Các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục học sinh phòng chống ma túy xâm nhập học đường tại các trường THCS huyện Sơn Dương - Tuyên quang .... cán bộ tham mưu trực tiếp cho Ban Thường vụ
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM –––––––––––––––––––
LÊ NGỌC BÌNH
BIỆN PHÁP QUẢN LÝ PHÒNG CHỐNG TỆ NẠN MA TUÝ XÂM NHẬP HỌC ĐƯỜNG TẠI CÁC TRƯỜNG THCS
HUYỆN SƠN DƯƠNG – TUYÊN QUANG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
THÁI NGUYÊN - 2013
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM –––––––––––––––––––
LÊ NGỌC BÌNH
BIỆN PHÁP QUẢN LÝ PHÒNG CHỐNG TỆ NẠN MA TUÝ XÂM NHẬP HỌC ĐƯỜNG TẠI CÁC TRƯỜNG THCS
HUYỆN SƠN DƯƠNG – TUYÊN QUANG
Chuyên ngành: QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Mã số: 60.14.01.14
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: GS.TSKH NGUYỄN VĂN HỘ
Thái Nguyên, năm 2013
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Luận văn “Biện pháp quản lý phòng chống tệ nạn ma tuý xâm nhập học
đường ở các trường THCS huyện Sơn Dương – Tuyên Quang” được thực hiện từ
tháng 11/2012 đến tháng 8/2013 Luận văn sử dụng những thông tin từ nhiều nguồn khác nhau, các thông tin đã được ghi rõ nguồn gốc, số liệu đã được tổng hợp và xử lí Tôi xin cam đoan, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này hoàn toàn trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Thái Nguyên, ngày 20 tháng 8 năm 2013
Tác giả
Lê Ngọc Bình
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Với sự kính trọng và tình cảm chân thành, tác giả trân trọng cảm ơn:
Khoa Sau Đại học, khoa Tâm lý Giáo dục trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên cùng các nhà khoa học, các thầy cô giáo đã trực tiếp giảng dạy, góp
ý, chỉ bảo, tạo điều kiện thuận lợi cho tác giả trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Các đồng chí lãnh đạo, chuyên viên Phòng GD&ĐT Tuyên Quang, các đồng chí cán bộ quản lý của 6 trường THCS trên địa bàn huyện Sơn Dương và các bạn đồng nghiệp đã tạo điều kiện, cung cấp thông tin, tư liệu giúp đỡ tác giả trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Đặc biệt tác giả xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc đối với
GS.TSKH Nguyễn Văn Hộ, người đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo, động viên tác
giả nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Những người thân trong gia đình và các đồng chí, đồng nghiệp thường xuyên động viên tác giả học tập, nghiên cứu
Mặc dù đã có nhiều cố gắng, nhưng bản luận văn này chắc chắn vẫn không tránh khỏi thiếu sót, tác giả rất mong nhận được ý kiến đóng góp của các thầy cô giáo, các nhà khoa học và các bạn đồng nghiệp để luận văn được hoàn thiện hơn
Thái Nguyên, ngày 20 tháng 8 năm 2013
Tác giả luận văn
Lê Ngọc Bình
Trang 5MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục chữ viết tắt iv
Danh mục các bảng v
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 3
3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 3
4 Giả thuyết khoa học 3
5 Nhiệm vụ cụ thể của đề tài 3
6 Giới hạn của đề tài nghiên cứu 4
7 Phương pháp nghiên cứu 4
8 Đóng góp của đề tài 6
9 Cấu trúc luận văn 6
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC PHÒNG CHỐNG TỆ NẠN MA TÚY XÂM NHẬP TRONG CÁC NHÀ TRƯỜNG 7
1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 7
1.1.1 Hoạt động PCMT ở một số nước trên thế giới 7
1.1.1.1 Các nước Châu Á 7
1.1.1.2 Các nước Châu Mỹ 7
1.1.1.3 Các nước Châu Âu 8
1.1.1.4 Các nước Châu Đại Dương 8
1.1.1.5 Các nước Châu Phi 8
1.1.2 Hoạt động phòng chống ma túy ở Việt Nam 9
1.2 Một số khái niệm cơ bản liên quan đến vấn đề nghiên cứu 12
1.2.1.Khái niệm về quản lý 12
1.2.1.1 Bản chất quản lý 13
Trang 61.2.1.2 Chức năng quản lý 13
1.2.2 Khái niệm về quản lý nhà trường 13
1.2.2.1 Quản lý nhà trường 13
1.2.2.2 Quản lý trường THCS 14
1.2.3 Khái niệm về tệ nạn ma túy 15
1.2.3.1 Tệ nạn xã hội 15
1.2.3.2 Ma túy là gì ? 16
1.2.3.3 Các loại ma túy thường gặp 17
1.2.4 Tác động xấu của ma túy đối với sự phát triển nhân cách học sinh THCS 19
1.2.4.1 Một vài đặc điểm tâm sinh lí của học sinh THCS 19
1.2.4.2 Tác động xấu của ma túy đối với học sinh THCS, gia đình và xã hội 21
1.2.4.3 Một số dấu hiệu để có thể phát hiện các em đang sử dụng ma túy 22
1.3 Quan điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước về phòng, chống ma túy 25
1.3.1 Đảng và Nhà nước với công tác giáo dục phòng, chống ma túy 25
1.3.2 Bộ Giáo dục và Đào tạo với công tác giáo dục phòng, chống ma túy 26
1.4 Quản lý hoạt động giáo dục phòng chống ma túy trong các trường THCS 28
1.4.1 Mục tiêu, nội dung, hình thức, phương pháp GDPCMT trong trường học 28
1.4.1.1 Mục tiêu giáo dục phòng chống ma túy trong trường học 28
1.4.1.2 Nội dung giáo dục phòng chống ma túy trong trường học 29
1.4.1.3 Hình thức giáo dục phòng chống ma túy trong trường học 29
1.4.1.4 Phương pháp giáo dục phòng chống ma túy trong trường học trong trường học 30
1.4.2 Vị trí, vai trò của quản lý công tác GDPCMT trong các trường THCS 30
1.4.3 Nội dung quản lý công tác giáo dục phòng chống ma túy xâm nhập học đường trong các trường THCS 31
Kết luận chương 1 32
Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ PHÒNG CHỐNG TỆ NẠN MA TUÝ XÂM NHẬP HỌC ĐƯỜNG TẠI CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ Ở HUYỆN SƠN DƯƠNG - TUYÊN QUANG 33
2.1 Đặc điểm tình hình kinh tế - xã hội, giáo dục huyện Sơn Dương - Tuyên Quang 33
2.1.1 Khái quát đặc điểm tình hình kinh tế - xã hội huyện Sơn Dương - Tuyên Quang 33
Trang 72.1.2 Khái quát đặc điểm tình hình giáo dục huyện Sơn Dương - Tuyên Quang 33
2.2 Nhận thức của học sinh trung học cơ sơ huyện Sơn Dương - Tuyên Quang 37
2.2.1 Tác hại của ma túy 37
2.2.2 Những nguyên nhân dẫn đến nghiện ma túy 40
2.2.3 Các giai đoạn đưa học sinh đến với thuốc lá ma túy 51
2.3 Thực trạng quản lý hoạt động GDPCMT tại các trường THCS huyện Sơn Dương - Tuyên Quang 52
2.3.1 Thực trạng hoạt động GDPCMT cho học sinh 52
2.3.2 Thực trạng công tác quản lý GDPCMT của hiệu trưởng các trường THCS huyện Sơn Dương 60
2.3.3 Đánh giá chung về thực trạng quản lý hoạt động giáo dục phòng chống ma túy tại các trường THCS huyện Sơn Dương - Tuyên Quang 66
2.3.3.1 Những ưu điểm 66
2.3.3.2 Những tồn tại 67
2.3.3.3 Những thuận lợi 67
2.3.3.4 Những khó khăn 68
Kết luận chương 2 69
Chương 3: MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ PHÒNG CHỐNG MA TÚY XÂM NHẬP HỌC ĐƯỜNG TRONG CÁC TRƯỜNG THCS Ở HUYỆN SƠN DƯƠNG - TUYÊN QUANG 70 3.1 Các nguyên tắc định hướng trong việc xây dựng các biện pháp 70
3.1.1 Nguyên tắc bảo đảm tính thực tiễn 70
3.1.2 Nguyên tắc bảo đảm tính khả thi 70
3.1.3 Nguyên tắc bảo đảm tính phù hợp 70
3.1.4 Nguyên tắc bảo đảm tính đồng bộ 70
3.2 Các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục học sinh phòng chống ma túy xâm nhập học đường tại các trường THCS huyện Sơn Dương - Tuyên quang 71
3.2.1 Nâng cao nhận thức, vai trò, trách nhiệm của cán bộ, giáo viên và học sinh trong nhà trường về hoạt động giáo dục PCMT cho học sinh 71
3.2.1.1 Mục tiêu biện pháp 71
Trang 83.2.1.2 Nội dung và cách thức thực hiện biện pháp 71
3.2.1.3 Điều kiện thực hiện biện pháp 73
3.2.2 Xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch giáo dục học sinh PCMT xâm nhập nhà trường 73
3.2.2.1 Mục tiêu của biện pháp 73
3.2.2.2 Nội dung và cách thức thực hiện biện pháp 73
3.2.2.3 Điều kiện thực hiện biện pháp 75
3.2.3 Tổ chức tốt việc phối hợp giữa nhà trường, gia đình và các lực lượng xã hội trong hoạt động giáo dục PCMT cho học sinh 75
3.2.3.1 Mục tiêu của biện pháp 75
3.2.3.2 Nội dung và cách thức thực hiện biện pháp 75
3.2.3.3 Điều kiện thực hiện biện pháp 79
3.2.4 Quản lý HĐGD học sinh phòng chống ma túy xâm nhập vào nhà trường thông qua hoạt động dạy học của GV 80
3.2.4.1 Mục tiêu biện pháp 80
3.2.4.2 Nội dung và cách thức thực hiện biện pháp 80
3.2.5 Quản lý HĐGD học sinh phòng chống ma túy xâm nhập vào nhà trường thông qua các hoạt động GD ngoại khoá 89
3.2.5.1 Mục tiêu của biện pháp 89
3.2.5.2 Nội dung và cách thức thực hiện biện pháp 90
3.2.5.3 Điều kiện thực hiện biện pháp 92
3.2.6 Tăng cường quản lý và xây dựng CSVC, kỹ thuật, kinh phí phục vụ HĐGD học sinh phòng chống ma túy 92
3.2.6.1 Mục tiêu của biện pháp 92
3.2.6.2 Nội dung và cách thức thực hiện biện pháp 92
3.2.6.3 Điều kiện thực hiện biện pháp 93
3.2.7 Quản lý hoạt động xây dựng các phong trào thi đua 93
