1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu hoạt động sinh kế nhằm phát triển sản xuất nông nghiệp tại xã Kiu Lư, huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn

101 561 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 101
Dung lượng 4,01 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Và để thực hiện tốt chính sách trên thì một công việc hết sức quan trọng là nghiên cứu các hoạt động sinh kế, các phương thức sống của người dân nhằm giúp cho nhà hoạch định chính sách c

Trang 1

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Dương Văn Sơn

Thái Nguyên, năm 2013

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng: Đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các

số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác và chưa từng sử dụng để bảo vệ một học vị nào

Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện đề tài nghiên cứu

và hoàn thành luận văn đều đã được cảm ơn, các thông tin trích dẫn chính xác

và đã được chỉ rõ nguồn gốc

Thái Nguyên, tháng 10 năm 2013

Tác giả

Nguyễn Đức Quang

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong thời gian nghiên cứu và thực hiện luận văn này, tôi đã nhận được

sự giúp đỡ nhiệt tình của các cơ quan, các tổ chức và các cá nhân Tôi xin bày

tỏ lời cảm ơn sâu sắc nhất tới tất cả các tập thể, cá nhân đã tạo điều kiện giúp

đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện nghiên cứu luận văn này

Trước hết tôi xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Phòng Quản lý Đào tạo sau Đại học của nhà trường cùng các thầy cô giáo, những người đã trang bị kiến thức cho tôi trong suốt quá trình học tập

Với lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất, tôi xin trân trọng cảm ơn thầy giáo PGS.TS Dương Văn Sơn, người Thầy đã trực tiếp chỉ bảo, hướng dẫn khoa học và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu, hoàn thành luận văn này

Tôi xin trân trọng gửi lời cảm ơn đến các đồng chí lãnh đạo UBND xã Kim Lư, huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn và các hộ nông dân trên địa bàn các xã

đã giúp đỡ tôi về thông tin, số liệu trong suốt quá trình thực hiện nghiên cứu luận văn

Do thời gian nghiên cứu có hạn, luận văn của tôi chắc hẳn không thể tránh khỏi những sơ suất, thiếu sót, tôi rất mong nhận đuợc sự đóng góp của các thầy cô giáo cùng toàn thể bạn đọc

Xin trân trọng cảm ơn!

Thái Nguyên, ngày tháng năm 2013

Tác giả

Nguyễn Đức Quang

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

i 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

1.3 Ý nghĩa của đề tài 3

1.3.1 Ý 3

1.3.2 Ý nghĩa trong thực tiễn 3

Chương 1:TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

1.1 Cơ sở lý luận 4

1.1.1 Nông nghiệp 4

1.1.2 Hộ gia đình, nông hộ và thu nhập của nông hộ 5

1.1.3 Sinh kế 8

1.2 Cơ sở thực tiễn 20

1.2.1 Giới thiệu về dự án 4FGF 20

1.2.2 Tình hình nghiên cứu về sinh kế 24

Chương 2: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27

2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 27

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 27

2.1.2 Phạm vi nghiên cứu 27

2.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 27

2.2.1 Địa điểm 28

2.2.2 Thời gian tiến hành 28

2.3 Nội dung nghiên cứu 28

28

2.3.2 Phân tích thực trạng ế nông nghiệp của người dân địa phương 28

2.3.3 Nghiên cứu cơ cấu thu nhập sinh kế từ các hoạt động sinh kế của người dân địa phương 28

Trang 5

2.3.4 Phân tích thời gian giành cho các hoạt động sinh kế của người dân

địa phương 29

2.3.5 Đề xuất các giải pháp phát triển sinh kế, thúc đẩy sản xuất nông nghiệp cho cộng đồng địa phương 29

2.4 Phương pháp nghiên cứu 29

2.4.1 Phương pháp thu thập thông tin thứ cấp 29

2.4.3 Phương pháp thu thập thông tin sơ cấp 29

2.4.5 Phương pháp xử lý phân tích số liệu 33

Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 34

3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của xã Kim Lư 34

3.1.1 Đánh giá điều kiện tự nhiên 34

3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 38

3.1.3 Cơ cấu cây trồng chính của xã Kim Lư 44

3.2.1 Thông tin về hộ và phân loại hộ của các hộ 45

3.3 Cơ cấu thu nhập sinh kế của người dân địa phương 59

3.3.1 Thu nhập về nông nghiệp 59

3.3.2 Thu nhập về phi nông nghiệp 62

3.3.3 Thu nhập về chăn nuôi của các hộ 63

3.3.4 Thu nhập về trồng trọt của các hộ 66

3.4 Thời gian giành cho hoạt động sinh kế của người dân địa phương 69

3.4.1.Thời gian dành cho hoạt động nông nghiệp 69

3.4.2.Thời gian dành cho hoạt động phi nông nghiệp 71

3.5 Giải pháp phát triển sinh kế cho cộng đồng địa phương 74

3.5.1 Giải pháp chung 74

3.5.2 Giải pháp cụ thể đối với xã Kim Lư 75

77

1 Kết luận 77

2 Khuyến nghị 78

80

Trang 6

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

3PAD : Dự án quan hệ đối tác vì người nghèo trong phát triển

nông lâm nghiệp tỉnh Bắc Kạn 4FGF : Dự án lương thực, thức ăn chăn nuôi, nhiên liệu và cây lấy sợi DPPR : Dự án phân cấp giảm nghèo tỉnh Quảng Bình

IFAD : Quỹ Quốc tế về phát triển nông nghiệp

NIAH : Viện Chăn nuôi quốc gia

PTD : Phát triển kỹ thuật có sự tham gia

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU

Bảng 2.1: Các thôn được lựa chọn trong tổng số các thôn của xã Kim Lư 30

Bảng 3.1: Tình hình sử dụng đất đai của xã Kim Lư năm 2011 35

36

Bảng 3.3 Thống kê vật nuôi của xã Kim Lư năm 2012 40

Bảng 3.4 Dân số và lao động của xã Kim Lư 42

Bảng 3.5 Thành phần dân tộc ở xã Kim Lư 43

Bảng 3.6 Diện tích, năng suất, sản lượng một số cây trồng chính năm 2012 44

Bảng 3.7: Một số thông tin chung về hộ của xã Kim Lư 45

Bảng 3.8: Cấu trúc dƯân tộc trong các hộ điều tra phân theo các thôn 46

Bảng 3.9: Cấu trúc hộ điều tra theo các thôn và phân loại hộ 47

Bảng 3.10: Trung bình diện tích canh tác theo nhóm hộ (ha/hộ) 48

Bảng 3.11: Trung bình diện tích đất rừng theo nhóm hộ (ha/hộ) 49

Bảng 3.12 Sinh kế cây trồng phân theo nhóm kinh tế hộ 50

51

53

Bảng 3 54

Bảng 3.16 55

56

Bảng 3.18: Trung bình thu nhập (%) về nông nghiệp theo thôn và nhóm hộ 59

Bảng 3.19: Thu nhập nông nghiệp (%) theo thôn 60

Bảng 3.20: Thu nhập từ nông nghiệp, phi nông nghiệp (%) theo thôn 61

Bảng 3.21: Thu nhập (%) về phi nông nghiệp theo thôn và nhóm hộ 62

Bảng 3.22: Thu nhập (%) về chăn nuôi theo thôn và nhóm hộ 63

Bảng 3.23: Thu nhập (%) về vật nuôi cuả nông hộ 65

Bảng 3.24: Thu nhập về trồng trọt (%) theo thôn và nhóm hộ 66

Bảng 3.25: Thu nhập (%) từ các cây trồng chủ yếu tại Kim Lư 67

Trang 8

Bảng 3.26: Bình quân số tháng dành cho hoạt động nông nghiệp toàn

bộ thời gian trong 12 tháng qua của các thành viên gia đình 69 Bảng 3.27: Bình quân số tháng giành cho hoạt động nông nghiệp một

phần thời gian trong 12 tháng vừa qua của các thành viên gia đình 71 Bảng 3.28: Bình quân số tháng giành cho hoạt động phi nông nghiệp toàn

bộ thời gian trong 12 tháng qua của các thành viên gia đình 72 Bảng 3.29:Bình quân số tháng giành cho hoạt động phi nông nghiệp

bán thời gian trong 12 tháng qua của thành viên gia đình 73

Trang 9

DANH MỤC CÁC ĐỒ THỊ, HÌNH

Hình 2.1: Khung sinh kế bền vững 9

Hình 2.2: Tài sản của người dân 11

Biểu đồ 3.1: Cây trồng phân theo nhóm kinh tế hộ 50

52

53

tính 56

57

Trang 10

MỞ ĐẦU

Xóa đói giảm nghèo từ lâu đã trở thành mối quan tâm hàng đầu của Đảng và nhà nước ta, vì thế có rất nhiều chính sách tháo gỡ khó khăn để giúp người dân thoát nghèo Và để thực hiện tốt chính sách trên thì một công việc hết sức quan trọng là nghiên cứu các hoạt động sinh kế, các phương thức sống của người dân nhằm giúp cho nhà hoạch định chính sách cũng như các tổ chức muốn giúp đỡ cho cuộc sống người dân một cái nhìn đầy dủ và toàn diện

