Nông thôn là nơi cung cấp lương thực thực phẩm cho người dân, đảm bảo an ninh lương thực quốc gia và là nguồn thu một khoản ngoại tệ không nhỏ cho ngân sách Nhà nước thông qua hoạt động
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Dương Văn Sơn
Thái Nguyên - 2013
Trang 2L ỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, luận văn là công trình nghiên cứu khoa học, độc lập của riêng tôi
Các số liệu, thống kê, tổng hợp phân tích, kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn được tập hợp từ nhiều nguồn tài liệu và liên hệ thực tế, các thông tin trong luận văn là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về nội dung của luận văn
Phú Thọ, ngày tháng năm 2013
Tác giả luận văn
Đặng Đức Mạnh
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tác giả xin trân trọng cảm ơn trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên, phòng Quản lý sau đại học đã tạo điều kiện trong thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành chương trình học tập của khóa học Trong thời gian học tập, nghiên cứu đề tài tác giả đã nhận được sự quan tâm, chỉ bảo nhiệt tình của tập thể giảng viên Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên, của thầy hướng dẫn thực hiện luận văn để đảm bảo hoàn thành kế hoạch và tiến độ đề ra; đặc biệt, tác giả xin bày tỏ sự biết ơn sâu sắc tới thầy giáo PGS.TS Dương Văn Sơn đã nhiệt tình truyền đạt kiến thức giúp đỡ tác giả hoàn thành tốt luận văn này
Tác giả xin chân thành cảm ơn các đồng chí lãnh đạo, các cán bộ Sở Nông nghiệp và PTNT, UBND các xã Sơn Dương, Đồng Luận, Gia Điền đã tạo điều kiện, giúp đỡ, đóng góp nhiều ý kiến bổ ích trong quá trình nghiên cứu đề tài; đồng thời xin chân thành cảm ơn tập thể anh, chị, em lớp thạc sỹ K19 - Phát triển nông thôn đã giúp đỡ trong thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Mặc dù đã có nhiều cố gắng, song luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót Do vậy tác giả mong nhận được sự góp ý kiến của các thầy giáo, cô giáo và các bạn để luận văn được hoàn thiện hơn
Trân trọng cảm ơn!
Phú Thọ, ngày tháng năm 2013
Tác giả luận văn
Đặng Đức Mạnh
Trang 4MỤC LỤC
Trang
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục các từ viết tắt vi
Danh mục các bảng vii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu của đề tài 3
2.1 Mục tiêu chung 3
2.2 Mục tiêu cụ thể 3
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Cơ sở khoa học của đề tài 4
1.2 Cơ sở thực tiễn 11
1.2.1 Tình hình sản xuất và thu nhập khu vực nông thôn trên thế giới 11
1.2.2 Tình hình sản xuất và thu nhập khu vực nông thôn tại Việt Nam 20
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU 23
2.1 Đối tượng nghiên cứu 23
2.2 Địa điểm, phạm vi và thời gian tiến hành nghiên cứu 23
2.3 Nội dung nghiên cứu 23
2.3.1 Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của các địa phương có liên quan đến hoạt động sản xuất của người dân 23
2.3.2 Nghiên cứu về hoạt động sản xuất của các hộ dân trên địa bàn nghiên cứu, bao gồm sản xuất nông nghiệp và phi nông nghiệp 23
2.3.2.1 Hoạt động sản xuất nông nghiệp 23
2.3.2.2 Hoạt động phi nông nghiệp 24
2.3.3 Nghiên cứu về cơ cấu thời gian dành cho các hoạt động lao động sản xuất của các lao động tại các hộ dân trên địa bàn các xã nghiên cứu 25
Trang 52.3.3.1 Về cấu trúc thời gian dành cho các hoạt động nông nghiệp và phi
nông nghiệp của các hộ dân trên địa bàn các xã nghiên cứu 25
2.3.3.2 Về thu nhập của các hộ dân tại địa bàn các xã nghiên cứu 25
2.3.4 Đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển sản xuất và nâng cao
thu nhập cho các hộ nông dân trên địa bàn các xã xây dựng nông thôn mới
tại tỉnh Phú Thọ 26
2.4 Phương pháp nghiên cứu 26
2.4.1 Thu thập các thông tin thứ cấp 26
2.4.2 Thu thập thông tin sơ cấp 27
2.5 Phân tích số liệu 29
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 30
3.1 Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội có liên quan đến sản xuất nông nghiệp tại 3 xã điểm 30
3.1.1 Điều kiện tự nhiên 30
3.1.1.1 Vị trí địa lý, địa hình địa mạo 30
3.1.1.2 Khí hậu, thủy văn 31
3.1.1.3 Tài nguyên đất 32
3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội tại 3 xã nghiên cứu liên quan đến sản xuất nông nghiệp 33
3.2 Hoạt động sản xuất của các hộ nông dân trên địa bàn các xã nghiên cứu 37
3.2.1 Hoạt động sản xuất nông nghiệp 37
3.2.1.1 Về tổ chức sản xuất và quản trị sản xuất 37
3.2.1.2 Về sản xuất nông nghiệp 45
3.2.2 Hoạt động phi nông nghiệp 67
3.3 Nghiên cứu cơ cấu thời gian dành cho hoạt động nông nghiệp, phi nông nghiệp của các lao động tại các hộ dân trên địa bàn 3 xã điểm 72
3.3.1 Cấu trúc thời gian dành cho các hoạt động nông nghiệp và phi nông nghiệp của các hộ và thành viên hộ nông dân trên địa bàn 3 xã điểm 72
3.4 Nghiên cứu về thu nhập tại các hộ dân trên địa bàn các xã nghiên cứu 77
3.4.1 Thu nhập về nông nghiệp 77
3.4.2 Thu nhập về phi nông nghiệp 84
Trang 63.4.3 Tác động của Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới đến thu
nhập của các hộ dân tại các xã nghiên cứu 87
3.5 Đánh giá chung 90
3.6 Một số giải pháp nhằm phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập cho các hộ dân tại 3 xã nghiên cứu 91
3.6.1 Về sản xuất nông nghiệp 91
3.6.2 Về hoạt động phi nông nghiệp 92
3.6.3 Một số giải pháp góp phần xây dựng nông thôn mới trên địa bàn tỉnh Phú Thọ 93
KẾT LUẬN, ĐỀ XUẤT VÀ KIẾN NGHỊ 94
1 Kết luận 94
2 Đề xuất và kiến nghị 95
TÀI LIỆU THAM KHẢO 97
Trang 75 NLNN : Nông lâm ngư nghiệp
6 PTNT : Phát triển nông thôn
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 3.1: Thống kê diện tích đất 3 xã nghiên cứu 32
Bảng 3.2: Thống kê một số chỉ tiêu kinh tế - xã hội 3 xã nghiên cứu 34
Bảng 3.3: Các loại hình tổ chức sản xuất tại 3 xã nghiên cứu 37
Bảng 3.4: Chất lượng hoạt động của các loại hình 42
tổ chức sản xuất tại 3 xã nghiên cứu 42
Bảng 3.5: Diện tích một số cây trồng chính tại 3 xã nghiên cứu 45
Bảng 3.6: Năng suất bình quân một số cây trồng chính tại 3 xã nghiên cứu 49 Bảng 3.7: Một số chỉ tiêu về sản xuất lâm nghiệp tại 3 xã nghiên cứu 51
Bảng 3.8: Những thuận lợi trong phát triển ngành trồng trọt 52
Bảng 3.9: Những khó khăn trong phát triển ngành trồng trọt 55
Bảng 3.10: Thống kê một số chỉ tiêu ngành chăn nuôi tại 3 xã nghiên cứu 58
Bảng 3.11: Những thuận lợi chính trong phát triển ngành chăn nuôi 61
Bảng 3.12: Những khó khăn chính trong phát triển ngành chăn nuôi 64
Bảng 3.13: Các hoạt động phi nông nghiệp của các hộ 68
Bảng 3.14: Bình quân thời gian lao động sản xuất 73
của các lao động tại các hộ 73
Bảng 3.15: Tổng giá trị sản xuất theo lĩnh vực tại 3 xã nghiên cứu 77
Bảng 3.16: Thu nhập trồng trọt bình quân của các hộ 80
Bảng 3.17: Thu nhập chăn nuôi bình quân của các hộ 83
Bảng 3.18: Thu nhập phi nông nghiệp bình quân của các hộ 85
Bảng 3.19: Thu nhập bình quân đầu người/năm tại 3 xã nghiên cứu 88
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Như chúng ta đã biết, phát triển nông nghiệp nông thôn là vấn đề được Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm Khu vực nông thôn giữ một vai trò hết sức quan trọng trong quá trình phát triển của đất nước Nông thôn là nơi cung cấp lương thực thực phẩm cho người dân, đảm bảo an ninh lương thực quốc gia và là nguồn thu một khoản ngoại tệ không nhỏ cho ngân sách Nhà nước thông qua hoạt động xuất khẩu; nông thôn cung cấp nguyên liệu cho các ngành kinh tế khác và cung cấp hàng hóa cho xuất khẩu; nông thôn còn cung cấp lực lượng lao động hùng hậu cho công nghiệp và thành thị; nông thôn còn
là thị trường rộng lớn để tiêu thụ các sản phẩm của công nghiệp và dịch vụ,…
do đó phát triển nông thôn tạo điều kiện ổn định về mặt kinh tế - chính trị - xã hội cho mỗi quốc gia
