1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ và biến đổi bệnh lý của bệnh cúm gia cầm type H5N1 tại tỉnh Bắc Giang

79 639 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 79
Dung lượng 2,22 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TRẦN THỊ TRÚC NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ VÀ BIẾN ĐỔI BỆNH LÝ CỦA BỆNH CÚM GIA CẦM TYPE A/H5N1 TẠI TỈNH BẮC GIANG... Xuất phát từ yêu cầu của thực tế sả

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

TRẦN THỊ TRÚC

NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ

VÀ BIẾN ĐỔI BỆNH LÝ CỦA BỆNH CÚM GIA CẦM

TYPE A/H5N1 TẠI TỈNH BẮC GIANG

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan công trình nghiên cứu này là của riêng cá nhân tôi Các số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn này là do tôi trực tiếp nghiên cứu dưới sự hướng dẫn của TS Nguyễn Quang Tính, PGS.TS Tô Long Thành và sự giúp đỡ chân tình của các cô, chú, anh, chị phòng Bệnh lý - Trung tâm chẩn đoán Thú y Trung ương, Chi cục Thú y tỉnh Bắc Giang

Các số liệu trong luận văn hoàn toàn trung thực, được rút ra từ tình hình thực tế của tỉnh Bắc Giang trong những năm qua và chưa từng được sử dụng để bảo vệ một học vị nào

Mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được trích rõ nguồn gốc

Thái Nguyên, tháng 9 năm 2013

Tác giả luận văn

Trần Thị Trúc

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt 2 năm học tập, với sự nỗ lực của bản thân, em đã nhận được

sự giúp đỡ, hướng dẫn tận tình của nhiều cá nhân và tập thể, đến nay luận văn của em đã được hoàn thành Nhân dịp này, cho phép em được bày tỏ lòng biết

ơn sâu sắc tới:

Ban Giám hiệu trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Phòng Quản

lý đào tạo Sau đại học, Khoa Chăn nuôi Thú y, các thầy cô giáo đã giúp đỡ, tạo điều kiện để em học tập và tiếp thu kiến thức trong suốt quá trình học tập

Các cán bộ thuộc phòng Bệnh lý - Trung tâm chẩn đoán Thú y Trung ương

Ban lãnh đạo, cán bộ Chi cục Thú y tỉnh Bắc Giang và một số bạn đồng nghiệp đang làm việc trong lĩnh vực Chăn nuôi Thú y

Đặc biệt là thầy giáo hướng dẫn trực tiếp: TS Nguyễn Quang Tính - Khoa Chăn nuôi Thú y và PGS TS Tô Long Thành - Giám đốc Trung tâm chẩn đoán Thú y Trung ương, những người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ em trong suốt quá trình thực hiện đề tài

Nhân dịp hoàn thành luận văn, cho phép em được gửi lời cảm ơn sâu sắc tới gia đình, người thân cùng bạn bè đã động viên giúp đỡ em vượt qua mọi khó khăn trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện đề tài

Một lần nữa em xin bày tỏ lòng biết ơn, cảm ơn chân thành tới những tập thể, cá nhân đã tạo điều kiện giúp đỡ em hoàn thành chương trình học tập

Thái Nguyên, tháng 9 năm 2013

Tác giả luận văn

Trần Thị Trúc

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu của đề tài 2

3 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài 2

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

1.1 Giới thiệu chung về bệnh cúm gia cầm 3

1.2 Lịch sử bệnh cúm gia cầm 3

2.1.1 Lịch sử bệnh cúm gia cầm trên thế giới 3

1.2.2 Tình hình dịch cúm gia cầm ở Việt Nam 6

1.3 Đặc điểm sinh học của virus cúm type A 9

1.3.1 Đặc điểm về hình thái, cấu trúc 9

1.3.2 Đặc tính kháng nguyên của virus cúm type A 11

1.3.3 Thành phần hóa học và sức đề kháng của virus 13

1.3.4 Quá trình nhân lên của virus 14

1.3.5 Độc lực của virus 15

1.3.6 Danh pháp 16

1.3.7 Nuôi cấy và lưu giữ giống virus cúm gia cầm 16

1.4 Dịch tễ học bệnh cúm gia cầm 17

1.4.1 Động vật cảm nhiễm 17

1.4.2 Động vật mang virus 17

1.4.3 Sự truyền lây 18

1.4.4 Tuổi mắc bệnh 19

1.4.5 Mùa bệnh 20

1.4.6 Tỉ lệ mắc, tỷ lệ chết 20

1.5 Triệu chứng và bệnh tích của bệnh cúm gia cầm 21

Trang 5

1.5.1 Triệu chứng lâm sàng của bệnh cúm gia cầm 21

1.5.2 Bệnh tích bệnh cúm gia cầm 23

1.6 Các phương pháp chẩn đoán bệnh cúm gia cầm 25

1.7 Phòng chống bệnh cúm gia cầm 26

1.7.1 Kiểm soát dịch bệnh 26

1.7.2 Vaccine phòng bệnh cúm gia cầm 27

1.8 Một số nghiên cứu về bệnh cúm gia cầm 29

Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 31

2.1 Đối tượng nghiên cứu 31

2.2 Nội dung nghiên cứu 31

2.3 Vật liệu dùng trong nghiên cứu 31

2.4 Phương pháp nghiên cứu 31

2.4.1 Điều tra một số chỉ tiêu và tình hình dịch cúm gia cầm từ năm 2004 đến năm 2013 31

2.4.2 Phương pháp nghiên cứu dịch tễ 32

2.4.3 Phương pháp chẩn đoán bệnh 32

2.4.4 Phương pháp mổ khám 32

2.4.5 Phương pháp làm tiêu bản vi thể 34

2.5 Phương pháp xử lý số liệu 36

2.6 Địa điểm nghiên cứu 36

2.7 Thời gian nghiên cứu 36

Từ tháng 08/2012 đến tháng 08/2013 36

Chương 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 37

3.1 Một số đặc điểm dịch tễ bệnh cúm gia cầm tại Bắc Giang 37

3.1.1 Tình hình chăn nuôi gia cầm tại Bắc Giang từ năm 2001 đến nay 37

3.1.2 Diễn biến tình hình dịch cúm gia cầm tại tỉnh Bắc Giang từ năm 2004 đến năm 2013 39

Trang 6

3.1.3 Tỷ lệ mắc bệnh cúm gia cầm theo mùa 41

3.1.4 Tỷ lệ mắc bệnh cúm gia cầm theo loại gia cầm 43

3.1.5 Tỷ lệ mắc bệnh cúm gia cầm theo phương thức chăn nuôi 44

3.1.6 Tỷ lệ mắc bệnh cúm gia cầm theo quy mô đàn 45

3.2 Một số triệu chứng lâm sàng của gà bị bệnh 47

3.3 Tổn thương đại thể trên gà mắc bệnh cúm A/H5N1 50

3.4 Tổn thương vi thể trên gà mắc bệnh cúm A/H5N1 57

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 65

1 Kết luận 65

2 Đề nghị 66

TÀI LIỆU THAM KHẢO 67

MỘT SỐ HÌNH ẢNH TRONG QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN ĐỀ TÀI 71

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang

Bảng 3.1 Tình hình chăn nuôi gia cầm tại Bắc Giang một số năm gần đây 37

Bảng 3.2 Tỷ lệ gia cầm mắc bệnh cúm từ năm 2004 đến năm 2013 39

Bảng 3.3 Biến đổi tỷ lệ mắc bệnh cúm theo mùa 41

Bảng 3.4 Biến đổi tỷ lệ mắc bệnh cúm gia cầm theo loại gia cầm 43

Bảng 3.5 Biến đổi tỷ lệ mắc bệnh cúm gia cầm theo phương thức chăn nuôi 44

Bảng 3.6 Biến đổi tỷ lệ mắc bệnh cúm gia cầm theo quy mô đàn 46

Bảng 3.7 Triệu chứng lâm sàng ở gà mắc cúm A/H5N1 47

Bảng 3.8: Tổn thương đại thể trên gà mắc bệnh cúm A/H5N1 51

Bảng 3.9 Tổn thương vi thể ở gà mắc bệnh cúm A/H5N1 58

Trang 8

DANH MỤC CÁC HÌNH

Trang Hình 1.1 Hình thái của virus cúm 10 Hình 1.2 Cấu tạo virus cúm 10

Hình 1.3 Cấu trúc kháng nguyên của virus cúm 13

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Bệnh cúm gia cầm đã từng được biết đến từ sau những vụ đại dịch xuất hiện tại Hồng Kông năm 1997 gây ra cho các đàn gia cầm ở nhiều nước trên thế giới Trong những năm gần đây, dịch cúm gia cầm chủng độc lực cao (HPAI - Highly Pathogenic Avian Influenza) xuất hiện và đã giết chết hàng chục triệu gia cầm trên thế giới, đồng thời khiến hàng tỷ gia cầm khác phải tiêu hủy bắt buộc để tránh lây lan, gây thiệt hại nghiêm trọng cho ngành chăn nuôi và nền kinh tế các nước có dịch (Cục thú y, 2004) [5]

Tại Việt Nam, dịch cúm gia cầm xuất hiện bất ngờ vào cuối năm 2003, trong khi đó ngành chăn nuôi gia cầm của nước ta chủ yếu theo phương thức nông hộ nhỏ lẻ nên quá trình kiểm soát và khống chế dịch bệnh cực kỳ khó khăn

vì đây là một dịch bệnh mới, có khả năng lây lan rất nhanh Hiện nay, dịch cúm gia cầm đang là mối quan tâm lo ngại của toàn cầu, đã có trên 50 nước trên thế xuất hiện dịch và dịch bệnh có chiều hướng diễn biến khá phức tạp

Bắc Giang là một trong những tỉnh có số lượng gia cầm lớn trong cả nước Mặc dù vấn đề phòng bệnh đã được quan tâm nhưng dịch bệnh vẫn hay xảy ra, đặc biệt là bệnh cúm gia cầm

Căn bệnh là các virus thuộc họ Orthomyxoviridae, type A với nhiều

phân type khác nhau gây nên Về bản chất virus cúm là virus ARN với bộ gen gồm 8 phân đoạn mã hóa cho 10 loại protein khác nhau (Into và cs, 1998) [33]

Chính sự truyền lây của mầm bệnh giữa động vật nuôi và người làm cho bệnh cúm trở lên nguy hiểm hơn Trước tình hình phức tạp của dịch bệnh, Ban chỉ đạo phòng chống dịch cúm Quốc gia đã phải đưa ra những giải pháp mạnh như tiêu huỷ gia cầm, cấm lưu thông và tiêu thụ gia cầm, sản phẩm gia cầm, nhưng đó chỉ là giải pháp tình thế Biện pháp lâu dài là chúng ta phải đi sâu nghiên cứu các đặc điểm của căn bệnh, đặc biệt là đặc điểm dịch tễ học để

