niệm ma túy được các chuyên gia của Liên hợp quốc cho rằng: “Ma túy là các chất hóa học có nguồn gốc tự nhiên và nhân tạo khi xâm nhập vào cơ thể con người sẽ có tác động làm thay đổi tâm trạng, ý thức và trí tuệ, làm con người bị lệ thuộc vào chúng gây nên tổn thương cho cá nhân và cộng đồng”
Các chuyên gia nghiên cứu về ma túy của Việt Nam cho rằng: “Ma túy là các chất có nguồn gốc tự nhiên hoặc tổng hợp Khi được đưa vào cơ thể con người nó có tác dụng làm thay đổi trạng thái ý thức và sinh lý con người đó Nếu lạm dụng ma túy, con người sẽ lệ thuộc vào nó, khi đó gây tổn thương và nguy hại cho người sử dụng và cộng đồng”
Theo Bộ luật Hình sự được Quốc hội nước Cộng hòa XHCN Việt Nam thông qua ngày 21/12/1999, trong đó quy định các tội phạm ma túy đã chỉ rõ:
“Ma túy bao gồm nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa; lá, hoa quả cây cần sa; lá cây côca; quả thuốc phiện khô; quả thuốc phiện tươi; heroin; côcain; các chất ma túy khác ở thể lỏng; các chất ma túy khác ở thể rắn”
Luật phòng chống ma túy đã khái niệm các từ ngữ:
- Chất gây nghiện: Là chất kích thích hoặc ức chế thần kinh, dễ gây tình trạng nghiện đối với người sử dụng
- Chất ma túy: Là các chất gây nghiện, chất hướng thần được quy định trong các danh mục được Chính phủ ban hành
- Chất hướng thần: chất kích thích, ức chế thần kinh hoặc gây ảo giác, sử dụng nhiều lần sẽ dẫn tới trạng thái nghiện đối với người sử dụng
1.2.1.2 Phân loại ma tuý
Có nhiều cách phân loại ma túy nhưng nhìn chung có một số dạng phân loại cơ bản sau đây [21]:
Trang 27Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn 16
* Căn cứ vào nguồn gốc ma túy:
Căn cứ vào cách phân loại này ma túy được chia làm ba nhóm:
- Ma túy tự nhiên: bao gồm ba thứ cây chủ yếu: cây Anh túc; cây Côca; cây Cần sa
- Ma túy bán tổng hợp gồm các chất chủ yếu, thông dụng như: Morphine, heroin…
- Ma túy tổng hợp bao gồm các chất: LSD (Lisergic Axit Diethylamit) đây là chất ma tuý nguy hiểm nhất; ngoài ra còn có các loại dược phẩm: Amphetamin; Amphetamin Xunphat; Dextro Amphetamin Xunphat…; các thứ thuốc giảm đau gồm có: Amobacbitan Na; Pentobacbitan Na; Secobacbitan Na; Hỗn hợp Amobacbitan và Secbacbitan
* Căn cứ vào mức độ gây nghiện và khả năng lạm dụng
Theo cách phân loại này ma túy được chia làm hai nhóm:
- Ma túy có hiệu lực cao bao gồm loại ma túy tổng hợp và ma túy bán tổng hợp
- Ma túy có hiệu lực thấp bao gồm loại ma túy tự nhiên
* Căn cứ vào tác dụng sinh lý trên cơ thể người
Theo cách phân loại này ma túy được chia làm 4 nhóm cơ bản:
- Chất gây êm dịu, đam mê: thuộc loại này ma tuý gồn các chất như thuốc phiện và các chế phẩm, cần sa và các sản phẩm của cần sa
* Chất gây có tác dụng ức chế thần kinh: côca và các sản phẩm của côca, thuốc ngủ
- Chất kích thích gồm: amphetamin và các dẫn xuất của nó
- Chất gây ảo giác, dung môi hữu cơ và các chất thuốc xông
* Căn cứ vào nguồn gốc của ma túy và cơ chế tác động tâm lý
Theo cách phân loại này ma túy được chia thành các nhóm:
- Ma túy là các chất từ cây thuốc phiện: lá cây dùng để hút, nhai; nhựa cây dùng để hút, nuốt, chích và bào chế ra morphine…
Trang 28Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn 17
- Ma túy là các chất từ cây cần sa: lá, hoa; cành và hạt phơi khô tán nhỏ dùng để hút là chủ yếu
- Ma túy là các chất kích thích bao gồm cocain và các loại dược phẩm Amphetamin, Amphetamin xunphat, đặc trưng là hồng phiến
