1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu đặc điểm tái sinh tự nhiên trong một số kiểu thảm thực vật và đề xuất một số biện pháp kỹ thuật nhằm phục hồi rừng tại huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc kạn

104 467 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 104
Dung lượng 1,91 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM LÊ CẨM LONG NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM TÁI SINH TỰ NHIÊN TRONG MỘT SỐ KIỂU THẢM THỰC VẬT VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ BIỆN PHÁP KỸ THUẬT NHẰM PHỤC HỒI RỪNG

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

LÊ CẨM LONG

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM TÁI SINH

TỰ NHIÊN TRONG MỘT SỐ KIỂU THẢM THỰC VẬT VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ BIỆN PHÁP

KỸ THUẬT NHẰM PHỤC HỒI RỪNG TẠI HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH BẮC KẠN

Trang 2

Tôi xin cam đoan nghiên cứu này là của riêng cá nhân tôi Các số liệu, kết quả trong luận án là trung thực và chưa được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Thái Nguyên, tháng 11 năm2013

Tác giả luận văn

Lê Cẩm Long

Trang 3

theo chương trình cao học ngành Lâm học

trân trọng tới Ban lãnh đạo trường Đ Nông Lâm

Trần Quốc Hưng

người dân tại 2 xã

./

Thái Nguyên, tháng 11 năm2013

Tác giả luận văn

Lê Cẩm Long

Trang 4

MỤC LỤC

i

ii

vi

DANH MỤC BẢNG BIỂU vii

DANH MỤC HÌNH VẼ vii

1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 2

3 Mục tiêu nghiên cứu 2

4 Đối tượng và thời gian, phạm vi nghiên cứu 2

5 Ý nghĩa của đề tài 3

Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4

1.1 Một số khái niệm liên quan đến đề tài 4

1.2 Nghiên cứu ngoài nước 5

1.2.1 Nghiên cứu về đặc điểm tái sinh 6

1.2.2 Nghiên cứu về nhân tố ảnh hưởng đến tái sinh 7

1.2.3 Nghiên cứu về điều tra, đánh giá tái sinh tự nhiên 9

1.2.4 Về phân loại rừng nghèo và đối tượng rừng để tác động 9

1.2.5 Phương thức lâm sinh liên quan đến tái sinh phục hồi rừng 10

1.3 Nghiên cứu ở trong nước 11

1.3.1 Nghiên cứu về đặc điểm tái sinh rừng 12

1.3.2 Nghiên cứu về nhân tố ảnh hưởng đến tái sinh 13

1.3.4 Nghiên cứu về điều tra, đánh giá tái sinh tự nhiên 16

1.3.5 Nghiên cứu về phân chia các kiểu trạng thái rừng và phân loại đối tượng rừng thứ sinh nghèo để áp dụng biện pháp phục hồi 18

Trang 5

1.3.6 Nghiên cứu về giải pháp về tái sinh phục hồi rừng 19

1.4 Tổng quan về điều kiện tự nhiên, dân sinh kinh tế - xã hội khu vực nghiên cứu 21

1.4.1 Điều kiện tự nhiên 21

1.4.2 Điều kiện kinh tế, xã hội 23

1.4.3 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - Xã hội hai xã thực hiện đề tài 26

Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 32

2.1 Nội dung nghiên cứu 32

2.1.1 Nghiên cứu hiện trạng phân bố và các đặc điểm chủ yếu của một số trạng thái thảm thực vật rừng tại huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn 32

2.1.2 Nghiên cứu đặc điểm cấu trúc tầng cây gỗ của đối tượng nghiên cứu 32

2.1.3 Nghiên cứu đặc điểm tái sinh tự nhiên và nhân tố ảnh hưởng tái sinh của đối tượng nghiên cứu 32

2.1.4 Phân loại đối tượng rừng theo khả năng phục hồi tự nhiên 33

2.1.5 Đề xuất và bước đầu áp dụng các biện pháp kỹ thuật phục hồi rừng cho từng đối tượng rừng 33

2.2 Phương pháp nghiên cứu 33

2.2.1 Cách tiếp cận 33

2.2.2 Phương pháp bố trí thí nghiệm 34

2.2.3 Phương pháp thu thập số liệu 35

2.2.4 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu 35

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 41

3.1 Hiện trạng phân bố và các đặc điểm chủ yếu của một số trạng thái thảm thực vật tại khu vực nghiên cứu 41

3.2 Đặc điểm cấu trúc tổ thành loài cây gỗ 43

3.2.1 Cấu trúc tổ thành loài cây gỗ 43

3.2.2 Chỉ số đa dạng sinh học tầng cây gỗ 46

Trang 6

3.2.3 Đặc điểm cấu trúc cây gỗ theo đường kính (D1.3) và chiều cao (Hvn) 47

3.3 Đặc điểm tổ thành cây tái sinh tự nhiên ở một số trạng thái rừng và các yếu tố ảnh hưởng đến tái sinh 51