Trong suốt quá trình phát triển của đất nước, bộ mặt nông thôn Việt Nam đã có nhiều chuyển biến đáng kể Đời sống người dân ngày càng được nâng lên, cơ sở hạ tầng nông thôn ngày càng được cải thiện, sản xuất nông nghiệp đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, cơ cấu lao động và kinh tế nông thôn dần có sự chuyển biến tích cực theo hướng tăng tỷ lệ lao động và thành phần kinh tế phi nông nghiệp Việt Nam hiện là một trong những nước đứng đầu trong xuất khẩu một số sản phẩm nông nghiệp như gạo, tiêu, điều, thủy sản, cà phê,… Tuy nhiên những thành tựu mà ngành nông nghiệp nước ta đạt được chưa tương xứng với tiềm năng và lợi thế của mình Nông nghiệp nông thôn có phát triển nhưng thiếu bền vững, cạnh tranh thấp, chuyển giao khoa học công nghệ và đào tạo nguồn nhân lực còn hạn chế Nông nghiệp nông thôn phát triển thiếu quy hoạch, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội như hệ thống giao thông, thủy lợi, trường học, trạm y tế, công trình cấp nước… còn yếu
Trang 10kém, môi trường nông thôn ngày càng bị ôi nhiễm Đời sống vật chất và tinh thần của người dân nông thôn đã được cải thiện nhưng vẫn còn thấp, tỷ lệ hộ nghèo còn cao, chênh lệch giàu nghèo giữa khu vực thành thị và nông thôn còn lớn dẫn đến nhiều vấn đề xã hội bức xúc như di dân lên thành thị, ôi nhiễm môi trường, tệ nạn xã hội gia tăng… Nhằm giải quyết những tồn tại và thúc đẩy quá trình phát triển tại khu vực nông thôn, ngày 04 tháng 06 năm
2010 Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 800/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 -
2020 Phú Thọ là một trong năm tỉnh điểm của cả nước để thực hiện Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới
Ngay trong năm 2010, tỉnh Phú Thọ đã triển khai xây dựng nông thôn mới trên ba xã điểm, đại điện cho 3 vùng của tỉnh là xã Sơn Dương (huyện Lâm Thao), đại diện cho vùng đồng bằng; xã Đồng Luận (huyện Thanh Thủy), đại diện vùng trung du niềm núi, và xã Gia Điền (huyện Hạ Hòa), đại diện vùng miền núi cao Cho đến nay, chương trình này vẫn đang tiếp tục được triển khai và đã thu được một số kết quả bước đầu rất đáng được đánh giá và rút kinh nghiệm Trong các hoạt động của chương trình xây dựng nông thôn mới, sản xuất và hoạt động sinh kế (bao gồm cả hoạt động sản xuất nông nghiệp và phi nông nghiệp) được coi là hoạt động cơ bản phản ánh trình độ phát triển kinh tế và thu nhập của địa phương Vì vậy, việc đánh giá hoạt động sản xuất và thu nhập của các hộ dân tại các xã điểm là rất cần thiết để có được bức tranh về hiện trạng đời sống sản xuất và thu nhập của người dân, từ
đó đưa ra một số giải pháp nhằm phát triển sản xuất và nâng cao thu nhập cho các hộ nông dân trên địa bàn các xã xây dựng thí điểm nông thôn mới tại tỉnh
Phú Thọ Do đó việc thực hiện đề tài: “Nghiên cứu hoạt động sản xuất và
thu nhập của các hộ nông dân tại 3 xã thí điểm xây dựng nông thôn mới tại tỉnh Phú Thọ” là rất cần thiết, có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn phục vụ
chương trình xây dựng nông thôn mới tại tỉnh Phú Thọ
Trang 112 Mục tiêu của đề tài
2.1 Mục tiêu chung
Nghiên cứu thực trạng về hoạt động sản xuất và thu nhập của các hộ dân tại các xã thí điểm xây dựng nông thôn mới tỉnh Phú Thọ, từ đó đưa ra một số giải pháp nhằm phát triển sản xuất và nâng cao thu nhập cho các hộ nông dân trên địa bàn các xã xây dựng nông thôn mới tỉnh Phú Thọ
- Nghiên cứu về thu nhập của các hộ dân trên địa bàn các xã nghiên cứu;
- Đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển sản xuất và nâng cao thu nhập cho các hộ dân trên địa bàn các xã xây dựng nông thôn mới tỉnh Phú Thọ
Trang 12CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Cơ sở khoa học của đề tài
* Một số khái niệm, thuật ngữ:
- Nông thôn và nông thôn mới:
Khái niệm nông thôn: nông thôn là vùng sinh sống của tập hợp cư dân, trong đó có nhiều nông dân Tập hợp cư dân này tham gia vào các hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội và môi trường trong một thể chế chính trị nhất định và chịu ảnh hưởng của các tổ chức khác [6]
Một số đặc điểm của vùng nông thôn Việt Nam
+ Cư dân chủ yếu là nông dân và làm nghề nông, đây là địa bàn hoạt động chủ yếu của các ngành sản xuất vật chất nông, lâm, ngư nghiệp và các ngành kinh doanh dịch vụ phi nông nghiệp;
+ Chất lượng cuộc sống ở khu vực nông thôn chưa cao;
+ Nông thôn thể hiện tính chất đa dạng về điều kiện tự nhiên, môi trường sinh thái;
+ Cư dân nông thôn có mối quan hệ họ tộc và gia đình khá chặt chẽ với những quy định cụ thể của từng họ tộc và gia đình;
+ Nông thôn lưu giữ và bảo tồn nhiều di sản văn hóa của quốc gia như các phong tục tập quán cổ truyền, các di tích lịch sử, các danh lam thắng cảnh…
Nông thôn mới: nông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội từng bước hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ; gắn phát triển nông thôn với đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn dân chủ, ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; môi trường sinh thái được bảo vệ; an ninh trật tự được giữ vững; đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày càng được nâng cao; theo định hướng xã hội chủ nghĩa [3]
Trang 13Có ba yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất là sức lao động, đối tượng lao động và tư liệu lao động
+ Sức lao động: là tổng hợp thể lực và trí lực của con người được sử dụng trong quá trình lao động Sức lao động mới chỉ là khả năng của lao động còn lao động là sự tiêu dùng sức lao động trong thực hiện
+ Đối tượng lao động: là bộ phận của giới tự nhiên mà lao động của con người tác động vào nhằm biến đổi nó theo mục đích của mình Đối tượng lao động có hai loại Loại thứ nhất có sẵn trong tự nhiên như các khoáng sản, đất, đá, thủy sản, Các đối tượng lao động loại này liên quan đến các ngành công nghiệp khai thác Loại thứ hai đã qua chế biến nghĩa là đã có sự tác động của lao động trước đó, ví dụ như thép phôi, sợi dệt, bông Loại này
là đối tượng lao động của các ngành công nghiệp chế biến
+ Tư liệu lao động: là một vật hay các vật làm nhiệm vụ truyền dẫn sự tác động của con người lên đối tượng lao động, nhằm biến đổi đối tượng lao động thành sản phẩm đáp ứng nhu cầu của con người Tư liệu lao động lại gồm bộ phận trực tiếp tác động vào đối tượng lao động theo mục đích của con người, tức là công cụ lao động, như các máy móc để sản xuất), và bộ phận trực tiếp hay gián tiếp cho quá trình sản xuất như nhà xưởng, kho, sân bay, đường xá, phương tiện giao thông Trong tư liệu lao động, công cụ lao động giữ vai trò quyết định đến năng suất lao động và chất lượng sản phẩm
Trang 14Hai mặt của nền sản xuất gồm: lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất + Lực lượng sản xuất gồm người lao động và tư liệu sản xuất, trong
đó con người giữ vai trò quyết định
+ Quan hệ sản xuất là quan hệ giữa người với người trong quá trình sản xuất Quan hệ sản xuất gồm có:
a Quan hệ về sở hữu các tư liệu sản xuất, còn gọi tắt là quan hệ sở hữu
b Quan hệ về tổ chức, quản lý sản xuất còn gọi là quan hệ quản lý
c Quan hệ về phân phối sản phẩm, còn gọi tắt là quan hệ phân phối
- Nông nghiệp:
Nông nghiệp là quá trình sản xuất lương thực, thực phẩm, thức ăn gia súc, tơ, sợi và sản phẩm mong muốn khác bởi trồng trọt những cây trồng chính và chăn nuôi đàn gia súc (nuôi trong nhà) Công việc nông nghiệp cũng được biết đến bởi những người nông dân, trong khi đó các nhà khoa học, những nhà phát minh thì tìm cách cải tiến phương pháp, công nghệ và kỹ thuật để làm tăng năng suất cây trồng và vật nuôi Nông nghiệp là một ngành kinh tế quan trọng trong nền kinh tế mỗi nước, đặc biệt là trong các thế kỷ trước đây khi công nghiệp chưa phát triển và nông nghiệp chiếm tỷ trọng cao trong nền kinh tế.Nông nghiệp là tập hợp các phân ngành như trồng trọt, chăn nuôi, chế biến nông sản và công nghệ sau thu hoạch [8]