Trang 10

góp phần đưa ra những chiến lược phòng, trị bệnh hiệu quả và tiến tới thanh toán dịch cúm gia cầm ở Bắc Giang nói riêng và Việt Nam nói chung

Xuất phát từ yêu cầu của thực tế sản xuất, chúng tôi đã tiến hành nghiên

cứu đề tài: “Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ và biến đổi bệnh lý của bệnh cúm gia cầm type H5N1 tại tỉnh Bắc Giang”

Từ kết quả của những nghiên cứu này sẽ giúp các cơ sở chăn nuôi gia cầm trong tỉnh Bắc Giang có thể chủ động xây dựng phương pháp phòng bệnh cúm gia cầm hợp lý và khoa học, đồng thời dựa vào các biến đổi bệnh lý cũng giúp cho công tác chẩn đoán, chống lây lan bệnh đạt hiệu quả hơn

2 Mục tiêu của đề tài

- Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ học của bệnh cúm gia cầm tại tỉnh

Bắc Giang từ năm 2004 đến nay

- Xác định được những biến đổi bệnh lý đại thể của gà bị bệnh cúm gia cầm H5N1

- Xác định được những biến đổi bệnh lý vi thể của gà bị bệnh cúm gia

cầm H5N1

3 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài

Các kết quả nghiên cứu có thể dùng tham khảo, bổ sung thêm những thông tin, bằng chứng xác thực vào đặc điểm dịch tễ của bệnh cúm gia cầm, các biến đổi bệnh lý của gà bị bệnh, bổ sung thêm số liệu vào công tác phòng chống, chẩn đoán bệnh cúm gia cầm tại Bắc Giang cũng như ở Việt Nam

Trang 11

Chương 1

TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Giới thiệu chung về bệnh cúm gia cầm

Bệnh cúm ở gia cầm (Avian Influenza) thường gọi là bệnh cúm gia cầm hoặc bệnh cúm gà, là một bệnh truyền nhiễm gây ra bởi virus cúm type A

thuộc họ Orthomyxoviridae Bệnh thường xảy ra nặng ở gà, vịt, lợn, một số

động vật có vú khác và có thể lây sang người Biểu hiện của bệnh chủ yếu ở đường tiêu hoá và đường hô hấp

Theo Tô Long Thành (2005) [20], virus cúm gia cầm là virus ARN phân mảnh có khả năng đột biến mạnh với hai kháng nguyên bề mặt H (từ H1 đến H16) và N (từ N1 đến N9) đóng vai trò quan trọng trong sinh bệnh học và miễn dịch học

Tác giả Lê Văn Năm (2004) [16] cho biết: Đây là bệnh rất nguy hiểm,

có tốc độ lây lan nhanh với tỷ lệ chết rất cao trong đàn gia cầm bị nhiễm Virus gây bệnh cúm gia cầm chủ yếu là loại H5, H7, H9 và có thể trở thành đại dịch

Theo Alexander D J (1993) [27], tính nguy hiểm của bệnh còn thể hiện

ở khả năng biến chủng của virus và khả năng gây bệnh cho cả con người

Như vậy, bệnh cúm gia cầm đang ngày càng trở nên nguy hiểm

1.2 Lịch sử bệnh cúm gia cầm

2.1.1 Lịch sử bệnh cúm gia cầm trên thế giới

Trong lịch sử, bệnh cúm lần đầu tiên được Hippocrate mô tả vào năm

412 trước công nguyên và ổ dịch giống như dịch cúm từ năm 1173 đã được tác giả Hirsch tổng hợp (Lê Văn Năm, 2004) [16]

Năm 1878 ở Italia đã xảy ra một bệnh gây tỷ lệ tử vong rất cao ở đàn gia cầm, sau đã được đặt tên là bệnh dịch hạch gia cầm Đến năm 1901, Centanni và Savunozzi đã đề cập đến ổ dịch này được gây ra bởi virus qua

Trang 12

lọc Nhưng phảiđến năm 1955 mới xác định được virus đã chính là virus cúm type A (H7N1 và H7N7) gây chết nhiều gà, gà tây và các loài khác

Những chủng vius đặc biệt này gây ra dịch cúm gia cầm ở nhiều quốc gia

và vùng lãnh thổ trên thế giới trong cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20 như: Bắc

Mỹ, Nam Mỹ, Nam Phi, Trung Đông, Viễn đông, Châu Âu, Anh, Liên Xô cũ

Từ sau khi phát hiện ra virus cúm type A, các nhà khoa học đã tích cực nghiên cứu và nhận thấy virus cúm có nhiều ở loài chim hoang dã và gia cầm nuôi ở những vùng khác nhau trên thế giới và thấy rằng bệnh dịch nghiêm trọng nhất xảy ra đối với gia cầm là những chủng gây bệnh cao thuộc phân type H5 và H7, như ở Scotland năm 1959 là H5N1, ở Mỹ năm 1983 -1 984 là H5N2

Năm 1963, virus type A được phân lập từ gà tây ở Bắc Mỹ do lây từ loài thuỷ cầm di trú vào đàn gà

Cuối thập kỷ 60, phân type H1N1 thấy ở lợn và thấy có liên quan đến những ổ dịch gà tây với biểu hiện đặc trưng là những triệu chứng ở đường hô hấp và giảm đẻ

Sự lây nhiễm từ chim hoang dã sang gia cầm đã có bằng chứng từ trước năm 1970 nhưng chỉ được công nhận khi xác định tỷ lệ nhiễm virus cúm cao ở một số loài thuỷ cầm di trú (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 2005) [2]

Năm 1971, Beard đã mô tả khá kỹ virus gây bệnh và đặc điểm bệnh lý lâm sàng trong các ổ dịch cúm gà, gà tây khá lớn xảy ra ở Mỹ mà chủng gây bệnh là H7N1 Từ năm 1960 - 1979, bệnh được phát hiện ở Canada, Hồng Kông, Nhật Bản, các nước vùng Trung Cận Đông, các nước thuộc liên hiệp Anh và Liên Xô (Đào Yến Khanh, 2005) [11]

Theo Phạm Sỹ Lăng (2004) [13], năm 1983 - 1984 ở Mỹ, dịch cúm gà xảy ra do chủng virus H5N2 ở 3 bang Pensylvania, Virginia, Newtersey làm chết và tiêu hủy hơn 19 triệu gà Cũng trong thời gian này, tại Ireland người ta

Trang 13

đã phát hiện và tiêu hủy 270 nghìn con vịt tuy không có triệu chứng lâm sàng nhưng đã phân lập được virus cúm chủng độc lực cao (HPAI) để loại trừ bệnh một cách nhanh chóng

Năm 1977 ở Minesota đã phát hiện dịch trên gà tây do chủng H7N7 Năm 1986 ở Australia dịch cúm đã xảy ra tại bang Victoria do chủng H5N2 Năm 1997 ở Hồng Kông dịch cúm đã xảy ra do virus cúm type A subtype H5N1 làm cho 30 triệu gia cầm phải tiêu hủy, 83 người lây nhiễm và

1 người chết, gây thiệt hại về kinh tế hết sức nghiêm trọng (Phạm Sỹ Lăng, 2004) [14]

Năm 2003, ở Hà Lan dịch cúm đã xảy ra với quy mô lơn do chủng H7N7

Từ cuối năm 2003 đến năm 2004, dịch cúm gia cầm H5N1 bùng phát ở nhiều nước châu Á, trong đó có Việt Nam, lây lan nhanh chóng Đã có 11 nước khu vực Châu Á xuất hiện dịch cúm gia cầm H5N1 gồm Hàn Quốc, Nhật Bản, Thái Lan, Campuchia, Lào, Indonesia, Trung Quốc, Malaysia, Hồng Kông, Việt Nam Ngoài ra, có 7 nước và vùng lãnh thổ có dịch cúm gia cầm nhưng khác chủng gồm: Pakistan, Hoa Kì, Canada, Nam Phi, Ai Cập, Cộng hoà dân chủ nhân dân Triều Tiên và Đài Loan (Cục thú y, 2004) [5]

Nguyễn Ngọc Tiến (2013) [26] cho biết tình hình dịch cúm từ năm

2009 tới nay như sau:

Năm 2009: Dịch cúm trên gia cầm phát ra tại 17 quốc gia và vùng lãnh thổ bao gồm: Afghanistan, Bangladesh, Camphuchia, Trung Quốc, Đức, Đặc khu hành chính Hồng Kông, Ấn Độ, Nhật Bản, Lào, Mông Cổ, Nepal, Nigeria, Nga, Tây Ban Nha, Thái Lan, Togo, Việt Nam

Năm 2010: Dịch cúm gia cầm phát ra tại 16 quốc gia và vùng lãnh thổ bao gồm: Bangladesh, Bhutan, Bungary, Camphuchia, Trung Quốc, Khu đặc hành chính Hồng Kông, Ấn Độ, Israel, Lào, Mông Cổ, Myanmar, Nepal, Rumani, Nga, Tây Ban Nha và Việt Nam

Trang 14

Năm 2011: Dịch cúm gia cầm phát tại 14 quốc gia và vùng lãnh thổ bao gồm: Bangladesh, Camphuchia, Trung Quốc, Ấn Độ, Indonesia, Iral, Israel, Nhật Bản, Mông Cổ, Myanmar, Hàn Quốc, Khu đặc hành chính Hồng Kông và Việt Nam

Năm 2012 tới nay: Dịch cúm gia cầm đã xảy ra tại Ai Cập, Bangladesh, Nepal, Bhutan, Myanmar, Ấn Độ, Khu đặc hành chính Hồng Kông, Trung Quốc, Irael, Indonesia và Việt Nam

Như vậy, dịch cúm gia cầm đã xảy ra ở khắp các châu lục với mức

độ ngày càng nguy hiểm hơn đối với các loài gia cầm và sức khỏe của cộng đồng, nó đã thôi thúc Hiệp hội các nhà chăn nuôi gia cầm hội thảo lần đầu tiên tổ chức hội thảo chuyên đề về bệnh cúm gà Hội thảo lần đầu tiên tổ chức vào năm 1981, lần thứ 2 tại Ailen năm 1987, lần thứ 3 cũng tại Ailen vào năm 1992 Từ đó đến nay, trong các hội nghị về dịch tễ trên thế giới, bệnh cúm gia cầm luôn là một trong những nội dung được coi trọng (Lê Văn Năm, 2004) [16]

1.2.2 Tình hình dịch cúm gia cầm ở Việt Nam

Bệnh cúm gia cầm xuất hiện lần đầu tiên ở Việt Nam vào cuối tháng 12/2003 Sau đó, dịch đã nhanh chóng lây lan ra hầu hết các tỉnh trong cả nước, liên tục tái phát và thường xuất hiện vào lúc chuyển mùa, nhất là vụ Đông - Xuân Theo số liệu của Cục thú y, tính tới năm 2008 thì có 6 đợt dịch cúm xảy ra tại Việt Nam:

* Đợt dịch thứ nhất từ tháng 12/2003 đến 30/3/2004

Dịch cúm gia cầm xuất hiện ở nước ta lần đấu tiên vào cuối tháng 12/2003 Dịch bắt đầu xuất hiện tại tỉnh Hà Tây, Long An, Tiền Giang, sau đó lây lan nhanh chóng với nhiều ổ bệnh xuất hiện cùng một lúc ở nhiều địa phương Trong đợt dịch này, giai đoạn cao điểm là từ 1/2/2004 đến 19/2/2004, bình quân mỗi ngày có khoảng 15 - 230 xã, 15 - 20 huyện phát hiện ra ổ dịch mới trong cả nước Ngày cao điểm nhất có 267 xã, 20

Trang 15

huyện/thị trấn mới phát sinh ra dịch Số gia cầm tiêu huỷ là 2 - 3 triệu con/ngày, ngày cao điểm nhất lên tới 4 triệu con Đợt dịch này đã làm cho gia cầm của 2574 xã/phường thuộc 381 huyện/quận/thị xã của 57 tỉnh thành phố mắc bệnh Tổng số gia cầm bị chết do mắc bệnh và tiêu huỷ là hơn 43,9 triệu con, chiếm 16,8% tổng số gia cầm của cả nước Trong đó,

gà là 30,4 triệu con và thuỷ cầm là 13,5 triệu con, ngoài ra còn có 14,76 triệu con chim cút và các loại chim khác bị chết và bị tiêu huỷ (Cục thú y, 2004) [5]

* Đợt dịch thứ hai từ tháng 4/2004 đến tháng 11/2004

Trong đợt dịch này, các ổ bệnh chủ yếu xuất hiện ở các hộ chăn nuôi nhỏ lẻ ở một số tỉnh đồng bằng sông Cửu Long Dịch có khuynh hướng xuất hiện ở vùng chăn nuôi nhiều thuỷ cầm Bệnh xuất hiện ở 46 xã/phường tại 32 huyện/quận/thị xã thuộc 17 tỉnh Tổng số gia cầm chết và tiêu huỷ trong giai đoạn này khoảng 84.000 con, trong đó có 56.000 con gà và 8.000 con vịt (Bùi Quang Anh, Đăng Văn Kỳ, 2005) [1]

* Đợt dịch thứ ba từ tháng 12/2004 đến tháng 5/2005

Bệnh xuất hiện ở 670 xã tại 182 huyện thuộc 36 tỉnh thành trong cả nước Số gia cầm bị chết và tiêu huỷ trong đợt này là hơn 470.000 gà và hơn 825.000 vịt, ngan và hơn 551.000 chim cút

* Đợt dịch thứ tư từ tháng 10/2005 đến tháng 1/2006

Dịch xảy ra ở cả 3 miền với 24 tỉnh thành trong cả nước, trong đó miền Nam có 3 tỉnh (Bạc Liêu, Đồng Tháp, Long An), Miền Trung có 3 tỉnh (Thanh Hoá, Nghệ An, Quảng Trị) và 18 tỉnh thuộc miền Bắc (Hà Nội, Bắc Giang, Hoà Bình, Thái Bình, Hưng Yên, Hải Dương, Phú Thọ, Bắc Ninh, Bắc Kạn, Vĩnh Phúc, Hải Phòng, Sơn La, Quảng Ninh, Yên Bái, Thái Nguyên, Ninh Bình, Cao Bằng và Hà Giang) Tổng số gia cầm bị chết và bị tiêu huỷ 3.972.000 con, trong đó có 1.338.000 gà, hơn 2.135.000 con thuỷ cầm và các loài khác

Trang 16

và phát tán Mặt khác, công tác tiêm phòng vaccine phòng cúm gia cầm đợt 2 đã xong nhưng thực tế nhiều đàn gia cầm, chủ yếu là vịt nở trái phép chưa được tiêm Đợt dịch này kéo dài và rải rác trong suốt năm 2007 Từ ngày 1/5/2007 đến 23/8/2007, dịch xảy ra ở 167 xã/ phường 10 quận/ huyện thuộc 23 tỉnh trong cả nước Tổng số gia cầm mắc bệnh, bị chết và tiêu huỷ là 249.849 con trong đó có 21.525 gà, 264.549 vịt, 8.775 ngan Sau một tháng bị khống chế thì tới tháng 10/2007 dịch lại bùng phát lại trên địa bàn các tỉnh Trà Vinh, Quảng Trị, Nam Định, Cao Bằng, Hà Nam, Bến Tre…

* Đợt dịch thứ sáu từ năm 2008

Theo số liệu tổng hợp của Cục thú y năm 2008, dịch cúm gia cầm đã xuất hiện tại 80 xã thuộc 54 huyện, quận, thị xã của 27 tỉnh, thành phố Tổng

số gia cầm chết và buộc phải tiêu huỷ là 106.508 con (gồm gà, ngan và vịt)

Dịch chỉ xuất hiện ở những đàn gia cầm quy mô từ 100-2000 con, không được tiêm phòng vắc xin (44,59%), hoặc đàn thuỷ cầm mới tiêm phòng

1 mũi (16,21%), ổ dịch trên thuỷ cầm chiếm 52,7% Các ổ dịch xuất hiện thường được địa phương bao vây, xử lý ngay nên hầu như không có hiện tượng lây lan (Đăng Văn Kỳ, 2008) [12]

Theo Nguyễn Ngọc Tiến (2013) [26], năm 2009 cả nước có 129 ổ dịch tại 71 xã, phường, thị trấn của 35 huyện, thị trấn thuộc 18 tỉnh, thành phố phát dịch cúm gia cầm Tổng số gia cầm chết và tiêu hủy là: 112.887 con trong đó

gà 24.686 con (chiếm 21,87%), vịt 85.038 con (chiếm 75,35%) và ngan 3123 con (chiếm 2,76%)

Trang 17

Năm 2010: Dịch cúm gia cầm xảy ra ở 62 xã, phường của 36 huyện, quận, thuộc 23 tỉnh, thành phố Tổng số gia cầm mắc bệnh, chết và tiêu hủy là 75.769 con trong đó gà là 211.938 con (chiếm 28,95%), vịt là 52.809 con (chiếm 69,7%) và ngan là 1022 con (chiếm 1,34%)

Năm 2011: Dịch cúm gia cầm đã xảy ra ở 82 xã, 43 quận, huyện, thuộc

22 tỉnh, thành phố Tổng số gia cầm mắc bệnh là 110.311 con, tổng số gia cầm chết và tiêu hủy là 151.356 con trong đó 60.787 gà, 98.204 vịt và 1.365 ngan

Từ năm 2012 tới nay: Dịch cúm gia cầm đã xảy ra ở 296 xã, 121 huyện, quận thuộc 32 tỉnh, thành phố Tổng số gia cầm mắc bệnh, chết và tiêu hủy là 616.109 con trong đó gà chiếm 117.946 gà (chiếm 19,14%), 479.859 vịt (chiếm 77.89%) và 18.304 ngan (chiếm 2,97%)

1.3 Đặc điểm sinh học của virus cúm type A

1.3.1 Đặc điểm về hình thái, cấu trúc

Virus cúm gia cầm thuộc họ Orthomyxoviridae, với bộ gen là ARN cực

âm một sợi Sợi ARN chia làm 8 mảnh và nối với nhau nhờ các protein có vỏ bọc Virus được bọc bên ngoài bằng các protein và có màng lipid ở ngoài cùng Bề mặt ngoài màng phủ bằng 2 hệ thống protein có các phản ứng ngưng kết hồng cầu và phản ứng trung hoà được kết hợp với nhau một cách riêng biệt (Ito T and Y Kawaoka, 1998) [33]

Họ Orthomyxoviridae gồm có 3 nhóm virus là:

+ Nhóm virus cúm A: Gây bệnh cho mọi loài chim, một số động vật có

vú và cả con người

+ Nhóm virus cúm B: Chỉ gây bệnh cho người

+ Nhóm virus cúm C: Chủ yếu gây bệnh cho người và lợn (Lê Thanh Hòa, 2004) [9]

Khác với các nhóm virus trong họ, virus cúm type A có nhiều biến chủng khác nhau cộng với khả năng thích ứng rộng rãi trên nhiều loại vật chủ

Trang 18

và tính kháng nguyên luôn biến đổi, nhờ sự sắp xếp, tái tổ hợp các phân đoạn gene nên cúm type A được coi là nhóm virus nguy hiểm nhất trong họ

Khi nghiên cứu sâu hơn về cấu trúc hệ gene virus cúm type A, tất cả các thành viên của nhóm virus cúm A đều có hệ gene ARN một sợi, có độ dài 13.500 nucleotid chứa 8 phân đoạn kế tiếp nhau mang mật mã cho 10 loại protein khác nhau của virus, 8 phân đoạn của sợi ARN có thể tách và phân biệt rõ ràng nhờ phương pháp điện di (Muphy.B.R and R.G Webter, 1996) [36]

Cấu trúc của virus cúm A/ H5N1 được minh họa bằng hình sau:

Hình 1.1 Hình thái của virus cúm Hình 1.2 Cấu tạo virus cúm

Phân đoạn gene từ 1 - 3 mã hóa cho protein PB1, PB2 và PA là các protein có chức năng của enzyme polymerase, có vai trò bảo vệ sự sao chép

và phiên dịch ARN của virion (Biswas S K and D P Nayak (1996) [28]

Trang 19

Phân đoạn 4 mã hóa cho protein Hemagglutinin (HA) là một protein bề mặt, có chức năng bám dính vào thụ thể tế bào HA là một polypeptid gồm hai chuỗi HA1, HA2 nối với nhau bằng đoạn oligopeptid, đặc trưng cho các subtype H (H1 đến H16) trong tái tổ hợp tạo nên biến chủng (Very M và cs, 1992) [40]

Phân đoạn 5 mã hóa cho protein Nucleoprotein (NP) là một loại protein được Phosphoryl hóa, có biểu hiện tính kháng nguyên đặc hiệu theo nhóm (Group - Specific), tồn tại trong hạt virion trong dạng liên kết với mỗi phân đoạn ARN nên loại NP còn được gọi là Ribonucleoprotein (Buckle White and

B R Muphy, 1998) [29]

Phân đoạn 6 là đoạn chịu trách nhiệm tổng hợp protein có vai trò như enzyme là neuraminidase (NA), có chức năng acid sialic, giúp giải phóng ARN virus từ endosome và tạo virion mới (Castrucci M R and Y Kawaoka, 1993) [30]

Phân đoạn 7 mã hóa cho 2 tiểu phần protein đệm (matrix protein) M1 và M2 trong đó M2là một tetramer có chức năng tạo khe H+, giúp cởi

bỏ vỏ protein virus sau khi xâm nhập vào tế bào cảm nhiễm, M1 có chức năng tham gia vào quá trình tổng hợp và nảy mầm của virus (Holsinger

L D và cs, 1994) [31]

Phân đoạn 8 với độ dài tương đối ổn định sẽ mã hóa cho 2 tiểu phần protein không cấu trúc NS1 và NS2 có các chức năng: chuyển hóa ARN từ nhân ra kết hợp với M1, kích thích phiên mã (Luong G and Palese P (1992) [35]