3.2.7.1 Mục tiêu của biện pháp 93
3.2.7.2 Nội dung và cách thức thực hiện biện pháp 94
3.2.7.3 Điều kiện thực hiện biện pháp 94
Trang 93.2.8 Chỉ đạo việc kiểm tra, giám sát, tổng kết, đánh giá, rút kinh nghiệm, động viên,
khen thưởng 94
3.2.8.1 Mục tiêu của biện pháp 94
3.2.8.2 Nội dung và cách thức thực hiện biện pháp 95
3.2.8.3 Điều kiện thực hiện biện pháp 95
3.3 Mối liên hệ giữa các biện pháp đề xuất 96
3.4 Khảo nghiệm mức độ khả thi của các biện pháp 96
3.4.1 Mục đích khảo nghiệm 96
3.4.2 Nội dung khảo nghiệm 96
3.4.3 Phương pháp khảo nghiệm 96
3.4.4 Kết quả khảo nghiệm 97
Kết luận chương 3 98
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 99
1 Kết luận 99
2 Khuyến nghị 102
TÀI LIỆU THAM KHẢO 104 PHỤ LỤC
Trang 11DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1: Các chất ma túy thường gặp ở Việt Nam 19
Bảng 1.2: Các biểu hiện bên ngoài của con nghiện 21
Bảng 1.3: Những biểu hiện khi nghiện một số loại ma túy thường gặp 24
Bảng 2.1: Bảng thống kê chất lượng văn hoá 36
Bảng 2.2: Bảng thống kê kết quả giáo dục đạo đức 36
Bảng 2.3: Thống kê sự hiểu biết các chất ma túy của học sinh 37
Bảng 2.4: Nguồn thông tin về tệ nạn ma túy học sinh được tiếp cận 38
Bảng 2.5: Hình thức giáo dục phòng chống ma túy được học sinh ưa thích 38
Bảng 2.6: Nhận thức của học sinh về mức độ nguy hại của ma túy 39
Bảng 2.7: Thái độ của học sinh về vấn đề phòng chống ma túy 39
Bảng 2.8: Khảo sát số lượng con trong gia đình 41
Bảng 2.9: Khảo sát nghề nghiệp của cha và mẹ 41
Bảng 2.10: Khảo sát trình độ học vấn của cha và mẹ 42
Bảng 2.11: Khảo sát tình trạng hôn nhân của cha và mẹ 42
Bảng 2.12: Các ý kiến của học sinh về gia đình va bạn bè 43
Bảng 2.13: Thống kê tình hình học sinh đã hút thuốc lá, uống rượu 48
Bảng 2.14: Ý kiến của thầy cô về nguyên nhân gây nghiện 51
Bảng 2.15: Nhận thức của hiệu trưởng về nguy cơ ma túy xâm nhập trường THCS 53
Bảng 2.16: Thái độ của hiệu trưởng về công tác phòng chống tệ nạn ma túyxâm nhập học đường 54
Bảng 2.17: Những hình thức tuyên truyền nhà trường đã tổ chức có hiệu quảđể giáo dục phòng chống ma túy cho học sinh 55
Bảng 2.18: Mức độ hài lòng về công tác tuyên truyền giáo dục phòngchống ma túy trong nhà trường 55
Bảng 2.19: Nguyên nhân làm cho công tác tuyên truyền phòng chống ma túy chưa đạt hiệu quả cao 56
Bảng 2.20: Nhận thức và thái độ của phụ huynh học sinh đối với việc phòng chống ma túy 58
Trang 12Bảng 2.21: Nhận thức của Hiệu trưởng THCS về sự cần thiết của công tác QLhoạt
động GDHS phòng, chống TNMT xâm nhập học đường 60 Bảng 2.22: Tình hình thực hiện các biện pháp quản lý hoạt động GD HS nhằm PCMT
của Hiệu trưởng trường THCS huyện Sơn Dương 61 Bảng 2.23: Thực trạng và tình hình sử dụng CSVC, trang thiết bị phục vụ giáo dục
phòng, chống ma túy 64 Bảng 3.1: Đánh giá về tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp giáo dục phòng
chống ma túy cho học sinh tại các trường THCS huyện Sơn Dương 97
Trang 13MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Nguyên Tổng thư ký Liên Hiệp quốc Ngài Boutros Gali đã đánh giá “Trong
những năm gần đây, tình trạng nghiện ma túy đã trở thành hiểm họa của toàn nhân loại, không một quốc gia, dân tộc nào thoát ra khỏi ngoài vòng xoáy khủng khiếp của
nó để tránh khỏi những hậu quả do nghiện hút và buôn lậu ma tý gây ra Ma túy đang làm gia tăng tội phạm, bạo lực, tham nhũng, vắt cạn kiệt nhân lực, tài chính, hủy diệt những tiềm năng quý báu khác mà lẽ ra phải được huy động cho việc phát triển kinh
tế - xã hội, đem lại ấm no, hạnh phúc cho mọi người Nghiêm trọng hơn ma túy còn
là tác nhân chủ yếu thúc đẩy căn bệnh thế kỷ HIV - AIDS”
Nghiện ma túy đã trở thành một trong những tệ nạn xã hội đang ngày càng phát triển không chỉ ở Việt Nam mà ở nhiều các quốc gia trên thế giới Tệ nạn ma túy là hiểm họa lớn cho toàn xã hội, gây tác hại cho sức khoẻ, làm suy thoái nòi giống, phẩm giá con người, phá hoại hạnh phúc gia đình, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự, an toàn xã hội và an ninh quốc gia
Ma túy gắn với tội phạm ngày một tăng, tỷ lệ nghiện nặng chiếm đa số, các loại ma túy được sử dụng ngày càng đa dạng… Diễn tiến phức tạp của tình trạng nghiện ma túy hiện nay đặt ra cho xã hội những nhiệm vụ cấp bách Chính phủ đã có nhiều văn bản chỉ đạo hoạt động của công tác phòng chống và kiểm soát ma túy Một
số ban ngành chức năng được thành lập và tiến hành những biện pháp phòng chống
Theo báo cáo trong Hội nghị tổng kết 5 năm phòng chống ma túy học đường
2006 - 2010 do Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức tháng 12/2010 thì đến hết năm 2009
có 146.731 người sử dụng và nghiện ma tuý có hồ sơ, trong đó bao gồm cả cán bộ,
Trang 14giáo viên và học sinh sinh viên trong ngành giáo dục; 63/63 tỉnh thành phố trên cả nước, 90% quận huyện, trên 56% xã, phường, thị trấn đã có người sử dụng và nghiện
ma tuý Độ tuổi của các đối tượng sử dụng và nghiện ma tuý ngày càng được trẻ hóa năm 2001 số độ tuổi sử dụng và nghiện ma tuý dưới 30 tuổi chiếm 57,7% năm 2009 tăng lên 68,3%
Tuy nhiên, dù nhiều biện pháp được thực thi, một lượng lớn tiền của đã bỏ ra nhưng số người mắc nghiện và tái nghiện không hề giảm mà có chiều hướng gia tăng qua từng năm, số người cai nghiện thành công chiếm một tỷ lệ vô cùng khiêm tốn
Thanh niên là một lực lượng rất quan trọng trong mọi hoạt động xã hội, là một
bộ phận lao động chính, sau này là lực lượng góp phần thúc đẩy sự tiến bộ xã hội Chính vì vậy, bọn tội phạm ma túy đã chọn thế hệ trẻ là khách hàng chiến lược vì chúng sẽ đạt được mục tiêu lâu dài Thủ đoạn của bọn tội phạm ma túy là bắt đầu với những loại ma túy có hàm lượng ma túy rất nhẹ trong thuốc lá hoặc các loại nước uống … với nhiều hình thức chào mời, dụ dỗ đưa các em đến ma túy một cách không trực tiếp Trong số những người mắc nghiện thì thanh niên chiếm một tỷ lệ khá lớn
Hiện nay, với hàng loạt giải pháp của Chính phủ, các bộ, các đoàn thể đang từng bước ngăn chặn tệ nạn ma túy, tệ nạn nghiện ma túy trong học sinh, sinh viên đã giảm, song chưa cơ bản, chưa vững chắc, một số trường học vẫn chưa thưc sự quan tâm đúng mức, chưa kiên trì, thường xuyên và liên tục
Sơn Dương là huyện ở cửa ngõ phía Nam của tỉnh Tuyên Quang, cách thành phố Tuyên Quang 30 km, cách thành phố Thái Nguyên 54 km; giáp danh với huyện Sơn Dương là các tỉnh Thái Nguyên, Vĩnh Phúc và Phú Thọ Sơn Dương có nhiều
mỏ khai thác khoáng sản và một số cụm, điểm công nghiệp, có nhiều tuyến đường giao thông huyết mạch quan trọng như quốc lộ 2c và quốc lộ 37 và khu di tích lịch sử ATK Tân Trào Từ năm 1990 trở lại đây, do tình trạng khai thác khoáng sản trái phép diễn ra thường xuyên, người dân nhiều nơi đổ về nên tình hình tệ nạn xã hội, văn hoá phẩm đồi truỵ, tệ nạn nghiện ma túy trên địa bàn huyện có nhiều diễn biến phức tạp ảnh hưởng trực tiếp đến các trường phổ thông trên địa bàn huyện Công tác giáo dục PCMT trong trường học là một đòi hỏi quan trọng và cấp bách, là trách nhiệm của tất
cả mọi người, đặc biệt là những người làm công tác giáo dục và công tác quản lý Là
Trang 15cán bộ tham mưu trực tiếp cho Ban Thường vụ Huyện uỷ Sơn Dương về các lĩnh vực
phát triển văn hoá xã hội, tôi xác định chọn đề tài nghiên cứu: “Biện pháp quản lý
phòng chống tệ nạn ma tuý xâm nhập học đường ở các trường THCS huyện Sơn Dương – Tuyên Quang” làm đề tài luận văn tốt nghiệp thạc sĩ chuyên ngành Quản
lý giáo dục với hy vọng đóng góp một phần nhỏ những biện pháp của mình vào công tác PCMT trong các trường THCS huyện Sơn Dương
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn của hoạt động quản lý phòng chống
ma tuý trong nhà trường nói chung và tại các trường THCS huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang nói riêng, tiến hành đề xuất một số biện pháp quản lý giáo dục phòng chống ma tuý cho học sinh trong các trường THCS trên địa bàn huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang góp phần nâng cao hiệu quả giáo dục phòng chống ma tuý cho học sinh
3 Đối tƣợng và khách thể nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Biện pháp quản lý giáo dục phòng chống ma tuý cho học sinh trong trường THCS ở huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang
3.2 Khách thể nghiên cứu
Quá trình giáo dục phòng chống ma tuý cho học sinh trong trường THCS ở huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang
4 Giả thuyết khoa học