Trong nông nghiệp có hai loại chính, việc xác định sản xuất nông nghiệp thuộc dạng nào cũng rất quan trọng:
* Nông nghiệp thuần nông hay nông nghiệp sinh nhai là lĩnh vực sản xuất nông nghiệp có đầu vào hạn chế, sản phẩm đầu ra chủ yếu phục vụ cho chính gia đình của mỗi người nông dân Không có sự cơ giới hóa trong nông nghiệp sinh nhai
* Nông nghiệp chuyên sâu: là lĩnh vực sản xuất nông nghiệp được chuyên môn hóa trong tất cả các khâu sản xuất nông nghiệp, gồm cả việc sử dụng máy
Trang 15móc trong trồng trọt, chăn nuôi, hoặc trong quá trình chế biến sản phẩm nông nghiệp Nông nghiệp chuyên sâu có nguồn đầu vào sản xuất lớn, bao gồm cả việc
sử dụng hóa chất diệt sâu, diệt cỏ, phân bón, chọn lọc, lại tạo giống, nghiên cứu các giống mới và mức độ cơ giới hóa cao Sản phẩm đầu ra chủ yếu dùng vào mục đích thương mại, làm hàng hóa bán ra trên thị trường hay xuất khẩu Các hoạt động trên trong sản xuất nông nghiệp chuyên sâu là sự cố gắng tìm mọi cách để có nguồn thu nhập tài chính cao nhất từ ngũ cốc, các sản phẩm được chế biến từ ngũ cốc hay vật nuôi,
Nông nghiệp hiện đại vượt ra khỏi sản xuất nông nghiệp truyền thống, loại sản xuất nôn nghiệp chủ yếu tạo ra lương thực cho con người hay làm thức ăn cho các con vật Các sản phẩm nông nghiệp hiện đại ngày nay ngoài lương thực, thực phẩm truyền thống phục vụ cho con người còn các loại khác như: sợi dệt (sợi bông, sợi len, lụa, sợi lanh), chất đốt (mê tan, dầu sinh học, ethanol, ), da thú, cây cảnh, sinh vật cảnh, chất hóa học (tinh bột, đường, mì chính, cồn, nhựa thông), lai tạo giống, các chất gây nghiện cả hợp pháp và không hợp pháp như (thuốc lá, cocaine ) Thế kỷ 20 đã trải qua một sự thay đổi lớn trong sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là sự cơ giới hóa trong nông nghiệp và ngành sinh hóa trong nông nghiệp Các sản phẩm sinh hóa nông nghiệp gồm các hóa chất để lai tạo, gây giống, các chất trừ sâu, diệt cỏ, diệt nấm, phân đạm
- Hộ nông dân và kinh tế hộ nông dân:
+ Hộ nông dân: Hộ nông dân là những hộ chủ yếu hoạt động nông nghiệp theo nghĩa rộng, bao gồm cả nghề rừng, nghề cá và hoạt động phi nông nghiệp ở nông thôn [2]
Theo Ellis 1998 thì “hộ nông dân là các hộ, thu nhập các phương tiện sống từ ruộng đất, sử dụng chủ yếu lao động gia đình trong sản xuất nông trại, nằm trong một hệ thống kinh tế rộng hơn, nhưng cơ bản được đặc trưng bằng
Trang 16việc tham gia một phần trong thị trường hoạt động với một trình độ hoàn chỉnh không cao” [2]
Các đặc điểm của hộ nông dân:
Là đơn vị kinh tế cơ sở, vừa là đơn vị sản xuất, vừa là đơn vị tiêu dùng Quan hệ tiêu dùng và sản xuất biểu hiện ở trình độ phát triển của hộ từ
tự cấp hoàn toàn đến sản xuất hàng hóa hoàn toàn, trình độ này quyết định quan hệ giữa hộ nông dân với thị trường
Các hộ nông dân hoạt động nông nghiệp còn tham gia vào các hoạt động phi nông nghiệp với các mức độ khác nhau làm cho nó khó giới hạn thế nào là một hộ nông dân
+ Kinh tế hộ nồng dân: Kinh tế hộ nông dân là hình thức tổ chức kinh
tế của nền sản xuất xã hội, trong đó các nguồn lực như đất đai, tiền vốn và tư liệu sản xuất được coi là của chung để tiến hành sản xuất Có nhứng ngân quỹ, ngủ chung một nhà, ăn chung; mọi quyết định trong sản xuất kinh doanh
và đời sống là tùy thuộc vào chủ hộ, được nhà nước thừa nhận hỗ trợ và tạo điều kiện phát triển
Kinh tế gia đình được nằm trong mối quan hệ với kinh tế tập thể, kinh
tế gia đình xã viên là một bộ phận cấu thành của kinh tế tập thể nên sự phát triển của kinh tế tập thể có ảnh hưởng rất lớn đến kinh tế hộ gia đình
Những đặc trưng cơ bản của kinh tế nông hộ:
Có sự thống nhất chặt chẽ giữa quyền sở hữu với quá trình quản lý và
sử dụng các yếu tố sản xuất;
Lao động quản lý và lao động trực tiếp có sự gắn bó chặt chẽ;
Đất đai là tư liệu quan trọng nhất trong các tư liệu sản xuất của hộ nông dân; Kinh tế nông hộ có khả năng thích nghi và tự điều chỉnh rất cao;
Có sự gắn bó chặt chẽ giữa quá trình sản xuất và lới ích của người lao động; Kinh tế nông hộ là đơn vị sản xuất nhỏ nhưng hiệu quả;
Trang 17Kinh tế nông hộ sử dụng sức lao động và tiền vốn của hộ là chủ yếu Vai trò kinh tế nông hộ trong nông nghiệp nông thôn:
Góp phần làm tăng nhanh sản lượng sản phẩm cho xuất khẩu như lương thực thực phẩm, nông sản xuất khẩu;
Góp phần sử dụng đầy đủ và có hiệu quả các yếu tố sản xuất như đất đai, lao động, vốn và tư liệu sản xuất;
Phát triển kinh tế nông hộ không chỉ có vai trò to lớn về kinh tế mà còn
có ý nghĩa rất lớn về mặt xã hội vì việc gia tăng sản phẩm hàng hóa và hiệu quả kinh tế trong nông nghiệp đã góp phần tăng thêm việc làm và nâng cao thu nhập cho người dân ở nông thôn, cải thiện và nâng cao đời sống - là cơ sở kinh tế vững chắc để giải quyết các vấn đề xã hội
- Thu nhập bình quân đầu người: Là toàn bộ số tiền và giá trị hiện vật
sau khi trừ chi phí sản xuất trong năm của hộ chia đều cho số thành viên trong
hộ [1]
Nguồn thu nhập của hộ gia đình bao gồm: Thu từ sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản, diêm nghiệp, sau khi đã trừ chi phí sản xuất và thuế, các chi phí khác (nếu có); Thu từ sản xuất ngành nghề phi nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản, sau khi trừ các chi phí sản xuất và thuế, các chi phí khác (nếu có); Thu từ tiền công, tiền lương; Thu từ tiền công, tiền lương của thành viên trong gia đình làm việc phi nông nghiệp trong và ngoài địa bàn xã; Thu khác được tính vào thu nhập như quà biếu, lãi tiết kiệm,…
Các khoản thu không tính vào thu nhập gồm: Các khoản trợ cấp xã hội, các khoản tiền điện, rút tiền tiết kiệm, thu nợ, bán tài sản, vay nợ, tạm ứng
- Tiêu chí thu nhập trong Bộ tiêu chí nông thôn mới tỉnh Phú Thọ: Bộ
tiêu chí nông thôn mới tỉnh Phú Thọ quy định xã đạt tiêu chí về thu nhập có thu nhập bình quân đầu người/năm so với mức bình quân chung khu vực nông
Trang 18thôn của tỉnh phải đạt 1,2 lần đối với xã miền núi cao, 1,3 lần với xã trung du miền núi, 1,4 lần với vùng đồng bằng [5]
Tuy nhiên theo hướng sửa đổi tới đây, bám theo Quyết định TTg ngày 20/02/2013 của Thủ tướng Chính phủ về việc sửa đổi 5 tiêu chí trong Bộ tiêu chí quốc gia xây dựng nông thôn mới [4] Tiêu chí thu nhập trong Bộ tiêu chí nông thôn mới tỉnh Phú Thọ sẽ sửa đổi theo hướng tính thu nhập bằng con số tuyệt đối cho từng năm và không chia theo các vùng Cụ thể, xã đạt tiêu chí về thu nhập năm 2012 phải đạt 13 triệu đồng/người/năm đối với cả 3 vùng, năm 2013 là 14,5 triệu đồng/người/năm, năm 2014 là 16 triệu đồng/người/năm và năm 2015 là 18 triệu đồng/người/năm
342/QĐ Tiêu chí hình thức tổ chức sản xuất trong Bộ tiêu chí nông thôn mới tỉnh Phú Thọ: Bộ tiêu chí nông thôn mới tỉnh Phú Thọ quy định xã đạt tiêu
chí hình thức tổ chức sản xuất phải có tổ hợp hoặc hợp tác xã nông, lâm, ngư nghiệp hoạt động có hiệu quả Phương pháp xác định hợp tác xã, tổ hợp tác hoạt động hiệu quả cụ thể như sau:
+ Hợp tác xã nông nghiệp (bao gồm hợp tác xã nông nghiệp, hợp tác xã lâm nghiệp, hợp tác xã thủy sản, hợp tác xã thuỷ lợi) hoạt động có hiệu quả khi: Được thành lập và hoạt động theo quy định của Luật Hợp tác xã sửa đổi năm 2012; HTX kinh doanh hằng năm liên tục có lãi; Vốn chủ sở hữu của hợp tác xã tăng trưởng liên tục với mức bình quân 03%/năm trở lên; Hiệu quả hoạt động của hợp tác xã phải được UBND xã xác nhận sau khi có thẩm định của phòng nông nghiệp hoặc phòng kinh tế huyện [5]
+ Tổ hợp tác trong nông nghiệp (bao gồm cả trong nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản) hoạt động có hiệu quả khi: Được thành lập, tổ chức, quản lý
và hoạt động theo đúng quy định tại Nghị định số 151/2007/NĐ-CP ngày 10 tháng 10 năm 2007 của Chính phủ và Thông tư số 04/2008/TT-BKH ngày 09
Trang 19tháng 7 năm 2008 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư; Hoạt động sản xuất kinh doanh có lãi được Uỷ ban nhân dân xã xác nhận [5]