1.3.2 Đặc tính kháng nguyên của virus cúm type A

Kháng nguyên của virus cúm diễn biến rất phức tạp do hiện tượng tái tổ hợp các thành phần và cấu trúc của chủng này với chủng khác hoặc biến đổi

từ chủng vô độc thành chủng có độc lực cao hơn và gây bệnh Sự đột biến của từng thành phần và loại kháng nguyên trong từng chủng virus cúm cũng góp

Trang 20

phần tạo nên cấu trúc kháng nguyên mới, tạo các loại biến chủng mới với các đặc tính gây bệnh mới

Các loại protein kháng nguyên: Protein nhân (NP), protein đệm (matrix protein - M1), protein bề mặt (HA), protein enzyme cắt thụ thể (NA) là những protein kháng nguyên được nghiên cứu nhiều nhất

Một trong những đặc tính kháng nguyên quan trọng của virus cúm là khả năng gây ngưng kết hồng cầu của nhiều loài động vật mà thực chất là sự kết hợp giữa mấu lồi kháng nguyên HA trên bề mặt của virus với thụ thể có trên bề mặt hồng cầu làm cho hồng cầu ngưng kết với nhau tạo mạng ngưng kết qua các cầu nối virus Từ đặc tính kháng nguyên này có thể sử dụng các phản ứng ngưng kết hồng cầu HA và phản ứng ngăn trở ngưng kết hồng cầu

HI trong chẩn đoán cúm gia cầm

Theo Ito T and Y Kawaoka (1998) [33]: Sự phức tạp trong diễn biến kháng nguyên mà virus cúm có được là do sự biến đổi và trao đổi kháng nguyên trong nội bộ gene và giữa gene hemagglutinin (HA) và gene neutraminidase (NA)

Sự biến đổi chính nội bộ gene hay đột biến ngẫu nhiên (Drift) mà bản chất là sự thay đổi nucleotid trong đoạn gene là biến dị xảy ra liên tục, thường xuyên trong quá trình tồn tại của virus cúm Chính nhờ sự biến đổi này cho phép virus cúm A tạo nên 15 biến thể gene HA (H1 đến H15) và 9 biến thể gene NA (N1 đến N9)

Bên cạnh hiện tượng Drift, sự biến đổi hệ gene của virus cúm A còn được diễn ra nhờ hiện tượng tái tổ hợp gene – Shift Hiện tượng này ít xảy ra hơn, nó chỉ xảy ra khi hai hay nhiều virus cúm cùng nhiễm vào tế bào Hiện tượng này cho thấy nguy cơ của sự lưu hành đồng thời nhiều loại virus cúm với số lượng lớn trong cùng một không gian và thời gian kéo dài

Một điều không thể không nói tới trong nghiên cứu về đặc tính kháng nguyên của virus cúm là giữa các biến thể tái tổ hợp và biến chủng subtype về huyết thanh học không hoặc rất ít có phản ứng chéo Vì thế, đặc điểm này sẽ

Trang 21

gây một trở ngại lớn cho các nghiên cứu nhằm tạo ra vaccine phòng cúm cho người và động vật

Hình 1.3 Cấu trúc kháng nguyên của virus cúm 1.3.3 Thành phần hóa học và sức đề kháng của virus

Bên cạnh các đặc tính về cấu trúc và đặc tính kháng nguyên, thành phần hóa học của virus cúm gia cầm cũng được nghiên cứu khá kỹ: ARN của virus chiếm 0,8 - 1,1%, protein chiếm 70 - 75%, lipid chiếm 220 - 24% và hydratcacbon chiếm 5 - 8% khối lượng của hạt virus

Về sức đề kháng của virus, các kết quả khảo sát cho thấy rằng, nhìn chung virus có sức đề kháng tương đối yếu Virus mất độc lực ở nhiệt độ 56 -

60 0 C trong vài phút, ở nhiệt độ 400 C virus tồn tại được 30 - 35 ngày, ở 200

C tồn tại được 7 ngày Tuy nhiên, virus tồn tại khá lâu trong các vật chất hữu cơ như phân gà ít nhất 3 tháng Trong thức ăn, nước uống bị ô nhiễm virus có khả năng tồn tại hàng tuần Đây chính là nguồn bệnh nguy hiểm và tiềm tàng

để làm lây lan dịch bệnh

Trong nước ao hồ virus vẫn có thể duy trì đặc tính gây bệnh tới 4 ngày

ở nhiệt độ 220 C và trên 30 ngày ở nhiệt độ 00

Trang 22

hóa chất này như các chất sát trùng hữu hiệu để tẩy uế chuồng trại, dụng cụ và các thiết bị chăn nuôi (Lê Văn Năm, 2004) [16]

1.3.4 Quá trình nhân lên của virus

Virus xâm nhập vào tế bào nhờ chức năng của protein HA thông qua hiện tượng ẩm bào (endocytosis) qua cơ chế trung gian tiếp hợp thụ thể Thụ thể đã liên kết tế bào của virus cúm có bản chất là acid dialic sẽ cắm sâu vào glycoprotein hay glycilipid của vỏ virus

Trong khoang ẩm bào, khi nồng độ pH được điều hòa giảm xuống mức thấp thì các enzyme peptidase và enzyme protease của tế bào tấn công và cắt rời protein HA trên màng virus, giải phóng nucleocasid Các nucleocapsid đi vào trong nguyên sinh chất rồi vào trong nhân tế bào, chuẩn bị quá trình tổng hợp ARN là nguyên liệu cho hệ gene mới

Ngay sau quá trình trên, hệ thống enzyme sao chép của virus lập tức tạo nên các ARN thông tin (mARN) Các phân đoạn ARN hệ gene được mã hóa ở

10 - 13 nucleotid đầu 5’ với nguyên liệu lấy từ ARN tế bào nhờ vào hoạt tính enzyme PB2 của virus Quá trình tổng hợp mARN đặc hiệu của virus có thể kìm hãm bởi Actinomycine D hoặc các hợp chất Amatinin Các mARN sau khi sao chép được chuyển hóa ra nguyên sinh chất, được ribosome trợ giúp tổng hợp nên protein cấu trúc và protein nguyên liệu Protein H, N, M2, ở lại nguyên sinh chất, được vận chuyển xuyên qua hệ thống võng mạc nội mô (RE) và hệ golgi sau đó được cắm lên màng tế bào nhiễm Protein NS1, NP, M1 được vận chuyển vào nhân để bao bọc đệm lấy nguyên liệu ARN hệ gene mới được tổng hợp (Kawaoka Y, 1991) [34]

Từ sợi ARN âm đơn của virus ban đầu thông qua cơ chế bổ sung thì một đoạn ARN dương toàn vẹn được tạo thành Sợi dương mới này lại làm khuôn để tổng hợp nên sợi ARN âm mới làm nguyên liệu Một số sợi âm ARN mới làm nguyên liệu để lắp ráp virion mới, một số khác làm khuôn để tổng hợp ARN theo cơ chế như với sợi ARN của virus đầu tiên

Trang 23

Các sợi ARN hệ gene được tạo ra là một sợi hoàn chỉnh về độ dài và được các protein đệm (NS1, M1, NP) bao gói tạo nên ribonucleocapsid (nucleoprotein) ngay trong nhân tế bào nhiễm, sau đó được vận chuyển ra nguyên sinh chất rồi được vận chuyển đến vị trí màng tế bào có sự biến đổi đặc hiệu với virus

Cuối cùng là sự kết hợp của tổ chức nucleoprotein với các protein cấu trúc (HA, NA, M2) tạo nên các hạt virus hoàn chỉnh mới và được giải phóng

ra khỏi tế bào theo hình thức nảy chồi

1.3.5 Độc lực của virus

Nghiên cứu ở mức độ phân tử cho thấy, khả năng lây nhiễm virus phụ thuộc vào tác động của men proteaze của vật chủ đến sự phá vỡ các liên kết hoá học sau khi dịch mã của phân tử liên kết Tính thụ cảm của ngưng kết tố

và sự phá vỡ liên kết của men proteaze lại phụ thuộc vào số lượng các aminoacid cơ bản tại điểm bắt đầu phá vỡ liên kết Các enzyme giống trypsin

có khả năng phá vỡ liên kết khi chỉ có một phân tử arginin, trong khi đó các men proteaze khác lại cần nhiều aminnoacid cơ bản, vì thế ở một số nước đánh giá động lực của virus trên cơ sở gây nhiễm cho gia cầm và sau đó phân tích sự sắp xếp các aminnoacid (Nguyễn Tiến Dũng, 2004) [7]

Theo quy định của tổ chức y tế thế giới (WHO), tổ chức thú y thế giới (OIE), virus cúm gia cầm chia thành 3 loại:

- Loại virus có độc lực cao: Nếu 10 ngày sau tiêm tĩnh mạch cho gà phải làm chết 75 - 100% gà thực nghiệm và phát triển tốt trên tế bào sơ phôi gà và tế bào thận trong môi trường nuôi cấy không có trypsin (Alexander D.J, 1996) [27]

- Loại virus có độc lực trung bình: Là những chủng virus gây bệnh cho trên

gà thực nghiệm có triệu chứng lâm sàng rõ rệt nhưng gây chết không quá 20%

- Loại virus có độc lực thấp (nhược độc): Là những virus phát triển tốt trong cơ thể gà, có thể gây ra dịch cúm nhưng không có triệu chứng lâm sàng

Trang 24

rõ rệt và không gây ra bệnh tích đại thể, không làm chết gà (Seo.S và R.G Webter, 2001) [38]

Trong thực tế người ta chia virus cúm ra làm 2 loại: Loại virus có độc lực thấp - LPAI (low powthy Avian Influenza) và loại virus có độc lực cao HPAI (Hight powthy Avian Influenza) Các vụ dịch lớn đều do virus HPAI gây ra, thường là virus có kháng nguyên H5, H7 và H9 Riêng H5 và H7 thông thường bắt nguồn từ virus có độc lực thấp, sau quá trình lâu lây truyền trên gà và chim cút, độc lực tăng rất nhanh và gây ra các vụ dịch lớn (Robert

G Webter, 2006) [37]

1.3.6 Danh pháp

Các chủng virus cúm được kí hiệu theo danh pháp quốc tế với trật tự: Tên serotype/loài nhiễm/nơi phân lập/số hiệu chủng/thời gian phân lập/loại hình subtype HA (H) và NA (N) Ví dụ: Virus cúm có kí hiệu: A/chicken/VietNam/TY31/05/H5N1, có nguồn thông tin là virus cúm A, loài nhiễm là gà, nơi phân lập tại Việt Nam, kí hiệu TY31, phân lập năm 2005, serotype H5N1 (Lê Thanh Hoà, 2004) [9]