để có những biện pháp tác động hợp lý

Trong những năm vừa qua, Việt Nam đã đặt được những thành tựu đáng

kể trong công tác xóa đói giảm nghèo Hiện nay, theo chuẩn nghèo quốc gia

tỷ lệ hộ nghèo toàn quốc đã giảm từ 58% năm 1993 xuống còn 14,8% năm 2007; đến năm 2008, tỷ lệ nghèo đói cả nước giảm xuống còn 13% Tuy nhiên, cùng với những thành tựu đã đạt được trong cả nước, một số địa phương vẫn còn tỷ lệ hộ nghèo khá cao Một vấn đề quan trọng đặt ra là: Mặc

dù đã được sự quan tâm của Đảng và nhà nước, sự nỗ lực của chính quyền nhân dân địa phương nhưng tỷ lệ đói nghèo của một số cộng đồng dân cư vẫn cao, kinh tế tăng trưởng chậm, trình độ dân trí thấp, cơ sở hạ tầng yếu kém Vì vậy, để giảm nghèo, một trong những lựa chọn được đề cập là cải thiện sinh

kế, phát triển sản xuất nông nghiệp bằng các can thiệp và hỗ trợ từ bên ngoài với sự nỗ lực của các yếu tố bên trong cộng đồng Để có chiến lược cải thiện, phát triển sinh kế và phát triển sản xuất, rõ ràng là cần phải có đầy đủ các thông tin về hiện trạng các hoạt động sinh kế của cộng đồng, phân tích cơ cấu thu nhập trong các hoạt động sinh kế cũng như thời gian mà người nông dân

đã bỏ ra cho các hoạt động sinh kế này

Trang 11

khăn, dân trí của người dân còn thấp, các điều kiện về cơ sở hạ tầng, giao thông đi lại gặp nhiều khó khăn, diện tích đất canh tác, vốn, khoa học kỹ thuật

, ba

, và có những khuyến nghị giúp người dân ở

hoạt động sinh kế nhằm phát triển sản xuất nông nghiệp tại xã Kim Lư, huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn”

2 Mục tiêu nghiên cứu

Đề tài nhằm các mục tiêu sau đây:

xuất ngành chăn nuôi

- Nghiên cứu cơ cấu thu nhập sinh kế từ các hoạt động sinh kế của người dân địa phương

- Phân tích thời gian giành cho các hoạt động sinh kế của người dân địa phương và các thành viên hộ gia đình

- Đề xuất các giải pháp phát triển sinh kế, thúc đẩy sản xuất nông nghiệp cho cộng đồng địa phương miền núi

Trang 12

1.3 Ý nghĩa của đề tài

-;

trở trong tiếp cận các nguồn vốn của người dân xã Kim Lư;

- Bổ sung những kiến thức về xác định nguyên nhân nghèo đói; Có được cái nhìn tổng thể về thực trạng nghèo đói của cộng đồng người dân trên địa bàn Kim Lư;

Trang 13

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Cơ sở lý luận

1.1.1 Nông nghiệp

Nông nghiệp là một trong những ngành sản xuất vật chất chủ yếu của nền kinh tế nhằm cung cấp lương thực và các sản phẩm thiết yếu cho con người và xã hội Nông nghiệp là một trong những ngành kinh tế quan trọng và phức tạp Nó không chỉ là một ngành kinh tế đơn thuần mà còn là hệ thống sinh học - kỹ thuật, bởi vì một mặt cơ sở để phát triển nông nghiệp là việc sử dụng tiềm năng sinh học - cây trồng, vật nuôi Chúng phát triển theo qui luật sinh học nhất định con người không thể ngăn cản các quá trình phát sinh, phát triển và diệt vong của chúng, mà phải trên cơ sở nhận thức đúng đắn các qui luật để có những giải pháp tác động thích hợp với chúng Mặt khác quan trọng hơn là phải làm cho người sản xuất có sự quan tâm thoả đáng, gắn lợi ích của

họ với sử dụng quá trình sinh học đó nhằm tạo ra ngày càng nhiều sản phẩm cuối cùng hơn Nông nghiệp nếu hiểu theo nghĩa hẹp chỉ có ngành trồng trọt, ngành chăn nuôi và ngành dịch vụ trong nông nghiệp Còn nông nghiệp hiểu theo nghĩa rộng nó còn bao gồm cả ngành lâm nghiệp và ngành thủy sản nữa Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất cơ bản giữ vai trò to lớn trong việc phát triển kinh tế ở hầu hết cả nước, nhất là ở các nước đang phát triển, ở những nước này còn nghèo, đại bộ phận sống bằng nghề nông Tuy nhiên, ngay cả những nước có nền công nghiệp phát triển cao, mặc dù tỷ trọng GDP nông nghiệp không lớn, nhưng khối lượng nông sản của các nước này khá lớn

và không ngừng tăng lên, đảm bảo cung cấp đủ cho đời sống con người những sản phẩm tối cần thiết đó là lương thực, thực phẩm Những sản phẩm này cho dù trình độ khoa học - công nghệ phát triển như hiện nay, vẫn chưa

có ngành nào có thể thay thế được Lương thực, thực phẩm là yếu tố đầu tiên,

Trang 14

có tính chất quyết định sự tồn tại phát triển của con người và phát triển kinh tế

- xã hội của đất nước

1.1.2 Hộ gia đình, nông hộ và thu nhập của nông hộ

Trong tiếng Việt, hộ là một danh từ được dùng để chỉ gia đình - được coi như một đơn vị xã hội trong các quan hệ với chính quyền, có liên quan đến tài sản, tư liệu lao động, nhân khẩu Chính vì vậy mà người ta thường gộp chung

hộ và gia đình Tiêu biểu là cách sử dụng thuật ngữ kép "hộ gia đình" trong khẩu ngữ

Tuy vậy, giữa hộ và gia đình có điểm phân biệt Cụ thể: gia đình là một nhóm người có quan hệ hôn nhân hoặc huyết thống Nó cũng là một loại hộ cơ bản và chứa đựng nhiều yếu tố để hình thành hộ Song điều mà chúng ta chú ý là mối quan hệ giữa các thành viên của hộ không đơn thuần chỉ là huyết thống

Trên thế giới và ở nước ta đã có nhiều quan niệm về hộ Theo Liên hợp

quốc (UN), "Hộ là những người cùng chung sống một mái nhà cùng ăn chung

và có chung ngân quỹ" Quan niệm này nhấn mạnh đến các tiêu thức: cơ sở kinh tế và sinh sống

Tiếp cận khái niệm hộ từ góc độ vai trò và đặc thù của hộ, tại Hội thảo quốc tế lần thứ 4 về quản lý nông trại (Hà Lan, 1980), nhiều đại biểu có đồng quan điểm: "Hộ là đơn vị kinh tế cơ bản của xã hội có liên quan đến sản xuất tiêu dùng và các loại hoạt động xã hội khác" Hộ trong nông nghiệp, nông thôn chủ yếu là hộ nông dân, gắn liền với canh tác nông nghiệp

Nhà khoa học Nga, AV.Traianôp (1889- 1939), cho rằng "Hộ nông dân là đơn vị sản xuất rất ổn định", "Hộ nông dân là phương tiện tuyệt vời để tăng trưởng và phát triển sản xuất nông nghiệp" Còn hai nhà khoa học Mats Lundahl

và Thommy Svensson thì nhấn mạnh: "Hộ nông dân là đơn vị sản xuất rất cơ bản" (Vũ Hiền – Trịnh Vũ Bản) [1]; Ngyễn Xuân Khoát [2]

Trang 15

Từ mét số quan niệm tiêu biểu của các nhà khoa học nước ngoài, ta thấy

họ cùng chung những quan điểm sau: Hộ là một đơn vị kinh tế - xã hội cơ bản, sự tồn tại của kinh tế hộ là một khách quan, nó có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế xã hội

Các nhà khoa học nước ta cũng đã đưa ra nhiều quan niệm về hộ Có

tác giả cho rằng: "Hộ là một nhóm người cùng huyết téc hay không cùng huyết téc, cùng chung sống hay không cùng chung trong một mái nhà Họ

có cùng nguồn thu nhập, cùng ăn chung, cùng tiến hành sản xuất chung" Một tác giả khác nhấn mạnh tới các tiêu thức: "Hộ nông dân là đơn vị kinh tế mà các thành viên của nó sống chung với nhau trong một mái nhà, liên hệ với nhau bởi hôn nhân, huyết thống, có chung thu nhập, trong đó

có thu nhập từ nông nghiệp do lao động sử dụng đất đai đem lại Trong nền kinh tế hàng hóa, hộ nông dân là một đơn vị kinh tế độc lập - tù chủ, trong mọi loại hoạt động sản xuất kinh doanh nông nghiệp" Có tác giả nhấn mạnh đến hoạt động kinh tế cho rằng, "Hộ nông dân là đơn vị kinh tế tự chủ trong sản xuất nông nghiệp hoạt động theo cơ chế thị trường" Một tác giả khác xuất phát từ các tổng kết về mặt lịch sử cũng như thực tiễn, lại cho rằng: "Quan điểm coi hộ nông dân là đơn vị sản xuất tự chủ là hoàn toàn đúng đắn về lý luận cũng như thực tiễn",