* Ma túy là các chất ức chế bao gồn các loại thuốc ngủ, thuốc an thần: gardenal; Seconal; Seduxen; Librum…
- Ma túy là các chất gây ảo giác như: LSD, Phencyclidine…
1.2.2 Một số vấn đề về nghiện ma túy, người nghiện ma túy
- Lạm dụng ma túy là sử dụng ma túy một cách quá liều hoặc không theo
sự hướng dẫn của chuyên gia, bác sỹ để nhằm mục đích tiêu khiển, có hại đối với cơ thể
- Khái niệm về nghiện ma túy cũng được nhìn nhận ở nhiều góc độ khác nhau: Nghiện ma túy từ góc độ y học được tổ chức Y tế thế giới định nghĩa
là “Trạng thái nhiễm độc chu kỳ hay mãn tính do sử dụng lặp lại nhiều lần, một chất độ tự nhiên hay tổng hợp nào đó Sự nhiễm độc này thể hiện ở sự tăng dần liều dùng và sự lệ thuộc tâm sinh lý của người dùng vào tác dụng của chất đó”.(2)
Theo quan điểm xã hội thì “Nghiện ma túy làm tổn hại đến sức khỏe, nhân cách, ảnh hưởng xấu đến đời sống sinh hoạt và trật tự an toàn xã hội”.(3)
Tóm lại, nghiện ma túy là hiện tượng phụ thuộc cả về thể xác và tinh thần vào ma túy do sử dụng thường xuyên với liều lượng ngày càng tăng dẫn đến mất khả năng kiểm soát bản thân ở người nghiện ma túy, có hại cho cá nhân và cho xã hội Quá trình nghiện ma túy diễn ra với các mức độ ngày càng tăng, đầu tiên là
Trang 29Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn 18
những khoái cảm hoàn toàn mang tính cá nhân, rồi đến những khổ sở, đau đớn vật
vã, của chính cá nhân người nghiện và cuối cùng là những hành vi gây nguy hiểm cho gia đình và xã hội
* Quá trình hình thành nghiện ma túy ở Việt Nam:
Lịch sử nghiện hút các chất ma túy ở Việt Nam đã có từ rất lâu đời Tác hại của việc dùng ma túy cũng được phát hiện từ năm 1665, đã có đạo luật cấm trồng cây anh túc.(8)
Năm 1802, trước tình trạng lộn xộn do việc hút thuốc phiện gây ra, luật phòng, chống ma túy đầu tiên ra đời Sau đó, Thực dân Pháp khi xâm lược nước ta nhận thấy món lợi kếch xù do ma túy đem lại, chúng đã khuyến khích dân ta nhổ lúa trồng thuốc phiện Từ Cách Mạng tháng Tám trở đi, với những
nỗ lực của Chính phủ, diện tích trồng cây thuốc phiện đã bị thu hẹp nhiều
Trước kia, người nghiện ma tuý chủ yếu tập trung ở vùng núi phía Bắc, nơi đồng bào có tập tục trồng cây thuốc phiện và hút thuốc phiện với tổng số khoảng 30.000 người Miền Nam dưới chế độ cũ, tệ nạn ma tuý phát triển tràn lan; theo thống kê, vào trước năm 1975, có khoảng 170.000 người nghiện và tập trung ở các thành phố, thị xã Sau ngày hoà bình lập lại ở Miền Bắc năm 1954,
và giải phóng miền Nam thống nhất đất nước năm 1975, dưới chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước, nền kinh tế phát triển theo hướng kế hoạch hoá tập trung, xã hội được quản lý nghiêm ngặt, do đó tệ nạn ma tuý được đẩy lùi rõ rệt Năm 1980, cả nước chỉ còn 30.000 - 40.000 người nghiện
Từ cuối những năm 1980 đến nay, nước ta chuyển từ kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa đã mang lại nhiều thành tựu to lớn về kinh tế và xã hội Tuy nhiên những năm gần đây, dưới tác động của nền kinh tế thị trường, trong xã hội đã có nhiều biến đổi nhất định, phát sinh một số vấn đề xã hội đáng quan tâm, đặc biệt là tệ nạn nghiện ma tuý Tình hình nghiện ma túy không ngừng gia tăng và ngày càng phức tạp đòi hỏi chúng ta phải nghiên cứu và hiểu sâu hơn về vấn đề này Nghiện ma túy ở Việt Nam hiện nay mang một số đặc điểm sau [11]:
Trang 30Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn 19