1.3.7 Nuôi cấy và lưu giữ giống virus cúm gia cầm

Virus cúm gia cầm phát triển tốt trong phôi gà 9 - 11 ngày tuổi Trong nước phôi đó tập trung khá nhiều virus và có thể lưu giữ virus trong nước trứng vài tuần ở điều kiện 40C Khả năng tồn tại của virus rất cao nếu chúng ta bảo quản nước trứng đó ở - 700C hoặc cho đông khô (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 2005) [3]

Virus cúm gia cầm cũng phát triển rất tốt trong tế bào xơ phôi gà CEF và tế bào dòng có nguồn gốc thận chó MDCK (Madi Darby Canine Kidney Cells) với điều kiện nuôi cấy trong môi trường không chứa trypsin

Trang 25

1.4 Dịch tễ học bệnh cúm gia cầm

1.4.1 Động vật cảm nhiễm

Tất cả các loài gia cầm và chim hoang dã (đặc biệt là các loài thuỷ cầm

di cư) đều mẫm cảm với virus Virus thường được các loài chim hoang dã lưu giữ ngoài tự nhiên, chỉ khi nhiễm cho gia cầm (gà, vịt, gà tây, chim cút ) thì mới bùng phát thành dịch Phần lớn các loài gia cầm non đều mẫm cảm với virus cúm type A

Ngoài gây bệnh cho gia cầm, virus còn gây bệnh cho các loài động vật khác như lợn và gây bệnh cho cả người (Bùi Quang Anh, Đăng Văn Kỳ,

2004) [1]

Trong quá trình nghiên cứu, người ta bất ngờ khi xác định được virus cúm type A có ở các loài sống dưới nước (cá voi, hải cẩu…) Lợn mắc bệnh cúm thường do phân type H1N1, H3N3 Vịt nuôi cũng nhiễm virus cúm, nhưng ít phát hiện được do vịt có sức đề kháng với virus gây bệnh

Tuy nhiên 1961, ở Nam Phi đã phân lập được virus cúm type A serotype H5N1 gây bệnh cho cả gà và vịt Vụ dịch xảy ra ở các nước Châu Á

và một số nước Châu Âu thì virus cúm type A serotype H5N1 cũng gây bệnh cho gà, vịt, ngan, chim cút và một số loài chim hoang dã khác (Lê Thanh Hòa, 2004) [9]

1.4.2 Động vật mang virus

Virus cúm đã phân lập được hầu hết các loài chim hoang dã khắp thế giới như vịt, thiên nga, hải âu, mòng biển, vẹt đuôi dài, vẹt mào, chim thuộc

họ chim sẻ, diều hâu

Từ các nghiên cứu trước đây cho thấy tần suất và số lượng virus phân lập được ở các loài thuỷ cầm (đặc biệt là vịt trời) đều cao hơn ở các loài khác Trong nghiên cứu, người ta chỉ ra rằng: Vịt từ khi nhiễm đến khi bài thải virus trong vòng 30 ngày và cũng phát hiện thấy virus được duy trì trong số đông vịt trời cho

Trang 26

tới mùa sinh sản tiếp theo lại truyền lại cho con non theo đường tiêu hoá do virus bài thải theo phân gây ô nhiễm ao hồ (Bùi Quang Anh, Đăng Văn Kỳ, 2002) [1].

Kết quả nghiên cứu ở Bắc Mỹ thấy rằng trên 60 % của chim non bị nhiễm virus do tập hợp đàn trước khi di trú Trong 3 năm nghiên cứu quần thể chim hoang ở hồ Canada, người ta đã phân lập được 27 kiểu kết hợp giữa kháng nguyên H và N của virus cúm tạo ra những biến chủng virus mới Những virus này không gây độc đối với vật chủ, được nhân lên trong đường ruột của chim hoang dã và bài thải ra ngoài khiến cho các loài chim này vừa là vật mang virus vừa là nguồn gieo rắc virus cho các loài khác, đặc biệt là thuỷ cầm

1.4.3 Sự truyền lây

Khi gia cầm nhiễm virus cúm, virus được nhân lên trong đường hô hấp

và tiêu hóa Sự lây truyền bệnh được thực hiện theo hai phương thức trực tiếp

và gián tiếp (gián tiếp là chủ yếu)

Lây trực tiếp: Do con vật mẫn cảm tiếp xúc với con vật mắc bệnh, thông qua các hạt khí dung được bài tiết từ đường hô hấp hoặc qua phân, thức

ăn và nước uống bị nhiễm

Lây gián tiếp: Qua các hạt khí dung qua không khí với khoảng cách gần những dụng cụ chứa virus do gia cầm mắc bệnh mắc bệnh bài thải qua phân hoặc lây qua chim thú, thức ăn, nước uống, lồng nhốt, quần áo, xe vận chuyển, côn trùng… Đối với virus cúm chủng độc lực cao (HPAI) thì sự truyền lây chủ yếu qua phân và đường hô hấp

Đối với gia cầm nuôi, nguồn dịch đầu tiên thường thấy là:

- Từ các loài gia cầm nuôi khác nhau ở trong cùng một trang trại hoặc trang trại khác liền kề như vịt lây sang gà hoặc từ gà tây sang gà, gà nhật hay lây sang gà lôi

- Từ gia cầm nhập khẩu có mang virus

- Từ chim di trú: Hiện nay, các nhà khoa học đã có bằng chứng về đường dẫn nhập virus cúm của chim di trú đặc biệt là thuỷ cầm và gia cầm

Trang 27

nuôi Nhưng không có nghĩa là thuỷ cầm mang virus cúm truyền lây trực tiếp cho các loài chim khác, loài gia cầm khác mà là vai trò của thuỷ cầm trong ổ dịch (Tô Long Thành, 2005) [20]

+ Tỷ lệ lưu hành bệnh sẽ cao hơn đối với gia cầm nằm trên đường di trú của loài thuỷ cầm, như ở Minnesota của Mỹ hoặc Norfolk của Anh

+ Tỷ lệ lưu hành bệnh cao hơn đối với các gia cầm nuôi nhốt trong điều kiện phơi nhiễm như gà tây được nuôi trong các trang trại, vịt nuôi vỗ béo tại các cánh đồng gần trại

+ Các ổ dịch cúm ở các khu vực có nguy cơ cao thường xuất hiện theo mùa cùng lúc với các hoạt động di trú của thuỷ cầm

+ Phần lớn các ổ dịch đều ghi nhận có sự tiếp xúc với sự tiếp xúc với thuỷ cầm tại thời điểm phát dịch đầu tiên

Như vậy, thuỷ cầm được coi là đối tượng chính dẫn nhập virus vào quần thể gia cầm nuôi nhốt nhưng cũng cần quan tâm tới khả năng khác như virus cúm H5N1 đã tồn tại trên lợn, người, gà tây và thông qua lợn những virus này xâm nhập vào gà tây

- Từ người và động vật có vú khác: Phần lớn các ổ dịch cúm gia cầm gần đây có sự lây lan thứ cấp thông qua con người Một số công trình nghiên cứu khác cho thấy virus có nguồn gốc từ lợn đã phân lập được từ gà tây (Bùi Quang Anh, Đăng Văn Kỳ, 2004) [1]

Gia cầm non và gia cầm già mẫn cảm với mầm bệnh hơn gia cầm trưởng thành

Trang 28

1.4.5 Mùa bệnh

Bệnh cúm gia cầm xảy ra quanh năm nhưng thường tập trung vào lúc thời tiết lạnh, độ ẩm cao, hoặc khi chuyển mùa

1.4.6 Tỉ lệ mắc, tỷ lệ chết

Tỷ lệ mắc bệnh dao động lớn, có khi lên tới 100%

Gia cầm mắc bệnh ở thể cấp tính và quá cấp tính có tỷ lệ chết cao 70%

- 100% (Lê Văn Năm, 2004) [17]

* Nhận xét về tình hình dịch tễ học của bệnh cúm gia cầm tại Việt Nam

- Về phân bố địa lí: Các đợt dịch phát ra tập trung ở khu vực Đồng

bằng Sông Cửu Long và Đồng bằng Sông Hồng Những vùng này có nhiều hệ thống sông ngòi, kênh rạch, mật độ chăn nuôi cao, tổng đàn gia cầm lớn và việc buôn bán, vận chuyển, tiêu thụ gia cầm cao hơn các vùng khác

- Về thời gian xảy ra dịch: Dịch phát ra nặng vào vụ Đông Xuân, cao

điểm vào cuối tháng 1 đầu tháng 2 Trong thời gian này thời tiết thay đổi, độ

ẩm cao, nhiệt độ thường xuống thấp, tạo điều kiện thuận lợi cho virus tồn tại, phát triển và lây lan Đồng thời giai đoạn này là lúc mật độ chăn nuôi gia cầm

và hoạt động vận chuyển gia cầm, sản phẩm gia cầm diễn ra sôi động nhất trong năm cũng là điều kiện thuận lợi cho sự bùng phát và lây lan dịch

- Về loài mắc bệnh: Ở đợt dịch thứ nhất và thứ hai tỷ lệ gà mắc bệnh

cao hơn vịt, ngan Nhưng đợt dịch thứ 3 đó có sự thay đổi lớn khi các thống

kê cho thấy tỷ lệ mắc bệnh chết và tiêu hủy ở vịt cao gần gấp hai lần gà Điều này cho thấy mầm bệnh đã lây lan, tồn tại trong đàn thủy cầm, có thể tăng độc lực và bột phát thành đợt dịch thứ ba Tỷ lệ dương tính huyết thanh ở đàn thủy cầm tăng từ 15% trong đợt 2 lên 39,6% trong đợt 3

- Về loại hình, quy mô và mức độ dịch: Dịch phát ra ở tất cả các loại

hình chăn nuôi, tỷ lệ mắc bệnh cao nhất ở loại hình chăn nuôi hỗn hợp các loài gia cầm (đặc biệt chăn nuôi gà lẫn với vịt) và giảm dần ở những trại chăn

Trang 29

nuôi gà có số lượng lớn Quy mô của dịch đợt 1 là lớn nhất, trong đợt 2, 3 và

4 mặc dù dịch vẫn xảy ra nhiều tỉnh, thành phố nhưng quy mô đã giảm nhiều (Trương Văn Dung, 2008) [6]

1.5 Triệu chứng và bệnh tích của bệnh cúm gia cầm

1.5.1 Triệu chứng lâm sàng của bệnh cúm gia cầm

Theo Phạm Sỹ Lăng (2005) [15], các biểu hiện triệu chứng lâm sàng của bệnh diễn biến rất đa dạng và phức tạp, nó phụ thuộc vào nhiều yếu tố như độc lực, số lượng virus, loài nhiễm bệnh, mật độ chăn nuôi, tiểu khí hậu chuồng nuôi (độ bụi, amoniac, sulfua hidro, .), chế độ dinh dưỡng, tình trạng miễn dịch của vật chủ trước khi nhiễm virus và sự cộng nhiễm cùng với virus cúm

gia cầm của các vi khuẩn, virus khác như E coli, Mycoplasma, Newcastle

- Thời kì ủ bệnh rất ngắn từ vài giờ đến 3 ngày tuỳ theo lượng virus, đường nhiễm bệnh và loài cảm nhiễm virus gây bệnh