Để có nhận thức đầy đủ về hộ và kinh tế hộ nông dân ở nước ta hiện nay, cần tìm hiểu những đặc điểm của kinh tế hộ nông dân ở các nước kinh tế đang phát triển Chúng tôi đồng tình với quan điểm cho rằng, ngoại trừ một số nước phát triển, các hộ nông dân ở khu vực các nước đang phát triển "có mức thu nhập thấp nhất so với các nhóm hộ khác trong xã hội" Các hộ nông dân là các nhà sản xuất nhỏ, quy mô ruộng đất của nhiều hộ chỉ cho phép sản xuất ra một lượng sản phẩm đủ nuôi sống các thành viên, tỷ trọng nông phẩm là hàng

hóa còn thấp

Trang 16

Các hộ nông dân có số thu lợi nhuận thấp, phần lớn sản phẩm của họ làm

ra khi bán ra chỉ vừa đủ để trang trải chi phí sản xuất Vì vậy mức độ tích lũy

để mở rộng sản xuất hầu như không đáng kể Các hộ nông dân thường sản xuất độc canh trên diện tích sản xuất nhỏ, thời gian lao động của họ chưa được tận dụng tối đa, không có thu nhập thêm nếu không tạo ra được việc làm tại chỗ

Cơ cấu kinh tế hộ nông dân khá đa dạng theo nhiều nghề khác nhau Tổ

chức phân công lao động trong hộ có khả năng linh hoạt, vừa chuyên môn lại

vừa có khả năng theo hướng kinh doanh tổng hợp Kinh tế hộ nông dân có

tính ổn định tương đối cao và có khả năng điều chỉnh linh hoạt phương hướng

sản xuất theo mùa vụ, ngành nghề cho phù hợp với thời tiết và nhu cầu của xã hội Mặt khác, tính khép kín chu trình sản xuất (từ sản xuất, chế biến đến tiêu

thụ) lại cho phép hộ nông dân có tính ổn định tương đối trước những diễn

biến bất thường của mùa vụ hay thị trường

Tính độc lập của kinh tế hộ nông dân tương đối cao, quy mô sản xuất kinh doanh nhỏ bé, vốn liếng hạn hẹp, trình độ sản xuất còn thấp cũng là những nhân tố khiến cho hộ nông dân gặp nhiều khó khăn trong ứng dụng tiến

bộ kỹ thuật, công nghệ nên không có khả năng chuyển hướng sản xuất trước những tác động của thiên tai hay biến động của thị trường Đây cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự phân hóa giàu nghèo của đối tượng hộ nông dân mà ở các nhóm xã hội khác không có

Gắn với nông nghiệp và nông thôn, kinh tế hộ nông dân còn mang trong nó nhiều đặc điểm kinh tế - xã hội, văn hóa của cộng đồng nông thôn được hình thành trong lịch sử Với nhiều quốc gia, trong đó có nước ta, những đặc điểm này vừa mang lại những thuận lợi (chẳng hạn, làng nghề truyền thống, văn hóa truyền thống, những tục lệ tốt đẹp trong kinh doanh, ), và cũng gây ra không ít những trở ngại trên con đường phát triển kinh tế hộ (chẳng hạn, tính chất cô lập của phường hội, những hủ tục, quan niệm lạc hậu trong sản xuất, )

Trang 17

1.1.3 Sinh kế

1.1.3

, sinh kế bao gồm năng lực tiềm tàng, tài sản (gồm các nguồn lực vật chất và xã hội như: cửa hàng, nguồn tài nguyên, đất đai, nước mặt, đường xá,…) cùng các hoạt động cần thiết làm phương tiện để kiếm sống của con người (Scoones, 1998) [6]

: (1)Trồng trọt: Lúa, ngô, khoai, sắn,

,…

ác ngành nghề khác

luận văn , hoạt động

, các mô hình trình diễn, q

1.1.3

Yếu tố được xem là bền vững khi mà nó có thể tiếp tục diễn ra trong tương lai, đối phó và phục hồi được sau các áp lực và sốc mà không làm huỷ hoại các nguồn lực tạo nên sự tồn tại của yếu tố này Các nguồn lực này có thể thuộc nguồn tự nhiên, xã hội, kinh tế hay thể chế Điều này giải thích tại sao tính bền vững thường được phân tích theo bốn khía cạnh: Bền vững về kinh tế, về môi trường, về thể chế và xã hội

Bền vững không có nghĩa là sẽ không có gì thay đổi, mà là có khả năng thích nghi theo thời gian Tính bền vững là một trong những nguyên tắc cơ bản của phương pháp sinh kế bền vững

Trang 18

Một sinh kế được xem là bền vững khi nó phải phát huy được tiềm năng con người để từ đó sản xuất và duy trì phương tiện kiếm sống của họ Nó phải có khả năng đương đầu và vượt qua áp lực cũng như các thay đổi bất ngờ

Sinh kế bền vững không được khai thác hoặc gây bất lợi cho môi trường hoặc cho các sinh kế khác ở hiện tại và tương lai Trên thực tế thì nó nên thúc đẩy sự hòa hợp giữa chúng và mang lại những điều tố đẹp cho tương lai (Scoones, 1998) [6]

Sinh kế bền vững, nếu theo nghĩa này, phải hội đủ những nguyên tắc sau: Lấy con người làm trung tâm, dễ tiếp cận, có sự tham gia của người dân, xây dựng dựa trên sức mạnh con người và đối phó với các khả năng dễ bị tổn thương, tổng thể, thực hiện ở nhiều cấp, trong mối quan hệ với đối tác, bền vững

Trang 19

giá sự đóng góp vào sự bền vững sinh kế của những hoạt động hiện tại Cụ thể là:

- Cung cấp bảng liệt kê những vấn đề quan trọng nhất và phác họa mối liên hệ giữa những thành phần này;

- Tập trung sự chú ý vào các tác động và các quy trình quan trọng;

- Nhấn mạnh sự tương tác phức tạp giữa các nhân tố khác nhau, làm ảnh hưởng đến sinh kế

Các thành phần của khung sinh kế bền vững : [4]

a) Hoàn cảnh dễ bị tổn thương

Hoàn cảnh dễ bị tổn thương là môi trường sống bên ngoài của con người Sinh kế và tài sản sẵn có của con người bị ảnh hưởng cơ bản bởi những xu hướng chủ yếu, cũng như bởi những cú sốc và tính thời vụ Chính những điều

này khiến sinh kế và tài sản trở nên bị giới hạn và không kiểm soát được

Các xu hướng: Xu hướng dân số, xu hướng tài nguyên kể cả xung đột,

xu hướng kinh tế quốc gia, quốc tế, những xu hướng cai trị (bao gồm chính sách, những xu hướng kỹ thuật)

Cú sốc: Cú sốc về sức khoẻ con người, thiên tai, chiến tranh, dịch bệnh cây trồng vật nuôi

Tính thời vụ: Biến động giá cả, sản xuất, sức khoẻ, những cơ hội làm việc Những nhân tố cấu thành hoàn cảnh dễ bị tổn thương quan trọng vì chúng

có tác động trực tiếp lên tình trạng tài sản và những lựa chọn của con người mà với chúng sẽ mở ra cơ hội để họ theo đuổi những kết quả sinh kế có lợi

b) Những tài sản sinh kế

Tiếp cận sinh kế thì cần tập trung trước hết và đầu tiên với con người

Nó cố gắng đạt được sự hiểu biết chính xác và thực tế về sức mạnh của con người (tài sản hoặc tài sản vốn) và cách họ cố gắng biến đổi chúng thành kết quả sinh kế hữu ích

Trang 20

(Nguồn: DFID, 2002) [11]

Hình 2.2: Tài sản của người dân

Khung sinh kế xác định 5 loại tài sản trung tâm mà dựa vào đó tạo ra những sinh kế:

- Nguồn vốn con người (Human capital)

- Nguồn vốn xã hội (Social capital)

- Nguồn vốn tự nhiên (Natural capital)

- Nguồn vốn vật chất/vốn vật thể (Physical capital)

- Nguồn vốn tài chính (Financial capital)

Đặc điểm của mô hình 5 loại tài sản:

1 Hình dạng của ngũ giác diễn tả khả năng tiếp cận của người dân với các loại tài sản Tâm điểm là nơi không tiếp cận được với loại tài sản nào Các điểm nằm trên chu vi là tiếp cận tối đa với các loại tài sản