Hoạt động phòng chống ma tuý cho học sinh THCS tại huyện Sơn Dương tỉnh Tuyên Quang có thể đạt hiệu quả nếu có được những biện pháp quản lý của hiệu trưởng trong việc xây dựng kế hoạch, chỉ đạo thực hiện phù hợp với thực tiễn; phát huy được tính tích cực tự giác của học sinh về nhận thức, thái độ và kỹ năng trong việc phòng chống ma tuý; phối hợp chặt chẽ với các tổ chức xã hội để ngăn chặn kịp thời các ảnh hưởng của tệ nạn ma tuý ngoài xã hội xâm nhập học đường
5 Nhiệm vụ cụ thể của đề tài
5.1 Xác định cơ sở lý luận của việc giáo dục và quản lý hoạt động phòng chống tệ nạn ma tuý xâm nhập học đường trong nhà trường phổ thông
5.2 Đánh giá thực trạng việc thực hiện các biện pháp quản lý phòng chống ma túy xâm nhập vào các trường THCS huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang
Trang 165.3 Đề xuất các biện pháp quản lý phòng chống tệ nạn ma tuý xâm nhập học đường trong nhà trường phổ thông
6 Giới hạn của đề tài nghiên cứu
6.1 Giới hạn về nội dung
Vấn đề quản lý, giáo dục phòng chống tệ nạn ma tuý xâm nhập học đường ở các trường THCS huyện Sơn Dương – Tuyên Quang
6.2 Giới hạn về không gian
Đề tài tiến hành khảo sát các đối tượng là hiệu trưởng, giáo viên, phụ huynh,
học sinh tại 6 trường THCS huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang (trong đó có 1
trường điểm của huyện và 3 trường ở các xã quanh khu vực thị trấn 02 trường ở xã cách xa khu vực thị trấn)
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Các phương pháp nghiên cứu cụ thể
7.1.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận
Đọc và nghiên cứu các tài liệu trong và ngoài nước, các văn bản pháp quy, chủ trương chính sách của đảng và nhà nước và của ngành giáo dục và đào tạo có liên quan đến đề tài quản lý công tác giáo dục phòng chống ma túy nói chung và công tác giáo dục phòng chống ma túy nói riêng
7.1.2 Phương pháp nghiên cứu và phân tích tài liệu
Các nghiên cứu lý luận cũng như thực tiễn về vấn đề nghiện hút ma túy trong
xã hội hiện nay được công bố trên các ấn phẩm trong và ngoài nước, cũng như trong các báo cáo tổng kết, các hội nghị về vấn đề phòng chống và cai nghiện ma túy ở Việt Nam chưa được in ấn sẽ được nghiên cứu một cách có hệ thống và được phân tích tổng hợp
Ngoài ra, những sự kiện, số liệu được công bố trên báo chí cũng được thu thập
và phân tích
7.1.3 Các phương pháp điều tra thực tiễn
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi cá nhân học sinh, giáo viên
- Phương pháp phỏng vấn, đàm thoại trực tiếp
- Quan sát
Trang 177.1.4 Các phương pháp phân tích số liệu
- Các phương pháp phân tích định tính: phân tích nội dung, phân tích câu chuyện đối thoại
- Các phương pháp phân tích định lượng: sử dụng phương pháp thống kê toán học
7.2 Xây dựng công cụ khảo sát thực trạng
7.2.1 Nguyên tắc xây dựng phiếu khảo sát, điều tra
+ Đối với hiệu trưởng, công đoàn, chi đoàn, cha mẹ học sinh: tiến hành phỏng vấn, trò chuyện, trao đổi về hoạt động phòng, chống ma túy
7.2.2 Chọn mẫu nghiên cứu
Chúng tôi chọn có định hướng 6 trường trung học cơ sở trên tổng số 31 trường trung học cơ sở và 6 trường liên cấp TH và THCS thuộc Phòng Giáo dục – đào tạo huyện
Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang (trong đó có 1 trường điểm của huyện và 3 trường ở các
xã quanh khu vực thị trấn 02 trường ở xã cách xa khu vực thị trấn)
+ Trường trung học cơ sở Hồng Thái (trường điểm)
+ Trường trung học cơ sở Hợp Thành
+ Trường trung học cơ sở Kháng Nhật
+ Trường trung học cơ sở Lê Văn Hiến
+ Trường trung học cơ sở Thượng Ấm
+ Trường trung học cơ sở Phúc Ứng
Mục đích chọn mẫu nghiên cứu ở các trường:
- Đối với các trường ở khu vực thị trấn: Thành phần học sinh được chọn lựa đầu vào, gia đình quan tâm đến con cái, điều kiện ăn học thuận lợi hơn các loại trường còn lại
Trang 18- Đối với trường trên địa bàn các xã: Phần lớn là các học sinh nông thôn miền núi; đa số cha mẹ dành nhiều thời gian vào vệc kiếm tiền, ít quan tâm đến con cái, tỷ
lệ học sinh bỏ học, lưu ban cao Đây là đối tượng rất dễ vấp ngã trước những thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt của bọn mua bán ma túy
7.2.3 Tổ chức nghiên cứu
Phiếu khảo sát, chúng tôi thăm dò ở 6 trường, mỗi trường 80 phiếu dành cho học sinh khối 8 và 9 (vì đây là lứa tuổi có nhiều thay đổi về tâm sinh lý …), phiếu dành cho hiệu trưởng 31 trường trung học cơ sở và 6 trường liên cấp TH THCS thuộc Phòng Giáo dục – đào tạo huyện Sơn Dương, 120 phiếu dành cho giáo viên,
200 phiếu dành cho phụ huynh học sinh thuộc 6 trường lựa chọn trong huyện
8 Đóng góp của đề tài
Đề xuất các biện pháp nâng cao kết quả hoạt động quản lý phòng chống tệ nạn
ma tuý xâm nhập học đường ở các trường THCS huyện Sơn Dương – Tuyên Quang
9 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và khuyến nghị, danh mục các tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn được trình bày trong 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động giáo dục phòng chống tệ nạn
ma tuý xâm nhập trong các nhà trường
Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục phòng chống ma túy xâm nhập học đường tại các trường trung học cơ sở huyện Sơn Dương - Tuyên Quang
Chương 3: Một số biện pháp nâng cao hiệu quả hoạt động quản lý phòng chống ma túy xâm nhập học đường tại các trường trung học cơ sở huyện Sơn Dương
- Tuyên Quang
Trang 19Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC PHÒNG CHỐNG
TỆ NẠN MA TÚY XÂM NHẬP TRONG CÁC NHÀ TRƯỜNG
1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Hoạt động PCMT ở một số nước trên thế giới
Từ rất lâu, người ta sử dụng ma túy như một phương tiện để chữa bệnh, cho nên việc PCMT ít được quan tâm Công tác PCMT chỉ được các nước trên thế giới quan tâm khi họ nhận thấy rõ bản chất của chúng Hiện nay, vấn đề ma túy không còn hạn chế bởi quốc gia nào mà đã trở thành hiểm họa trên phạm vi toàn thế giới Cho nên,
“chống ma túy” đã trở thành nhiệm vụ chung của tất cả các nước Chúng ta có thể điểm qua vài nét về lịch sử vấn đề này
1.1.1.1 Các nước Châu Á
Ở Thái Lan, Luật PCMT đã có từ cuối những năm 1950 Ủy ban bài trừ ma túy của Phủ thủ tướng được thành lập từ cuối những năm 1960 Năm 1982, nhà nước lại thành lập ủy ban đặc biệt trấn áp hoạt động buôn bán ma túy ở biên giới Thái-Miến (Thái Lan-Myanma) Trong những năm gần đây, việc lạm dụng ma túy ở Thái Lan đã đến mức báo động, đặc biệt trong HS, SV Chính phủ Thái Lan đã thực hiện chương trình “Trường học trắng” trong trường phổ thông nhằm đưa nhà trường và xã hội xích lại gần nhau hơn
Các nước Myanmar, Malaixia, Singapore, Brunay, Indonesia, Philippine đều có luật PCMT và cơ quan chuyên trách PCMT Nhìn chung luật pháp các nước đều có hình phạt nặng đối với những kẻ buôn bán hoặc tàng trữ ma túy phi pháp Trong pháp lệnh chống ma túy đều có án tử hình Malaixia, Singapore triển khai công tác giáo dục PCMT thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, thành lập đội thiếu niên tuyên truyền PCMT trong và ngoài nhà trường; tập huấn cán bộ chuyên môn giảng dạy, biên soạn tài liệu về vấn đề ma túy và phụ trách công tác PCMT trong nhà trường; tăng cường lồng ghép các nội dung về ma túy và tác hại của ma túy trong các môn học có liên quan để nâng cao ý thức PCMT trong học sinh
1.1.1.2 Các nước Châu Mỹ
Mỹ là nước tiêu thụ ma túy lớn nhất thế giới, vấn đề ma túy nghiêm trọng hơn bất cứ quốc gia nào Luật chống ma túy Liên bang sớm nhất nước Mỹ là “pháp lệnh
Trang 20Halition” năm 1914 Năm 1930 chính phủ liên bang thành lập cục chống ma túy trong
Bộ Tài chính, tiến hành quản lý chất ma túy, heroine, cocaine đang lạm dụng lúc đó Năm 1986, Quốc hội Mỹ thông qua “pháp lệnh chống lạm dụng ma túy”, lần đầu tiên đưa ra về mặt pháp luật một cách toàn diện đối với vấn đề lạm dụng ma túy và vấn đề buôn lậu ma túy Năm 1986, nhà trường ở nước Mỹ phải là nhà trường không có ma túy Các nước Trung và Nam Mỹ đều có luật chuyên về chống ma túy và áp dụng luật hình sự để trừng trị các loại hoạt động tội phạm vi phạm pháp lệnh cấm ma túy Những năm 1970 đến nay, luật cấm ma túy là một loại luật pháp chủ yếu được coi trọng ở các nước, phần lớn các nước đều có cơ quan chấp pháp chống ma túy
Nhìn chung, các nước Trung và Nam Mỹ rất coi trọng công tác giáo dục PCMT Từ năm 1990, Bộ Giáo dục Pêru bắt đầu triển khai hoạt động chống lạm dụng