- Thời kỳ lây truyền thường từ 3 - 5 ngày, có khi đến 7 ngày kể từ khi

có triệu chứng bệnh

+ Thể quá cấp tính (hay gặp): Xảy ra từ vài giờ đến 24 giờ

+ Thể cấp tính: Xảy ra từ 1 - 4 ngày

+ Thể á cấp tính (ít gặp): Có thể kéo dài trên 7 ngày

- Nhiều trường hợp gà bị nhiễm cúm gia cầm nhưng không có dấu hiệu lâm sàng, song cũng có nhiều trường hợp dịch nổ ra dữ dội với các triệu chứng điểm hình về đường hô hấp, tiêu hoá và thần kinh

- Gia cầm chết đột ngột, tỷ lệ tử vong cao có khi lên đến 100% trong vài ngày

- Có các biểu hiện triệu chứng hô hấp khá điển hình như: khoẹc, lắc đầu, vẩy mỏ, chảy nước mũi, nước mắt, gà há mồm thở dốc

- Mí mắt bị viêm, sưng mọng, mặt phù nề và đầu sưng to Mào và tích bị dày lên do thuỷ thũng, có rất nhiều điểm xuất huyết, nhiều trường hợp thấy hoại tử

Trang 30

- Thịt gà bệnh bị bệnh thâm xám, xuất huyết dưới da vùng chân là những biểu hiện đặc trưng của bệnh cúm gia cầm

- Các biểu hiện thần kinh: Gà đi lại không bình thường, chệnh choạng, run rẩy, mệt mỏi, nằm li bì hoặc đứng tụm đống với nhau, lông xù Gà giảm

đẻ rõ rệt

- Triệu chứng về tiêu hóa: Gà bị tiêu chảy mạnh

Những dấu hiệu này dễ thấy ở gia cầm trước khi chết, có thể ít xuất hiện các triệu chứng hoặc xuất hiện kết hợp Trong một số trường hợp bệnh bùng phát nhanh trước khi gia cầm chết không có biểu hiện triệu chứng lâm sàng

Vịt và các loài thuỷ cầm khác bị nhiễm ít biểu hiện triệu chứng ngay cả với chủng gây bệnh HPAI ở gà, nhưng khi phát bệnh thì viêm xoang, viêm màng mắt, viêm đường hô hấp, tỉ lệ tử vong nhanh và rất cao

Gia cầm bị nhiễm các chủng virus cúm có độc lực yếu hơn cũng có những triệu chứng tương tự nêu trên nhưng mức độ nhẹ hơn và tỉ lệ chết thấp hơn Tuy nhiên, khi có các vi khuẩn bội nhiễm với virus cúm hoặc gia cầm bị điều kiện bất lơi tác động thì tỉ lệ tử vong tới 60 - 70% của tổng đàn và các biểu hiện lâm sàng cũng nặng hơn (Lê Văn Năm, 2004) [17]

Các loài chim hoang dã bị nhiễm virus cúm thường không có triệu chứng rõ ràng

Một số chủng virus cúm không gây bệnh có thể cư trú trong các tế bào biểu mô ở đường hô hấp và trong ruột, thường tập trung nhiều trong phân gia cầm mà không gây ra triệu chứng lâm sàng nhưng khi gặp các điều kiện bất lợi và nhiễm các mầm bệnh khác thì virus cúm không độc này lại có khả năng gây bệnh trầm trọng ở gà

Trang 31

Triệu chứng do bệnh cúm type A gây ra ở người:

+ Sốt cao liên tục, bệnh nhân có thể rét run

+ Ho khan, đau ngực, đau đầu và đau cơ

+ Khó thở, tím tái, trường hợp nặng có thể suy hô hấp, có thể ỉa chảy, rối loạn ý thức, có thể có những biến chứng nguy hiểm gây tử vong nhanh (Phạm Sỹ Lăng, 2004) [13]

1.5.2 Bệnh tích bệnh cúm gia cầm

a Các biến đổi bệnh lý đại thể

Mức độ biến đổi các bệnh lý đại thể phụ thuộc rất nhiều vào độc lực của virus và quá trình diễn biến bệnh

* Thể á cấp tính

- Viêm mũi từ thể cata đến mủ và bị casein hoá gây tịt mũi, thối mí mắt Túi khí dầy lên và có nhiều fibrin bám dính

- Phúc mạc bị viêm nặng từ cata đến fibrin và nhiều khi trứng non dập

vỡ gây viêm dính các cơ quan nội tạng Vì thế, một số tác giả gọi hiện tượng này là “Viêm phúc mạc do lòng đỏ trứng”

- Buồng trứng bị xuất huyết, trứng non dập vỡ, ống dẫn trứng viêm

- Ruột bị viêm cata hoặc fibrin, nặng nhất là vùng giáp ruột non và ruột già

* Thể cấp tính

- Một số gà chết quá nhanh mà không để lại bệnh tích điển hình nhưng

ở những gà khác thì các biến đổi đại thể lại thể hiện khá rõ

- Mào và tích thâm tím, sưng dày lên, phù nề, đầu sưng to

- Xuất huyết dưới da chân, xác gà khô, gầy, thịt thâm xám

- Miệng có nhiều dịch nhày, nhớt Lỗ huyệt bẩn, niêm mạc hậu môn bị phù nề xuất huyết

- Xoang mũi và xoang trán bị viêm cata đến viêm có mủ Khí quản viêm xuất huyết chứa nhiều đờm, đôi khi lẫn máu

Trang 32

- Phổi bị viêm nặng từ cata đến xuất huyết, hoại tử Túi khí dầy và có nhiều fibrin bám dính

- Tim xuất huyết điểm nặng và viêm dính phúc mạc, xoang tim chứa nước màu vàng sánh, có khí đục Xuất huyết trên màng tim, mỡ vành tim và

cơ tim xuất huyết

- Dạ dày tuyến xuất huyết, có khi viêm loét

- Xuất huyết mỡ bụng, mỡ màng treo ruột, mỡ màng bao tim rất rõ, đây

là một trong những bệnh tích điển hình của cúm gia cầm

- Gan teo hoại tử, lách biến màu lốm đốm vàng và rắn chắc hơn bình thường

- Buồng trứng, ống dẫn chứng viêm xuất huyết

- Ruột xuất huyết đặc biệt ở vùng hậu môn và van hồi manh tràng

* Đối với ngan và vịt

- Các biến đổi bệnh lý của bệnh cúm gia cầm ở ngan và vịt về cơ bản giống như ở gà Tuy nhiên, tần suất biến đổi bệnh lý tập trung chủ yếu ở phổi, tim, buồng trứng và đường ruột

- Viêm xuất huyết phổi, xung huyết dưới màng xương lồng ngực được thấy thường xuyên và có thể đây là những biến đổi có tính đặc thù của bệnh cúm ở ngan và vịt (Lê văn Năm, 2004) [17]

b Các biến đổi bệnh lý vi thể

Bệnh tích vi thể của bệnh cúm thường khác nhau tuỳ thuộc theo độc lực của virus và các loài mắc bệnh

- Thận: Tế bào ống thận hoại tử, xuất huyết nang Bowman giãn rộng

- Phổi: Xuất huyết tràn lan, nhiều vùng phế nang bị bịt kín các tế bào viêm và dịch rỉ viêm

- Lách chứa đầy hồng cầu

- Tế bào gan hoại tử, có nhiều hồng cầu trong nhu mô gan và có nhiều

tế bào tập trung ở mạch quản

Trang 33

- Dạ dày tuyến dầy, phù, sưng, xuất huyết Niêm mạc ruột hoại tử, xuất huyết (Lê Văn Năm, 2004) [16]

1.6 Các phương pháp chẩn đoán bệnh cúm gia cầm

Theo quy trình chẩn đoán bệnh Cúm gia cầm tại phòng xét nghiệm - Trung tâm chẩn đoán Thú y Trung ương, ta có sơ đồ chẩn đoán bệnh như sau:

Sơ đồ chẩn đoán bệnh cúm gia cầm

(Nguồn: Trung tâm chẩn đoán Thú y Trung ương)

Phát hiện kháng thể (HI) Phát hiện virus

Kết luận bệnh

(+) (-)

Trang 34

* Chẩn đoán phân biệt

Bệnh cúm gia cầm cần chẩn đoán phân biệt với một số bệnh sau đây:

Đối với nguồn bệnh: Tiêu hủy triệt để gia cầm nhiễm bệnh, thực hiện tốt công tác vệ sinh, khử trùng để tiêu diệt mầm bệnh Tăng cường công tác giám sát, phát hiện bệnh Khi phát hiện thấy gia cầm mang virus phải tiêu hủy ngay

Đối với yếu tố truyền lây: Thực hiện tốt kiểm dịch vận chuyển, kiểm dịch gia cầm nhập khẩu, không vận chuyển gia cầm từ các nước hoặc các khu vực có dịch vào địa phương Thực hiện nuôi nhốt, cách ly, hạn chế người và phương tiện ra vào khu vực chăn nuôi Không nuôi

Trang 35

chung các loại gia cầm (gà, vịt, ngan) trong cùng chuồng nuôi Quản lý chặt chẽ việc buôn bán, giết mổ gia cầm Thực hiện tốt công tác vệ sinh, khử trùng, tiêu độc Tuyên truyền, hướng dẫn các biện pháp chăn nuôi an toàn sinh học, các biện pháp phòng chống bệnh cúm gia cầm để người chăn nuôi và nhân dân tự giác, chủ động thực hiện

Đối với động vật cảm thụ: Tích cực tuyên truyền để thay đổi dần tập quán chăn nuôi nhỏ lẻ sang chăn nuôi trang trại, chăn nuôi công nghiệp Quy hoạch khu vực chăn nuôi gia cầm xa khu dân cư Xây dựng chuồng trại đúng tiêu chuẩn kỹ thuật, không gây ô nhiễm môi trường Thực hiện tốt quy trình vệ sinh thú y, chăm sóc nuôi dưỡng tốt để nâng cao sức đề kháng tự nhiên cho gia cầm

Trong điều kiện chăn nuôi hiện nay, để kiểm soát dịch cúm gia cầm có hiệu quả, một biện pháp rất quan trọng là tạo miễn dịch chủ động bằng cách tiêm vaccine cho đàn gia cầm

Như vậy, để kiểm soát dịch cúm gia cầm có hiệu quả cần thực hiện đồng

bộ các biện pháp, đặc biệt là chủ động tiêm vaccine cho đàn gia cầm

1.7.2 Vaccine phòng bệnh cúm gia cầm

Tiêm phòng vaccine là một chiến lược để phòng chống bệnh cúm gia cầm Theo FAO và OIE , việc sử dụng các loại vaccine phòng cúm gia cầm có thể bảo hộ tốt chống lại bệnh lâm sàng ở gà bằng cách làm giảm tỷ lệ chết và các thiệt hại về kinh tế khác Sử dụng đúng vaccine cho đàn gia cầm sẽ làm giảm lượng virus bài thải ra môi trường, ngừng hẳn bài thải virus vào ngày 13 -