2 Những ngũ giác có hình dạng khác nhau có thể được vẽ cho những cộng đồng khác nhau hoặc cho những nhóm xã hội khác nhau trong cộng đồng đó

3 Một tài sản riêng lẻ có thể tạo ra nhiều lợi ích Nếu một người có thể tiếp cận chắc chắn với đất đai (tài sản tự nhiên) họ cũng có thể có được nguồn

Trang 21

tài chính vì họ có thể sử dụng đất đai không chỉ cho những hoạt động sản xuất trực tiếp mà còn cho thuê Tương tự như vậy, vật nuôi (tài sản hữu hình) có thể tạo ra nguồn vốn xã hội (uy tín và sự liên hệ với cộng đồng) cho người sở hữu chúng…

4 Phẩm chất của tài sản thay đổi thường xuyên vì vậy ngũ giác cũng thay đổi liên tục theo thời gian

Các loại nguồn vốn

a) Nguồn vốn tự nhiên

Vốn tự nhiên là những yếu tố được sử dụng trong các nguồn lực tự nhiên Nó cung cấp và phục vụ rất hữu ích cho phương kế kiếm sống của con người Có rất nhiều nguồn lực hình thành nên vốn tự nhiên như: không khí, tính đa dạng sinh học, đất đai, nguồn nước, cây trồng, vật nuôi, mùa màng,… Trong khung sinh kế bền vững, mối quan hệ giữa nguồn vốn tự nhiên và các tổn hại có sự gắn kết thực sự Nhiều thảm hoạ tàn phá kế sinh n

: cháy rừng, lũ và động đất làm thiệt hại về hoa màu và đất nông nghiệp) và tính mùa vụ thì ảnh hưởng lớn đến những biến đổi trong năng suất và giá trị của nguồn vốn tự nhiên qua các năm

Điều gì có thể làm nên nguồn vốn tự nhiên cho người nghèo? Có ba điểm sau đây cần chú ý là :

- Mục tiêu sinh kế hướng đến một tầm rộng lớn hơn, chú trọng vào con người

và hiểu tầm quan trọng của các quy trình và cấu trúc (những cách thức phân phối đất, các quy tắc rút ra từ việc đánh bắt cá,… ) trong quá trình xác định cách mà các nguồn vốn tự nhiên được tạo ra và sử dụng

- Những tiến trình và cấu trúc điều chỉnh các phương pháp tiếp cận đối với nguồn lực tự nhiên và có thể khuyến khích, hoặc ép buộc khi cần thiết để cải thiện việc quản lý các nguồn lực Nếu các thị trường hoàn thiện hơn thì giá trị các nguồn lực cũng được cao hơn, việc xúc tiến quản lý tốt hơn

Trang 22

- Việc hỗ trợ gián tiếp đối với vốn tự nhiên thông qua sự chuyển đổi các tiến trình và cấu trúc thì có ý nghĩa rất quan trọng Sự hỗ trợ trực tiếp tập trung vào các nguồn lực mà chính các nguồn lực đó có thể chống lại khả năng sử dụng các nguồn lực đó của con người, vẫn có sự tái tạo cho nhu cầu sử dụng trong tương lai Một trong các thành phần chính của mục tiêu sinh kế bền vững

là tin tưởng và theo đuổi mục tiêu ổn định nhiều loại nguồn lực khác nhau Sao cho sự ổn định của nguồn lực này không làm ảnh hưởng đến sự ổn định của nguồn lực khác

Ở đây ta thấy: cây trồng, vật nuôi, đất đai,… là nguồn vốn tự nhiên, do

đó hoạt động sinh kế trong phạm vi luận văn này chủ yếu liên quan đến nguồn vốn tự nhiên trong khung sinh kế

b) Nguồn vốn con người

Nguồn nhân lực bao gồm kỹ năng, kiến thức, khả năng lao động và sức khoẻ con người Các yếu tố đó giúp cho con người có thể theo đuổi những chiến lược tìm kiếm thu nhập khác nhau và đạt những mục tiêu kế sinh nhai của họ Ở mức độ gia đình nguồn nhân lực được xem là số lượng và chất lượng nhân lực có sẵn Những thay đổi này phụ thuộc vào quy mô hộ, trình độ

kỹ năng, khả năng lãnh đạo và bảo vệ sức khoẻ,…

Nguồn nhân lực là một yếu tố cấu thành nên kế sinh nhai Nó được xem

là nền tảng hay phương tiện để đạt được mục tiêu thu nhập

Điều gì có thể tạo nên vốn con người cho người nghèo?

Việc hỗ trợ nguồn nhân lực có thể thực hiện cả trực tiếp lẫn gián tiếp Trong cả hai cách thực hiện đó kết quả thực sự mang lại chỉ khi con người, chính bản thân họ sẵn sàng đầu tư vào vốn nhân lực của họ bằng cách tham gia vào các khoá đào tạo hay trường học Tiếp cận với các dịch vụ phòng ngừa dịch bệnh,… Trong trường hợp con người bị ngăn cản bởi những việc làm trái với lẽ thường (Những tiêu chuẩn xã hội hay chính sách cứng nhắc

Trang 23

ngăn cấm phụ nữ tới trường,…) thì việc hỗ trợ gián tiếp vào việc phát triển vốn con người có ý nghĩa đặc biệt quan trọng

Trong nhiều trường hợp ta nên kết hợp cả hai hình thức hỗ trợ Cơ chế phù hợp nhất cho việc kết hợp hỗ trợ là thực hiện các chương trình trọng điểm Các chương trình trọng điểm có thể hướng vào việc phát triển nguồn nhân lực, đề xuất những thông tin thông qua việc phân tích các phương thức kiếm sống để chắc chắn rằng các nỗ lực tập trung vào nơi cần thiết nhất

Cải thiện phương thức tiếp cận với giáo dục chất lượng cao, thông tin, công nghệ và đào tạo nâng cao dinh dưỡng và sức khoẻ sẽ góp phần làm phát triển nguồn vốn con người

c) Nguồn vốn vật chất

Nguồn vốn vật chất gồm các cơ sở hạ tầng xã hội, tài sản hộ gia đình

hỗ trợ cho sinh kế như: giao thông, hệ thống cấp thoát nước, hệ thống ngăn, tưới tiêu, cung cấp năng lượng, nhà ở, các phương tiện sản xuất, đi lại, thông tin,…

Chúng ta phải làm gì để tạo ra vốn vật thể cho người nghèo?

Trước đây DFID (2002) [11] đã khuyến khích việc dự trữ trực tiếp hàng hoá sản xuất cho người nghèo Đây có thể là vấn đề của một số nguyên nhân:

- Hoạt động như một nhà cung ứng trực tiếp hàng hoá sản xuất dẫn đến sự phụ thuộc và phá vỡ thị trường tư nhân

- Dự trữ trực tiếp có thể làm giảm sự tham gia cải thiện cơ cấu và quy trình thể chế để đảm bảo những gì đạt được là bền vững và hàng hoá sản xuất được

sử dụng là tốt nhất

Vì vậy mục tiêu sinh kế tập trung vào việc giúp đỡ tiếp cận cơ sở hạ tầng thích hợp, những thứ giúp ích cho sinh kế của người nghèo Tiến tới việc tham gia là cần thiết để thiết lập sự ưu tiên và cần thiết cho những người sử dụng Nguồn vốn vật chất có thể là đắt đỏ Nó không chỉ yêu cầu nguồn vốn đầu tư ban đầu mà còn cung cấp tài chính cho những gì đang diễn ra và nguồn

Trang 24

lực con người đáp ứng những hoạt động và duy trì chi phí cho dịch vụ Vì vậy, việc nhấn mạnh cung cấp một dịch vụ không chỉ đáp ứng những nhu cầu trung gian của người sử dụng mà còn phải đủ trong thời gian dài Nó không chỉ quan trọng để cung cấp sự khuyến khích cùng một lúc đến phát triển kĩ năng – năng lực để đảm bảo việc quản lý có hiệu quả của dân chúng địa phương

Cơ sở hạ tầng chỉ là một loại tài sản cải thiện dịch vụ hỗ trợ một cách dễ dàng để người nghèo có thể tiếp cận với những nhu cầu của họ Ví dụ, một sự tham gia có thể đưa ra sự kìm hãm then chốt đến sinh kế của một nhóm khó khăn đưa sản phẩm ra thị trường, đặc biệt là trong suốt những mùa mưa Sinh

kế để giải quyết vấn đề này không chỉ cải tiến cơ sở hạ tầng vật thể để cải thiện hệ thống nước, cống rãnh vào mùa mưa mà còn xem xét việc khuyến khích có đủ dịch vụ vận chuyển phương tiện thích hợp, chẳng hạn như xe kéo

d) Nguồn vốn xã hội

Vốn xã hội là những nguồn lực xã hội dựa trên những gì mà con người

vẽ ra để theo đuổi mục tiêu kế sinh nhai của họ Chúng bao gồm:

- Các tương tác và mạng lưới, cả chiều dọc (người bảo lãnh/khách hàng quen)

và chiều ngang (giữa các cá nhân có cùng mối quan tâm) có tác động làm tăng

cả uy tín và khả năng làm việc của con người, mở rộng tiếp cận với các thể chế, như các thể chế chính trị và cộng đồng

- Là thành viên trong một nhóm ảnh hưởng hoặc kế thừa triệt để các quyết định chung, các quy tắc được chấp nhận, các tiêu chuẩn và mệnh lệnh

- Uy tín của các mối quan hệ, sự nhân nhượng và sự trao đổi khuyến khíchkết hợp, cắt giảm các chi phí giao dịch và có thể tạo ra một mạng lưới không chính thức xung quanh vấn đề nghèo đói

- Trong năm yếu tố cơ bản của kế sinh nhai, nguồn vốn xã hội có quan hệ sâu sắc nhất đối với sự chuyển dịch quá trình và cơ cấu Thực sự có thể là hữu ích nếu xem vốn xã hội như sản phẩm của một tiến trình hoặc cấu trúc, thông qua

Trang 25

các mối quan hệ đơn giản này các tiến trình và cấu trúc trở thành sản phẩm của nguồn vốn xã hội Mối quan hệ này đưa ra hai con đường và có thể làm cho nó phát triển hơn Ví dụ:

- Khi người ta sẵn sàng liên kết các tiêu chuẩn và mệnh lệnh thông thường chúng có thể làm cho việc hình thành các hoạt động mới dễ dàng hơn để theo đuổi các mối quan tâm của họ

- Những người có địa vị trong xã hội giúp chúng ta gọt giũa các chính sách và bảo đảm rằng các mối quan tâm của họ được thể hiện trong luật pháp

Một câu hỏi đặt ra là: Làm gì để tạo ra nguồn vốn xã hội cho người nghèo? Hầu hết những nỗ lực xây dựng vốn xã hội đều tập trung vào các thể chế địa phương, ngay cả hoạt động trực tiếp (thông qua việc tạo ra các khả năng, huấn luyện đào tạo hay phân phối các nguồn lực) hoặc gián tiếp thông qua việc tạo ra một môi trường dân chủ thông thoáng

Trong khi việc trao quyền cho các nhóm có thể xem như một mục tiêu chính, vốn xã hội có thể được xem là sản phẩm phụ trong các hoạt động khác (tham gia nghiên cứu sự hình thành nên các nhóm để phát triển và kiểm tra các công nghệ có khả năng nâng cao đời sống của họ) Thông thường, những biến động gia tăng nguồn vốn xã hội được theo đuổi cần phải có sự hỗ trợ từ các lĩnh vực khác Do đó cầngắn chặt trách nhiệm của các tổ chức tiết kiệm và tín dụng vào nguồn vốn xã hội Cũng như việc kết hợp quản lý các tai họa cần phải dựa vào việc kết nối các hành động để hạn chế chúng

e) Nguồn vốn tài chính

Vốn tài chính thể hiện nguồn lực tài chính được con người sử dụng để hướng tới mục tiêu sinh kế của họ Định nghĩa được sử dụng ở đây không mang tính chất kinh tế mà nó còn bao gồm những dòng tích trữ và có thể góp phần vào việc tiêu dùng sản phẩm Tuy nhiên, nó phải được thực hiện để đạt được một nền tảng sinh kế quan trọng, đó là giá trị của tiền mặt hoặc tính thanh khoản, người ta có thể làm theo những cách sinh kế khác

Trang 26

Có hai nguồn vốn tài chính chủ yếu:

- Vốn sẵn có: Tiết kiệm là loại vốn tài chính được ưa thích vì nó không

bị ràng buộc vế tính pháp lý và không có sự đảm bảo về tải sản Chúng có thể

có nhiều hình thức: tiền mặt, tín dụng ngân hàng, hoặc tài sản thanh toán khác như vật nuôi, nữ trang Nguồn lực tài chính có thể tồn tại dưới dạng các tổ chức cung cấp tín dụng

- Dòng tiền đều: Là dòng tiền bao gồm các khoản bằng nhau xảy ra qua một số thời kỳ nhất định Dòng tiền đều được phân chia thành: Dòng tiền đều thông thường (ordinary annuity): xảy ra ở cuối kỳ; Dòng tiền đều đầu kỳ (annuity due): xảy ra ở đầu kỳ; Dòng tiền đều vô hạn (perpetuity): xảy ra ở

cuối kỳ và không bao giờ chấm dứt (http://tdc.thanhdong.edu.vn) [22]

Ngoại trừ thu nhập hầu hết loại này là tiền trợ cấp, hoặc sự chuyển giao Để có sự tạo lập rõ ràng vốn tài chính từ những dòng tiền này phải xác thực (trong khi sự đáng tin cậy hoàn toàn không bao giờ được đảm bảo có sự khác nhau giữa việc trả nợ một lần với sự chuyển giao thường xuyên vào kế hoạch đầu tư)

Chúng ta làm gì để tạo nguồn vốn tài chính cho người nghèo?

Những tổ chức phát triển không giao tiền cho người nghèo (hỗ trợ trực tiếp vốn tài chính) Tiếp cận vốn tài chính thay vì thông qua các trung gian gián tiếp Có thể là:

- Mang tính tổ chức: Tăng hiệu quả tiết kiệm và dòng tài chính nhờ sự hỗ trợ để phát triển hiệu quả, kết nối những tổ chức dịch vụ tài chính cho người nghèo Đến khi họ có đủ niềm tin, sự tiếp cận và sự hiểu biết rộng để họ có thể khuyến khích mọi người tiết kiệm Sự lựa chọn của người khác có thể giúp phát triển những tổ chức trợ cấp hiệu quả hơn đến người nhận cuối cùng

- Có tính chất cơ quan: Tăng sự tiếp cận dịch vụ tài chính, vượt qua rào cản liên đới những người nghèo với nhau (cung cấp cho họ sự bảo đảm hoặc máy móc đồng nhất để họ có được những loại tài sản hoạt động song song nhau)

Trang 27

- Lập pháp/sự điều chỉnh: Cải thiện môi trường dịch vụ tài chính để tổ chức hoặc giúp đỡ chính phủ cung cấp tốt hơn, độ an toàn cao hơn cho những người nghèo (như trợ cấp)

Vấn đề tính tổ chức của sự bền vững là sự gia nhập quan trọng của bộ phận tài chính vi mô

Trừ khi người ta tin tưởng rằng những tổ chức dịch vụ tài chính sẽ tồn tại theo thời gian và sẽ tiếp tục đưa ra lãi suất hợp lý, họ không thể giao phó tiết kiệm của họ cho những tổ chức mà họ không tin tưởng

Quan hệ giữa các tài sản

Những tài sản sinh kế nối kết với nhau theo vô số cách để tạo ra kết quả sinh kế có lợi Hai loại quan hệ quan trọng là:

- Sự ảnh hưởng: Việc sở hữu một loại tài sản giúp người dân từ đó tạo thêm các loại tài sản khác Ví dụ: người dân dùng tiền (nguồn vốn tài chính)

để mua sắm vật dụng sản xuất và tiêu dùng (nguồn vốn vật chất)

- Sự thay thế: Một loại tài sản có thể thay thế cho những loại tài sản khác không? Ví dụ, sự gia tăng nguồn vốn con người có đủ đền bù sự thiếu hụt nguồn vốn tài chính không? Nếu có, điều này có thể dựa vào mở rộng lựa chọn cho cung cấp

Mối quan hệ trong khung

Tài sản và hoàn cảnh dễ bị tổn thương: Tài sản có thể vừa bị phá huỷ vừa được tạo ra thông qua các biến động của hoàn cảnh

Tài sản và sự tái cấu trúc và thay đổi quy trình thể chế: Thể chế, chính sách và sự chuyển dịch cơ cấu, quy trình sản xuất có ảnh hưởng sâu sắc đến khả năng tiếp cận tài sản

Tạo ra tài sản: Chính sách đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng cơ bản (nguồn vốn hữu hình) hoặc phát minh kỹ thuật (nguồn vốn con người) hoặc sự tồn tại của những thể chế địa phương làm mạnh lên nguồn vốn xã hội

Trang 28

Xác định cách tiếp cận tài sản: Quyền sở hữu, những thể chế điều chỉnh cách tiếp cận với những nguồn tài nguyên phổ biến

Ảnh hưởng tỉ lệ tích lũy tài sản: ví dụ, chính sách thuế ảnh hưởng đến doanh thu của những chiến lược sinh kế,…

Tuy nhiên, đây không phải là mối quan hệ đơn giản, những cá nhân và những nhóm cũng ảnh hưởng lên sự tái cấu trúc và thay đổi quy trình thể chế Nói chung, tài sản càng được cung ứng cho người dân thì họ sẽ sử dụng càng nhiều Vì vậy một cách để đạt được sư trao quyền có thể là hỗ trợ cho người dân xây dựng những tài sản của họ