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Tình hình sản xuất và thu nhập khu vực nông thôn trên thế giới
* Tình hình sản xuất và thu nhập khu vực nông thôn tại Mỹ
Cánh đồng ở Mỹ trông lút tầm mắt mà không thấy những chiếc bờ ruộng quen thuộc như ở nước ta Cư dân nông thôn Mỹ chỉ chiếm có 18%, 82% trong tổng số trên 313,23 triệu dân (2011) [10]
Họ không phải là nông dân theo cách hiểu thông thường, họ là công nhân nông nghiệp vì lao động hoàn toàn bằng các phương tiện cơ giới hóa Khi cần thu hoạch cà chua hay các sản phẩm không sử dụng được máy móc người ta thuê lao động từ nước Mexico láng giềng Tôi đã sang thăm Mexico
và nhiều người nói với tôi là chỉ cần đi làm thuê một vụ thu hoạch ở Mỹ cũng
đủ sống cả năm rồi (!) Nước Mỹ có khoảng 2,1 triệu trang trại (farm), với diện tích bình quân mỗi trang trại là 446 acré (1acré = 0,4ha)
Các trang trại chiếm mật độ cao ở một số bang ở vùng Trung Tây nước
Mỹ (ví dụ ở Texas là 230 nghìn trang trại, Montana- 105 nghìn, Indiana- 88,6 nghìn, Kentucky- 84,0 nghìn, ) Đất đai ở vùng Trung Tây nước Mỹ thuộc loại màu mỡ nhất thế giới Tỷ lệ (%) ruộng đất trong các trang trại ở các vùng khác nhau được trình bày trong hình sau đây Đối với toàn nước Mỹ thì diện tích đất trồng trọt chỉ chiếm có 18,01% đất đai, trong đó diện tích trồng trọt thường xuyên chỉ chiếm có 0,21% đất đai (!) Nước Mỹ rất rộng lớn (9 161
Trang 20923 km2 đất đai- không kể diện tích nước) Chính nhờ cơ giới hóa triệt để nên sản lượng nông nghiệp của Mỹ là rất lớn tuy với số lao động không nhiều Lấy số liệu năm 2010 làm ví dụ,
an toàn, có chất lượng cao, phong phú và giá cả phải chăng
giới Có khoảng 7% số trang trại thu được bình quân tới từ 250 000 USD trở lên Sản lượng các nông sản phẩm chính của Mỹ (2006) là Ngô- 10,5 tỷ bu (1 bushel =khoảng 22-27kg, tùy loại nông sản); Yến mạch- 93,7 triệu bu; Lúa mạch- 180 triệu bu; Lúa miến-277,5 triệu bu; Tiểu mạch- 1,8 tỷ bu; lúa mạch đen- 7,2 triệu bu; bông- 20,9 triệu b (1 bale= 217,7kg); thuốc lá- 726 triệu lb (1lb =0,4536kg); lạc- 3,5 tỷ lb; đậu tương-3,2 tỷ lb; khoai tây- 434,7 cwt (1cwt= 45,36kg); khoai lang- 16,4 triệu cwt; lúa- 193,7 cwt; mía- 29,5 triệu tấn, củ cải đường-33,8 triệu tấn; táo- 5 triệu tấn; nho- 6,3 triệu tấn; đào- 1 triệu tấn; bò- 96,7 triệu con (trong đó có 9,1 triệu bò sữa); cừu- 6,2 triệu con; lợn- 62,1 triệu con,
Trong cây trồng thì chiếm tỷ lệ cao nhất là ngô, đậu tương, tiểu mạch, bông Mặ
2002, giá trị thị trường của sản lượng nông nghiệp Mỹ đã đạt hơn 200
tỷ đô-la, bao gồm 45 tỷ đô-la từ thịt gia súc và da bò; gần 40 tỷ đô-la từ các loại hạt như ngô, lúa mì và các loại hạt dầu như đậu nành; gần 24 tỷ đô-la từ gia cầm và trứng; 20 tỷ đô-la từ sữa và các sản phẩm bơ sữa và 12 tỷ đô-la từ cừu và lợn Mặc dù trên khắp nước Mỹ có hơn 2 triệu trang trại nhưng chỉ có rất ít tập đoàn trang trại lớn thống trị thị trường -
Trang 21tình trạng thâm hụt thương mại nhưng lại thặng dư trong thương mại nông sản Năm 2007, các trang trại Mỹ xuất khẩu 78 tỷ đô-la, trong đó, phần lớn nhất được xuất sang các nước Châu Á, mặc dù Canada và Mêhicô là hai thị trường có đóng góp lớn nhất trong sự tăng trưởng mới đây của xuất khẩu nông sản Khoảng ¼ sản lượng đầu ra của các nông trại Mỹ được xuất khẩu
Một chính sách quan trọng của Chính phủ Mỹ là trợ cấp của Chính phủ cho nông nghiệp Năm 2006 Chính phủ đã trợ cấp tới 25 tỷ USD để hỗ trợ về thu nhập, bảo lãnh giá cả hoặc giống cây trồng cho nhà nông Chính nhờ trợ cấp của Chính phủ mà nhiều trang trại ở Mỹ đã chuyển đổi từ mô hình trang trại gia đình quy mô nhỏ sang tập đoàn nông nghiệp trang bị công nghiệp hóa
ở mức hiện đại Riêng 25 000 người trồng bông ở Mỹ mỗi năm đã nhận được tiền trợ cấp từ Chính phủ lên đến 2,5-3 tỷ USD (!) Đứng trước cánh đồng trồng cà chua ở Mỹ tôi thậm chí không nhìn thấy đất (!) vì toàn bộ diện tích đất được phủ kín bằng màng chất dẻo (để tránh bay hơi nước) Cây cà chua mọc lên từ các lỗ khoét nhỏ, cao đến đâu lại được che tiếp bằng màng chất dẻo (để lọc án
bằng những ống chất dẻo rất nhỏ (để tiết kiệm nước và phân bón) Người nông dân lái máy kéo ngồi trong cabin có lắp điều hòa nhiệt độ (!) và hầu như mọi hoạt động trên đồng ruộng đều đã được cơ giới hóa
Công nghệ sinh học đã có đất phát triển nhanh chóng ở Mỹ Bên cạnh việc cải tiến về phân bón, thuốc bảo vệ thực vật thì Mỹ là nước đã đi đầu trong số 23 nước trên thế giới triển khai rộng lớn cây trồng chuyển gen (GMC-genetically modified culture) Dân số thế giới đã tăng lên quá 6 tỷ người và dự kiến sẽ lên tới 8 tỷ người vào năm 2025, và 10 tỷ người vào năm
2050 Kỹ thuật tạo giống cổ điển kiểu "cách mạng xanh" của thập niên 60 thế
kỷ XX đã không còn có khả năng tăng năng suất cao như trước (75%), mà chỉ
Trang 22còn khoảng 1,5% mỗi năm Trong khi đấy, kỹ thuật chuyển đổi gen đã cho thấy có khả năng tạo một bước nhảy vọt, không những trong việc tăng năng suất và chất lượng cây trồng (năng suất cao, chống lại sâu bệnh, chống chịu với khí hậu nóng hay lạnh, chống chịu với nồng độ cao của thuốc trừ cỏ, kéo dài thời gian bảo quản, ) mà còn cải thiện được môi trường (giảm lượng sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, giảm lượng phân bón hóa học, ) và bảo vệ sức khoẻ của nông dân (ít tiếp cận với hoá chất) và người tiêu thụ (thức ăn không
có tồn dư hoá chất, kim loại nặng, vi sinh vật vượt ngưỡng cho phép
Trong khoảng thời gian 1996-2005 cây trồng chuyển gen đã được triển khai trên một diện tích rất rộng lớn - khoảng 900 000 km2, trong đó có tới 55% là ở Mỹ Diện tích cây trồng chuyển gen đến năm 2007 đã tăng lên đến 114,3 triệu ha Riêng Mỹ diện tích cây GMC năm 2007 đã là 57,7 triệu ha Việc trồng cây biến đổi gen (GMC) tăng lên rõ rệt trên toàn cầu trong năm
2009 So với năm 2008, diện tích giao trồng GMC đã tăng 9 triệu ha trong tổng số 134 triệu ha Sự tăng trưởng này đạt 3% ở các nước công nghiệp (2 triệu ha) và 13% ở các quốc gia đang phát triển (7 triệu ha) Nông dân nhiều nước đã trồng các cây chuyển gen mang nhiều đặc tính (stacked traits), vì vậy nếu tính diện tích cây trồng chuyển gen theo đặc tính thì tăng thêm 22%, nghĩa là đạt diện tích 22% Đã có tới 12 triệu nông dân trên thế giới tham gia vào việc trồng cây chuyển gen, trong số này có tới 90% là những nông dân nghèo thuộc các nước đang phát triển (khoảng 11 triệu người)
Trong 11 năm từ 1996 đến 2006 cây trồng chuyển gen đã làm tăng thêm thu nhập tới 33,8 tỷ USD (trong đó riêng Mỹ là 15,8 tỷ USD) Giống đu
đủ Hawaii (Mỹ) đề kháng v
.Cải dầu (Canola) chuyển gen có tính đề kháng cao với thuốc trừ cỏ glyphosate hay glufosinate được trồng rộng rãi ở Mỹ.Củ cải đường kháng thuốc trừ cỏ glyphosate hay glufosinate đã được
Trang 23trồng rộng rãi ở Mỹ Các quốc gia phát triển GMC lớn nhất là Mỹ (64 triệu ha), Brazil (21.4 triệu ha), Argentina (21,3 triệu ha), Ấn Độ (8,4 triệu ha) và Canada (8,2 triệu ha),
Theo thống kê năm 2010 thì tại Mỹ diện tích trồng cây c
- )- 73%; ngô Bt- 63%; ngô HT- 70% Các Công ty Công nghệ sinh học ở Mỹ đang phấn đấu biến cây trồng chuyển gen (GMC) ngoài chuyện kháng thuốc trừ cỏ, chống chịu sâu bệnh còn hướng tới nhiều mục tiêu khác (kháng mặn, chịu hạn, chịu lạnh, kháng nấm, kháng
vi khuẩn, kháng virut, tăng giá trị dinh dưỡng, kéo dài thời gian bảo quản Ngoài ra cây trồng chuyển gen còn được sử dụng như những nồi phản ứng sinh học (bioreactors) vì mang các gen sản sinh kháng nguyên thay cho vacxin hoặc các protein có tác dụng chữa nhiều bệnh hiểm nghèo
Một phần sản phẩm nông nghiệp được sử dụng làm nguồn carbon để nuôi cấy ở quy mô công nghiệp các vi sinh vật mang gen tái tổ hợp nhằm sản xuất ra hàng loạt các sản phẩm quý giá phục vụ cho chẩn đoán và điều trị trên