Số lượng người nghiện ma túy ngày càng tăng qua các năm Qua số liệu thống kê của các tỉnh, thành phố trong cả nước từ năm 1994 đến nay, số lượng người nghiện liên tục gia tăng Năm 1994, cả nước mới chỉ có 55.445 người nghiện, đến tháng 6 năm 2011 đã có 149.000 người và đến cuối năm 2012 số lượng người nghiện đã lên tới trên 171.000 người (đây là con số những người nghiện có hồ sơ quản lý còn thực tế con số này còn lớn hơn rất nhiều) Bình quân mỗi năm nước ta tăng hơn 7.000 người nghiện, chiếm 13,5% Đặc biệt là
từ năm 2000 cho đến nay, mỗi năm số người nghiện tăng trên 10.000 người
Tỷ lệ tái nghiện cao Theo số liệu của Cục phòng, chống tệ nạn xã hội thì
có hơn 90% số người đã cai nghiện rồi mắc nghiện lại
Vào những năm đầu thập kỷ 90 người nghiện chủ yếu tập trung ở các tỉnh miền núi phía Bắc và một số thành phố lớn: Theo số liệu năm 1994, cả nước có 49/53 tỉnh, thành phố có người nghiện
Số người nghiện chủ yếu ở lứa tuổi thanh thiếu niên Năm 1994, số người nghiện ở độ tuổi dưới 30 tuổi chiếm 42% trong số người nghiện thì đến nay tính trong cả nước những người nghiện ở độ tuổi từ 18-30 chiếm tới khoảng trên 75% tổng số người nghiện Một số tỉnh, thành phố như: Hà Nội, Quảng Ninh, Hải Phòng, Hải Dương … tỷ lệ người nghiện dưới 30 tuổi chiếm từ 80 - 90% Con số này cho thấy mối quan hệ giữa người nghiện lứa tuổi thanh thiếu niên với lực lượng lao động của xã hội Ta dễ dàng thấy, với tỷ lệ mắc nghiện ở đối tượng thanh thiếu niên như trên thì xã hội sẽ mất đi một lực lượng lao động đông đảo phục vụ phát triển kinh tế đất nước
- Đa dạng về chủng loại ma túy được sử dụng: Nếu như trước kia, thuốc phiện là dạng ma túy phổ biến thì ngày nay ma túy tồn tại ở nhiều dạng khác nhau: từ Heroin, cocain, hồng phiến, bạch phiến, thuốc an thần, thuốc ngủ, ma tuý tổng hợp ATS… với những tác dụng kích thích rất khác nhau Năm 1994, có 85% số người nghiện sử dụng thuốc phiện, đến nay có 70% đã chuyển sang dùng Hêroin, 2% sử dụng ma tuý kích thích thần kinh như Amphêtamin,
Trang 31Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn 20
Estasy… Một số địa phương có số người rất cao như: Hải Phòng, Quảng Ninh, Hải Dương…trên 90% sử dụng Hêroin
- Người nghiện ma tuý dùng bằng đường tiêm chích ngày càng phổ biến,
đó là nguyên nhân làm gia tăng các bệnh lây truyền qua đường máu như bệnh viêm gan B, HIV/AIDS
- Đa dạng về thành phần xã hội của các đối tượng nghiện Hiểm họa ma túy không loại trừ bất kỳ ai, bất kỳ gia đình nào, từ thành thị đến nông thôn, từ tội phạm, gái mại dâm đến công nhân, viên chức hay ngay cả học sinh, sinh viên
- Nghiện ma túy gắn với tội phạm ngày càng tăng
1.2.2.2 Người nghiện ma tuý
* Khái niệm người nghiện ma túy:
Người nghiện ma túy là người sử dụng các chất ma túy, thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần dưới các hình thức khác nhau như hút, hít, tiêm chích, và bị lệ thuộc vào các chất này
* Biểu hiện của người nghiện ma túy
Khi mới nghiện ma túy người nghiện thường tìm mọi cách để dấu người thân, gia đình hành vi dùng ma túy của mình Tuy vậy, vẫn có những biểu hiện như [11]:
- Giờ giấc: hay ra khỏi nhà vào những giờ cố định, hoặc tranh cãi, thuyết phục người trong nhà để được tự do hơn trong sinh hoạt, thoát khỏi sự quản lý của gia đình
- Tính tình: trở nên hung dữ, quậy phá, có những lúc hưng phấn, cười nói