Tài sản và những chiến lược sinh kế: Những ai có nhiều tài sản có khuynh hướng sử dụng nhiều lựa chọn lớn hơn và khả năng chuyển đổi giữa nhiều chiến lược để đảm bảo sinh kế của họ

Tài sản và những kết quả sinh kế: Khả năng người dân thoát nghèo phụ thuộc chủ yếu vào sự tiếp cận của họ đối với những tài sản Những tài sản khác nhau cần để đạt được những kết quả sinh kế khác nhau

Ví dụ:

Thu nhập nông hộ phụ thuộc vào đầu tư các yếu tố sản xuất chính như: diện tích đất đang sử dụng, số lao động trong gia đình, giá trị của tài sản cố định ngoài đất đai, có điều kiện tiếp cận thuỷ lợi dễ dàng và áp dụng giống lúa mới Tất cả các yếu tố trên đóng góp vào gia tăng năng suất đất đai và thu nhập của nông hộ Sự gia tăng năng suất nông nghiệp có thể gián tiếp ảnh hưởng lên lĩnh vực phi nông nghiệp bằng sự gia tăng thặng dư tương từ lúa gạo và như vậy tạo ra cơ hội việc làm trong lĩnh vực chế biến ở nông thôn, thương mại và các hoạt động vận chuyển, từ đó có thể đóng góp trực tiếp làm thu nhập nông nghiệp lớn hơn Sự phát triển tài nguyên nhân lực tuỳ thuộc trình độ của chủ hộ, có thể góp phần làm tăng năng suất lao động các hoạt động phi nông nghiệp, từ đó thu nhập nông hộ gia tăng Giáo dục cũng tạo cơ hội nghề nghiệp cho thành phần lao động gia đình thủ công, năng suất thấp

Trang 29

(chủ yếu trong lĩnh vực nông nghiệp và các hoạt động xây dựng) chuyển sang các hoạt động ngoài nông nghiệp như: thương maị và dịch vụ Tình trạng của

cơ sở hạ tầng cũng đóng góp tích cực vào thu nhập thông qua giá cả của đầu vào, đầu ra trong lĩnh vực thương mại và qua việc gia tăng cơ hội lao động làm tăng thu nhập trong lĩnh vực phi nông nghiệp ở nông thôn Ngoài nguồn vốn tiết kiệm của gia đình, tiếp cận tín dụng làm tăng thêm vốn cũng làm tăng thêm thu nhập của nông hộ

1.2 Cơ sở thực tiễn

1.2.1 Giới thiệu về dự án 4FGF

Dự án “Kết nối sinh kế cộng đồng nông dân nghèo với thị trường công nghiệp hướng tới thân thiện môi trường” còn có tên gọi khác là “Dự án Lương thực, Thức ăn chăn nuôi, Nhiên liệu và Sợi cho tương lai xanh tươi hơn (4FGF)”, vì vậy có thể gọi tắt là “Dự án 4FGF”, được thực hiện với thời gian hơn 4 năm, từ 14 tháng 1 năm 2009 đến 31 tháng 3 năm 2013, trong đó

các hoạt động hiện trường sẽ kết thúc vào 31 tháng 12 năm 2012 [8]

Mục đích của dự án 4FGF là nhằm đem lại lợi ích cho người nghèo vùng cao

dễ bị tổn thương thuộc tiểu vùng sông Mê Kông bằng các hoạt động tăng thu nhập

và đảm bảo an ninh lương thực qua các hệ thống nông nghiệp bền vững, nâng cao

sự kết nối với tiến trình công nghiệp nông nghiệp thân thiện môi trường

Mục tiêu của dự án 4FGF là cải thiện sinh kế nông dân nghèo vùng cao, đặc biệt là các cộng đồng dân tộc thiểu số và phụ nữ, thông qua hệ thống cây trồng/vật nuôi tổng hợp, phát triển sản xuất bền vững và sử dụng các cây trồng lương thực, thức ăn chăn nuôi, cây lấy sợi và cây nhiên liệu, với các liên kết thúc đẩy với các doanh nghiệp chế biến công nghiệp nông nghiệp tại

ba nước Cam Phu Chia, Lào và Việt Nam

Dự án 4FGF phối hợp cùng với các đối tác nghiên cứu trong khu vực,

kể cả lĩnh vực tư nhân để trao quyền về tài chính cho các đối tác nghiên cứu

về các cơ hội kinh tế đang nảy ra, nhằm đạt được thu nhập cao hơn và cải

Trang 30

thiện an ninh lương thực cho họ Nông dân có được tiếp cận với các kỹ thuật công nghệ nông nghiệp cải tiến để có hệ thống sản xuất bền vững hiệu quả hơn, quản lý và bảo tồn tài nguyên thiên nhiên tốt hơn, đa dạng hoá sinh kế thông qua phát triển các liên kết thị trường để tăng giá trị sản xuất, và thông qua các doanh nghiệp có thể giúp họ bảo vệ

Dự án 4FGF có ba hợp phần chính Trong quá trình thực hiện các hoạt động chủ yếu bao gồm:

* Hợp phần 1: Hệ thống nông nghiệp đa dạng để đảm bảo an ninh lương

thực và thu nhập Hợp phần này bao gồm các hoạt động chính sau:

- Đào tạo cán bộ khuyến nông về phân tích và lập kế hoạch sinh kế có sự tham gia

- Lập kế hoạch chiến lược sinh kế nông hộ và đánh giá tác động

- Thiết lập các thí nghiệm ở trạm nghiên cứu, nhân giống cây trồng và các vật liệu khác

- Các thí nghiệm trình diễn hiện trường tại nông hộ về cây lương thực, cây thức ăn chăn nuôi, chế biến & sử dụng thức ăn chăn nuôi và khí sinh học

- Các đào tạo, phát triển lớp học hiện trường, hội thảo đầu bờ phối kết hợp với các đối tác đến từ các tổ chức của các Hệ thống Nghiên cứu Nông nghiệp Quốc gia (NARS)

- Đào tạo về chế biến thức ăn chăn nuôi, kỹ thuật công nghệ bảo quản và phối hợp tỷ lệ thức ăn chăn nuôi

Như vậy các can thiệp liên quan đến hoạt động sinh kế của cộng đồng địa phương đều nằm ở hợp phần 1 Phạm vi nghiên cứu của luận văn cũng tập trung trong hợp phần này, đó là nghiên cứu hoạt động sinh kế cộng đồng

* Hợp phần 2: Liên kết nhà sản xuất - nhà chế biến đối với thị trường

công nghiệp nông nghiệp và phát triển doanh nghiệp Hợp phần này có các hoạt động chủ yếu sau đây:

- Phân tích GIS về các cây sắn, cây lấy sợi và các nguồn lực chế biến

Trang 31

- Kiểm kê các doanh nghiệp công nghiệp nông nghiệp

- Đánh giá và phân tích các liên kết nhà sản xuất - nhà chế biến hiện có

và các chuyến thăm tới các doanh nghiệp sử dụng bã thải chế biến

* Hợp phần 3: Chia sẻ kiến thức để thúc đẩy đổi mới

- Phát triển các vật liệu có thể mở rộng: các kết quả nghiên cứu về cây trồng, vật nuôi

- Các chuyến thăm quan và đào tạo về các doanh nghiệp công nghiệp nông nghiệp thành công

- Chia sẻ kinh nghiệm để phát triển các doanh nghiệp mới và cải thiện sản xuất

- Hội thảo, hội nghị để chia sẻ kinh nghiệm ở phạm vi quốc gia và khu vực Tương ứng với các hợp phần trên đây, dự án 4 FGF có các đầu ra như sau:

- Đầu ra 1: Sự cải thiện về thu nhập và an ninh lương thực của nhóm

người hưởng lợi mục tiêu của dự án thông qua sự gia tăng sản xuất các cây trồng hàng hoá, cây lương thực, cây thức ăn chăn nuôi đã lựa chọn và sử dụng sản phẩm phụ trong chế biến công nghiệp nông nghiệp

- Đầu ra 2: Các lợi ích của người sản xuất nhỏ (nông dân) và nhà chế

biến nhỏ cấp thôn bản thông qua việc tăng các cơ hội thị trường

- Đầu ra 3: Phát triển các diễn đàn đối thoại cấp địa phương và khu vực

để thúc đẩy quản lý và chia sẻ kiến thức giữa các nhà sản xuất, nhà chế biến, nhà khoa học, nhà lập chính sách và nhà đầu tư

Dự án 4FGF làm việc trực tiếp với bốn dự án đầu tự do IFAD tài trợ (2 ở Việt Nam, 1 ở Cam Phu Chia và 1 ở Lào), các đối tác thực hiện trong nông nghiệp & khuyến nông, các cơ quan Nhà nước liên quan và nông dân trong vùng mục tiêu của họ, kể cả đối tác khu vực tư nhân để hợp nhất các hợp phần

có nhiều mối phức tạp Dự án 4FGF cũng sẽ xây dựng một diễn đàn chia sẻ kinh nghiệm với một nhóm lớn gồm các dự án và các đối tác khác nhau nhằm giải quyết các vấn đề, chia sẻ kinh nghiệm và xúc tiến mở rộng các tác động tích cực