200 loại bệnh tật khác nhau Nổi bật nhất là các sinh dược phẩm (biopharmaceuticals) Đó là insulin, kích tố sinh trưởng người (HGH), nhân tố tương quan dến kích tố sinh trưởng (GHRF), interferon (IFFNα, IFNβ, IFNγ) lymphokine, interleukin-2, interleukine-3, nhân tố kích hoạt đại thực bào (MAF), nhân tố sinh trưởng tế bào-B (B-cell GF), streptokinase, urokinase, nhân tố kích hoạt plasmonogen mô, thymosis, albumin, nhân tố máu (BF) eythropoietin, thrombopoietin, nhân tố kích thích tạo tập đoàn (CSF, G-CSF), kích tố giải phóng gonadotropin (GnRH), ganodotropin kỳ mãn kinh (MGn), calcitonin, nhân tố sinh trưởng biểu bì (EGF), nhân tố hoại tử khối u (TNF), α-11 antitrypsin, atrial natriuetic peptide, kháng thể đơn dòng (MABs), gene chip, các loại vaccine, kháng sinh, aminoacid thế hệ mới,
Trang 24Mỹ hiện có tới khoảng 1000 Công ty Công nghệ sinh học và riêng 8 tháng đầu năm 2008 đã thu về tới 360 tỷ USD (!) Một đất nước đông tới 313,232 triệu dân, nông nghiệp chỉ chiếm 1,1% trong cơ cấu GDP, tỷ lệ lao động nông nghiệp chỉ chiếm 0,7% lực lượng lao động cả nước (2010) nhưng lại là nước xuất khẩu nhiều nông sản phẩm, là nước dẫn đầu về các sản phẩm Công nghệ sinh học hiện đại và bình quân thu nhập đầu người (GDP/PPP) hiện là 47 200 USD Con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn và nông dân ở Mỹ rất đáng được coi là một mô hình đáng để chúng
ta nghiên cứu và tham khảo.[10]
* Tình hình sản xuất và thu nhập khu vực nông thôn tại Trung Quốc Trung Quốc là một quốc gia có dân số lớn nhất trên thế giới Theo số liệu thống kê gần đây, số lượng đã đạt 1,2 tỷ USD Với sự phát triển của thế
kỷ 21, làm thế nào để nuôi sống dân số lớn và đang phát triển tại Trung Quốc nói riêng đã trở thành một vấn đề cần thiết Mặc dù diện tích đất rộng lớn, chiếm 7% đất tổng số của thế giới, tuy nhiên, trong số đó chỉ có khoảng 10%
là phù hợp để trồng trọt Ngoài ra, số lượng đất canh tác cho mỗi người là rất nhỏ, chỉ có 0,19 mẫu Anh (0,08 ha), và số lượng đất canh tác đang bị thu hẹp cho sự phát triển ngành công nghiệp, nhà ở, đường,… Trung Quốc là một quốc gia phần lớn lực lượng lao động là nông dân, 67%, người dân tham gia vào nông nghiệp Đất đã được sử dụng hàng ngàn năm bằng cách sử dụng phương pháp lao động truyền thống Chỉ trong diện tích canh tác quy mô lớn,
có một số sử dụng kỹ thuật canh tác hiện đại và máy móc [9]
Nhiều người tin rằng Trung Quốc khó có thể nuôi sống dân số trong thế
kỷ tiếp theo, và tất nhiên, có những người khác giữ quan điểm khác nhau Sự kiện sau đây cho thấy rằng nó là hoàn toàn tự nhiên rằng thế giới đang lo ngại
về nguồn cung cấp thực phẩm của Trung Quốc và phát triển nông nghiệp: trước hết, dân số khổng lồ quyết định 1 thực phẩm lớn sản xuất và nước tiêu
Trang 25thụ; thứ hai, Trung Quốc được thực hiện nhanh chóng tăng trưởng kinh tế và nhu cầu của nó cho thực phẩm và các mặt hàng nông nghiệp khác đang gia tăng nhanh chóng và liên tục, thứ ba, kể từ khi chính sách cải cách và mở cửa
đã được giới thiệu, Trung Quốc đã được tăng cường tiếp xúc với thế giới nông nghiệp Làm thế nào để khi thực phẩm của Trung Quốc và phát triển nông nghiệp là một vấn đề liên quan đến tất cả và cũng là một vấn đề cần phân tích ngắn gọn về tình trạng nông nghiệp hiện nay của Trung Quốc Như được biết đến cho tất cả mọi người, Trung Quốc là một đất nước với 22% dân
số thế giới và tương đối hạn chế, hoặc một ít hơn 7% của nguồn tài nguyên thế giới tổng số đất canh tác Thực tế này cơ bản chỉ ra rằng để nuôi sống người dân Trung Quốc luôn luôn là một vấn đề cơ bản cho phát triển kinh tế của Trung Quốc và ổn định xã hội Kể từ đầu những năm 1980 khi Trung Quốc đưa ra các chính sách cải cách và mở cửa với thế giới bên ngoài, sản lượng các mặt hàng trang trại lớn của Trung Quốc đã tăng lợi nhuận lớn, sinh
kế của người dân và tiêu chuẩn tiêu thụ đã được cải thiện đáng kể đạt được một thành công lớn bắt được sự chú ý của thế giới Đến năm 1996, tổng sản lượng ngũ cốc đạt trên 480 triệu tấn, thịt đạt 58 triệu tấn và sản phẩm thủy sản đạt 28 triệu tấn - 57,4% và 5,2 lần và 5 lần tương ứng cao hơn so với con số trước khi cải cách và mở chính sách cánh cửa đã được giới thiệu Và những con
số này đã xếp Trung Quốc đầu tiên trên thế giới Hơn thế nữa, giữ bình quân đầu người của Trung Quốc hạt đã đạt đến 394 kg, 48 kg thịt và sản phẩm thủy sản 23 cuộc họp kg hoặc thậm chí vượt qua mức trung bình của thế giới Bây giờ, đối với hàng Trung Quốc, tiêu thụ hàng ngày của năng lượng là 2.727 calo, protein
và chất béo là viết tắt tại 70 gram và 52 gram tương ứng, cao hơn so với những nước có giá trị GNP trung bình Với vấn đề sinh hoạt cơ bản của đất nước được giải quyết vào giữa những năm 1980, các nhiệm vụ phải đối mặt với thực phẩm của Trung Quốc và phát triển nông nghiệp sẽ được tiếp tục đẩy mạnh sản lượng
Trang 26ngũ cốc trong khi, cùng một lúc, cố gắng tốt nhất của Trung Quốc để phát triển sản xuất thực phẩm đa dạng như vậy là để đáp ứng yêu cầu của nhân dân thay đổi chế độ ăn uống và không ngừng nâng cao chất lượng đời sống nhân dân [9]
* Tình hình sản xuất và thu nhập khu vực nông thôn tại Hàn Quốc
Khi bắt đầu của sự bùng nổ kinh tế vào năm 1963, phần lớn dân số của Hàn Quốc là nông dân Sáu mươi ba phần trăm dân số sống ở nông thôn Trong 25 năm sau, Hàn Quốc đã tăng từ một quốc gia nông nghiệp chủ yếu là nông thôn, thành một nước công nghiệp hóa, đô thị mới và lực lượng lao động nông nghiệp bị thu hẹp chỉ có 21% trong năm 1989 Các quan chức chính phủ rằng đô thị hóa và công nghiệp sẽ tiếp tục giảm số lượng lao động nông nghiệp cũng dưới 20% vào năm 2000 [11]
Nông nghiệp của Hàn Quốc đã có nhiều vấn đề cố hữu Hàn Quốc là một quốc gia miền núi với chỉ 22% đất trồng trọt và lượng mưa ít hơn so với hầu hết các láng giềng trồng lúa nước Một cải cách ruộng đất lớn trong cuối những năm 1940 và đầu những năm 1950 lan rộng quyền sở hữu đất cho nông dân nông thôn Cá nhân nắm giữ, tuy nhiên, quá nhỏ (trung bình một ha, thực hiện cơ giới hóa canh tác không hiệu quả và chán nản) hoặc quá lan rộng ra
để cung cấp cho các gia đình có nhiều cơ hội để sản xuất một số lượng đáng
kể của thực phẩm Sự tăng trưởng to lớn của các khu vực đô thị đã dẫn đến sự sụt giảm nhanh chóng của đất nông nghiệp có sẵn, trong khi tại cùng một thời gian tăng dân số và thu nhập lớn hơn có nghĩa là nhu cầu lương thực rất nhiều vượt quá cung Kết quả của những phát triển cuối những năm 1980, khoảng một nửa nhu cầu của Hàn Quốc, chủ yếu là lúa mì và ngô thức ăn chăn nuôi được nhập khẩu
So với các lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ, nông nghiệp vẫn là khu vực chậm chạp nhất của nền kinh tế Năm 1988, đóng góp của nông nghiệp tổng GDP chỉ có khoảng 10,8%, giảm từ khoảng 12,3% năm trước Hầu hết
Trang 27các nhà kinh tế đồng ý rằng khu vực nông thôn của đất nước đã đạt được nhiều hơn những gì họ đã đóng góp trong quá trình công nghiệp hóa Tuy nhiên, sự tăng trưởng của sản lượng nông nghiệp, trung bình 3,4% mỗi năm
từ năm 1945 và 1974, 6,8% hàng năm trong giai đoạn 1974-1979, và 5,6% giữa năm 1980 và 1986, là đáng tin cậy Những lợi ích thậm chí còn ấn tượng hơn bởi vì họ được thêm vào một mức độ truyền thống cao về năng suất Mặt khác, sự tăng trưởng chung của ngành nông nghiệp, lâm nghiệp, và khu vực đánh cá là chỉ có 0,6% trong năm 1987 so với khu vực sản xuất, tăng trưởng 16% trong năm 1986 và 1987.Trong nửa đầu năm 1989, nông nghiệp, lâm nghiệp, và ngành thủy sản tăng 5,9%, trái ngược với 2,9% của sản xuất
Lúa là cây trồng quan trọng nhất và năng suất rất ấn tượng Theo ghi nhận của Donald S Macdonald, tuy nhiên, mức lương tăng và giá trị đất đã làm cho nó tốn kém để sản xuất Gạo đại diện cho khoảng 90% tổng sản lượng ngũ cốc và hơn 40% thu nhập nông nghiệp, vụ lúa năm 1988 là 6,5 triệu tấn Gạo đã được nhập khẩu trong những năm 1980, nhưng số lượng phụ thuộc vào sự thành công của vụ thu hoạch trong nước Chương trình hỗ trợ gạo của chính phủ đã đạt kỷ lục 1,9 tỷ USD trong năm 1986, so với 890 triệu USD vào năm 1985 Bằng cách tăng giá mua sắm 14% so với mức năm 1986, Seoul đã đạt được một cấu trúc giá gạo là khoảng năm lần so với thị trường thế giới vào năm 1987