ma túy trong HS, yêu cầu phụ huynh HS và GV tích cực phối hợp thực hiện công tác này Braxin tiến hành tuyên truyền PCMT, thông qua nhà trường yêu cầu HS hiểu rõ tác hại của ma túy và tránh xa ma túy Ở một số nước vùng Nam Mỹ hàng ngày trên các phương tiện thông tin đại chúng đều có chương trình tuyên truyền PCMT
1.1.1.3 Các nước Châu Âu
Năm 1975, Ý đã ban bố pháp lệnh về vấn đề ma túy Tháng 6 năm 1990, Quốc hội thông qua Luật chống ma túy và thành lập “Cục chống ma túy Trung ương” Các nước Tây Ban Nha, Pháp, Anh, Đức đều có pháp luật và cơ quan phụ trách vấn đề PCMT từ những năm 80
1.1.1.4 Các nước Châu Đại Dương
Năm 1987, Australia thực hiện luật PCMT, cho phép tịch thu tài sản những kẻ buôn bán ma túy, yêu cầu các cơ quan tài chính phải báo cáo tình hình giao dịch tiền
tệ của tội phạm ma túy Đầu những năm 1970, New Zealand thành lập cục tình báo
ma túy để thu thập và phân tích tình hình tội phạm ma túy nhằm thực hiện công tác PCMT Đến đầu những năm 1990, thành lập tổ công tác cấp Bộ chuyên đánh vào hoạt động buôn bán ma túy và điều hòa chống ma túy của các ngành có liên quan Chính phủ
1.1.1.5 Các nước Châu Phi
Ai Cập là nước rất tích cực và nghiêm minh trong công tác phòng chống tội
Trang 21pháp với mục đích buôn bán phải chịu tội tử hình và phạt tiền tùy tính chất, những kẻ buôn lậu ma túy sẽ bị nghiêm trị, nhẹ thì vào tù, nặng thì xử tử hình Trong các nước Châu Phi, Ai Cập là nước có nét đặc sắc riêng về công tác giáo dục PCMT Chính phủ đã phát động phong trào đài truyền hình tham gia PCMT nhằm vào đặc điểm yêu thích xem truyền hình của thanh thiếu nhi
Các nước khác như: Nigieria, Kênia, Nam Phi đã và đang phải đối mặt với vấn đề ma túy ngày càng nghiêm trọng Các quốc gia này cũng đã có luật pháp và cơ quan làm nhiệm vụ bài trừ ma túy
1.1.2 Hoạt động phòng chống ma túy ở Việt Nam
Vào năm Cảnh Trị thứ ba (1665) Nhà nước Phong kiến Việt Nam đã ban hành đạo luật đầu tiên về “Cấm trồng cây thuốc phiện” Đạo luật này nêu rõ: “Con trai, con gái dùng thuốc phiện để thỏa lòng dâm dật, trộm cướp dùng nó để nhòm ngó nhà người ta Trong thì kinh thành, ngoài thì thôn xóm, vì nó mà có khi hỏa hoạn, khánh kiệt tài sản Vì nó mà thân thể tàn tạ, người chẳng ra người” Đạo luật này còn quy định: “Từ nay về sau quan lại và dân chúng không được trồng hoặc mua bán thuốc phiện Ai đã trồng thì phải phá đi, người nào chứa giữ thì phải hủy đi” Năm Minh Mạng thứ nhất (1820) có quy định thêm những hình phạt cụ thể đối với tội phạm ma túy: gieo trồng, tàng trữ, buôn bán và nghiện hút thuốc phiện Năm Tự Đức thứ ba (1840), quy định hình phạt tử hình đối với tội phạm ma túy nghiêm trọng và chú trọng biện pháp điều trị cho người nghiện hút thuốc phiện Đặc biệt là vấn đề khen thưởng hậu hỉ cho những người có công phát hiện hoặc tố giác đúng tội phạm ma túy Trong thời kỳ đô hộ của thực dân Pháp (1858- 1954), công tác PCMT không được chú trọng Các cấp chính quyền bấy giờ không hề quan tâm đến việc phòng chống thuốc phiện, tình trạng gieo trồng, tàng trữ, buôn bán và nghiện hút thuốc phiện ở nước ta lại phát triển Chính vì vậy, tệ nạn nghiện hút thuốc phiện làm cho nhiều gia đình tan nát, nhiều người rơi vào hoàn cảnh túng quẫn, sức khoẻ bị hủy hoại, trí tuệ cạn kiệt
Sau thành công của Cách mạng tháng Tám (1945), mặc dù chính quyền cách mạng còn non trẻ song vấn đề đấu tranh với tệ nạn thuốc phiện đã được Chính phủ rất quan tâm: Chính phủ đã cấm việc trồng trọt, buôn bán và sử dụng thuốc phiện ngoài
Trang 22danh mục y tế Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra chỉ thị rõ ràng trong những nhiệm vụ cấp bách của Nhà nước: “Cuối cùng tôi đề nghị cấm hút thuốc phiện” Nghị định số 150/TTg của Chính phủ ban hành ngày 12/3/1952 ấn định chế độ tạm thời về thuốc phiện; ngày 22/12/1952, Chính phủ lại ban hành Nghị định mới số 225/TTg sửa đổi lại Nghị định 150/TTg Nhìn chung, đây là cơ sở pháp lý đầu tiên của Nhà nước Việt Nam về đấu tranh chống thuốc phiện nói chung Sau hiệp định Giơnevơ năm
1954, ở miền Bắc XHCN, tệ nạn trồng, hút thuốc phiện đã căn bản xóa bỏ được Trong khi đó, ở Miền nam thời Mỹ- Ngụy, nạn nghiện hút, tiêm chích ma túy rất phát triển ở Sài gòn, Huế, Nha Trang, Vũng Tàu, Cần Thơ
Sau ngày giải phóng Miền Nam thống nhất đất nước (năm 1975) Đảng và Nhà nước ta tiếp tục chủ trương bài trừ nạn trồng trọt, chế biến, sử dụng các chất ma túy Cuộc đấu tranh chống nạn ma túy đã đạt được nhiều kết quả từ năm 1975- 1984 Nhưng từ giữa thập kỷ 80, do việc buông lỏng quản lý của Nhà nước và gia đình nên
tệ nạn ma túy có cơ hội phát triển Vì thế, để kịp thời ngăn chặn tệ nạn này ngày 08/4/1991, Chính phủ ra Nghị quyết số 99/CT về việc vận động nhân dân không trồng cây anh túc
Trong những năm gần đây, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều văn bản để chỉ đạo công tác PCMT, cụ thể như: Chỉ thị số 33/CT-TW ngày 01/3/1994 của Ban chấp hành Trung ương Đảng chỉ rõ: “Phòng chống, khắc phục có hiệu quả các tệ nạn xã hội, trước hết là nạn mại dâm, nghiện ma túy, là một nhiệm vụ cấp bách hiện nay của Đảng và Nhà nước ta phải kiên quyết lãnh đạo thực hiện để có bước tiến bộ rõ rệt ngay từ năm 1994” Chỉ thị 06-CT/TW ngày 30/11/1996 của Ban chấp hành Trung ương Đảng về tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo công tác phòng chống và kiểm soát ma túy đã yêu cầu: “Các cấp ủy Đảng phải tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo đối với công tác phòng chống và kiểm soát ma túy, phải coi đây là nhiệm vụ thường xuyên nhằm từng bước ngăn chặn và đẩy lùi tình trạng sử dụng ma túy trong nhân dân ”
Văn kiện Đại hội IX của Đảng cũng đã nêu: “Phòng chống đẩy lùi các tệ nạn xã hội, đặc biệt là ma túy Thực hiện cơ chế, giải pháp đồng bộ về tuyên truyền, giáo dục, chữa trị, đào tạo nghề, tạo việc làm Xử lý nghiêm theo pháp luật những hành động gây tệ nạn xã hội”
Trang 23Theo báo cáo tổng kết của Ủy ban Quốc gia phòng chống AIDS và phòng chống tệ nạn ma túy, mại dâm năm 2012 cả nước hiện có khoảng trên 172.000 người nghiện, tăng 8,5% so với năm 2011 Số người sử dụng ma túy tổng hợp đang có xu hướng tăng Tình trạng nghiện ma tuý trong học sinh, sinh viên vẫn chưa giảm, theo báo cáo của Vụ Công tác Chính trị - Bộ Giáo dục và Đào tạo tính đến tháng 12 năm 2011: cả nước có 1.366 sinh viên, học sinh nghiện ma tuý gồm 822 HS,SV đang tiếp tục học, 544 HSSV đó bỏ học hoặc theo học để cai nghiện Mỗi năm số HSSV tiêu hết 50-60 tỷ đồng
Theo báo cáo của Sở Lao động và Thương binh xã hội tỉnh Tuyên Quang thì tổng số người nghiện ma túy có hồ sơ quản lý đến tháng 12 2012 ở Sơn Dương có trên 30% người nghiện đang ở độ tuổi thanh thiếu niên
Theo tổng kết của ngành Công an thì trong số những người nghiện ma túy phát hiện được ở Hà Nội có tới 70% ở độ tuổi dưới 30 Ngay trong những người nghiện lớn tuổi cũng dễ mắc nghiện từ khi họ còn ở tuổi thanh niên Theo thống kê tại Thành phố Hồ Chí Minh cho thấy năm 2000 độ tuổi phạm pháp từ 14 - 17 tuổi là 40% tổng
số vụ phạm pháp bị phát hiện có liên quan đến ma túy Ở độ tuổi này các em đang tập làm người lớn, muốn khẳng định mình nhưng lại chưa nhận thức đầy đủ về các vấn
đề, không có kinh nghiệm và không tự chủ được trước những cám dỗ
Trong những năm qua, nhiều nhà quản lý giáo dục đã dành khá nhiền thời gian nghiên cứu về tệ nạn ma túy để tìm ra các biện pháp quản lý hiệu quả nhất như:
- Tác giả Vũ Ngọc Bừng với cuốn: “Phòng chống ma túy trong nhà trường” (1997), tác giả Nguyễn Thị Miến với bài viết: “Vai trò của người vợ, người mẹ với
việc lôi kéo chồng ra khỏi ma túy” (1999), tài liệu bồi dưỡng “Những vấn đề về phòng chống tệ nạn ma túy” của Trung tâm giáo dục dạy nghề Bình Triệu (từ năm 1994 đến
2000), tác giả Phạm Ngọc Cường với cuốn “Sổ tay phòng chống tội phạm và tệ nạn
xã hội”
- Với đề tài nghiên cứu “Biện pháp giáo dục phòng chống ma túy ở một số trường trung học phổ thông tỉnh Lai Châu” (2003), tác giả Nguyễn Mạnh Chủ đã tập trung nghiên cứu, làm rõ thực trạng nhận thức và những vấn đề vi phạm ma túy của
HS trường THPT trên địa bàn tỉnh Lai Châu, trên cơ sở đó tác giả đã đề xuất một số biện pháp giáo dục PCMT học đường có tính khả thi trong tình hình hiện nay
Trang 24- Tác giả Dương Thị Kim Oanh cũng đã xác định được thực trạng nhận thức của học sinh THPT về vấn đề ma túy và chỉ ra những nguyên nhân dẫn đến tệ nạn nghiện ma túy trong HS trường THPT, qua kết quả nghiên cứu của đề tài: “Tìm hiểu thực trạng nhận thức về ma túy và nguyên nhân dẫn tới tệ nạn nghiện ma túy của học sinh trung học phổ thông” (1998)