Trang 32

Ở Việt Nam, dự án Phân cấp Giảm nghèo tỉnh Quảng Bình (DPPR-QB)

và dự án Quan hệ đối tác vì Người nghèo trong Phát triển Nông Lâm nghiệp tỉnh Bắc Kạn (3PAD-BK) được lựa chọn để tham gia các hoạt động thực hiện

dự án 4FGF CIAT và CIP cung cấp hỗ trợ kỹ thuật cho hai dự án đầu tư phát triển do IFAD tài trợ này trong quan hệ đối tác với các Hệ thống Nghiên cứu Nông nghiệp Quốc gia (NARS) Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam (VAAS) là đối tác quản lý nghiên cứu của dự án 4FGF tại Việt Nam, sẽ điều phối các đóng góp của các Viện nghiên cứu thuộc VAAS, các tổ chức nghiên cứu và các đối tác thực hiện khác nhau khác, có thể gồm: Viện Chăn nuôi Quốc gia (NIAH), Đại học Bách khoa Hà Nội (HUT), Đại học Nông Lâm Thái Nguyên (TUAF) Điều hành dự án 4FGF do một hội đồng chỉ đạo hướng dẫn Hội đồng chỉ đạo này, gồm đại diện các đối tác chủ chốt của dự án 4FGF: CIAT, CIP, Hệ thống nghiên cứu Nông nghiệp Quốc gia (NARS), khu vực tư nhân và IFAD, sẽ gặp nhau để họp thường niên Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam hiện diện Hệ thống Nghiên cứu Nông nghiệp Quốc gia (NARS) của Việt Nam trong hội đồng chỉ đạo dự án 4FGF

Trang 33

Đồng thời, qua nghiên cứu sinh kế và một số chỉ tiêu liên

quan để có thể thấy rõ được vai trò, tầm quan trọng của các hoạt động sinh kế cũng như xác định chiến lược can thiệp hỗ trợ để phát triển sinh kế cộng đồng, thúc đẩy sản xuất

1.2.2 Tình hình nghiên cứu về sinh kế

1.2.2.1 Các quan điểm về sinh kế

Sinh kế là một đề tài được nhiều nơi trên thế giới quan tâm, đặc biệt trong bối cảnh hiện nay người nông dân chịu sự tác động lớn từ công nghiệp hóa - hiện đại hóa, sự tác động của các khu công nghiệp, sự chênh lệch giàu nghèo, hội nhập kinh tế, sự biến đổi khí hậu và nhiều yếu tố khác [5]

Từ trước đến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu khoa học, bài viết đi sâu phân tích về hoạt động sinh kế của người dân, đặc biệt chú ý đến đời sống của cư dân nghèo khổ Ý tưởng nghiên cứu về sinh kế xuất hiện nhiều trong các công trình nghiên cứu của các tác giả như: Doward, F.Eliss, Morrison Các tác giả đều cho rằng khái niệm sinh kế bao hàm nhiều yếu tố ảnh hưởng đến đời sống của cá nhân cũng như từng hộ gia đình Hiện nay, các đề tài liên quan đến hoạt động sinh kế và bàn về cách thức để xây dựng mô hình sinh kế bền vững cũng vô cùng phong phú Những câu hỏi tại sao, phải làm như thế nào vẫn đang tìm câu trả lời Làm thế nào để lựa chọn một sinh kế bền vững, hay nguyên nhân dẫn đến nghèo đói là gì?,… Trong phạm vi giới hạn đề tài cho phép, chúng tôi xin tổng quan một số công trình nghiên cứu liên quan sinh kế như sau:

1.2.2.2 Một số nghiên cứu về sinh kế:

- Sinh kế của các hộ dân tái định cư ở vùng bán ngập huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La

Đề tài nghiên cứu và đánh giá thực trạng, sinh kế cảu các hộ dân tái định

cư vùng bán ngập của công trình thủy điện Sơn La Trên cơ sở đánh giá phân

Trang 34

tích, đề xuất một số giải pháp tạo sinh kế nhằm ổn định sản xuất và đời sống của các hộ dân di chuyển đến nơi ở mới

- Nghiên cứu đặc điểm văn hóa kiến thức bản địa và chiến lược sinh kế của đồng bào dân tộc thiểu số tại Đakrong – Quảng Trị của Hoàng Mạnh Quân (Đại học Nông Lâm Huế)

Đề tài này nghiên cứu về kiến thức bản địa và mối liên hệ của nó với chiến lược sinh kế của vùng đồng bào dân tộc thiểu số Đề tài cũng đưa ra những điểm được và chưa được trong việc vận dụng kiến thức bản địa vào các hoạt động sinh kế, đề cập đến việc xây dựng một chiến lược sinh kế bền vững

để người dân tự xây dựng và phát triển chiến lược sinh kế cho bản thân và gia đình vừa đảm bảo điều kiện sống hiện tại vừa bảo đảm cho sự phát triển vững chắc cho tương lai

- Nghiên cứu Phát triển nông thôn bền vững ở Việt Nam (VS/RDE/01) (Trường Đại học Nông Lâm Huế)

Đề tài này nghiên cứu trong lĩnh vực phát triển nông thôn bằng cách xây dựng mạng lưới hợp tác giữa các viện/trường để cùng chia sẻ thông tin và kinh nghiệm Sự liên kết trong nước, khu vực và thế giới sẽ làm cơ sở phát triển cho phương pháp tiếp cận hệ thống đa ngành đa lĩnh vực trong phát triển, nhằm nâng cao năng lực cá nhân về nghiên cứu và đào tạo phát triển nông thôn ở các trường đại học và viện nghiên cứu ở Việt Nam

Đề tài nghiên cứu nhằm đưa ra những kinh nghiệm nghiên cứu đa ngành và liên kết giữa khoa học tự nhiên và xã hội trong quá trình tìm hiểu hệ thống nông thôn bền vững Đồng thời, phát huy kinh nghiệm tiếp cận chính diện trong nghiên cứu như phân tích sinh kế và tư duy hệ thống và phát huy tính liên tục trong nghiên cứu đối với chính sách và thực thi chính sách về phát triển nông thôn và tình hình sinh kế ở nông thôn

- Nghiên cứu phát triển nông thôn bền vững tại xã Phong Mỹ, miền Trung Việt Nam của trường Đại học Khoa học & đời sống Praha – Czech

Trang 35

Nghiên cứu này được thực hiện tại xã Phong Mỹ huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên - Huế, đề tài này nghiên cứu về lĩnh vực nông nghiệp phát triển nông thôn, bảo tồn đa dạng sinh học Đặc biệt đi sâu tìm hiểu phương thức sinh

kế của người dân, phân tích các nguồn vốn về con người và nguồn vốn tự nhiên, các khả năng sử dụng nguồn đất sẵn có và nguồn tài nguyên khác: nước, rừng,… tác động đến hoạt động sinh kế của người dân Ngoài ra, đề tài cũng vẽ lên một bức tranh về cuộc sống của người dân qua các chỉ báo về thu nhập, cơ cấu chi tiêu, tình hình giáo dục – y tế, tình hình kinh tế - xã hội tại địa phương

- Đánh giá hoạt động sinh kế của người dân miền núi thôn 1 - 5, Cẩm Sơn, Anh Sơn, Nghệ An (Đại học Nông Lâm Huế)

Đề tài này phân tích các hoạt động sinh kế của người dân miền núi Qua đó xem xét và rút ra những phương thức, tập quán trong lao động sản xuất của người dân nhằm tìm ra một số giải pháp khả thi cho chiến lược sinh

kế bền vững phù hợp với điều kiện của cư dân địa phương

Nhận xét về các công trình nghiên cứu về sinh kế trên đây: Đây là những công trình nghiên cứu mới tại Việt Nam, góp phần nâng cao năng lực, thay đổi nhận thức của người dân trong vấn đề phát triển kinh tế hộ gia đình Trên cơ sở đó giúp người dân thay đổi được nhận thức, tư duy, phương thức, tập quán sản xuất Tất cả các nghiên cứu trên đây đều đi từ việc phân tích hiện trạng sinh kế để từ đó đề xuất các can thiệp và giải pháp nhằm phát triển sinh

kế bền vững, cải thiện và nâng cao giá trị sản xuất tại địa phương, giúp người dân ổn định cuộc sống

Trang 36

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu

các hộ gia đình cùng với người dân sinh sống tại 4 thôn điển hình: thôn Bản Cháng, Lũng Cào, Đồng Tâm và Hát Luông thuộc xã Kim Lư (huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn

2.1.2 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài được triển khai nghiên cứu tại xã Kim Lư, huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn

(cây trồng, vật nuôi), thuộc vốn tự nhiên trong khung sinh kế

Trong hoạt động sinh kế gồm:

- Hoạt động về phi nông nghiệp: Dịch vụ (chế biến thực phẩm, xay sát,…), kinh doanh buôn bán, làm thuê,

- Hoạt động về nông nghiệp: Trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp

- Cơ cấu thu nhập từ các hoạt động sinh kế của người dân địa phương được ước tính bằng tỷ lệ phần trăm (%) mà hoạt động sinh kế đó đạt được khi giả định rằng tổng số là 100%

- Thời gian giành cho các hoạt động sinh kế của người dân địa phương trong vòng một năm (12 tháng), được tính bằng số tháng giành toàn bộ thời gian cho hoạt động sinh kế hay một phần thời gian cho hoạt động sinh kế

2.2 Địa điểm và thời gian tiến hành

Trang 37

2.2.1 Địa điểm

Kim Lư, huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn Bản Cháng, Lũng Cào, Đồng Tâm và Hát Luông

13 thôn thuộc Kim Lư

2.2.2 Thời gian tiến hành

ừ tháng 5 năm 2010 đến tháng 5/2012

2.3 Nội dung nghiên cứu

- Điều kiện kinh tế, xã hội củ Kim Lư;

- Thu nhập sinh kế trồng trọt: tỷ lệ % thu nhập từ tất cả các cây trồng

mà gia đình có khi giả định tổng cộng thu nhập sinh kế trồng trọt là 100%

Trang 38

- Thu nhập sinh kế chăn nuôi: tỷ lệ % thu nhập từ tất cả các vật nuôi

mà gia đình có khi giả định tổng cộng thu nhập sinh kế vật nuôi là 100%

2.3.4 Phân tích thời gian giành cho các hoạt động sinh kế của người dân địa phương

- Thời gian dành cho hoạt động nông nghiệp, gồm toàn bộ thời gian, một phần thời gian

- Thời gian dành cho hoạt động phi nông nghiệp, gồm toàn bộ thời gian, một phần thời gian

2.3.5 Đề xuất các giải pháp phát triển sinh kế, thúc đẩy sản xuất nông nghiệp cho cộng đồng địa phương

2.4 Phương pháp nghiên cứu

2.4.1 Phương pháp thu thập thông tin thứ cấp

,…

:

- Thu thập các tư liệu số liệu có sẵn từ các cơ quan trong huyện và xã;

- Thu thập từ các bản đồ, số liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội trên địa bàn xã

2.4.3 Phương pháp thu thập thông tin sơ cấp

Là phương pháp thu thập các thông tin, số liệu chưa từng được công bố ở bất kì tài liệu nào Người thu thập có được thông tin thông qua tiếp xúc trực tiếp với đối tượng nghiên cứu bằng những phương pháp khác nhau để thu thập thông tin số liêu cần thiết

- Lựa chọn địa điểm:

Trên toàn xã có 13 thôn, trong đó 3 thôn có điều kiện kinh tế phát triển khá nhất, 3 thôn có điều kiện khó khăn, kinh tế kém nhất và 7 thôn còn lại có

Trang 39

kinh tế ở mức trung bình, chúng tôi tiến hành chọn 4 thôn: thôn Bản Cháng, Lũng Cào, Hát Luông và thôn Đồng Tâm với điều kiện phát triển kinh tế khác nhau:

+ Chọn 1 thôn có tình hình kinh tế phát triển nhất xã là thôn Bản Cháng; + Chọn 2 thôn có điều kiện kinh tế thuộc loại trung bình của xã

là thôn Lũng Cào và thôn Đồng Tâm;

+ Chọn 1 thôn có tình hình kinh tế kém phát triển, còn nhiều khó khăn là thôn Hát Luông

Bảng 2.1: Các thôn được lựa chọn trong tổng số các thôn của xã Kim Lư

Trang 40

Để thực hiện luận văn

sau đây để thu thập số liệu: [3]

sách nông dân tham gia họp phân tích sinh kế được dính kèm trong phụ lục

tế khá, và (4) Nữ giới + nghèo

: +

), hoạt độnuôi (vật nuôi)

+ Xác định các hoạt động sinh kế ưu tiên

Ngày đăng: 19/11/2014, 19:51

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.1: Khung sinh kế bền vững - Nghiên cứu hoạt động sinh kế nhằm phát triển sản xuất nông nghiệp tại xã Kiu Lư, huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn
Hình 2.1 Khung sinh kế bền vững (Trang 18)
Hình 2.2: Tài sản của người dân - Nghiên cứu hoạt động sinh kế nhằm phát triển sản xuất nông nghiệp tại xã Kiu Lư, huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn
Hình 2.2 Tài sản của người dân (Trang 20)
Bảng 2.1: Các thôn được lựa chọn trong tổng số các thôn của xã Kim Lư - Nghiên cứu hoạt động sinh kế nhằm phát triển sản xuất nông nghiệp tại xã Kiu Lư, huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn
Bảng 2.1 Các thôn được lựa chọn trong tổng số các thôn của xã Kim Lư (Trang 39)
Bảng 2.2: Số hộ điều tra tại 4 thôn - Nghiên cứu hoạt động sinh kế nhằm phát triển sản xuất nông nghiệp tại xã Kiu Lư, huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn
Bảng 2.2 Số hộ điều tra tại 4 thôn (Trang 41)
Bảng 3.5. Thành phần dân tộc ở xã Kim Lư - Nghiên cứu hoạt động sinh kế nhằm phát triển sản xuất nông nghiệp tại xã Kiu Lư, huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn
Bảng 3.5. Thành phần dân tộc ở xã Kim Lư (Trang 52)
Bảng 3.6. Diện tích, năng suất, sản lượng một số cây trồng chính năm 2012 - Nghiên cứu hoạt động sinh kế nhằm phát triển sản xuất nông nghiệp tại xã Kiu Lư, huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn
Bảng 3.6. Diện tích, năng suất, sản lượng một số cây trồng chính năm 2012 (Trang 53)
Bảng 3.9: Cấu trúc hộ điều tra theo các thôn và phân loại hộ - Nghiên cứu hoạt động sinh kế nhằm phát triển sản xuất nông nghiệp tại xã Kiu Lư, huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn
Bảng 3.9 Cấu trúc hộ điều tra theo các thôn và phân loại hộ (Trang 56)
Bảng 3.11: Trung bình diện tích đất rừng theo nhóm hộ (ha/hộ) - Nghiên cứu hoạt động sinh kế nhằm phát triển sản xuất nông nghiệp tại xã Kiu Lư, huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn
Bảng 3.11 Trung bình diện tích đất rừng theo nhóm hộ (ha/hộ) (Trang 58)
Bảng 3.13 phân theo giới tính - Nghiên cứu hoạt động sinh kế nhằm phát triển sản xuất nông nghiệp tại xã Kiu Lư, huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn
Bảng 3.13 phân theo giới tính (Trang 60)
Bảng 3.18: Trung bình thu nhập (%) về nông nghiệp theo thôn và nhóm hộ - Nghiên cứu hoạt động sinh kế nhằm phát triển sản xuất nông nghiệp tại xã Kiu Lư, huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn
Bảng 3.18 Trung bình thu nhập (%) về nông nghiệp theo thôn và nhóm hộ (Trang 68)
Bảng 3.21: Thu nhập (%) về phi nông nghiệp theo thôn và nhóm hộ - Nghiên cứu hoạt động sinh kế nhằm phát triển sản xuất nông nghiệp tại xã Kiu Lư, huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn
Bảng 3.21 Thu nhập (%) về phi nông nghiệp theo thôn và nhóm hộ (Trang 71)
Bảng 3.22: Thu nhập (%) về chăn nuôi theo thôn và nhóm hộ - Nghiên cứu hoạt động sinh kế nhằm phát triển sản xuất nông nghiệp tại xã Kiu Lư, huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn
Bảng 3.22 Thu nhập (%) về chăn nuôi theo thôn và nhóm hộ (Trang 72)
Bảng 3.23: Thu nhập (%) về vật nuôi cuả nông hộ - Nghiên cứu hoạt động sinh kế nhằm phát triển sản xuất nông nghiệp tại xã Kiu Lư, huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn
Bảng 3.23 Thu nhập (%) về vật nuôi cuả nông hộ (Trang 74)
Bảng 3.25: Thu nhập (%) từ các cây trồng chủ yếu tại Kim Lư - Nghiên cứu hoạt động sinh kế nhằm phát triển sản xuất nông nghiệp tại xã Kiu Lư, huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn
Bảng 3.25 Thu nhập (%) từ các cây trồng chủ yếu tại Kim Lư (Trang 76)
Bảng 3.29:Bình quân số tháng giành cho hoạt động phi nông nghiệp bán - Nghiên cứu hoạt động sinh kế nhằm phát triển sản xuất nông nghiệp tại xã Kiu Lư, huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn
Bảng 3.29 Bình quân số tháng giành cho hoạt động phi nông nghiệp bán (Trang 82)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w