vô cớ, lặp đi lặp lại câu chuyện, có lúc ủ rũ, uể oải, hay ngáp vặt, ít chịu tiếp xúc với người thân trong gia đình, ít quan tâm đến vệ sinh cá nhân
- Học hành, làm việc: sa sút, bê trễ, không chú ý, năng lực hoạt động giảm, không còn tinh khôn và có thể dẫn đến nghỉ, bỏ học, làm
- Tinh thần: thỉnh thoảng có những cơn hốt hoảng, lo lắng, nhất là đến lần tiêm chích hay vì lý do nào đó mà không thực hiện được
- Nhu cầu tiền bạc ngày một tăng, thường xin tiền nhiều nhưng không sử dụng vào lý do chính đáng
Trang 32Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn 21
1.2.3 Tác hại của ma tuý [16]
Ma túy gây tác hại nhiều mặt về kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa và trở thành mối đe doạ chung của nhân loại Trong những năm gần đây tình trạng nghiện ma túy đã trở thành hiểm họa lớn cho con người Không một quốc gia, dân tộc nào thoát ra ngoài vòng xoáy khủng khiếp của nó để tránh khỏi những hậu quả do nghiện ma tuý và buôn lậu gây ra Ma túy đang làm gia tăng tội phạm, bạo lực, tham nhũng, vắt kiệt nhân lực, tài chính, hủy diệt những tiềm năng quý báu khác nhau mà lẽ ra phải được huy động cho việc phát triển kinh tế,
xã hội, đem lại ấm no hạnh phúc cho mọi người Ma túy làm suy thoái nhân cách, phẩm giá, tàn phá cuộc sống yên vui của gia đình, gây xói mòn đạo lý, kinh tế, xã hội Nghiêm trọng hơn tệ nạn ma túy còn là tác nhân chủ yếu thúc đẩy căn bệnh thế kỷ HIV/AIDS phát triển
Ma túy có những tác hại vô cùng to lớn cho cá nhân người nghiện, gia đình, người thân và xã hội
1.2.3.1 Đối với cá nhân người nghiện
- Ma túy dạng hít gây hư hại niêm mạc vùng mũi; ma túy dạng hút làm tổn thương đường hô hấp, phổi suy yếu, dễ mắc các bệnh nhiễm trùng phổi
- Gây xáo trộn những hoạt động bình thường của cơ thể dẫn đến những tổn hại đối với một số cơ quan não, hệ thống nội tiết, tiêu hóa
- Hành vi sử dụng ma túy có thể dẫn đến một số nguy cơ gây lây nhiễm
vi rút trong máu như: HIV, viêm gan siêu vi B, viêm gan siêu vi C
- Nguy cơ tử vong do sử dụng quá liều ma túy
- Người nghiện lâu ngày cơ thể gầy ốm, da xám, môi thâm, tóc khô cứng
dễ gãy Bị tổn thương tinh thần, kém tập trung suy nghĩ, giảm nghị lực khiến cho bỏ ma túy cũng khó hơn
- Người mới nghiện heroin khi “phê” thường gia tăng kích thích tình dục dẫn đến tình dục không an toàn, có thể bị lây nhiễm HIV/AIDS Nhưng sử dụng heroin một thời gian dài làm suy yếu khả năng quan hệ tình dục
- Giới nữ nghiện ma túy có khi phải bán thân để có tiền sử dụng ma túy
Trang 33Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn 22
- Nghiện ma túy là đánh mất tuổi trẻ, phá hủy tương lai, không giúp ích
Không phải ngẫu nhiên mà “hình con ma kèm theo lưỡi hái hung bạo” đã được các nhà xã hội học ám chỉ ma túy Nếu sử dụng ma túy cơ thể trở nên lệ thuộc vào nó, mọi hoạt động hàng ngày hầu như chỉ nhằm vào thỏa mãn cơn đói thuốc: thần kinh căng thẳng, rối loạn hô hấp, tim mạch, kinh nguyệt, bất lực
và chết đột ngột, nhân cách thay đổi, nhu nhược, bỏ bê công việc, học hành, tương lai và lao vào tội ác
- Người nghiện ma túy có nguy cơ nhiễm HIV do sử dụng chung kim chích, quan hệ tình dục bừa bãi, không có ý thức tự bảo vệ mình mà còn là nguồn lây nhiễm cho người khác