Trong tạp chí “Phòng chống ma túy” của Ủy ban quốc gia PCMT xuất bản do Đại tá Bùi Xuân Biên, Trung tá-PGS.TS Nguyễn Xuân Yêm biên tập được phát hành hàng tháng Các tác giả đã nêu lên nhiều vấn đề có liên quan đến ma túy Nó cần thiết và
bổ ích cho công tác quản lý hoạt động giáo dục PCMT trong các nhà trường hiện nay
Ngoài ra, còn có nhiều khóa luận, luận văn thạc sĩ nghiên cứu về vấn đề này Hầu hết các công trình tập trung nghiên cứu các khía cạnh khác nhau của vấn đề ma túy Tuy nhiên, hiện nay trên địa bàn huyện Sơn Dương, trong phạm vi các trường THCS, chưa có đề tài nào nghiên cứu về công tác quản lý hoạt động giáo dục PCMT
Vì vậy, trong đề tài này, chúng tôi khảo sát thực trạng một số biện pháp quản lý hoạt động giáo dục PCMT ở một số trường THCS trên địa bàn huyện Sơn Dương
1.2 Một số khái niệm cơ bản liên quan đến vấn đề nghiên cứu
1.2.1.Khái niệm về quản lý
Quản lý là một hiện tượng XH có từ rất lâu đời, được nảy sinh trong quá trình lao động chung của loài người Quản lý vừa là khoa học, vừa là nghệ thuật, các nhà nghiên cứu đã có nhiều cách định nghĩa về khái niệm quản lý dựa trên những cách tiếp cận khác nhau
Theo từ điển Giáo dục học: Quản lý là hoạt động hay tác động có định hướng có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức
Trong thời đại công nghiệp các nhà quản lý phương Tây rất chú ý đến khía cạnh hiệu quả và kinh tế của hoạt động quản lý, Frederick.Winslow Taylor (1856- 1925)- nhà thực hành quản lý lao động và nghiên cứu quá trình lao động, cho rằng: Quản lý là biết được chính xác điều bạn muốn người khác làm và sau đó hiểu được rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất
Ở Việt Nam, các nhà nghiên cứu trong lĩnh vực khoa học quản lý và khoa học giáo dục đưa ra các định nghĩa khác nhau về quản lý như sau:
Trang 25Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội của hệ thống để đạt được mục tiêu đặt ra trong điều kiện biến động của môi trường
Các định nghĩa trên đã cho chúng ta thấy sự phong phú trong cách sử dụng thuật ngữ, trong cách diễn đạt, trong những cách tiếp cận khác nhau…Theo tác giả,
có thể hiểu khái niệm quản lý như sau: Quản lý là quá trình tác động có kế hoạch, có
tổ chức, định hướng, kiểm tra, điều chỉnh của chủ thể quản lý lên khách thể quản lý nhằm thực hiện những mục tiêu đã dự kiến
1.2.1.1 Bản chất quản lý
Đó chính là các hoạt động của chủ thể quản lý tác động lên các đối tượng quản
lý để đạt mục tiêu đã xác định Các hoạt động của chủ thể quản lý chính là việc dựa vào các nguồn lực, nhân lực để lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, thực hiện kế hoạch và kiểm tra đánh giá hiệu quả đạt được theo mục tiêu đã đề ra
1.2.1.2 Chức năng quản lý
Trong quản lý, chức năng quản lý là kết quả của quá trình phân công lao động
và là bộ phận tạo thành hoạt động quản lý tổng thể, được tách riêng và có tính chuyên môn hóa Các chức năng cơ bản của quản lý gồm: Kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra
Hiểu được khái niệm quản lý, chức năng quản lý giúp chúng ta có cái nhìn toàn diện hơn về công tác quản lý, đồng thời đây là cơ sở quan trọng để nắm được khái niệm quản lý trên một lĩnh vực cụ thể, chẳng hạn như quản lý công tác phòng chống tệ nạn ma tuý xâm nhập học đường tại các trường THCS
1.2.2 Khái niệm về quản lý nhà trường
1.2.2.1 Quản lý nhà trường
Quản lý nhà trường là một bộ phận trong quản lý giáo dục Nhà trường chính
là nơi tiến hành các quá trình giáo dục có nhiệm vụ trang bị kiến thức cho một nhóm dân cư nhất định, thực hiện tối đa một quy luật tiến bộ xã hội là: Thế hệ đi sau phải lĩnh hội được tất cả những kinh nghiệm xã hội mà các thế hệ đi trước đã tích lũy và truyền lại, đồng thời phải làm phong phú thêm những kinh nghiệm đó
Trong tác phẩm cơ sở lý luận của khoa học quản lý giáo dục, M.I.Kônđacốp đã viết: "Không đòi hỏi một định nghĩa hoàn chỉnh, chúng ta hiểu quản lý nhà trường
Trang 26(công việc nhà trường) là một hệ thống xã hội-sư phạm chuyên biệt Hệ thống này đòi hỏi những tác động có ý thức, có kế hoạch hướng đích của chủ thể quản lý đến tất cả các mặt của đời sống nhà trường, nhằm đảm bảo sự vận hành tối ưu về các mặt xã hội - kinh
tế, tổ chức - sư phạm của quá trình dạy học và giáo dục thế hệ đang trưởng thành"
Theo GS.TS Phạm Minh Hạc "Quản lý nhà trường là thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục, để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và từng học sinh"
Quản lý trực tiếp trường học bao gồm quản lý tổ chức giảng dạy, học tập và các hoạt động giáo dục khác theo mục tiêu, chương trình giáo dục, tài chính, nhân lực, hành chính và quản lý môi trường giáo dục
Trong quản lý và thực tiễn quản lý nhà trường gồm 2 loại:
Một là: Quản lý của chủ thể bên trên và bên ngoài nhà trường nhằm định
hướng cho nhà trường, tạo điều kiện cho nhà trường hoạt động và phát triển (Các cấp quản lý nhà nước và sự hợp tác, giám sát xã hội/ cộng đồng)
Hai là: Quản lý của chính chủ thể bên trong nhà trường, hoạt động tổ chức các
chủ trương, chính sách giáo dục thành các kế hoạch hoạt động, tổ chức chỉ đạo và kiểm tra để đưa nhà trường đạt tới những mục tiêu đã đề ra (thực hiện các chức năng quản lý của một tổ chức)
Tóm lại, quản lý nhà trường là quản lý giáo dục được thực hiện trong phạm vi xác định của một đơn vị giáo dục nhà trường, nhằm thực hiện nhiệm vụ giáo dục thế
hệ trẻ theo yêu cầu của xã hội
1.2.2.2 Quản lý trường THCS
* Vị trí, vai trò của trường THCS trong hệ thống giáo dục quốc dân
Tại Điều 4, Luật giáo dục 2005 quy định: Các cấp học và trình độ đào tạo của
Hệ thống giáo dục quốc dân gồm: Giáo dục mầm non có nhà trẻ và mẫu giáo; Giáo dục phổ thông có tiểu học, THCS, THPT; Giáo dục nghề nghiệp có trung cấp chuyên nghiệp và dạy nghề; Giáo dục đại học và sau đại học đào tạo trình độ cao đẳng, đại học, thạc sĩ, tiến sĩ
Vị trí của trường THCS được xác định trong Điều lệ trường trung học như sau:
“Trường THCS là cơ sở giáo dục phổ thông của hệ thống giáo dục quốc dân Trường
có tư cách pháp nhân, có tài khoản và con dấu riêng”
Trang 27Có thể nói, giáo dục THCS là một bậc học quan trọng trong Hệ thống giáo dục quốc dân Đây là cấp học nối tiếp chương trình giáo dục tiểu học và là bước chuẩn bị
để HS có thể tiếp tục học lên trung học phổ thông hoặc học các trường nghề, hay đi vào đời sống lao động
* Mục tiêu, nội dung, phương pháp giáo dục THCS
- Mục tiêu: Điều 27, Luật giáo dục năm 2005 quy định: Giáo dục THCS nhằm
giúp học sinh củng cố và phát triển những kết quả của giáo dục tiểu học; có học vấn phổ thông ở trình độ cơ sở và những hiểu biết ban đầu về kĩ thuật và hướng nghiệp để tiếp tục học ở THPT, trung cấp, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động”
- Nội dung: Điều 28, Luật giáo dục 2005 quy định: “ Giáo dục THCS phải
củng cố, phát triển những nội dung đã học ở tiểu học, bảo đảm cho học sinh có những hiểu biết phổ thông cơ bản về tiếng Việt, toán, lịch sử dân tộc, kiến thức khác về khoa học tự nhiên, pháp luật, tin học, ngoại ngữ; có những hiểu biết cần thiết tối thiểu vể kĩ thuật và hướng nghiệp”
- Phương pháp: Luật giáo dục 2005, Điều 28 quy định: “Phương pháp giáo
dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm; rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh”
* Người hiệu trưởng trường THCS
Ở trường THCS, Hiệu trưởng nhà trường là chủ thể quản lý Hiệu trưởng là người phụ trách cao nhất, chịu trách nhiệm trước Nhà nước, trước nhân dân và trước cấp trên trực tiếp về mọi HĐGD của nhà trường Luật Giáo dục 2005 quy định trách nhiệm của người Hiệu trưởng tại Điều 54 như sau: “Hiệu trưởng là người chịu trách nhiệm quản lý các hoạt động của nhà trường, do cơ quan nhà nước có thẩm quyền bổ nhiệm, công nhận”
1.2.3 Khái niệm về tệ nạn ma túy
1.2.3.1 Tệ nạn xã hội
Tệ nạn xã hội là những hoạt động do con người gây ra có ảnh hưởng đến sự sống của con người, phá vỡ quan hệ lành mạnh của xã hội Tệ nạn xã hội có thể liên
Trang 28quan đến ít người hoặc nhiều người Song chưa bao giờ tệ nạn xã hội xảy ra ở nhiều quốc gia ảnh hưởng đến sự sống, an ninh của con người có tính phổ biến do những
kẻ vô lương tâm tổ chức thực hiện như vài ba thập niên gần đây như: ma túy, mại dâm, buôn lậu, cờ bạc, hàng giả … Trong đó tệ nạn ma túy ngày càng phát triển và ngày càng có chiều hướng gia tăng