3.3.1 Cấu trúc tổ thành cây tái sinh 51

3.3.2 Mật độ cây tái sinh 52

3.3.3 Phân bố cây tái sinh 53

3.3.4 Chỉ số đa dạng sinh học của cây tái sinh 61

3.3.5 Chất lượng cây tái sinh và tỷ lệ cây tái sinh triển vọng 62

3.3.6 Các yếu tố ảnh hưởng đến tái sinh tại khu vực nghiên cứu 64

3.4 Phân loại đối tượng rừng và đất rừng theo khả năng phục hồi tự nhiên 70

3.5 Một số giải pháp kỹ thuật lâm sinh cho trạng thái trạng thái thực vật tại khu vực nghiên cứu 74

3.5.1 Đối với trạng thái chưa có rừng Ic 74

3.5.2 Đối với trạng thái rừng IIa, IIb 76

KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ KIẾN NGHỊ 79

1 Kết luận 79

2 81

3 82

TÀI LIỆU THAM KHẢO 83

PHỤ LỤC 86

Trang 7

D1.3: : Đường kính ngang ngực (cm)

Hvn: : Chiều cao vút ngọn (m)

N : Mật độ (cây/ha)

KNTS : Khoanh nuôi tái sinh

FAO : Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp của Liên hiệp quốc

(Food and Agriculture Organization) OTC : Ô tiêu chuẩn

OĐV : Ô định vị

ODB : Ô dạng bản

PHR : Phục hồi rừng

IUCN : Tổ chức bảo tồn thiên nhiên quốc tế

(International union conservation of nature) UNDP : Chương trình phát triển của Liên hiệp quốc

(United Nation Development Programme) [1 23] : Số thứ tự tài liệu tham khảo

WWF : Quỹ bảo vệ động vật hoang dã thế giới (World Wildlife Fund) QPN-14-92 :

QPN-14-92 :

Trang 8

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 1.1: Một số cây trồng chính xã Cao Kỳ, Nông Hạ 28

Bảng 1.2: Đàn vật nuôi xã Cao Kỳ, Nông Hạ 28

Bảng 1.3: Dân số, dân tộc và lao động xã Cao Kỳ, Nông Hạ 30

3.1: Hiện trạng đất đai tại khu vực nghiên cứu 41

Bảng 3.2: Đặc điểm chung các ô nghiên cứu 43

Bảng 3.3: Tổ thành và mật độ rừng trạng thái IIA 44

Bảng 3.4: Tổ thành và mật độ rừng trạng thái IIb 45

Bảng 3.5: Tổng hợp công thức tổ thành trạng thái rừng IIa, IIb 46

Bảng 3.6: Chỉ số đa dạng cây gỗ tại trạng thái IIa, IIb 47

Bảng 3.7: Phân bố số cây theo cỡ đường kính (D1.3) trạng thái IIa 48

Bảng 3.8: Phân bố số cây theo cỡ đường kính (D1.3) trạng thái IIb 48

Bảng 3.9: Phân bố số cây theo cỡ chiều cao 50

Bảng 3.10: Cấu trúc tổ thành cây tái sinh trạng thái rừng 51

Bảng 3.11: Mật độ cây tái sinh 52

Bảng 3.12: Phân bố cây tái sinh theo cỡ chiều cao trạng thái Ic 54

3 ỡ o trạng thái IIa 55

3 Ib 56

Bảng 3.15: Phân bố số loài theo cỡ chiều cao trạng thái Ic 57

58

3 cỡ 59

Bảng 3.18: Ảnh hưởng của mạng hình phân bố cây tái sinh 60

3.19: Đánh giá chỉ số đa dạng sinh học cây tái sinh 61

Bảng 3.20: Chất lượng và nguồn gốc cây tái sinh 62

3 64

Bảng 3.22: Tổng hợp ảnh hưởng của con người đến tái sinh rừng 65

Bảng 3.23: Biến động số loài và mật độ cây tái sinh theo điều kiện lập địa 66

72

Trang 9

DANH MỤC HÌNH VẼ

Hình 2.1 Cách bố trí các ô đo đếm trong ô tiêu chuẩn diện tích 2500 m2 34

Hình 3.1: Phân bố số cây theo cỡ đường kính trạng thái IIa 49

Hình 3.2: Phân bố số cây theo cỡ đường kính trạng thái IIb 49

Hình 3.3 Đồ thị phân bố số cây theo cỡ chiều cao 50

Hình 3.4: Biểu đồ phân bố mật độ cây tái sinh 3 trạng thái TV 53

Hình 3.5: Biểu đồ phân bố số cây theo cỡ chiều cao 54

55

Hình 3.7: Biểu đồ phân bố số cây tái sinh theo cỡ chiều cao 57

Hình 3.8: Phân bố số loài cây theo cỡ chiều cao 57

58

Hình 3.10: Biểu đồ phân bố loài cây theo cỡ chiều cao 59

Trang 10

1 Tính cấp thiết của đề tài

Rừng có vai trò quan trọng trong việc giữ nước, điều tiết dòng chảy và hạn chế xói mòn đất và bảo vệ môi trường Rừng là tài nguyên đặc biệt quan trọng trong việc hấp thụ CO2 và góp phần giảm hiệu ứng nhà kính, thích ứng với biến đổi khí hậu Sự suy giảm của rừng kéo theo sự suy giảm chức năng phòng hộ, tăng nguy cơ xuất hiện lũ lụt vào mùa mưa, hạn hán vào mùa khô