Khi thiếu ma túy người nghiện có các biểu hiện: chảy nước mắt, toàn thân bất an, vật vã, đổ mồ hôi, sốt, ớn lạnh, bứt rứt, đứng ngồi không yên, cảm giác khó chịu như kiến bò trong xương, lo âu, mất ngủ Chính vì vậy người nghiện phải tìm mọi cách để có ma túy, kể cả hành vi phạm pháp Người nghiện còn có cảm giác đi mây về gió, chỉ là cảm giác ngắn ngủi nhất thời Để đạt cảm giác này người nghiện phải sử dụng liều ma túy ngày càng cao, dẫn đến tình trạng lệ thuộc vào nó và tự hủy hoại cơ thể Khi sử dụng quá liều có thể sẽ bị ngộ độc Các triệu chứng xuất hiện rất nhanh, tùy theo loại ma túy sử
Trang 34Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn 23
dụng sẽ có một số triệu chứng đặc trưng, nhưng chung quy người nghiện sẽ rối loạn tâm thần, co giật, hôn mê, đôi khi trụy tim mạch, suy hô hấp và dẫn đến cái chết
1.2.3.2 Đối với gia đình và người thân
- Gia đình buồn khổ vì trong nhà có người nghiện, công việc làm ăn bị ảnh hưởng vì khách hàng thiếu tín nhiệm
- Gia đình có người nghiện ma túy luôn cảm thấy bất hạnh, đau khổ, mất mát tài sản, khánh kiệt về kinh tế vì người nghiện vung phí tiền bạc, của cải để mua ma túy
- Gia đình luôn bất hòa, hạnh phúc tan vỡ, con cái bị bỏ bê nếu vợ hay chồng nghiện ma túy
- Tai tiếng xấu hổ với hàng xóm láng giềng, bà con thân tộc vì trong nhà
có người nghiện
- Tốn tiền bồi thường cho nạn nhân của người nghiện ma túy do quậy phá,
ẩu đả, đua xe gây tai nạn giao thông tốn tiền bạc, công sức và thời gian chăm sóc khi người nghiện ma túy mắc những chứng bệnh do sử dụng các chất gây nghiện Tốn thời gian thăm nuôi khi người nghiện phải vào tù vì phạm pháp
1.2.3.3 Đối với xã hội
- Nghiện ngập là đầu mối dẫn đến những tệ nạn xã hội Để thỏa mãn cơn nghiện người nghiện không từ hành vi nào: trộm cắp, cướp giật thậm chí có thể giết người
- Do một số loại ma túy gây ảo giác, người nghiện có những hành vi hung hãn, quậy phá gây mất trật tự an ninh xã hội hoặc có khi nổi máu “anh hùng xa lộ” đua xe lạng lách gây tai nạn giao thông
Ma túy còn làm trật tự an toàn xã hội bị đe dọa, tệ nạn xã hội gia tăng, các loại bệnh xã hội lan tràn
- Chi phí cho việc giáo dục phòng ngừa và điều trị cho bệnh nhân sẽ tốn đến hàng tỷ đồng mỗi năm “Bạn sẽ đánh mất chính bạn, gia đình mất một đứa con yêu quý, xã hội mất một công dân”
Trang 35Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn 24
- Tốn tiền xây dựng lực lượng phòng và khắc phục, giải quyết các hậu quả do ma túy gây ra
Ma túy làm hư hỏng thế hệ trẻ sa chân vào nghiện ngập Như vậy ma túy ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế, chính trị, văn hóa, quốc phòng
1.2.4 Một số đặc điểm tâm lý của học viên
Học viên cai nghiện ma tuý luôn có sự biển đổi về nhân cách do bị lệ thuộc vào ma túy về mặt tâm thần hoặc về mặt cơ thể hoặc bị lệ thuộc cả hai quá lâu Trước đây khi có đủ ma túy để dùng thì họ cảm thấy thoải mái, sảng khoái Nay khi không có nó thì họ thường cau có, bực bội hoặc cô độc, u sầu
Do các chất ma túy thường tạo nên khoái cảm, sảng khoái làm cho họ giảm hứng thú, nhân cách bị thu hẹp, cách cư xử trở nên thô lỗ Họ thường ít chú ý đến người thân, thờ ở với công tác, với những vui buồn trong cuộc sống
Học viên kể từ khi vào Trung tâm bắt đầu thực hiện cắt cơn và giải độc cho đến khi có thể phục hồi được chia làm 5 giai đoạn như sau [4]:
2.2.4.1 Giai đoạn cắt cơn (từ ngày thứ 1 đến ngày thứ 15)
Đây là giai đoạn đầu học viên bắt đầu ngừng sử dụng ma túy, họ có những đặc điểm sau: Xuất hiện hội chứng cai (rối loạn sinh học) như: người mệt mỏi, ngáp chảy nước mắt, nước mũi, nổi da ga, vã mồ hôi, thèm ma túy, mất ngủ, dị cảm, đau mỏi cơ khớp buồn bực chân tay, chuột rút cơ, dãn đồng tử, tăng thân nhiệt… Những đặc điểm tâm lý: chán nản, tính khí thay đổi thất thường: khó chịu, cáu gắt Lúc đầu họ sẵn sàng phối hợp với cán bộ để tham gia điều trị, sau