1.2.3.2 Ma túy là gì ?
Theo từ Hán - Việt: Ma là “tê”, tê liệt; túy là “ say” say mê Ma túy là tên gọi chung của chất gây nghiện có đặc tính:
- Làm cho người sử dụng luôn có ham muốn phải sử dụng bằng bất cứ giá nào
- Làm cho người sử dụng có khuynh hướng tăng liều dùng, ngày càng cao mới
đủ độ “ phê ”
- Làm người sử dụng trở thành nô lệ về vật chất lẫn tinh thần Nếu ngưng sẽ bị vật vã, đau đớn, thậm chí tính mạng bị đe doạ Do vậy khái niệm ma túy được các
chuyên gia nghiên cứu của Liên hiệp quốc cho rằng: “Ma túy là các chất hoá học có
nguồn gốc tự nhiên và nhân tạo khi xâm nhập vào cơ thể con người sẽ có tác động làm thay đổi tâm trạng, ý thức và trí tuệ, làm con người bị lệ thuộc vào chúng gây nên tổn thương cho cá nhân và cộng đồng”
Các chuyên gia nghiên cứu về ma túy của Việt Nam cho rằng: “Ma túy là các
chất có nguồn gốc tự nhiên hoặc tổng hợp Khi được đưa vào cơ thể của con người
nó có tác dụng làm thay đổi trạng thái ý thức và sinh lý của con người đó Nếu lạm dụng ma túy, con người sẽ lệ thuộc vào nó, khi đó gây tổn thương và nguy hại cho người sử dụng và cộng đồng ”
Theo Bộ luật hình sự được Quốc hội nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 21/12/1999, trong đó quy định các tội phạm ma túy đã chỉ rõ:
Ma túy bao gồm nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa, cao côca, lá, hoa, quả cây cần sa; lá cây côca; quả thuốc phiện khô; quả thuốc phiện tươi; herôin; côcain; các chất ma túy khác ở thể lỏng; các chất ma túy khác ở thể rắn
Luật phòng chống ma túy đã khái niệm các từ ngữ:
- Chất gây nghiện là chất kích thích hoặc ức chế thần kinh, dễ gây tình trạng nghiện đối với người sử dụng
Trang 29- Chất ma túy là các chất gây nghiện, chất hướng thần được quy định trong các danh mục được Chính phủ ban hành
- Chất hướng thần là chất kích thích, ức chế thần kinh hoặc gây ảo giác, nếu sử dụng nhiều lần có thể dẫn tới tình trạng nghiện đối với người sử dụng
Có nhiều cách phân loại ma túy, nhưng nhìn chung có một số dạng phân loại
cơ bản sau đây:
- Căn cứ vào nguồn gốc ma túy, ma túy được chia làm ba nhóm: ma túy tự nhiên, ma túy bán tổng hợp, ma túy tổng hợp
- Căn cứ vào mức độ gây nghiện và khả năng lạm dụng, ma túy được chia làm hai nhóm: ma túy có hiệu lực cao và ma túy có hiệu lực thấp
- Dựa vào tác dụng sinh lý trên cơ thể người, ma túy được chia làm 8 nhóm: Chất gây êm dịu, đam mê như thuốc phiện và các chế phẩm, cần sa và các sản phẩm của cần sa; côca cà các sản phẩm của coca, thuốc ngủ có tác dụng ức chế thần kinh; các chất kích thích gồm amphetamin và các dẫn xuất của nó, các chất gây ảo giác, dung môi hữu cơ và các chất thuốc xông…
- Căn cứ vào nguồn gốc của ma túy và cơ chế tác động tâm lý, các chuyên gia Liên hiệp quốc chia ma túy làm nhiều nhóm; ma túy là các chất từ cây thuốc phiện;
ma túy là các chất từ cây cần sa; ma túy lá các chất kích thích, ma túy là các chất ức chế, ma túy là các chất gây ảo giác
1.2.3.3 Các loại ma túy thường gặp
Thuốc phiện và các chất tương tự thuốc phiện:
- Thuốc phiện là nhựa được chích ra và chế biến từ quả cây thuốc phiện (còn gọi
là cây anh túc) Nhựa thuốc phiện được đóng gói dạng đặc, dẻo, màu nâu đen Từ nhựa này người ta chế biến để thu được morphine dưới dạng viên hoặc dạng nước đựng trong ống thuỷ tinh Heroin (còn gọi là bạch phiến) là chất được tạo ra từ morphin
- Một số chất hoàn toàn được tổng hợp có tác dụng tương tự morphin gọi là opiate tổng hợp Đó là các chất: mépéridine (dolosal, dolorgan, demerol) methadone (depridol), levorphanol (levo-dromoran) …
Các chất gây ảo giác gồm có: cần sa (còn gọi là bồ đà) LSD, mescaline,
psilocybin, phencyclidine …
Trang 30Các chất kích thích hệ thần kinh trung ương: Thường gọi là cocain, một chất
được trích ra từ là cây côca Ngoài ra còn có amphetamin và các chất sản xuất từ amphetamin Đặc trưng cho nhóm này là hồng phiến (còn được gọi là thuốc lắc) đây
là loại thuốc mạnh hơn heroin gấp nhiều lần Đây là loại biệt dược mới có tác dụng làm hưng phấn thần kinh, kích thích cơ thể tạo ảo giác Thuốc này có độc hại vì nó gây viêm gan, viêm thận, huỷ hoại tế bào thần kinh Sau một thời gian sử dụng, người nghiện sẽ rơi vào tình trạng quên lãng, rồi dần dần sẽ bị tâm thần Những người uống thuốc lắc nhiều lần sẽ dẫn đến tình trạng trụy tim mạch, mất nước và sẽ dẫn đến cái chết bất ngờ
Các chất ức chế hệ thần kinh trung ương: Là các loại thuốc an thần hay thuốc
ngủ bị lạm dụng thành các loại ma túy nguy hiểm, gồm có:
- Thuốc ngủ loại Barbiturates: barbital (veronal), phenobarbital (gardénal), amobarbital (amytal), seco – barbital (seconal) còn gọi là sì - cọt, immennoctal còn gọi I - mê, binoctal (Immenoctal + amobarbital) còn gọi là bi …
- Thuốc an thần loại Benzodianzepines: diazepam (Seduxen, valium), cholorddiazepxide (librium), ni – trazepam (mogadon) …
Các loại ma túy trên thường được dùng bằng cách hút, hít, chích,uống
- Hút: Người nghiện cho heroin vào trong điếu thuốc lá rồi hút; người nghiện
quấn lá cần sa (bồ đà) thành điếu rồi hút; hay sắt nhỏ lá cần sa như sợi thuốc lá rồi quấn thành điếu như điếu thuốc lá mà hút
- Hít: Người nghiện để heroin lên mặt trên tờ giấy bạc và dùng lửa đốt phía
dưới để heroin bốc thành khói trắng bay lên rồi hít khói đó hoặc nếu nghiện lâu thì có thể hít trực tiếp bột heroin vào trong mũi
- Chích: Người nghiện hoặc chỉ chích pha ma túy vào trong hũ nước, có khi
pha thêm những chất như mủ xương rồng, nước vô trong, thuốc vệ sinh phụ nữ, nước miếng, nước ngọt, thuốc đạn … vào rồi chích; các loại thuốc dạng nước như morphin, thuốc ngủ cũng thường dùng dưới dạng chích Giới mới nghiện thường dùng viên nén để uống
- Uống: Uống thuốc phiện, có khi uống sái (chất cặn) thuốc phiện cho qua cơn
nghiện còn gọi là “ xà thầu ” (từ lóng); hoặc uống các loại thuốc ngủ
Trang 31- Nhai: Một số lá khi nhai có thể tạo nên các ảo giác
Cá biệt có những trường hợp nghiện nặng, các mạch máu đã bị hư hại, người nghiện có thể rạch tay, rạch chân rồi chà xát ma túy vào nơi rạch để ma túy thấm vào trong máu
Bảng 1.1: Các chất ma túy thường gặp ở Việt Nam
1 Hoa cây thuốc phiện (Poppy) Moóc phin (Morphine)
2 Quả cây thuốc phiện (Poppy head) Cocain dạng bột (Pharmacopoelia cocaine)
3 Hoa Cooca (Coca flower) Cocain tinh thể màu trắng (White cocaine)
4 Lá Cooca (Coca leaf) Cocain bao bì đóng dấu Snow (tuyết)
5 Cây ma hoàng (nguồn chiết xuất
Ephidrine)
Cocain cục (crack)
6 Lá cây cần sa (Cannabis plants) Hêrôine
7 Lá cần sa khô (Ganija cannabis) Hêrôine màu nâu
8 Lá cần sa ép thành thỏi (buddha
stick cannabis)
Hêrôine và moóc phin
9 Thuốc phiện (Opium) Dolagan
10 Cây khát (Cây Cô ca tha) Methaphetamine (dạng bột)
11 Dầu cần sa MDMA – Ecstasy – kích thích
gây ảo giác
(Nguồn: Nghị định số 6767/2001/NĐ-CP ngày 01/10/2001 của Chính
phủ về việc ban hành danh mục chất ma túy và tiền chất)
1.2.4 Tác động xấu của ma túy đối với sự phát triển nhân cách học sinh THCS
1.2.4.1 Một vài đặc điểm tâm sinh lí của học sinh THCS
Lứa tuổi học sinh THCS bao gồm các em có độ tuổi từ 11 - 15 tuổi, các em được vào học ở trường trung học cơ sở (từ lớp 6 - 9) Lứa tuổi này có một vị trí đặc biệt và tầm quan trọng trong thời kỳ phát triển của trẻ em, vì nó là thời kỳ chuyển tiếp
từ tuổi thơ sang tuổi trưởng thành và được phản ánh bằng những tên gọi khác nhau như: “thời kỳ quá độ”, “tuổi khó bảo”, “tuổi khủng hoảng”, “tuổi bất trị”
- Đây là lứa tuổi có bước nhảy vọt về thể chất lẫn tinh thần, các em đang tách dần khỏi thời thơ ấu để tiến sang giai đoạn phát triển cao hơn (người trưởng thành)
Trang 32tạo nên nội dung cơ bản và sự khác biệt trong mọi mặt phát triển: thể chất, trí tuệ, tình cảm, đạo đức… của thời kỳ này
- Ở lứa tuổi thiếu niên có sự tồn tại song song “vừa tính trẻ con, vừa tính người lớn”, điều này phụ thuộc vào sự phát triển mạnh mẽ về cơ thể, sự phát dục, điều kiện sống, hoạt động…của các em
- Mặt khác, ở những em cùng độ tuổi lại có sự khác biệt về mức độ phát triển các khía cạnh khác nhau của tính người lớn - điều này do hoàn cảnh sống, hoạt động khác nhau của các em tạo nên Hoàn cảnh đó có cả hai mặt:
+ Những yếu điểm của hoàn cảnh kìm hãm sự phát triển tính người lớn: trẻ chỉ bận vào việc học tập, không có những nghĩa vụ khác, nhiều bậc cha mẹ có xu thế không để cho trẻ hoạt động, làm những công việc khác nhau của gia đình, của xã hội
+ Những yếu tố của hoàn cảnh thúc đẩy sự phát triển tính người lớn: sự gia tăng về thể chất, về giáo dục, nhiều bậc cha mẹ quá bận, gia đình gặp khó khăn trong đời sống, đòi hỏi trẻ phải lao động nhiều để sinh sống Điều đó đưa đến trẻ sớm có tính độc lập, tự chủ hơn