Lúa mạch là cây trồng quan trọng thứ hai Sản phẩm của hãng đã giảm
từ khoảng 1,5 triệu tấn vào năm 1970 khoảng 561.500 tấn trong năm
1988 Các cây trồng khác bao gồm ngũ cốc như ngô, kê, kiều mạch, lúa miến, đậu nành, và khoai tây Trái cây và rau quả lê, nho, quýt, táo, đào, hành tiếng
xứ Wales, Trung Quốc cải bắp, ớt đỏ, quả hồng vàng, cải bắp, đào, và củ cải Các cây công nghiệp quan trọng khác bao gồm bông, sợi gai dầu, vừng,
Trang 28thuốc lá, và nhân sâm Năm 1988, Thủ trưởng vật nuôi gia súc bản địa Hàn Quốc (2 triệu), heo (4.900.000), và gia cầm (gần 59 triệu USD) [11]
1.2.2 Tình hình sản xuất và thu nhập khu vực nông thôn tại Việt Nam
Sau 20 năm thực hiện công cuộc đổi mới, khu vực nông thôn việt nam
đã có sự thay đổi rõ nét Mức tăng trưởng sản xuất duy trì ở mức 4,8% liên tục trong 10 năm Nhiều lĩnh vực sản xuất được mở rộng về diện tích cũng như tăng trưởng về sản lượng như gạo, cà phê, chế biến thủy hải sản, tạo ra một khối lượng hàng hóa lớn phục vụ cả tiêu dùng trong nước và xuất khẩu
Ví dụ như ngành lúa gạo, từ một nước nhập khẩu gạo Việt Nam đã trở thành quốc gia hàng đầu thế giới về xuất khẩu gạo Sản lượng gạo tăng liên tục từ mức 16 triệu tấn/năm (1986) lên mức 19,2 triệu tấn/năm (1990) và 38,9 triệu tấn/năm (2009), tăng gấp 2,4 lần sau hơn 20 năm đổi mới Tính riêng trong các năm 2008 và 2009, sản lượng và giá trị các loại cây trồng, đặc biệt là những cây tạo nguồn nguyên liệu cho xuất khẩu như: cà phê tăng 40,4%, cao
su tăng 37%, chè tăng 33,3% điều tăng 28,3% so với năm 2005 Tỷ trọng của ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản trong GDP luôn chiếm trên 30% trong giai đoạn 1986 - 1990 và giảm dần trong các giai đoạn tiếp sau theo xu hướng tích cực, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế [12]
Nông nghiệp đã góp phần không nhỏ vào kim ngạch xuất khẩu với giá trị xuất khẩu tăng bình quân trên 10% năm Nếu như năm 1995, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa nông lâm thủy sản của khu vực nông nghiệp chỉ đạt 2,5 tỷ USD thì đến cuối năm 2009, ước đạt 13,2 tỷ USD, cao gấp 5 lần so với năm
1995 Trong 24 mặt hàng xuất khẩu chủ lực của cả nước thì nông lâm thủy sản đã đóng góp tới 11 mặt hàng, chiếm gần ½ số mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam trong đó có những mặt hàng được xem là hàng chủ lực như gạo, cà phê, cao su, gỗ, với kim ngạch trên 1 tỷ USD Cùng với việc mở rộng thị trường xuất khẩu, nhiều mặt hàng nông sản gia tăng thị phần và chiếm vị thế
Trang 29cao trên thị trường thế giới, như hạt điều, hạt tiêu chiếm vị trí thứ nhất, lúa gạo, cà phê đứng thứ hai, cao su đứng thứ tư, chè đứng thứ năm và thủy sản đứng thứ bảy trong nhóm các nước sản xuất mặt hàng này
Hiện nay, một nền nông nghiệp hướng vào sản xuất hàng hóa đã bước đầu hình thành Diện tích gieo trồng các loại cây trồng mà sản phẩm tạo ra dành nhiều cho xuất khẩu hoặc phục vụ trực tiếp cho người tiêu dùng trong nước đã tăng lên như diện tích các loại cây rau, quả, cây công nghiệp ngắn ngày có hướng tăng nhẹ khoảng 2-4%/năm Diện tích các cây lâu năm tăng gần 80 nghìn ha riêng trong năm 2009 do giá xuất khẩu một số nông sản này tăng Những dịch chuyển này đã tạo ra sự hình thành các vùng chuyên canh, đặc biệt là vùng sản xuất các loại cây rau, quả xuất khẩu như vải, bưởi, sầu riêng, na, xoài, thanh long,… cùng với sự hình thành các mô hình sản xuất hàng hóa nông sản lớn Bên cạnh đó thì những cây trồng có định hướng phục
vụ cho các ngành công nghiệp chế biến các sản phẩm chỉ tiêu dùng nội địa thể hiện sự khó khăn, không có năng lực phát triển như cây mía đường, bông, cây thức ăn gia súc,…
Một nét mới trong phát triển nông nghiệp là đã xuất hiện một số mô hình tổ chức sản xuất kiểu mới như kinh tế trang trại, cao su tiểu điền, cà phê nhân dân, tổ hợp tác tự nguyện, hợp tác xã kiểu mới làm dịch vụ cho kinh tế
hộ Tính đến năm 2009, cả nước đã có 135.437 trang trại, trong đó có 39.769 trang trại trồng cây hàng năm, 23.880 trang trại trông cây lâu năm, 20.809 trang trại chăn nuôi và 35.489 trang trại nuôi trồng thủy sản, tập trung nhiều nhất ở khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long Kinh tế hợp tác và hợp tác xã dịch vụ trong nông nghiệp cũng là một nét mới đáng ghi nhận trong tổ chức sản xuất nông nghiệp hiện nay
Trong điều kiện toàn cầu hóa, biến đổi khí hậu, khủng hoảng lương thực và năng lượng đã trở thành các vấn đề nghiêm trọng như hiện nay, khu
Trang 30vực nông nghiệp nông thôn nhất là tại các quốc gia có số dân sống dựa nhiều vào nông nghiệp như Việt Nam tiếp tục được xác định là có vai trò đặc biệt quan trọng trong đời sống kinh tế xã hội Trên cơ sở những thành tựu đã đạt được trong lĩnh vực nông nghiệp nông thôn, Đảng ta vẫn xác định: “Hiện nay và trong nhiều năm tới, vấn đề nông nghiệp, nông dân và nông thôn vẫn
có tầm chiến lược đặc biệt quan trọng Phải luôn coi trọng đẩy mạnh công nghiệp hóa hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, hướng tới xây dựng một nền nông nghiệp hàng hóa lớn, đa dạng, phát triển nhanh và bền vững có năng suất, chất lượng và khả năng cạnh tranh cao; bảo đảm vững chắc an ninh lương thực và tạo điều kiện từng bước hình thành nền nông nghiệp sạch…; Gắn phát triển kinh tế với xây dựng nông thôn mới, giải quyết tốt hơn mối quan hệ giữa nông thôn và thành thị, giữa các vùng miền, góp phần giữ vững ổn định chính trị xã hội” (Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X ngày 25/4/2006) [12]
Trang 31CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tƣợng nghiên cứu
Các hộ gia đình trên địa bàn 3 xã điểm triển khai xây dựng nông thôn mới tại tỉnh Phú Thọ, cùng với các hoạt động sản xuất và thu nhập của họ
2.2 Địa điểm, phạm vi và thời gian tiến hành nghiên cứu
- Địa điểm, phạm vi nghiên cứu: tại 3 xã Sơn Dương (huyện Lâm Thao), Đồng Luận (huyện Thanh Thủy) và xã Gia Điền (huyện Hạ Hòa) tỉnh Phú Thọ
- Thời gian tiến hành: Từ năm 2012 đến năm 2013
2.3 Nội dung nghiên cứu
2.3.1 Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của các địa phương có liên quan đến hoạt động sản xuất của người dân
- Điều kiện tự nhiên: Nêu ra các yếu tố về vị trí địa lý, đất đai, tài nguyên thiên nhiên, địa hình, khí hậu thời tiết của 3 xã
- Điều kiện kinh tế xã hội: Đưa ra và phân tích một số chỉ tiêu kinh tế
xã hội liên quan đến quá trình lao động sản xuất của người dân như: Cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động, thu nhập bình quân, tỷ lệ hộ nghèo, hạ tầng kinh tế
xã hội phục vụ sản xuất (đường giao thông nội đồng, kênh mương nội đồng, thủy lợi,…),…
- Đánh giá chung: Điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức của mỗi địa phương trong phát triển sản xuất
2.3.2 Nghiên cứu về hoạt động sản xuất của các hộ dân trên địa bàn nghiên cứu, bao gồm sản xuất nông nghiệp và phi nông nghiệp
2.3.2.1 Hoạt động sản xuất nông nghiệp
* Về tổ chức sản xuất và quản trị sản xuất:
Nghiên cứu phần này nhằm làm rõ các vấn đề sau:
Trang 32- Tại các xã tồn tại những hình thức tổ chức sản xuất nào (hợp tác xã, tổ hợp tác, các doanh nghiệp, các làng nghề, ngành nghề, trang trại,…);
- Lĩnh vực hoạt động của các hình thức tổ chức này là gì, các sản phẩm, nông sản của các tổ chức trên địa bàn 3 xã điểm (dịch vụ tổng hợp, thủy lợi,…);
- Các hình thức tổ chức này có tác động như thế nào đến các hoạt động sản xuất nông nghiệp của người dân tại 3 xã điểm?;
- Các hình thức tổ chức sản xuất tại 3 xã điểm có hoạt động hiệu quả không?