họ lại thay đổi ý kiến không muốn cai nữa; uể oải, không tự chủ được bản thân, nhiều khi họ đi lại lung tung, nói năng thô tục bừa bãi Do những đặc điểm này, học viên dễ bỏ dở điều trị hoặc bỏ trốn khỏi nơi cai nghiện Vì vậy, giai đoạn này cần có biện pháp tâm lý để họ yên tâm điều trị
2.2.4.2 Giai đoạn lạc quan tếu (từ ngày thứ 16 đến ngày thứ 45)
Sau khi học viên vượt qua giai đoạn cắt, hội chứng cai giảm đáng kể, sức khoẻ bắt đầu hồi phục, họ có thể lên cân Họ thường lầm tưởng đã chiến thắng
và dễ dàng bỏ được ma túy, ở họ xuất hiện những đặc điểm tâm lý sau:
Trang 36Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn 25
Cảm giác lâng lâng như đi trên mây, hưng phấn, nói cười rất nhiều hay bộc lộ những lỗi lầm trong quá khứ, khẳng định không bao giờ nhắc lại những quá khứ đó
Tự tin quá mức thường xãy ra trong giai đoạn này Cảm giác phấn khích mạnh mẽ, lạc quan quá đáng, họ lúc nào cũng nói rằng họ đã bỏ được ma túy, chủ động trong việc sử dụng ma túy (thích thì dùng không dùng nữa thì thôi được ngay, không nghiện như người khác… Hình ảnh học viên phát biểu rất hay, hứa từ nay đoạn tuyệt với ma túy… tại các lễ tổng kết “Cai nghiện” có rất nhiều, nhưng ngay ngày hôm sau họ lại quay lại sử dụng ma túy Những đặc điểm tâm lý giai đoạn này đã đánh lừa nhiều cán bộ điều trị, họ tưởng đã cai nghiện cho một người thành công do tâm lý ngộ nhận về mình Giai đoạn này
họ cho là không ai bằng họ, việc gì họ cũng có thể làm được, nhưng thực chất
họ không làm được việc gì cả
2.2.4.3 Giai đoạn bế tắc (từ ngày thứ 46 đến ngày thứ 120)
Đây là giai đoạn học viên có những tâm lý xấu ảnh hưởng đến công tác điều trị phục hồi với một số tâm lý sau: buồn chán, lười nhác, cáu kỉnh; thiếu tự tin, không thật thà; hay cô đơn; bi quan, chán nản, thấy cuộc đời đen tối, dễ kích động đánh nhau hoặc doạ tự sát; lo lắng, phủ nhận thực tế; hồi tưởng lại những hình ảnh, âm thanh… về những ngày qua họ sử dụng ma túy; không có khoái cảm tình dục; dễ bị bạn bè rủ rê hoặc muốn sử dụng lại ma túy; dễ bỏ dở điều trị, có nguy cơ tái nghiện; thiếu lòng tự trọng
Những đặc điểm tâm sinh lý phổ biến: một số sinh lý bắt đầu ổn định như các triệu chứng của hội chứng cai dần dần hết, thường chỉ còn lại triệu chứng mất ngủ, đau nhức trong xương; tâm lý họ muốn có thêm nhiều bạn mới; khả năng suy nghĩ rõ ràng hơn, họ có thể suy nghĩ theo chiều hướng tốt, cũng
có thể theo chiều hướng xấu
Do đó, cán bộ điều trị phục hồi phải nắm bắt được những đặc điểm tâm
lý của họ để định hướng phục hồi, sửa đổi hành vi, đưa họ tham gia các chương trình hoạt động nhóm, hoạt động tập thể để họ tiếp xúc với gương tốt, học hỏi kinh nghiệm những người nghiện tiến bộ
Trang 37Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn 26
2.2.4.4 Giai đoạn tự điều chỉnh (từ ngày thứ 121 đến ngày thứ 180)
Giai đoạn này học viên đang được phục hồi, họ sẽ xuất hiện một số hành
vi phổ biến và các đặc điểm tâm lý sau:
Một số hành vi phổ biến: hiện tượng buồn chán giảm, tích cực tham gia cai nghiện; có thể trở lại trạng thái nguy cơ cao, có hành vi muốn sử dụng lại