- Phương hướng phát triển tính người lớn ở lứa tuổi này có thể xảy ra theo các hướng sau:
+ Đối với một số em, tri thức sách vở làm cho các em hiểu biết nhiều, nhưng còn nhiều mặt khác nhau trong đời sống thì các em hiểu biết rất ít
+ Có những em ít quan tâm đến việc học tập ở nhà trường, mà chỉ quan tâm đến những vấn đề làm thế nào cho phù hợp với mốt, coi trọng việc giao tiếp với người lớn, với bạn lớn tuổi để bàn bạc, trao đổi với họ về các vấn đề trong cuộc sống,
để tỏ ra mình cũng như người lớn
+ Ở một số em khác không biểu hiện tính người lớn ra bên ngoài, nhưng thực
tế đang cố gắng rèn luyện mình có những đức tính của người lớn như: dũng cảm, tự chủ, độc lập …còn quan hệ với bạn gái như trẻ con
- Trong những giai đoạn phát triển của con người, lứa tuổi thiếu niên có một vị trí và ý nghĩa vô cùng quan trọng Đây là thời kỳ phát triển phức tạp nhất, và cũng là thời kỳ chuẩn bị quan trọng nhất cho những bước trưởng thành sau này Thời kỳ thiếu niên quan trọng ở chỗ: trong thời kỳ này những cơ sở, phương hướng chung của sự
Trang 33hình thành quan điểm xã hội và đạo đức của nhân cách được hình thành, chúng sẽ được tiếp tục phát triển trong tuổi thanh niên
- Hiểu rõ vị trí và ý nghĩa của giai đoạn phát triển tâm lý thiếu niên, giúp chúng ta có cách đối xử đúng đắn và giáo dục để các em có một nhân cách toàn diện
1.2.4.2 Tác động xấu của ma túy đối với học sinh THCS, gia đình và xã hội
Ma túy ảnh hưởng xấu đến mọi mặt đối với học sinh THCS:
* Đối với thể chất:
Sử dụng ma tuý dẫn tới sức khoẻ giảm sút nhanh chóng, cơ thể kém phát triển
so với sức phát triển của lứa tuổi, dễ mắc các loại bệnh nguy hiểm do ma tuý gây ra tổn hại đối với một số cơ quan não, hệ thống nội tiết, tiêu hóa, hệ tuần hoàn, hệ hô hấp, hệ thần kinh, các bệnh về da và HIV /AIDS, viêm gan siêu vi B, viêm gan siêu Như vậy nghiện ma túy sẽ dẫn tới suy nhược toàn thân, suy giảm sức lao động, nguy
cơ tử vong do sử dụng quá liều ma túy
Bảng 1.2: Các biểu hiện bên ngoài của con nghiện
(Nguồn: UBQuốc gia chống AIDS và phòng, chống tệ nạn ma túy, mại dâm )
* Đối với nhân cách:
Khi sử dụng, ma tuý kích thích hoạt động hoặc gây ảo giác làm cho người nghiện có những nhận thức và hành động không phù hợp với đạo đức, tập quán và pháp luật Trong những năm gần đây, tệ nạn nghiện ma tuý đã lan rộng trong thế hệ
Trang 34trẻ Học sinh THCS có nguy cơ bị lôi kéo rất cao vì kẻ xấu thường lợi dụng đặc điểm tâm sinh lí thích mới lạ, tò mò, muốn làm người lớn, dễ bị kích động, của các em
Ma tuý tác động xấu đến việc rèn luyện đạo đức, lối sống, sức khỏe, tri thức của hàng vạn thanh thiếu niên, ảnh hưởng đến tương lai của chính các em; học sinh nữ nghiện
ma túy dễ bị lợi dụng phải bán thân để có tiền sử dụng ma tuý
* Những ảnh hưởng đối với gia đình và người thân:
Gia đình sẽ buồn khổ vì trong nhà có người nghiện Công việc làm ăn của gia đình bị ảnh hưởng vì khách hàng thiếu tín nhiệm; khánh kiệt về kinh tế, mất mát tài sản, ảnh hưởng về mặt tài chính vì người nghiện phung phí tiền bạc, của cải để mua
ma túy Gia đình luôn bất hòa, hạnh phúc gia đình tan vỡ nếu vợ hay chồng bị nghiện
ma túy, con cái bị bỏ bê Tai tiếng, xấu hổ với hàng xóm láng giềng và bà con họ hàng vì trong nhà có người nghiện
* Những ảnh hưởng đối với xã hội: Nghiện ngập là đầu mối dẫn đến những tệ
nạn xã hội Để thỏa mãn cơn nghiện, người nghiện không từ những hành vi nào để kiếm tiền Những hành vi phạm pháp như: trộm cắp, móc túi, giật đồ … thậm chí có thể giết người; theo kết quả điều tra xã hội học cho thấy 80% số người nghiện ma tuý trả lời: sẵn sàng làm tất cả mọi việc kể cả phạm tội để có tiền thoả mãn nhu cầu ma tuý Do tác hại của ảo giác của một số loại ma túy, người nghiện có những hành vi hung hãn, gây hấn, quậy phá gây mất trật tự an ninh xã hội hoặc có khi nổi máu: “anh hùng xa lộ” đua xe lạng lách gây tai nạn giao thông Ma túy còn làm cho trật tự, an toàn xã hội bị đe dọa, tệ nạn xã hội gia tăng, các loại bệnh xã hội lan tràn Ma túy làm hư hỏng thế hệ trẻ, những người sa chân vào con đường nghiện ngập Như vậy,
ma túy cũng ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế, chính trị, văn hoá, quốc phòng
1.2.4.3 Một số dấu hiệu để có thể phát hiện các em đang sử dụng ma túy
- Hút bồ đà: có mùi khét, khó ngửi
- Hít heroin: các em để heroin lên trên miếng giấy bạc, đốt lửa ở dưới cho khói trắng bay lên rồi hít khói bằng một ống nhỏ ngậm trong miệng
- Chích ma túy cho nhau
- Về dấu hiệu tiêm chích ma túy, có thể nhìn thấy dấu kim ở các mạch máu trên
mu bàn tay, vùng cổ tay, mặt trên khuỷu tay, hay mặt trong mắt cá chân của các em
Trang 35- Dấu hiệu huỷ hoại thân thể: dùng dao, vật bén rạch hoặc dùng đầu thuốc lá đốt cổ tay, khuỷu tay để lại sẹo
- Khi thiếu ma túy có thể có dấu hiệu ngáp vặt, chảy nước mắt, nước mũi, đau nhức vật vã, bồn chồn sợ hãi, tìm mọi cách để có ma túy
- Cần lưu ý rằng việc dùng các loại thuốc thử nước tiểu không chắc là phát hiện được ma túy Nếu thử nước tiểu cách xa cữ dùng ma túy cuối cùng thì không phát hiện được Thử nước tiểu không phải là cách phát hiện được tất cả các loại ma túy Do đó thử nước tiểu mà không phát hiện được ma túy cũng không chắc là không
có nghiện ma túy Chỉ xem đây là biện pháp bổ sung cho chắc chắn
Ngoài ra, khi mới sử dụng ma túy, các em thường tìm mọi cách để giấu người thân, gia đình hành vi dùng ma túy của mình Khi đã bị nghiện các em thường có những biểu hiện như:
- Giờ giấc thất thường, hay ra khỏi nhà vào những giờ cố định hoặc tranh cãi, thuyết phục người trong nhà để được tự do hơn trong giờ giấc sinh hoạt, thoát khỏi sự quản lý của gia đình
- Tính tình trở nên hung dữ, quậy phá, có những lúc các em hưng phấn, cười nói vô cớ, nói nhiều những câu chuyện cứ lặp đi lặp lại Có lúc ủ rũ, uể oải, hay ngáp vặt, ít chịu tiếp xúc với người thân trong gia đình, ít quan tâm đến vệ sinh cá nhân
- Không giao tiếp với người nhà, trốn vào một góc riêng biệt để lơ mơ, lim dim tận hưởng cơn phê ma túy
- Dễ bị kích động, dễ bị tự ái Các em có những biểu hiện tranh cãi, đôi khi thuyết phục những người trong gia đình để đạt được những nhu cầu cá nhân
- Hay nói dối về việc sắp xếp thời gian làm việc cá nhân
- Học hành sa sút, bê trễ không chú ý nghe giảng bài, năng lực hoạt động ngày càng giảm, không còn tinh khôn và có thể dẫn đến nghỉ học hoặc bỏ học
- Buồn ngủ, ngáp dài, uể oải như người mất ngủ, mất sự linh hoạt tinh thông,
lơ đãng thường ngủ gật trong lớp
- Mắt đỏ lờ đờ do bị kích thích
- Thiếu tập trung trong công việc, lười biếng lơ là với các sở thích trước đây
- Ngại giao tiếp với người thân, thích ở một mình riêng biệt
Trang 36- Thay đổi thói quen sinh hoạt, thức khuya, dậy muộn, ăn uống bất thường
- Nhu cầu sử dụng tiền ngày một tăng, thường xin tiền nhiều nhưng không sử dụng vào những lý do chính đáng
Bảng 1.3: Những biểu hiện khi nghiện một số loại ma túy thường gặp
- Hưng phấn, kích động, mất tự chủ, dễ sinh sự, đánh nhau, tự huỷ hoại thân thể
- Mặt đỏ, mắt đỏ, người nóng, uống nhiều nước
- Xuất hiện các cố tật: Nhổ râu, cắn móng tay, nặn mụn …
3 Cần sa
- Buồn chán, kém tập trung tư tưởng, bồn chồn cố tìm mọi cách để ra khỏi nhà,
- Ngang bướng, phản ứng với tất cả những người trong nhà
- Nhức đầu, vã mồ hôi, mặt phờ phạc, tim đập mạnh
- Thích nghe nhạc mạnh, nói năng, ca hát huyên thuyên, cười khóc tự nhiên, tự huỷ hoại thân thể
- Mặt đỏ, mắt đỏ, mùi khét đặc biệt ở gáy, trên tóc, miệng
4
Heroin
- Nóng nảy, bồn chồn hay bẻ tay, nói lý lẽ hoặc làm bất cứ điều gì để có thuốc
- Ngáp vặt, đau bụng, chảy nước mắt, vã mồ hôi, mặt bơ phờ, đồng tử nở lớn
- Thích êm dịu, trầm tư
- Thích quan hệ tình dục tập thể
- Mắt long lanh, mặt hơi nóng, mặt ngây dại, uống nhiều nước, đồng tử teo nhỏ lại
Trang 371.3 Quan điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước về phòng, chống ma túy
1.3.1 Đảng và Nhà nước với công tác giáo dục phòng, chống ma túy
Sự nghiệp đổi mới do Đảng ta khởi xướng, lãnh đạo đã và đang tạo những chuyển biến đáng khích lệ Nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa làm cho mọi mặt đời sống xã hội ngày càng khởi sắc, cuộc sống của đa số người dân được nâng lên cả về vật chất lẫn tinh thần