* Về sản xuất trồng trọt (gồm cả lâm nghiệp) và chăn nuôi
- Trồng trọt:
Nghiên cứu thực trạng về hoạt động sản xuất trồng trọt nhằm xác định được: + Nhóm những cây trồng chính của các hộ tại địa bàn các xã nghiên cứu; + Diện tích, năng xuất, sản lượng, số hộ trồng những cây trồng chính của các hộ tại địa bàn các xã nghiên cứu;
+ Những yếu tố chính ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất trồng trọt của các hộ tại địa bàn các xã nghiên cứu (dịch bệnh, thiên tai, giống, công nghệ chăm sóc nuôi trồng,…)
- Chăn nuôi (bao gồm cả thủy sản):
Nghiên cứu thực trạng về hoạt động chăn nuôi nhằm xác định được:
+ Nhóm vật nuôi chính của các hộ tại địa bàn các xã nghiên cứu;
+ Số đầu vật nuôi, diện tích nuôi trồng thủy sản, số hộ nuôi;
+ Những yếu tố chính ảnh hưởng đến hoạt động chăn nuôi của các hộ tại địa bàn các xã nghiên cứu (dịch bệnh, thiên tai, giống, công nghệ chăm sóc nuôi trồng…)
2.3.2.2 Hoạt động phi nông nghiệp
Nghiên cứu phần này nhằm làm rõ những vấn đề sau:
Trang 33- Các hộ dân trên địa bàn các xã nghiên cứu ngoài sản xuất nông nghiệp còn tham gia các hoạt động trong lĩnh vực phi nông nghiệp nào? Ví dụ như xây dựng, dệt may, làm thêm tại các khu công nghiệp trên địa bàn,…
- Các hoạt động nào trong lĩnh vực phi nông nghiệp là nổi trội, có tỷ lệ người dân tham gia cao?
2.3.3 Nghiên cứu về cơ cấu thời gian dành cho các hoạt động lao động sản xuất của các lao động tại các hộ dân trên địa bàn các xã nghiên cứu
2.3.3.1 Về cấu trúc thời gian dành cho các hoạt động nông nghiệp và phi nông nghiệp của các hộ dân trên địa bàn các xã nghiên cứu
Nghiên cứu phần này nhằm làm rõ những vấn đề sau:
- Các hộ dân và thành viên gia đình trên địa bàn nghiên cứu dành bao nhiêu thời gian (theo tỷ lệ phần trăm) cho hoạt động sản xuất nông nghiệp, bao gồm làm toàn bộ thời gian (Full time) và một phần thời gian (Part time); bao nhiêu thời gian cho các hoạt động phi nông nghiệp, bao gồm làm toàn bộ thời gian (Full time) và một phần thời gian (Part time) Mục đích nhằm làm rõ được cơ cấu về thời gian của các hộ dân, các hoạt động trong lĩnh vực nào chiếm tỷ lệ cao nhất, thấp nhất
2.3.3.2 Về thu nhập của các hộ dân tại địa bàn các xã nghiên cứu
Nghiên cứu phần này nhằm làm rõ những vấn đề sau:
- Tỷ lệ thu nhập của các hộ dân được điều tra trên địa bàn các xã nghiên cứu về các hoạt động trong các lĩnh vực nông nghiệp và phi nông nghiệp như thế nào?
- Về sản xuất nông nghiệp: Sự đóng góp của các cây trồng, vật nuôi trong thu nhập nông hộ thể hiện như thế nào trên từng địa bàn xã nghiên cứu, chiếm tỷ lệ bao nhiêu?
Trang 34- Về phi nông nghiệp: Tỷ lệ về thu nhập của các hoạt động phi nông nghiệp thể hiện như thế nào trên từng địa bàn các xã nghiên cứu, hoạt động nào chiếm tỷ lệ về thu nhập cao nhất, thấp nhất?
2.3.4 Đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển sản xuất và nâng cao thu nhập cho các hộ nông dân trên địa bàn các xã xây dựng nông thôn mới tại tỉnh Phú Thọ
Căn cứ theo kết quả điều tra, đưa ra một số giải pháp, cụ thể:
- Một số giải pháp nâng cao năng xuất, sản lượng của cây trồng, vật nuôi như như áp dụng khoa học kỹ thuật (giống cây mới,con mới, công nghề nuôi trồng mới,… có hiệu quả cao vào sản xuất)
- Giải pháp về hỗ trợ vốn cho hộ nông dân có vốn đầu tư phát triển sản xuất
- Một số giải pháp nhằm phát huy những thuận lợi và giải quyết những khó khăn trong quá trình sản xuất của các hộ nông dân
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Thu thập các thông tin thứ cấp
Thông tin thứ cấp được thu thập từ nhiều nguồn khác nhau như tại UBND xã Sơn Dương, UBND xã Đồng Luận, UBND xã Gia Điền; thu thập tại Văn phòng Điều phối NTM tỉnh Phú Thọ; thu thập tại một số Sở, ban, ngành có liên quan,…
Trong đề tài, phương pháp thu thập thông tin thứ cấp dùng để thu thập các thông tin về điều kiện tự nhiên (vị trí địa lý, địa hình, khí hậu thời tiết, đất đai,…), các điều kiện kinh tế - xã hội (hạ tầng kinh tế xã hội phục vụ sản xuất,
cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động, thu nhập bình quân, tỷ lệ hộ nghèo,…) tại các
xã nghiên cứu; thu thập các thông tin liên quan đến các hình thức tổ chức sản xuất như số lượng, lĩnh vực hoạt động, chất lượng, các sản phẩm nông sản… của các hình thức tổ chức đó trên địa bàn các xã nghiên cứu; thu thập các thông tin về diện tích, năng suất cây trồng, vật nuôi,…
Trang 352.4.2 Thu thập thông tin sơ cấp
- Là phương pháp thu thập thông tin, số liệu chưa được công bố ở bất
cứ tài liệu nào mà người thu thập có được thông qua việc sử dụng các phương pháp khác nhau như: tìm hiểu, quan sát thực tế, đánh giá nông thôn có sự tham gia của người dân, đánh giá nhanh nông thôn,
- Trong phạm vi đề tài này, thu thập số liệu sơ cấp được thực hiện qua các phương pháp như:
+ Phương pháp điều tra bảng hỏi theo phiếu điều tra đã được chuẩn bị trước:
Phương pháp này sử dụng nhằm thu thập các thông tin cụ thể, trực tiếp liên quan đến các nội dung nghiên cứu của đề tài thông qua phỏng vấn người dân bằng bảng câu hỏi (tức phiếu điều tra) đã được chuẩn bị từ trước Nội dung của phiếu điều tra sẽ bao gồm những thông tin chung về hộ điều tra (họ tên, danh tính hộ, các thành viên gia đình và học vấn, phân loại hộ,…), hoạt động sinh kế
về trồng trọt (diện tích các cây trồng chính, số hộ trồng): lúa, ngô, rau màu, chè, quả, rừng,… hoạt động sinh kế về chăn nuôi (số đầu vật nuôi chính, số hộ nuôi): lợn, trâu bò, gia cầm, thủy sản,… Hoạt động sinh kế phi nông nghiệp: thương mại, dịch vụ, chế biến, buôn bán, ngành nghề,… Cơ cấu phần trăm thu nhập về nông nghiệp, phi nông nghiệp, cơ cấu thu nhập về trồng trọt, cơ cấu và tỷ lệ thu thập về chăn nuôi,… cấu trúc thời gian dành cho các hoạt động nông nghiệp và phi nông nghiệp,…
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, tôi sử dụng phương pháp chọn mẫu phi ngẫu nhiên thuận tiên và phương pháp chọn mẫu phi ngẫu nhiên phán đoán, tiến hành điều tra tại mỗi xã 3 khu, mỗi khu 20 hộ Tổng số hộ được điều tra là
180 hộ Cụ thể: Tại xã Sơn Dương chọn điểm 3 khu là khu 2, 5, 8; xã Đồng Luận chọn 3 khu là khu 1, 4, 7; xã Gia Điền chọn 3 khu là khu 1, 3, 6 Sử dụng 02 phương pháp này để lựa chọn phi ngẫu nhiên các khu dân cư và các hộ có vị trí
Trang 36tiện lợi cho việc điều tra thu thập số liệu, trên cơ sở phán đoán của bản thân với
sự tham gia góp ý của lãnh đạo các xã nghiên cứu
+ Phương pháp thảo luận nhóm:
Là phương pháp thu thập thông tin qua việc trao đổi, thảo luận nhóm với sự tham gia của nhiều người (chủ tịch xã, trưởng phòng nông nghiệp, chủ nhiệm hợp tác xã,…) về những vấn đề cần nghiên cứu
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, tôi tiến hành thảo luận nhóm với đối tượng là trưởng khu và một số người dân của các khu nghiên cứu Nội dung nhằm thu thập những thông tin liên quan đến những thuận lợi, khó khăn tác động đến hoạt động sản xuất cũng như thu nhập của người dân Xác định những nguyên nhân, từ đó xây dựng những giải pháp