và gây xói mòn bồi lấp lòng sông, suối, hồ Việc phục hồi và phát triển rừng

là rất cần thiết, đặc biệt ở những nơi đất trống, trảng cỏ, nương rẫy, cây bụi tại những vùng xung yếu và rất xung yếu Trong những năm qua, Việt Nam đã

nỗ lực khôi phục rừng tự nhiên thông qua nhiều chương t

hành quả nổi bật của những chương trình và dự án này là

đã làm tăng độ che phủ của rừng (từ 28,2% năm 1995 lên 33,2% năm 1999 và 39,5% năm 2010) Cũng trong khoảng thời gian này, diện tích rừng tự nhiên tăng 1.200.000 ha là một nỗ lực lớn của ngành lâm nghiệp, khẳng định tính đúng đắn của các giải pháp phục hồi rừng, trong đó có các giải pháp phục hồi rừng thứ sinh nghèo thông qua biện pháp bảo vệ, khoanh nuôi xúc tiến tái sinh tự nhiên, khoanh nuôi làm giàu rừng, v.v Mặc dù vậy, nhìn chung hiệu

nước ta còn thấp Nguyên nhân chủ yếu của tình trạng trên là do chưa có những giải pháp đồng bộ cho hoạt động phục hồi và phát triển rừng Chúng ta chưa xây dựng được hệ thống biện pháp kỹ thuật hoàn chỉnh, những quy trình

kỹ thuật có hiệu quả cao cho các hoạt động phục hồi và phát triển rừng trong từng điều kiện cụ thể; chưa xác định được tập đoàn cây phù hợp và phát triển rừng trong từng điều kiện cụ thể, những quy trình công nghệ có hiệu quả cao cho các hoạt động phục hồi và phát triển rừng; thiếu sự hỗ trợ cần thiết để đưa quy trình vào thực tiễn kinh doanh rừng

Trang 11

Chợ Mới là huyện miền núi nằm ở phía Nam tỉnh Bắc Kạn Diện tích tự nhiên là 60.651 ha, chiếm 12,5% tổng diện tích tự nhiên của tỉnh Bắc Kạn [4] Việc sử dụng và phát triển rừng tự nhiên một cách hợp lý sẽ góp phần quan trọng trong việc phát triển kinh tế cũng như phát huy tốt các chức năng của rừng Diện tích đất lâm nghiệp của huyện là 51.678 ha chiếm 85

tự nhiên bao gồm đất có rừng và chưa có rừng Hiện vẫn còn nhiều diện tích rừng tự nhiên nghèo kiệt và các trạng thái sau canh tác nương rẫy với hiện trạng đất trống, trảng cỏ, cây bụi cần có các nghiên cứu để đưa ra các giải pháp phục hồi Tuy nhiên, những nghiên cứu về đặc điểm tái sinh của rừng nhằm xác định các biện pháp tác động trên địa bàn nghiên cứu còn tản mạn Hạn chế này đã gây khó khăn cho thực tiễn sản xuất, cho quá trình đẩy nhanh sự phục hồi của rừng

Vì vậy, để góp phần giải quyết những tồn tại nêu trên, đề tài "Nghiên

cứu đặc điểm tái sinh tự nhiên trong một số kiểu thảm thực vật và đề xuất một số biện pháp kỹ thuật nhằm phục hồi rừng tại huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn" được thực hiện

2 Mục đích nghiên cứu

Góp phần nghiên cứu quá trình tái sinh tự nhiên làm cơ sở khoa học cho việc đề xuất giải pháp lâm sinh thúc đẩy nhanh quá trình diễn thế và nâng cao chất lượng của rừng phục hồi

3 Mục tiêu nghiên cứu

Đánh giá được đặc điểm tái sinh tự nhiên tại một số kiểu thảm thực vật,

đề xuất được bảng phân loại đối tượng tác động và một số giải pháp kỹ thuật nhằm phục hồi rừng trên các kiểu thảm thực vật rừng đó tại Chợ Mới, Bắc Kạn

4 Đối tƣợng và thời gian, phạm vi nghiên cứu

- Đề tài chọn các đối tượng là các trạng thái thảm thực vật rừng thuộc khu rừng tái sinh tự nhiên được quy hoạch là rừng sản xuất, cụ thể tập trung vào các đối tượng sau:

Trang 12

+ Trạng thái đất chưa có rừng Ic

+ Trang thái rừng IIa

+ Trang thái rừng IIb

- Thời gian nghiên cứu từ tháng 7/2012 đến tháng 4 năm 2013

- Phạm vi nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu tại 2 xã Nông Hạ và Cao Kỳ huyện Chợ Mới tỉnh Bắc Kạn, đây là 2 xã có đối tượng nghiên cứu phân bố khá nhiều trong huyện, thuận lợi cho việc đi lại điều tra thu thập thông tin