Bên cạnh những mặt tích cực đó, cũng đã nảy sinh nhiều tiêu cực xã hội; lối sống thực dụng chạy theo đồng tiền, đặc biệt là tệ nạn xã hội đang là vấn đề nhức nhối, trong đó hiểm họa ma túy diễn ra phức tạp, gây lo lắng trong nhân dân Để ngăn ngừa, đẩy lùi tệ nạn ma túy, bên cạnh vai trò của gia đình thì vai trò của Đảng và Nhà nước thật sự rất quan trọng bởi nhà nước ban hành các quy phạm pháp luật làm cơ sở pháp lý điều chỉnh các quan hệ xã hội liên quan đến việc phòng, chống ma túy
Trước tình hình ma túy gia tăng về số lượng và ngày càng trở thành hiểm hoạ nhất là khi ma túy đã xâm nhập vào trường học tạo nên mối nguy hiểm cho an ninh
xã hội và sự tồn vong của nòi giống Vì vậy, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương và biện pháp kiên quyết đấu tranh ngăn chặn tệ nạn này Ngày 29/01/1993
Chính phủ ban hành Nghị quyết số 06/CP về tăng cường chỉ đạo công tác phòng,
chống và kiểm soát ma túy, tiếp đó ngày 30 tháng 11 năm 1996 Bộ Chính trị Ban
Chấp hành Trung ương Đảng ra Chỉ thị 06 - CT/TW về tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo
công tác phòng chống và kiểm soát ma túy Năm 1997, Thủ tướng Chính phủ đã
quyết định thành lập "Ủy ban quốc gia phòng chống ma túy" gồm 14 Bộ, Ngành là
thành viên để tiếp tục lãnh đạo, điều hành công tác phòng, chống ma túy trong tình hình mới Năm 2000, Ủy ban Quốc gia phòng, chống HIV/AIDS và phòng, chống tệ nạn ma túy, mại dâm được thành lập và Luật Phòng chống ma túy đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua Ngày 30 tháng 11 năm 2005,
Ban Bí thư Trương ương Đảng đã ban hành Chỉ thị số 54/CT-TW về tăng cường lãnh
đạo công tác phòng, chống HIV/AIDS trong tình hình mới Ngày 30/11/2005 Ban Bí
thư Trung ương Đảng (khóa IX) cũng đã ra Thông báo số 27-TB/TW về việc sơ kết
Trang 38Chỉ thị số 54-CT/TW, về "Tăng cường lãnh đạo công tác phòng, chống HIV/AIDS trong tình hình mới"; ngày 26 tháng 3 năm 2008 Bộ Chính trị (khóa X) ra Chỉ thị số
21/CT-TW về việc tiếp tục tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo công tác phòng chống và
kiểm soát ma túy trong tình hình mới, đồng thời Quốc hội cũng đã sửa đổi bổ sung
một số điều của Bộ Luật hình sự có liên quan đến tội phạm ma túy, quy định những hình phạt nghiêm khắc nhất dành cho tội phạm này xuất phát từ những đòi hỏi bức bách của tình hình công tác phòng, chống ma túy của nước ta; ngày 27/6/2011, Chính
phủ đã ban hành Quyết định số 1101/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược quốc gia phòng,
chống và kiểm soát ma túy ở Việt Nam đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030;
ngày 31/8/2012, Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1203/QĐ-TTg phê duyệt
Chương trình mục tiêu quốc gia phòng, chống ma túy giai đoạn 2012 – 2015; ngày
21/5/2013, Thủ tướng Chính phủ tại công văn số 692/TTg-KGVX về việc tổ chức các
hoạt động trong “Tháng hành động phòng, chống ma tuý”, “Ngày Thế giới phòng,
chống ma tuý” và “Ngày toàn dân phòng, chống ma tuý – 26 tháng 6”
Đấy chính là những công cụ pháp lý quan trọng và toàn diện để huy động sức mạnh của Nhà nước và xã hội thực hiện cuộc đấu tranh phòng, chống tệ nạn ma túy đạt hiệu quả cao Mặc dù vẫn còn những điểm tồn tại hạn chế nhất định, nhưng đến nay công tác phòng chống ma túy đã đạt được những kết quả quan trọng trong các lĩnh vực, trong đó có đấu tranh chống tội phạm ma túy trong học đường
1.3.2 Bộ Giáo dục và Đào tạo với công tác giáo dục phòng, chống ma túy
Học sinh ngày nay là những công dân tương lai của đất nước Ngay từ lúc này
họ đã có nhiệm vụ thực hiện đầy đủ pháp luật trong đó có chiến dịch phòng, chống
và kiểm soát ma tuý, phòng chống tệ nạn xã hội Giáo dục phòng chống ma túy trong nhà trường có tác dụng nâng cao sức đề kháng của học sinh, sinh viên trước một tệ nạn xã hội đang phát triển, từ đó hình thành ở các em tâm lý đúng đắn trước những vấn đề liên quan đến việc phòng chống ma túy
Ngày 11 tháng 11 năm 1996, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ra Chỉ thị 24/CT-GD-ĐT trong đó chỉ rõ: cần phải chặn đứng, không cho tệ nạn ma túy lây lan đến trường học, phấn đấu đạt mục tiêu "Trường học không có ma túy"; ngày 23/10/2009, Bộ Giáo dục và Đào tạo có Thông tư Số: 31/2009/TT-BGDĐT Ban hành
Trang 39Quy định về công tác phòng, chống tệ nạn ma túy tại các cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân
Thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại công văn số 692/TTg-KGVX ngày 21/5/2013 về việc tổ chức các hoạt động trong “Tháng hành động phòng, chống
ma tuý”, “Ngày Thế giới phòng, chống ma tuý” và “Ngày toàn dân phòng, chống ma tuý – 26 tháng 6”; Bộ Giáo dục và Đào tạo đề nghị các sở giáo dục và đào tạo và các nhà trường chỉ đạo, tổ chức thực hiện đợt cao điểm về phòng, chống ma tuý trong trường học từ ngày 01/6/2013 đến ngày 30/9/2013, tập trung vào một số nhiệm vụ, giải pháp sau đây:
- Tăng cường công tác giáo dục, tuyên truyền để học sinh, sinh viên nhận biết
rõ hiểm hoạ của tệ nạn ma tuý, nhất là tác hại của các loại ma tuý tổng hợp, thuốc tân dược có chứa chất gây nghiện thông qua các hoạt động ngoài giờ lên lớp, ngoại khoá,
“Tuần sinh hoạt công dân – học sinh, sinh viên”
Chú trọng việc lồng ghép tuyên truyền phòng, chống ma tuý với các hoạt động thể thao, văn nghệ và các hoạt động phong trào khác trong học sinh, sinh viên
Tổ chức mít tinh, triển lãm tranh cổ động về phòng, chống ma tuý, thi tìm hiểu về đề tài phòng, chống ma tuý; toạ đàm, tập huấn, nói chuyện chuyên đề về phòng, chống
ma tuý,…nhằm đưa công tác giáo dục, tuyên truyền phòng, chống ma tuý vào chiều sâu, thiết thực và hiệu quả
- Vận động học sinh, sinh viên, cán bộ, nhà giáo tham gia phong trào phát hiện, tố giác tội phạm, tệ nạn ma tuý và tự giác khai báo về tình trạng sử dụng ma tuý trái phép trong học sinh, sinh viên Tổ chức đường dây nóng để tiếp nhận, xử lý thông tin của học sinh, sinh viên, cán bộ, nhà giáo và nhân dân có liên quan đến công tác phòng, chống ma tuý của nhà trường
- Tổ chức tốt việc khám sức khoẻ khi tuyển sinh, khám sức khoẻ định kỳ cho học sinh, sinh viên; phối hợp với cơ quan chức năng ở địa phương tiến hành kiểm tra, xét nghiệm ngẫu nhiên việc sử dụng ma tuý và xét nghiệm đột xuất khi cần thiết đối với học sinh, sinh viên nhằm rà soát, phát hiện học sinh, sinh viên sử dụng trái phép chất ma tuý
Trang 40- Tổ chức cho học sinh, sinh viên, tập thể, đơn vị ký cam kết không liên quan đến tệ nạn ma tuý và giao ước thi đua thực hiện tốt Chương trình mục tiêu quốc gia phòng chống ma tuý giai đoạn 2012-2015 vào dịp đầu năm học 2013-2014
- Phối hợp chặt chẽ với địa phương, gia đình để quản lý học sinh, sinh viên trong dịp nghỉ hè; Xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh, tạo điều kiện để học sinh, sinh viên, cán bộ, nhà giáo tham gia thường xuyên vào các hoạt động câu lạc
bộ, văn nghệ, thể thao nhằm nâng cao đời sống tinh thần, tránh xa tệ nạn ma tuý
Trên cơ sở đó giúp cho học sinh có thái độ và hành vi đúng đắn đối với việc lựa chọn một cuộc sống lành mạnh, đối với những vấn đề có liên quan đến TNMT: Không dùng ma túy, không sử dụng ma túy dưới bất cứ hình thức nào, không tham gia sản xuất, vận chuyển, tàng trữ, buôn bán ma túy, không rủ rê, lôi kéo, tổ chức cho người khác sử dụng ma túy Tích cực vận động những người thân trong gia đình, bạn
bè tham gia PCMT
1.4 Quản lý hoạt động giáo dục phòng chống ma túy trong các trường THCS
1.4.1 Mục tiêu, nội dung, hình thức, phương pháp GDPCMT trong trường học
1.4.1.1 Mục tiêu giáo dục phòng chống ma túy trong trường học
Giáo dục phòng chống ma túy trong trường học giúp cho học sinh có hiểu biết
về ma túy và chất gây nghiện; xác định được nguyên nhân nghiện ma túy và các chất gây nghiện; biết tác hại của việc sử dụng ma túy, các chất gây nghiện, nhận biết rõ hiểm hoạ của tệ nạn ma tuý, nhất là tác hại của các loại ma tuý tổng hợp, thuốc tân dược có chứa chất gây nghiện thông qua các hoạt động ngoài giờ lên lớp, ngoại khoá,
“Tuần sinh hoạt công dân – học sinh, sinh viên”; trình bày được những qui định của
nhà trường và của Bộ Giáo dục và Đào tạo đối với việc sử dụng ma túy; xác định được những hành vi phạm pháp liên quan đến ma túy theo qui định của pháp luật; rèn luyện kỹ năng phòng tránh ma túy; ủng hộ tham gia các hoạt động phòng chống ma túy phù hợp với độ tuổi
Để làm tốt công tác giáo dục phòng chống ma túy, người giáo viên cần gương mẫu chấp hành các chủ trương của Đảng, Nhà nước, Bộ Giáo dục và Đào tạo về PCMT; có ý thức tìm hiểu, nghiên cứu các kiến thức về nội dung, phương pháp, các hình thức tổ chức giáo dục PCMT để vận dụng vào trong công tác giáo dục PCMT