ma túy nếu nguyên nhân về sang chấn tâm lý “stress” trước kia chưa được giải quyết, hoặc trong quá trình cai nghiện, phục hồi họ gặp phải những thái độ không tốt của người phục vụ (gia đình, cán bộ điều trị…)
Một số đặc điểm về nhận thức: mức độ thèm ma túy giảm; nhận thức được tác hại của ma túy và suy nghĩ đặt thành vấn đề cần phải giải quyết như thế nào
Một số biểu hiện về tình cảm: buồn phiền giảm; lo lắng giảm, cáu kỉnh giảm; người nghiện thích lẻ loi, cô độc, không muốn tham gia các hoạt động
Do những đặc điểm tâm lý trên, cán bộ điều trị và người thân phải giám sát những hành vi của đối tượng chặt chẽ hơn đồng thời phải tăng cường tham vấn về tâm lý nhóm, tâm lý cá nhân, làm việc nhiều và tham vấn cho gia đình họ giải quyết tận gốc những sang chấn tâm lý, lôi kéo họ tham gia vào các hoạt động văn hoá - văn nghệ, thể dục thể thao và các hoạt động
xã hội, hoạt động nhóm…
2.2.4.5 Giai đoạn bắt đầu phục hồi tâm sinh lý (trên 180 ngày)
Học viên đã trải qua một quá trình điều trị, đã tham gia sửa đổi những hành vi sai lệch, học tập được nhiều điều trong cuộc sống kể cả những điều hay, điều dở Do đó, họ xuất hiện một số hành vi, nhận thức sau:
Một số hành vi thông thường: hay đánh bạc, uống rượu, tham gia làm việc tốt, việc không tốt, hay muốn quan hệ tình dục
Biểu hiện tình cảm: trong họ xuất hiện sự mâu thuẫn, một bên thực hiện nhiều nguyên tắc, quy định trong quá trình cai nghiện phục hồi, những nguyên
Trang 38Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn 27
tắc xây dựng môi trường điều trị, cơ cấu điều trị… và một bên là những nhu cầu quan hệ xã hội của đối tượng như nhu cầu thích tự do, thích uống rượu, đánh bạc… Nếu học viên được điều trị, phục hồi với thời gian liên tục trên 6 tháng, cung cấp các dịch vụ điều trị đầy đủ, họ sẽ ít có khả năng quay lại sử dụng ma túy
Tóm lại, đặc điểm tâm sinh lý của học viên thay đổi theo từng giai đoạn của quá trình điều trị phục hồi Trong quá trình điều trị phục hồi cho học viên, cán bộ điều trị, cán bộ tham vấn cũng như người thân cần phải nắm được những đặc điểm tâm sinh lý của người nghiện ở các giai đoạn khác nhau để đưa
ra biện pháp xử lý, hỗ trợ mới đạt hiệu quả cao
1.3 Những vấn đề lý luận chung về tham vấn tâm lý [12]
1.3.1 Một số khái niệm liên quan
- Trợ giúp tâm lý: Là hoạt động giúp một người đang gặp khó khăn tâm
lý để họ thực hiện được mong muốn trong cuộc sống Người trợ giúp chuyên nghiệp: Được đào tạo chuyên sâu; Người trợ giúp bán chuyên nghiệp: Được đào tạo qua các khoa tập huấn ngắn hạn; Người trợ giúp không chuyên: Không được đào tạo, công việc trợ giúp chỉ nhất thời
- Tư vấn tâm lý: Là mối quan hệ giữa một người trợ giúp chuyên nghiệp
và người, nhóm người hoặc một chỉnh thể xã hội cần được giúp đỡ trong đó nhà tư vấn cung cấp sự giúp đỡ cho thân chủ trong việc xác định và giải quyết một vấn đề liên quan đến công việc Tư vấn liên quan đến mối quan hệ tay ba trọng tâm là người xin tư vấn và bên thứ ba
- Tham vấn tâm lý (Couns’ling Psychology) - là một thuật ngữ không còn quá xa lạ ở Việt Nam Tuy nhiên tham vấn tâm lý vẫn còn là một ngành rất mới mẻ và không nhiều người hiểu được bản chất của nó và vẫn hiểu nó giống với tư vấn hay trợ giúp tâm lý Điều này thì không chỉ ở Việt nam mà tại các nước phương Tây thuật ngữ tham vấn tâm lý vẫn được hiểu theo nhiều cách khác nhau, đôi khi nó được hiểu chỉ là những hoạt động của người giúp đỡ
Trang 39Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn 28