18 sau khi tiêm, phòng được sự lây virus cường độc do tiếp xúc, tăng sức đề kháng của gia cầm

Theo Ilaria C and Stefano M (2004) [10], khi dịch cúm gia cầm xảy ra

ở vùng có mật độ nuôi cao, nơi mà các biện pháp an toàn sinh học nghiêm ngặt cho thấy không phù hợp với hệ thống chăn nuôi hiện đại thì tiêm chủng vaccine được coi là giải pháp hàng đầu để khống chế lây lan dịch bệnh

Trang 36

Theo Tô Long Thành (2007) [22], tiêm phòng vaccine là một chiến lược

hỗ trợ có thể cân nhắc khi bệnh đã lây ra một phạm vi nào đó mà nó đã vượt quá sự kiểm soát của cơ quan chuyên môn thú y hoặc vượt quá mức chí phí dự kiến cho các chiến dịch tiêu hủy rộng lớn Tiêm phòng cũng có thể cân nhắc ở giai đoạn sớm hơn khi cơ sở hạ tần và năng lực của ngành thú y được ghi nhận

là kém và không đủ sức ngăn chặn sự lây lan dịch bệnh

Theo Nguyễn Thu Thủy (2013) [25], từ cuối năm 2005 đến nay, Việt Nam đã tổ chức tiêm phòng vaccine (phần lớn là nhập khẩu từ Trung Quốc) cho đàn gia cầm, kết hợp với các biện pháp phòng chống dịch tổng hợp khác nên đã đạt được một số kết quả nhất định như: Khống chế được dịch lưu hành, dịch không xảy ra ở diện rộng, giảm thiểu thiệt hại cho ngành chăn nuôi gia cầm, đàn gia cầm vẫn tăng trưởng đều qua các năm, các trang trại lớn đều không có dịch, đặc biệt đã giảm thiểu ca nhiễm bệnh cúm trên người

Từ những đòi hỏi cấp thiết của tình hình dịch bệnh cúm gia cầm trong nước, trên cơ sở những ý kiến của các nhà chuyên môn và qua thử nghiệm thực

tế sử dụng vaccine phòng bệnh cúm gia cầm, Ban chỉ đạo quốc gia về phòng chống bệnh cúm gia cầm đã quyết định: “Sử dụng vaccine phòng bệnh cúm gia cầm như là một vũ khí quan trọng hỗ trợ tích cực cho việc khống chế dịch bệnh tại Việt Nam”

Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (2005) [2], các loại gia cầm trong diện tiêm bao gồm: Các loại gà giống thương phẩm, gà thịt, gà chọi, các loại vịt như: Vịt đẻ trứng thương phẩm, vịt thịt, các loại ngan như ngan đẻ trứng thương phẩm, ngan thịt và kể cả ngỗng

Từ năm 2005 tới nay, Việt Nam đã tổ chức tiêm phòng vaccine phần lớn nhập khẩu từ Trung Quốc: H5N1, H9N2, H5N2 và Trovac (Nguyễn Thu Thủy, 2013) [25]

Qua nhiều năm sử dụng vaccine cúm gia cầm do Trung Quốc sản xuất cho thấy vaccine có chất lượng và đem lại hiệu quả phòng bệnh tốt, tình hình

Trang 37

gia cầm bị bệnh cúm giảm, không có các ổ dịch lớn xuất hiện và giám sát các đàn gia cầm sau tiêm phòng cho thấy miễn dịch quần thể luôn đạt ở ngưỡng bảo hộ Vì vậy, việc sử dụng vaccine phòng bệnh cúm gia cầm đã là một trong các biện pháp phòng bệnh không thể thiếu ở nước ta

Tuy nhiên, hạn chế chính là ở chỗ do phải nhập khẩu vaccine nên chi phí cao và việc cung cấp không được chủ động Để từng bước giải quyết những khó khăn trong việc cung cấp vaccine phòng bệnh cúm gia cầm cho đàn gia cầm nuôi ở việt Nam, trên cơ sở kết quả nghiên cứu của đề tài

“Nghiên cứu xây dựng quy trình sản xuất vaccine cúm A/H5N1 cho gia cầm” do Viện công nghệ sinh học chủ trì, với sự tham gia thực hiện của Công ty thuốc thú y TW – Navetco, Xí nghiệp thuốc thú y TW – Navetco

và Viện thú y, Công ty thuốc thú y TW – Navetco đã được Bộ khoa học công nghệ và môi trường và Bộ Nông nghiệp & PTNT giao thực hiện dự án

“Sản xuất thử nghiệm vaccine cúm A/H5N1 nhũ dầu để phòng chống bệnh cho gia cầm” Từ năm 2011, 30 triệu liều vaccine Navet – Vifluvac đã được đưa vào sử dụng nhằm khắc phục những hạn chế trên

1.8 Một số nghiên cứu về bệnh cúm gia cầm

Trước diễn biến phức tạp của bệnh cúm gia cầm, Viện Thú y Quốc gia

đã hợp tác với Trung tâm kiểm soát dịch bệnh Hoa Kỳ (CDC) nhằm tăng cường năng lực, trang thiết bị và kỹ thuật phát hiện, phân lập và giám định virus Đến cuối năm 2003, Viện Thú y đã có đủ khả năng về con người và vật liệu để xác định chủng H5 virus cúm gia cầm

* Kết quả nghiên cứu phân lập virus

Với sự giúp đỡ của CDC, chủng virus cúm gia cầm lưu hành ở Việt Nam được xác định là H5N1 và công bố dịch vào ngày 8/1/2004

Khi phân tích các mẫu virus cúm thông qua giải mã gene, Nguyễn Tiến Dũng (2004) [7] cho thấy: Dịch cúm gia cầm tại Việt Nam là do một loại virus duy nhất (cả về không gian và thời gian gây ra) Có nghĩa là dịch có nguồn gốc

Trang 38

từ một ổ dịch ban đầu sau đó lây ra khắp cả nước Virus cúm gia cầm Việt Nam

có nguồn gốc từ các virus cúm lưu hành ở Trung Quốc

* Kết quả nghiên cứu đặc điểm dịch tễ học

Năm 2004, khi dịch cúm xảy ra, tác giả Lê Văn Năm đã có nghiên cứu

về đặc điểm dịch tễ, các biểu hiện lâm sàng, đặc điểm bệnh lý ở gà, ngan, vịt,

gà tây, chim vẹt nhằm giúp cho việc chẩn đoán được thuận lợi hơn

Các nghiên cứu khi khảo sát dịch tễ của 3 đợt dịch đã chỉ ra rằng nguồn gốc các ổ dịch trong vụ dịch đầu năm 2004 là do sự di truyền của đàn gia cầm giống, còn đợt dịch thứ 2 là từ ngan sau đó đến vịt gây ra và ở đợt dịch thứ 3 tại Tây Nam Bộ là do dịch địa phương do bán gia cầm và vit mang trùng (Nguyễn Tiến Dũng và cs, 2005) [8]

Một nghiên cứu khác tại đồng bằng Bắc Bộ cho thấy tỷ lệ gà có huyết thanh dương tính ở hộ chăn nuôi là 9,4%, trong khi đó ở hộ chăn nuôi gà lẫn vịt

là 69,5% Điều đó đồng nghĩa với nguy cơ mắc cúm gia cầm của gà nuôi lẫn thủy cầm cao gấp 8 lần so với nuôi riêng biệt

Trang 39

Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu được tiến hành trên các đối tượng là các loại gà, vịt, ngan nuôi ở các phương thức khác nhau thuộc quy mô tỉnh Bắc Giang

2.2 Nội dung nghiên cứu

- Một số đặc điểm dịch tễ của bệnh cúm gia cầm tại tỉnh Bắc Giang từ năm 2004 đến nay

- Xác định những biến đổi bệnh lý đại thể ở gà mắc bệnh cúm gia cầm H5N1

- Xác định những biến đổi bệnh lý vi thể ở gà mắc bệnh cúm gia cầm H5N1

2.3 Vật liệu dùng trong nghiên cứu

Các trang thiết bị, cơ sở vật chất của phòng Bệnh lý - Trung tâm chẩn

đoán thú y Trung ương

- Mẫu bệnh phẩm được sử dụng trong nghiên cứu là phổi, tim, gan, thận… của gà mắc bệnh

- Hoá chất sử dụng làm tiêu bản vi thể, trong nuôi cấy tế bào, nhuộm hóa miễn dịch: formol 10%, cồn, xylen, parafin, thuốc nhuộm haematoxylin, thuốc nhuộm eosin

- Tủ lạnh, tủ ấm 370C, tủ sấy

- Máy đúc tự động, máy cắt Microton, máy PCR, máy chụp ảnh gel

- Các dụng cụ khác gồm: Lam kính, kính hiển vi, găng tay…

2.4 Phương pháp nghiên cứu

2.4.1 Điều tra một số chỉ tiêu và tình hình dịch cúm gia cầm từ năm 2004 đến năm 2013