5 Ý nghĩa của đề tài

Nghiên cứu các quy luật tái sinh tự nhiên và bổ sung thêm tư liệu về tái sinh rừng, phục hồi rừng để bảo vệ nguồn gen duy trì tính đa dạng sinh học và cân bằng sinh thái trong vùng là hết sức cần thiết, do đo kết quả nghiên cứu này sẽ góp phần làm sáng tỏ đặc điểm rái sinh và khả năng phục hồi tự nhiên thẩm thực vật tại khu vực nghiên cứu

Trang 13

Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 Một số khái niệm liên quan đến đề tài

+ Tái sinh rừng: Hiện nay, có rất nhiều khái niệm về tái sinh rừng, dưới

đây là một số những khái niệm dễ hiểu và thường được sử dụng nhất

Theo Nguyễn Văn Thêm, (2004): “Những hoạt động thay thế những thế

hệ cây già bằng con đường tự nhiên hay nhân tạo được gọi là tái sinh rừng hay sinh sản của rừng Tái sinh rừng có thể xảy ra bằng con đường tự nhiên

và nhân tạo Tái sinh của rừng được hiểu theo 2 nghĩa Một là, quá trình hình thành thế hệ mới của rừng trong tự nhiên mà không có sự can thiệp của con người Hai là, quá trình hình thành thế hệ mới của rừng trong tự nhiên nhưng

có sự can thiệp (định hướng) của các nhà lâm học) [22]

Phùng Ngọc Lan (1986), cho rằng: Tái sinh rừng được coi là một quá trình sinh học mang tính đặc thù của hệ sinh thái rừng Biểu hiện đặc trưng của tái sinh rừng là sự xuất hiện một thế hệ cây con của những loài cây gỗ ở nơi còn hoàn cảnh rừng Theo ông vai trò lịch sử của thế hệ cây con là thay thế thế hệ cây gỗ già cỗi Vì vậy tái sinh rừng hiểu theo nghĩa hẹp là quá trình phục hồi lại thành phần cơ bản của rừng, chủ yếu là tầng cây gỗ Ông cũng khẳng định tái sinh rừng được hiểu theo nghĩa rộng là sự tái sinh của một hệ sinh thái rừng [12]

Việc tái sinh rừng diễn ra dưới 3 hình thức: tái sinh hạt, tái sinh chồi, tái sinh thân ngầm (các loài tre nứa) Mỗi hình thức tái sinh trên có quy luật riêng

và trải qua nhiều giai đoạn khác nhau Do đó, việc nắm chắc các quy luật tái sinh sẽ là cơ sở cho việc tác động các biện pháp kỹ thuật lâm sinh chính xác nhằm điều hòa, định hướng các quá trình tái sinh phục vụ mục tiêu kinh doanh đã đề ra

Trang 14

Như vậy, vai trò tái sinh rừng: Là cơ sở khoa học cho việc đề xuất các biện pháp kỹ thuật lâm sinh hiệu quả, tăng độ che phủ rừng, đa dạng sinh học, cân bằng hệ sinh thái và tái sản xuất mở rộng tài nguyên rừng

Nguồn gốc tái sinh: Tái sinh hạt, tái sinh chồi và tái sinh thân ngầm Mỗi hình thức tái sinh đều có quy luật riêng và trải qua nhiều giai đoạn khác nhau [8]

+ Phục hồi rừng: Phục hồi rừng được hiểu là quá trình tái tạo lại rừng

trên những diện tích đã bị mất rừng Theo quan điểm sinh thái học thì phục hồi rừng là một quá trình tái tạo lại một hệ sinh thái mà trong đó cây gỗ là yếu

tố cấu thành chủ yếu Đó là một quá trình sinh địa phức tạp gồm nhiều giai đoạn và kết thúc bằng sự xuất hiện một thảm thực vật cây gỗ bắt đầu khép tán (Trần Đình Lý; 1995), [14] Để tái tạo lại rừng người ta có thể sử dụng các giải pháp khác nhau tuỳ theo mức độ tác động của con người là: phục hồi nhân tạo (trồng rừng), phục hồi tự nhiên và phục hồi tự nhiên có tác động của

con người (xúc tiến tái sinh)

1.2 Nghiên cứu ngoài nước

Tái sinh rừng là một trong những nội dung quan trong nhất của ngành lâm nghiệp Lịch sử nghiên cứu tái sinh rừng trên thế giới đã trải qua hàng trăm năm nhưng với rừng nhiệt đới vấn đề này được tiến hành chủ yếu từ những năm 30 của thế kỷ trước trở lại đây Nghiên cứu về tái sinh rừng là những nghiên cứu rất quan trọng làm cơ sở cho các biện pháp kỹ thuật lâm sinh xây dựng và phát triển rừng Tái sinh rừng là một quá trình sinh học mang tính đặc thù của hệ sinh thái, nó đảm bảo cho nguồn tài nguyên có khả năng tái sản xuất mở rộng nếu con người nắm bắt được quy luật tái sinh và điều khiển nó phục vụ cho kinh doanh rừng Vì vậy, tái sinh rừng trở thành vấn đề then chốt trong việc xác định các phương thức kinh doanh rừng Kết quả nghiên cứu của các công trình nghiên cứu về tái sinh rừng tự nhiên trên thế giới rất nhiều, chúng tôi nêu một số nghiên cứu và được tóm tắt như sau:

Trang 15

1.2.1 Nghiên cứu về đặc điểm tái sinh

Tái sinh (Regeneration) là một thuật ngữ chỉ khả năng tự tái tạo, hay sự hồi sinh từ mức độ tế bào đến một quần lạc sinh vật trong tự nhiên, các tác giả như Jordan, Peter và Allan (1998) sử dụng thuật ngữ này để diễn tả sự lặp lại của quần xã sinh vật giống như nó đã xuất hiện trong tự nhiên Tái sinh rừng (Forestry regeneration) cũng để mô tả sự tái tạo của lớp cây con dưới tán rừng

Về đặc điểm tái sinh, theo Van Steenis (1956), đối với rừng nhiệt đới có hai đặc điểm tái sinh phổ biến là tái sinh phân tán liên tục và tái sinh vệt (tái sinh lỗ trống) Hai đặc điểm này không chỉ thấy ở rừng nguyên sinh mà còn thấy ở cả rừng thứ sinh - một đối tượng rừng khá phổ biến ở nhiều nước nhiệt đới [39] Theo Aubréville (1938), nghiên cứu tái sinh tự nhiên ở rừng nhiệt đới Châu Phi, ông cho rằng “Cây con của loài cây ưu thế trong rừng mưa có thể cực hiếm” Tổ thành loài cây mẹ ở tầng trên và tổ thành loài cây tái sinh ở tầng dưới thường khác nhau rất nhiều Trong khi đó nghiên cứu của David, Ri

Sa (1993), Bead (1964) và RôLê (1969) ở rừng nhiệt đới Nam Mỹ nhận định

sự xuất hiện hiện tượng tái sinh tại chỗ và liên tục của các loài cây và tổ thành loài cây có thể giữ nguyên không đổi trong một thời gian dài [dẫn theo 6] Sự khác nhau của hai tác giả này có thể lý giải: nơi tác giả quan sát, khi đó rừng chưa đạt tới giai đoạn ổn định, tổ thành loài cây chưa ổn định về thành phần loài và ngược lại

Theo quan điểm của các nhà nghiên cứu thì hiệu quả của tái sinh rừng được xác định bởi mật độ, tổ thành loài, cấu trúc tuổi, chất lượng cây con, đặc điểm phân bố Sự tương đồng hay khác biệt giữa lớp cây con và tầng cây gỗ được nhiều nhà khoa học quan tâm như Mibbre-ad (1930), Richards (1952), Baur G.N (1964) và Rollet (1969) [dẫn theo 18]

Theo Van Stennit (1956) [39] thì đặc điểm tái sinh là “tái sinh phân tán, liên tục”, vì rừng mưa nhiệt đới có tổ thành loài cây phức tạp, khác tuổi nên thời kỳ tái sinh của quần thể diễn ra quanh năm

Trang 16

1.2.2 Nghiên cứu về nhân tố ảnh hưởng đến tái sinh

Các nhân tố ảnh hưởng đến tái sinh được phân tích và chia thành ba nhóm như sau:

Nhóm nhân tố sinh thái ảnh hưởng đến tái sinh và phục hồi rừng không có sự can thiệp của con người (Baur G N, 1962; Anden S (1981)[5]

Theo Aubréville [31], trong các nhóm yếu tố sinh thái phát sinh quần thể thực vật, nhóm yếu tố khí hậu - thủy văn là nhóm yếu tố chủ đạo, quyết định hình thái và cấu trúc của các kiểu thảm thực vật Nhóm khí hậu - thủy văn gồm các yếu tố quan trọng nhất là nhiệt độ, ánh sáng, lượng mưa, độ

ẩm, chế độ gió,…

Bechse, nhà lâm học người Đức cho rằng “ánh sáng là chiếc đòn bẩy mà nhà lâm học dùng để điều khiển sự sống của rừng theo hướng có lợi về kinh tế” (Dẫn theo Bùi Đăng Pho, 2006) [17]

Độ khép tán của quần thụ ảnh hưởng trực tiếp đến mật độ và sức sống của cây con Andel.S (1981) chứng minh độ đầy tối ưu cho sự phát triển bình thường của cây gỗ là 0,6 - 0,7 V.G.Karpov (1969) còn khẳng định “độ khép tán của quần thụ ảnh hưởng trực tiếp đến mật độ và sức sống của cây con” Ngoài những nhân tố sinh thái, thì trong tái sinh rừng, các nhân tố như: Thảm tươi, cây bụi, động vật ăn hạt cũng có ảnh hưởng rõ rệt đến tái sinh tự nhiên (Xannikov (1976), Vipper (1973), Mishra và Sharma (1994) [dẫn theo 10] Khi nghiên cứu phân tích ảnh hưởng của các nhân tố sinh thái đến tái sinh tự nhiên Trong đó nhân tố ánh sáng (thông qua độ tàn che của rừng),