+ Phương pháp phỏng vấn bán cấu trúc:
Sử dụng phương pháp phỏng vấn bán cấu trúc để thu thập các thông tin liên quan đến đề tài Bảng kiểm kê liệt kê vấn đề cần nghiên cứu sẽ được hình thành để thu thập các thông tin số liệu liên quan
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, tôi thực hiện phỏng vấn bán cấu trúc với các chủ tịch hoặc phó chủ tịch phụ trách kinh tế của các xã Nội dung nhằm thu thập những thông tin chung về tình hình phát triển kinh tế - xã hội của địa phương; những đường lối, chủ trương, chính sách hỗ trợ… của địa phương đối với hoạt động sản xuất của người dân; tìm hiểu về những chương trình, dự án phát triển nông nghiệp nông thôn đã, đang và sẽ triển khai tại địa phương
+ Phương pháp quan sát trực tiếp:
Là phương pháp thu thập thông tin một cách chủ quan thông qua quan sát, đánh giá trực tiếp về điều kiện kinh tế xã hội, đời sống sinh hoạt, lao động sản xuất của người dân trên địa bàn nghiên cứu Sử dụng phương pháp quan sát để có thể giải thích những sự kiện và hiện tượng đang nảy sinh trong đời sống, kinh tế xã hội tại địa bàn nghiên cứu
Trang 372.5 Phân tích số liệu
Bao gồm phương pháp phân tích chung và phân tích riêng:
- Phương pháp phân tích chung, gồm:
+ Phương pháp thống kê kinh tế: chủ yếu để phân tích số liệu kết hợp với phương pháp so sánh để thấy được tình hình biến động của các chỉ tiêu nghiên cứu trong mối quan hệ giữa các chỉ tiêu khác Thông qua các chỉ tiêu
về số tuyệt đối, số tương đối, số bình quân, tốc độ phát triển,… nhằm đưa ra những kết luận và giải pháp có căn cứ khoa học
+ Phương pháp so sánh: so sánh số liệu điều tra với những mốc cố định nhằm đưa ra những đánh giá có căn cứ nhằm nói lên thực trạng về tình hình phát triển nông lâm nghiệp, các hình thức tổ chức sản xuất, các hoạt động phi nông nghiệp
+ Phương pháp phân tích tổng hợp: Trên cơ sở những thông tin thu thập được tiến hành phân tích tổng hợp mối liên hệ giữa các thông tin nhằm đưa ra những nhận định chính xác, logic
+ Phương pháp chuyên gia: trên cơ sở ý kiến đánh giá của những người đại diện trong lĩnh vực chuyên ngành và các lĩnh vực nghiên cứu,… Từ đó, rút ra những nhận xét, đánh giá chung các vấn đề đang nghiên cứu, giúp cho quá trình phân tích đánh giá được chính xác hơn
- Phương pháp phân tích riêng: Phương pháp phân tích thông tin dữ liệu trên Excel bằng PivotTables đối với các thông tin số liệu thu thập được qua bảng hỏi (phiếu điều tra)
Trang 38CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1 Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội có liên quan đến sản xuất nông nghiệp tại 3 xã điểm
3.1.1 Điều kiện tự nhiên
3.1.1.1 Vị trí địa lý, địa hình địa mạo
- Xã Sơn Dương là xã đồng bằng nằm ở phía nam huyện Lâm Thao, cách trung tâm thị trấn huyện lỵ khoảng 3km Có tuyến tỉnh lộ 324C chạy qua khu trung tâm xã, ngoài ra theo định hướng phát triển về mạng lưới giao thông tỉnh Phú Thọ trong thời gian tới tại khu vực có tuyến Quốc lộ 32C (hiện đang thi công) và tuyến đường hành lễ Đền Hùng - rừng Quốc gia Xuân Sơn
đi qua Do vậy, đây là khu vực có vị trí hết sức thuận lợi cho việc giao thương trong và ngoài huyện Địa hình của xã tương đối bằng phẳng
- Xã Đồng Luận nằm ở phía Nam huyện Thanh Thủy, phía Tây Bắc tỉnh Phú Thọ Trung tâm xã cách trung tâm huyện 9km theo đường bộ Phía Bắc giáp xã Đoan Hạ, phía Nam giáp xã Trung Nghĩa, phía Đông giáp sông
Đà, phía Tây giáp xã Trung Thịnh Trên địa bàn xã có tỉnh lộ 317A chạy qua,
hệ thống đường giao thông liên xã đã được cứng hóa bằng láng nhựa, thuận lợi cho việc đi lại của nhân dân trong vùng
Địa hình xã tương đối bằng phẳng có độ dốc dần từ Tây Nam sang Đông Bắc, chủ yếu là địa hình đồng bằng phù sa: Đây là dải đất bằng phẳng nằm dọc bờ tả sông Đà, đất đai khá phì nhiêu rất thuận lợi cho việc gieo trồng các cây nông nghiệp ngắn ngày
- Xã Gia Điền là xã miền núi nằm ở phía Bắc huyện Hạ Hòa, cánh trung tâm thị trấn huyện lỵ khoảng 7km Phía Bắc giáp xã Minh Lương, phía Tây giáp xã Hà Lương, phía Nam giáp xã Ấm Hạ, phía Đông giáp xã Phương Viên và xã Phúc Lai Địa hình chủ yếu là đồi xen kẽ là các khu ruộng thấp,
Trang 39địa hình thấp dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam Nhìn chung, địa hình xã bị chia cắt bởi các dải đồi núi thấp, liên hệ giữa các khu tương đối khó khăn
3.1.1.2 Khí hậu, thủy văn
- Xã Sơn Dương mang đặc trưng khí hậu nhiệt đới gió mùa Mùa đông lạnh từ tháng 5 đến tháng 10, nhiệt độ trung bình hàng năm 23,50C, lượng mưa bình quân 1.674mm/năm, tháng mưa nhiều nhất đạt 332mm và thường tập trung vào các tháng 6,7,8 và 9 Độ ẩm tương đối trung bình của khu vực là 86%, thời gian ẩm ướt nhất là tháng 2,3,4 có tháng độ ẩm tương đối trung bình đạt đến 91% Số giờ nắng trung bình cả năm là 1.353 giờ Hướng gió chính là Đông Nam và Tây Bắc, tốc độ gió trung bình khoảng 2,3m/s
Sơn Dương có vị trí gần sông Hồng, do đó nguồn nước tưới tiêu phục
vụ sản xuất nông nghiệp rất thuận lợi, ngoài ra trong xã còn có các hệ thống
ao hồ tự nhiên và nhân tạo
- Xã Đồng Luận mang đặc trưng khí hâu nhiệt đới gió mùa Mùa đông lạnh từ tháng 11 đến tháng 4, mùa hè ẩm ướt mưa nhiều Nhiệt độ trung bình hằng năm là 23,50C, lượng mưa bình quân 1.674mm/năm Độ ẩm tương đối trung bình của xã đạt 85%, thời gian ẩm ướt nhất là các tháng 2,3,4 có tháng
độ ẩm tương đối thấp nhất 24%, sương muối thỉnh thoảng có xuất hiện nhưng
ở mức độ nhẹ Số giờ nắng trung bình cả năm đạt 1.367 giờ Hướng gió chính Đông Nam và Tây Bắc, tốc độ gió trung bình khoảng 2,5 m/s
Xã có sông Đà chảy qua tạo điều kiện cho việc lấy nước phục vụ sản xuất, sinh hoạt của nhân dân Ngoài ra trong địa bàn của xã còn có đầm Bạch Thủy, ngòi Trung Thịnh và một số ao hồ nhân tạo góp phần phục vụ cho nhu cầu sản xuất và đời sống
- Xã Gia Điền mang đặc trưng khí hậu nhiệt đới gió mùa có mùa đông lạnh, mùa hè nóng ẩm mưa nhiều Nhiệt độ không khí trung bình 23,30C/năm,
độ ẩm không khí trung bình 84% Tốc độ gió trung bình 1,8m/s, hướng gió
Trang 40chính Đông, Đông Nam và Tây Bắc Lượng mưa trung bình 1.644mm/năm, mùa mưa tập trung từ tháng 4 đến tháng 10
Xã có tầng nước mặt có độ sâu 10 - 15 m, nghèo nước ngầm, độ sâu khai thác từ 50 - 70 m
3.1.1.3 Tài nguyên đất
Đất đai là một trong những tài nguyên quý báu bậc nhất của mỗi quốc gia Trong sản xuất nông nghiệp, đất đai là tư liệu sản xuất cực kỳ quan trọng Chúng ta cùng nghiên cứu bảng 3.1 để tìm hiểu về sự phân bố và sử dụng tài nguyên đất tại những xã nghiên cứu
Bảng 3.1: Thống kê diện tích đất 3 xã nghiên cứu
Đơn vị: ha
Xã
Tổng diện tích
Đất nông nghiệp
Đất lâm nghiệp
Đất phi nông nghiệp
Đất chƣa
sử dụng
Đất trồng trọt
Đất nuôi trồng thủy sản
Sơn Dương mang đặc điểm đất đai của vùng châu thổ sông Hồng Đất canh tác của xã có nguồn gốc chủ yếu từ phù sa sông Hồng nên khá màu mỡ