thông thường hoặc của tình nguyện viên, họ được xem như là người làm công tác trợ giúp tâm lý, hoặc đôi khi nói đến tham vấn là nói đến những người làm công tác tham vấn chuyên nghiệp tại các Trung tâm, bệnh viện, dịch vụ xã hội, trường học với nền tảng kiến thức về tâm lý học, công tác xã hội hoặc các ngành khác
Theo các chuyên gia của hiệp hội tâm lý học Mỹ thì: “Tham vấn tâm lý
là quá trình trợ giúp cá nhân khắc phục những trở ngại tâm lý có thể gặp trong quá trình trưởng thành, khiến người ta phát triển một cách lý tưởng”
Tổ chức tham vấn Thế giới lại định nghĩa các khả năng: “Tham vấn là một quá trình trợ giúp dựa trên các khả năng Trong đó một người dành thời gian, sử dụng quan tâm và sử dụng thời gian một cách có mục đích để giúp đỡ thân chủ khai thác tình huống, xác định và triển khai giải pháp khả thi trong thời gian cho phép”
Tại Việt Nam hiện nay cũng có nhiều quan điểm định nghĩa khác nhau về tham vấn tâm lý Tuy nhiên trong điều kiện hoạt động tham vấn ở Việt Nam hiện nay còn nhiều tự phát và ai cũng có thể cho mình là nhà tham vấn khi họ làm công việc trợ giúp người khác thì một định nghĩa về tham vấn đầy đủ hơn có thể được phát biểu là: Tham vấn là một quá trình tương tác giữa nhà tham vấn (người có chuyên môn, kỹ năng tham vấn, có các phẩm chất đạo đức của nghề tham vấn và được pháp luật thừa nhận) với thân chủ (còn gọi là khách hàng - người đang có vấn đề khó khăn về tâm lý muốn được giúp đỡ) Thông qua các
kỹ năng trao đổi và chia sẻ tâm tình (dựa trên nguyên tắc đạo đức và mối quan
hệ mang tính nghề nghiệp) giúp thân chủ hiểu và chấp nhận thực tế của mình, tự tìm lấy tiềm năng của bản thân để giải quyết vấn đề của chính mình
- Thân chủ: Là khách hàng, họ là những người có lứa tuổi khác nhau đang gặp những khó khăn tâm lý như: họ đang bị stress trong công việc, đời sống gia đình; họ có thể gặp khó khăn trong viêc nuôi dạy con cái, quan hệ đồng nghiệp, quan hệ hôn nhân, tình yêu, tình dục, hay họ đang mất niềm tin cũng có thể họ cảm thấy có những cảm xúc tiêu cực như giận dữ bất thường, đau khổ, căng
Trang 40Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn 29
thẳng, hoảng sợ khiến họ băn khoăn và hoang mang không biết thoát ra tình trạng mình đang gặp như thế nào Khi đó họ cần có người chia sẻ, lắng nghe và trợ giúp họ thoát ra khỏi tình trạng hiện có Như vậy có thể hiểu thân chủ là những người đang có vấn đề tâm lý và cần được trợ giúp
- Nhà tham vấn: Là người được đào tạo bài bản trong ngành tâm lý và cụ thể là tham vấn tâm lý Họ có đủ phẩm chất và kỹ năng cần có của một nhà tham vấn cũng như kinh nghiệm sống và một tâm thế bình ổn để có thể trợ giúp tốt nhất cho thân chủ
1.3.2 Mục đích, nhiệm vụ của tham vấn tâm lý:
* Mục đích chung:
- Tham vấn tâm lý nhằm cải tiến, củng cố về mặt sức khỏe và tinh thần giúp thân chủ sống tốt hơn
- Ngăn ngừa, phòng tránh không để các vấn đề về tâm lý xảy ra tồi tệ hơn
- Giúp thân chủ giải quyết các vấn đề cụ thể: Giúp thay đổi hành vi, nhân cách, làm giảm hoặc biến mất những triệu chứng và phát triển các kỹ năng ứng phó, giải quyết vấn đề tâm lý nhằm tạo khả năng thích nghi tốt nhất trong môi trường thân chủ đang sống
- Các cá nhân khi có nhu cầu trợ giúp tùy vào các mục đích mà họ đặt ra
mà nhà tham vấn tiến hành hoạt động và xác định thời gian, công việc giúp đỡ Mục tiêu của tham vấn luôn được xác định từ thân chủ và nhà tham vấn cần