độ ẩm của đất, kết cấu quần thụ, cây bụi, thảm tươi được đề cập thường xuyên Baur G.N cho rằng, trong rừng nhiệt đới sự thiếu hụt ánh sáng ảnh hưởng đến phát triển của cây con còn đối với sự nảy mầm, ảnh hưởng này thường không rõ ràng [5]

Trang 17

Nhóm nhân tố sinh thái ảnh hưởng đến tái sinh và phục hồi rừng có sự can thiệp của con người: Các nhà lâm học như: Gorxenhin (1972, 1976);

Bêlốp (1982) đã xây dựng thành công nhiều phương thức tái sinh và phục hồi rừng nghèo kiệt; đáng chú ý là một số công trình nghiên cứu của Maslacop E.L (1981) về "phục hồi rừng trên các khu khai thác", Mêlêkhốp I.C (1966)

về "ảnh hưởng của cháy rừng tới quá trình tái sinh phục hồi rừng", Pabedinxkion (1966) về "phương pháp nghiên cứu quá trình phục hồi rừng" Myiawaki (1993), Yu cùng các cộng sự (1994), Goosem và Tucker (1995), Sun và cộng sự (1995), Kooyman (1996) cũng đã đưa ra nhiều hướng tiếp cận nhằm phục hồi hệ sinh thái rừng đã bị tác động ở vùng nhiệt đới Kết quả ban đầu của những nghiên cứu này đã tạo nên những khu rừng có cấu trúc và làm tăng mức độ đa dạng về loài Tuy nhiên, hạn chế của chúng là không thể áp dụng trên quy mô rộng, bởi các yêu cầu về nhân công và các nguồn lực khác trong quá trình thực hiện [dẫn theo 10]

* Nhóm yếu tố xã hội ảnh hưởng đến tái sinh, phục hồi rừng

Các nghiên cứu đều khẳng định hiện tượng mất rừng tập trung chủ yếu tại các nước đang phát triển vùng nhiệt đới Bên cạnh các lý do khách quan như chiến tranh, núi lửa ; mất rừng có liên quan mật thiết với tỷ lệ tăng trưởng dân số Dân số đông, đói nghèo và sự lạc hậu đã làm cho nhiều người dân chỉ nghĩ đến cái lợi trước mắt của việc tàn phá tài nguyên rừng mà không

hề có sự suy tính để gìn giữ cho các thế hệ tương lai; trong khi đó các thể chế, chính sách của các nước này lại không đủ sức để hạn chế, vận động hay hướng mọi người đến các hoạt động gìn giữ tài nguyên rừng Hàng loạt những khu rừng nguyên sinh, thứ sinh vẫn đang tiếp tục bị tàn phá, thay thế vào đó là những diện tích đất trống hay những khu rừng thứ sinh nghèo kiệt đến mức tưởng chừng khó có thể phục hồi

Điển hình cho hướng nghiên cứu về khía cạnh kinh tế - xã hội của phục hồi rừng thứ sinh nghèo là: David lamb và Dongilmour (2003); (IUCN (2003) [34]

Trang 18

1.2.3 Nghiên cứu về điều tra, đánh giá tái sinh tự nhiên

Có nhiều phương pháp khác nhau để xác định mật độ cây tái sinh như: Ô dạng bản theo hệ thống với diện tích ô đo đếm điều tra tái sinh từ 1 đến 4 m2

Do diện tích ô nhỏ nên việc đo đếm gặp nhiều thuận lợi nhưng số lượng ô phải đủ lớn và trải đều trên diện tích khu rừng mới phản ánh trung thực tình hình tái sinh rừng

Richards P.W (1952) đã tổng kết việc nghiên cứu tái sinh trên các ô dạng bản và phân bố tái sinh tự nhiên ở rừng nhiệt đới Để giảm sai số trong khi thống

kê tái sinh tự nhiên, Barnard (1955) đã đề nghị một phương pháp "điều tra chẩn đoán" mà theo đó kích thước ô đo đếm có thể thay đổi tuỳ theo giai đoạn phát triển của cây tái sinh ở các trạng thái rừng khác nhau Richards P.W (1952) và Barnard (1974) tổng kết các kết quả nghiên cứu về tái sinh tự nhiên đã nhận xét: Trong các ô kích thước nhỏ có phân bố dạng cụm, một số ít phân bố Poison [37]