Thu thập số liệu của chi cục Thú y tỉnh Bắc Giang và điều tra thực

tế năm 2012

Ngày đăng: 19/11/2014, 19:53

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
11. Đào Yến Khanh (2005), Kiểm nghiệm và khảo nghiệm vắc xin cúm gia cầm ngoại nhập, Luận văn thạc sỹ Nông nghiệp, Đại học Nông nghiệp I, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Kiểm nghiệm và khảo nghiệm vắc xin cúm gia cầm ngoại nhập
Tác giả: Đào Yến Khanh
Năm: 2005
12. Đăng Văn Kỳ (2008), “Diễn biến tình hình dịch cúm gia cầm ở Việt Nam và những giải pháp phòng chống”, Khoa học Kỹ thuật Thú y, 15 (4), tr.87-91 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Diễn biến tình hình dịch cúm gia cầm ở Việt Nam và những giải pháp phòng chống”, "Khoa học Kỹ thuật Thú y
Tác giả: Đăng Văn Kỳ
Năm: 2008
13. Phạm Sỹ Lăng (2004), Diễn biến của bệnh cúm gà trên thế giới, Hội thảo một số biện pháp khôi phục đàn gia cầm sau dập dịch, Hà Nội, tr.33-38 14. Phạm Sỹ Lăng (2004), “Diễn biến bệnh cúm gia cầm ở Châu Á và cáchoạt động phòng chống bệnh”, Tạp chí Khoa học kỹ thuật Thú y, 11(3), tr. 91 – 94 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Diễn biến của bệnh cúm gà trên thế giới," Hội thảo một số biện pháp khôi phục đàn gia cầm sau dập dịch, Hà Nội, tr.33-38 14. Phạm Sỹ Lăng (2004), “Diễn biến bệnh cúm gia cầm ở Châu Á và các hoạt động phòng chống bệnh"”, Tạp chí Khoa học kỹ thuật Thú y
Tác giả: Phạm Sỹ Lăng (2004), Diễn biến của bệnh cúm gà trên thế giới, Hội thảo một số biện pháp khôi phục đàn gia cầm sau dập dịch, Hà Nội, tr.33-38 14. Phạm Sỹ Lăng
Năm: 2004
15. Phạm Sỹ Lăng (2005), “Bệnh cúm gia cầm và biện pháp phòng chống”, Nxb Nông nghiệp, Hà nội, tr. 294 – 256 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh cúm gia cầm và biện pháp phòng chống
Tác giả: Phạm Sỹ Lăng
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2005
17. Lê Văn Năm (2004), “Kết quả khảo sát các biểu hiện lâm sàng và bệnh tích đại thể bệnh cúm gia cầm ở một số cơ sở chăn nuôi các tỉnh phía Bắc”, Khoa học Kỹ thuật, 11(3), tr. 86-90 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả khảo sát các biểu hiện lâm sàng và bệnh tích đại thể bệnh cúm gia cầm ở một số cơ sở chăn nuôi các tỉnh phía Bắc”," Khoa học Kỹ thuật
Tác giả: Lê Văn Năm
Năm: 2004
18. Nguyễn Bá Thành (2005), “Một số đặc điểm dịch tễ bệnh Gumboro trên đàn gia cầm tại tỉnh Đồng Nai”, Khoa học Kỹ thuật thú y, 11(3), tr. 86 – 90 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số đặc điểm dịch tễ bệnh Gumboro trên đàn gia cầm tại tỉnh Đồng Nai”, "Khoa học Kỹ thuật thú y
Tác giả: Nguyễn Bá Thành
Năm: 2005
19. Tô Long Thành (2004), “Thông tin cập nhật về tái xuất hiện bệnh cúm gia cầm tại các nước châu Á”, Khoa học Kỹ thuật Thú y, 11(4), tr. 87-93 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tin cập nhật về tái xuất hiện bệnh cúm gia cầm tại các nước châu Á”, "Khoa học Kỹ thuật Thú y
Tác giả: Tô Long Thành
Năm: 2004
20. Tô Long Thành (2005), “Một số thông tin mới về bệnh cúm gia cầm”, Khoa học Kỹ thuật Thú y, 12(1), tr. 84-91 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số thông tin mới về bệnh cúm gia cầm”", Khoa học Kỹ thuật Thú y
Tác giả: Tô Long Thành
Năm: 2005
21. Tô Long Thành (2005), “Kinh nghiệm phòng chống dịch cúm gia cầm và sử dụng vắc xin cúm gia cầm tại Trung Quốc”, Khoa học Kỹ thuật Thú y, 12(3), tr. 84-91 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh nghiệm phòng chống dịch cúm gia cầm và sử dụng vắc xin cúm gia cầm tại Trung Quốc"”, Khoa học Kỹ thuật Thú y
Tác giả: Tô Long Thành
Năm: 2005
22. Tô Long Thành (2007), “Các loại vaccine cúm gia cầm và đánh giá hiệu quả tiêm phòng”, Tạp chí khoa học kỹ thuật Thú y, 14(2), tr. 84 – 90 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các loại vaccine cúm gia cầm và đánh giá hiệu quả tiêm phòng"”, Tạp chí khoa học kỹ thuật Thú y
Tác giả: Tô Long Thành
Năm: 2007
23. Tô Long Thành, Nguyễn Tùng và Mary J. Pantin-Jackwood, Jenny Pfeiffer, David Suarez (2008), Độc tính của virus cúm gia cầm thể độc lực cao H5N1 của Việt Nam trên gà và vịt, Hội thảo quốc tế Nghiên cứu phục vụ hoạch định chính sách phòng chống cúm gia cầm, Cục Thú y, 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Độc tính của virus cúm gia cầm thể độc lực cao H5N1 của Việt Nam trên gà và vịt, Hội thảo quốc tế Nghiên cứu phục vụ hoạch định chính sách phòng chống cúm gia cầm
Tác giả: Tô Long Thành, Nguyễn Tùng và Mary J. Pantin-Jackwood, Jenny Pfeiffer, David Suarez
Năm: 2008
24. Đỗ Ngọc Thúy (2008), “Tin khoa học kỹ thuật về cúm gia cầm”, Tạp chí Khoa học kỹ thuật thú y, 4 (8), tr. 92 – 94 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tin khoa học kỹ thuật về cúm gia cầm”, "Tạp chí Khoa học kỹ thuật thú y
Tác giả: Đỗ Ngọc Thúy
Năm: 2008
25. Nguyễn Thu Thủy (2013), “Tình hình sản xuất và cung ứng vaccine phục vụ công tác phòng chống dịch bệnh gia súc, gia cầm”, Khoa học Kỹ thuật Thú y, 20(1), tr. 91- 95 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình sản xuất và cung ứng vaccine phục vụ công tác phòng chống dịch bệnh gia súc, gia cầm”, "Khoa học Kỹ thuật Thú y
Tác giả: Nguyễn Thu Thủy
Năm: 2013
26. Nguyễn Ngọc Tiến (2013), “Tình hình dịch cúm gia cầm giai đoạn 2009 - 2013 và giải pháp phòng chống”, Khoa học Kỹ thuật Thú y, 20 (1), tr.82 – 90.3. Tài liệu Tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình dịch cúm gia cầm giai đoạn 2009 - 2013 và giải pháp phòng chống”, "Khoa học Kỹ thuật Thú y, 2
Tác giả: Nguyễn Ngọc Tiến
Năm: 2013
27. Alexander D. J (1996), Highly Pathogenic Avian Influenza (fowl plague), OIE Manual of standards for diagnostic test and vaccinne. List A and B diseases of mammals, birds and bees, 3rd ed, pp. 155 – 160 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Highly Pathogenic Avian Influenza (fowl plague), OIE Manual of standards for diagnostic test and vaccinne
Tác giả: Alexander D. J
Năm: 1996
28. Biswas S.K and D.P. Nayak (1996), “Influenza virus polymerase basic protein 1 interacts with ifluenza virus polymerase basic protein 2 at multiple sites”, J. Virol, 70, pp. 6716 – 6722 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Influenza virus polymerase basic protein 1 interacts with ifluenza virus polymerase basic protein 2 at multiple sites”
Tác giả: Biswas S.K and D.P. Nayak
Năm: 1996
29. Buckle White and B. R Muphy (1998), “Nucleotide dequence anylasis of the nucleoprotein gene of an avian and a human influenza vius strain indentifies tow classes of nucleoproteins”, Virology 155, pp. 245 – 355 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nucleotide dequence anylasis of the nucleoprotein gene of an avian and a human influenza vius strain indentifies tow classes of nucleoproteins”
Tác giả: Buckle White and B. R Muphy
Năm: 1998
30. Castrucci. M. R and Y. Kawaoka (1993), “Biologic importance of neuramidase stlak length influenza A virus”, Virology, 155, pp. 345 – 355 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Biologic importance of neuramidase stlak length influenza A virus”
Tác giả: Castrucci. M. R and Y. Kawaoka
Năm: 1993
31. Holsinger. L. D, D. Nichani, L. H. Pinto and R. A. Lamb (1994), “Influenza A virus M 2 ion chanel protein: a structurefunction anylasis”, Viriol, 68, pp. 1551 – 1563 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Influenza A virus M"2" ion chanel protein: a structurefunction anylasis”
Tác giả: Holsinger. L. D, D. Nichani, L. H. Pinto and R. A. Lamb
Năm: 1994
32. Horimoto. T and Kawaoka .Y (1995), “Direct revese transcrip PCR to determine virulence potential of influenza A viruses in birds”, J. Clin Microbiol, 33(3), pp. 748 – 751 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Direct revese transcrip PCR to determine virulence potential of influenza A viruses in birds”
Tác giả: Horimoto. T and Kawaoka .Y
Năm: 1995

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.3. Cấu trúc kháng nguyên của virus cúm  1.3.3. Thành phần hóa học và sức đề kháng của virus - Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ và biến đổi bệnh lý của bệnh cúm gia cầm type H5N1 tại tỉnh Bắc Giang
Hình 1.3. Cấu trúc kháng nguyên của virus cúm 1.3.3. Thành phần hóa học và sức đề kháng của virus (Trang 21)
Sơ đồ chẩn đoán bệnh cúm gia cầm. - Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ và biến đổi bệnh lý của bệnh cúm gia cầm type H5N1 tại tỉnh Bắc Giang
Sơ đồ ch ẩn đoán bệnh cúm gia cầm (Trang 33)
Bảng 3.1. Tình hình chăn nuôi gia cầm tại Bắc Giang từ 2001 - 2013 - Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ và biến đổi bệnh lý của bệnh cúm gia cầm type H5N1 tại tỉnh Bắc Giang
Bảng 3.1. Tình hình chăn nuôi gia cầm tại Bắc Giang từ 2001 - 2013 (Trang 45)
Bảng 3.3. Tỷ lệ mắc bệnh cúm theo mùa - Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ và biến đổi bệnh lý của bệnh cúm gia cầm type H5N1 tại tỉnh Bắc Giang
Bảng 3.3. Tỷ lệ mắc bệnh cúm theo mùa (Trang 49)
Bảng 3.4. Tỷ lệ mắc bệnh cúm gia cầm theo loại gia cầm - Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ và biến đổi bệnh lý của bệnh cúm gia cầm type H5N1 tại tỉnh Bắc Giang
Bảng 3.4. Tỷ lệ mắc bệnh cúm gia cầm theo loại gia cầm (Trang 51)
Bảng 3.5. Tỷ lệ mắc bệnh cúm gia cầm theo phương thức chăn nuôi - Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ và biến đổi bệnh lý của bệnh cúm gia cầm type H5N1 tại tỉnh Bắc Giang
Bảng 3.5. Tỷ lệ mắc bệnh cúm gia cầm theo phương thức chăn nuôi (Trang 52)
Bảng 3.6. Tỷ lệ mắc bệnh cúm gia cầm theo quy mô đàn - Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ và biến đổi bệnh lý của bệnh cúm gia cầm type H5N1 tại tỉnh Bắc Giang
Bảng 3.6. Tỷ lệ mắc bệnh cúm gia cầm theo quy mô đàn (Trang 54)
Bảng 3.8: Tổn thương đại thể trên gà mắc bệnh cúm A/H5N1 - Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ và biến đổi bệnh lý của bệnh cúm gia cầm type H5N1 tại tỉnh Bắc Giang
Bảng 3.8 Tổn thương đại thể trên gà mắc bệnh cúm A/H5N1 (Trang 59)
Bảng 3.9. Tổn thương vi thể ở gà mắc bệnh cúm A/H5N1 - Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ và biến đổi bệnh lý của bệnh cúm gia cầm type H5N1 tại tỉnh Bắc Giang
Bảng 3.9. Tổn thương vi thể ở gà mắc bệnh cúm A/H5N1 (Trang 66)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w