Ở Châu Phi trên cơ sở các dữ liệu thu thập Taylor (1954), Barnard (1955) xác định cây tái sinh trong rừng nhiệt đới thiếu hụt cần thiết phải bổ sung bằng trồng rừng nhân tạo, ngược lại một số tác giả nghiên cứu tái sinh tự nhiên rừng nhiệt đới châu Á như Bara (1954), Budowski (1956), có nhận định, dưới tán rừng nhiệt đới nhìn chung có đủ lượng cây tái sinh có giá trị kinh tế, nên việc đề xuất các biện pháp lâm sinh để bảo vệ lớp cây tái sinh dưới tán rừng là rất cần thiết Nhờ những nghiên cứu này nhiều biện pháp tác động vào lớp cây tái sinh đã được xây dựng và đem lại hiệu quả đáng kể (dẫn theo Nguyễn Duy Chuyên, 1995 [7])

1.2.4 Về phân loại rừng nghèo và đối tượng rừng để tác động

Hiện nay có hai quan điểm về phân loại rừng nghèo được nhất trí cao trong giới khoa học quốc tế:

* Dựa vào đặc điểm hiện trạng thảm thực vật che phủ: Điển hình cho quan điểm này là E.F Bruenig (1998) [32] Tác giả phân chia hệ sinh thái

Trang 19

rừng bị suy thoái thành 5 loại chính và các biện pháp kỹ

Các đám cây gỗ thứ sinh, trảng cỏ và các dạng thảm thực vật khác trên các loại hình thổ nhưỡng khác nhau

: Quan điểm này được thể hiện rõ trong hướng dẫn phục hồi rừng của Tổ chức cây gỗ rừng nhiệt đới quốc tế (ITTO,2002) [35], theo đó rừng nghèo được phân chi thành 3 kiểu phụ là: Rừng nguyên sinh bị suy thoái (Degraded primary forest); Rừng thứ sinh (Secondary forest); đất rừng bị thoái hóa (Degraded forest land)

* Phân loại đối tượng rừng thứ sinh làm cơ sở cho việc đề xuất các giải pháp phục hồi và phát triển rừng là việc làm có ý nghĩa thiết thực Theo IUCN (2001) [34] để phân chia loại hình kinh doanh rừng thứ sinh, trước tiên cần xem xét đến loài cây ưu thế hoặc một số loài cây mục đích chủ yếu và tình hình điều kiện lập địa, sau đó quy nạp chúng vào những biện pháp kinh doanh tương ứng

1.2.5 Phương thức lâm sinh liên quan đến tái sinh phục hồi rừng

Vấn đề tái sinh rừng nhiệt đới được thảo luận nhiều nhất là hiệu quả của các phương thức xử lý lâm sinh liên quan đến tái sinh của các loài cây mục đích

ở các kiểu rừng Từ kết quả nghiên cứu kiểu tái sinh các nhà lâm sinh học đã xây dựng thành công nhiều phương thức chặt tái sinh như:

Công trình của Bernard (1954, 1959), Wyatt Smith (1961, 1963) với phương thức kinh doanh rừng đều tuổi ở Mã Lai; Nicholson (1958) ở Bắc Borneo; Taylor (1954), Jones (1960) phương thức chặt dần tái sinh dưới tán ở Nijêria và Gana; Barnarji (1959) với phương thức chặt dần nâng cao vòm lá ở Andamann; Donis và Maudouz (1951, 1954) với phương thức đồng nhất hóa tầng trên ở Java [19]

Trang 20

Các phương thức lâm sinh cho phục hồi và phát triển rừng tự nhiên

có hai dạng chính: (i) Duy trì cấu trúc rừng tự nhiên không đều tuổi bằng cách lợi dụng lớp thảm thực vật tự nhiên hiện có và sự thuận lợi về điều kiện tự nhiên để thực hiện tái sinh tự nhiên, xúc tiến tái sinh tự nhiên, hoặc trồng bổ sung

Ngoài ra còn có thể sử dụng phương thức chặt chọn từng cây hay từng đám, phương thức cải thiện quần thể và chặt nuôi dưỡng rừng tự nhiên để dẫn dắt rừng có cấu trúc gần với cấu trúc của rừng tự nhiên nguyên sinh (ii)- Tác động rừng theo hướng đều tuổi, có một hoặc một số loài cây bằng phương thức chủ yếu là cải biến tổ thành rừng tự nhiên, tạo lập rừng đều tuổi bằng tái sinh tự nhiên đều tuổi, như các phương thức chặt dần tái sinh dưới tán rừng nhiệt đới; phương thức cải tạo rừng bằng chặt trắng trồng lại; phương thức trồng rừng kết hợp với nông nghiệp (Taungya)

* Những tồn tại trong nghiên cứu

Nghiên cứu ở các nước trên thế giới cho thấy, vì còn thiếu những nghiên cứu cụ thể về tái sinh cho từng trạng thái thực vật khác nhau, ở vị trí địa lý khác nhau mà những biện pháp kỹ thuật lâm sinh thường không được áp dụng hoặc được áp dụng một cách hình thức và không đạt được hiệu quả như mong muốn Bên cạnh đó, các yếu tố về kinh tế - xã hội nhạy cảm nhất với các giải pháp phục hồi rừng thường liên quan đến chính sách về quyền sở hữu và sử dụng rừng, chia sẻ lợi ích từ rừng, thuế tài nguyên, sự tham gia của cộng đồng trong quản lý rừng, vì vậy, trong một số trường hợp, người ta đã coi trọng những giải pháp kinh tế - xã hội hơn là các nghiên cứu về đặc điểm tự nhiên

của thực vật

1.3 Nghiên cứu ở trong nước

Ở Việt Nam, tái sinh rừng đã được quan tâm nghiên cứu từ những thập

kỷ 60 của thế kỷ trước Kết quả nghiên cứu có thể tóm tắt như sau:

Trang 21

1.3.1 Nghiên cứu về đặc điểm tái sinh rừng

Các kết quả nghiên cứu được Nguyễn Vạn Thường (1991) [25] tổng kết

về tình hình tái sinh tự nhiên của một số khu rừng ở miền Bắc Việt Nam; hiện tượng tái sinh dưới tán rừng của một số loài cây gỗ đã tiếp diễn liên tục, không mang tính chu kỳ, sự phân bố số cây tái sinh không đều tuổi, số cây mạ

có chiều cao < 20 cm chiếm ưu thế rõ rệt so với lớp cây ở cấp kích thước khác nhau Những loại cây gỗ mềm, ưa sáng mọc nhanh có khuynh hướng phát triển mạnh và chiếm ưu thế trong lớp cây tái sinh Những loại cây gỗ cứng, sinh trưởng chậm chiếm tỷ lệ thấp và phân bố tản mản

Nguyễn Văn Trương (1983) [29] đã nghiên cứu mối quan hệ giữa lớp cây tái sinh với tầng cây gỗ và quy luật đào thải tự nhiên dưới tán rừng Ông nhận xét: cần phải thay đổi cách khai thác rừng cho hợp lý vừa cung cấp được

gỗ, vừa nuôi dưỡng và tái sinh được rừng Muốn đảm bảo cho rừng phát triển liên tục trong điều kiện quy luật đào thải tự nhiên hoạt động thì rõ ràng là số lượng lớp cây dưới phải nhiều hơn lớp cây kế tiếp nó ở phía trên Điều kiện này không thực hiện được trong rừng tự nhiên ổn định mà chỉ có trong rừng chuẩn

có hiện tượng tái sinh liên tục đã được sự điều tiết khéo léo của con người

Vũ Tiến Hinh (1991) [9], nghiên cứu đặc điểm quá trình tái sinh của rừng tự nhiên ở Hữu Lũng (Lạng Sơn) và vùng Ba Chẽ (Quảng Ninh) đã nhận xét: hệ số tổ thành tính theo % số cây của tầng tái sinh và tầng cây cao có liên

hệ chặt chẽ Đa phần các loài có hệ số tổ thành tầng cây cao càng lớn thì hệ số

tổ thành tầng tái sinh cũng vậy

Lê Đồng Tấn - Đỗ Hữu Thư và cs (1995) [20] nghiên cứu thảm thực vật tái sinh trên đất sau nương rẫy tại Sơn La qua 3 giai đoạn phát triển: giai đoạn

I (tuổi từ 4 đến 5), giai đoạn II (tuổi 9 đến 10), giai đoạn III (tuổi 14 đến 15)

và nhận xét: Trong 15 năm đầu, thảm thực vật tái sinh trên đất sau nương rẫy

có số lượng loài đều tăng lên qua các giai đoạn phát triển Sau 3 giai đoạn phát triển thảm thực vật tái sinh trên đất sau nương rẫy thể hiện một quá trình thay thế tổ thành rất rõ ràng, lượng tăng trưởng của thảm thực vật không cao

Trang 22

Căn cứ vào nguồn giống, người ta phân chia ra 3 mức độ tái sinh: (i) tái sinh nhân tạo, (ii) tái sinh bán nhân tạo (xúc tiến TSTN), (iii) tái sinh tự nhiên Theo Phùng Ngọc Lan (1986) [12], biểu hiện đặc trưng của tái sinh rừng là sự xuất hiện một thế hệ cây của những loài cây ở những nơi còn hoàn cảnh rừng, còn Trần Xuân Thiệp (1995) [26] cho rằng, nếu thành phần cây tái sinh giống như thành phần cây đứng thì đó là quá trình thay thế một thế hệ cây này bằng thế hệ cây khác

Như vậy, đặc điểm cơ bản của quá trình này là lớp cây con đều có nguồn gốc từ hạt và chồi sẵn có, kể cả trong trường hợp tái sinh nhân tạo

1.3.2 Nghiên cứu về nhân tố ảnh hưởng đến tái sinh

Theo Thái Văn Trừng (1978) [28] đã xây dựng quan niệm “Sinh thái phát sinh quần thể ” trong thảm thực vật rừng nhiệt đới và vận dụng để xây dựng biểu phân loại thảm thực vật rừng Việt Nam Theo tác giả một công trình nghiên cứu về thảm thực vật mà không đề cập đến hoàn cảnh thì đó là một công trình hình thức, không có lợi ích thực tiễn Trong các nhân tố sinh thái thì ánh sáng là nhân tố quan trọng khống chế và điều khiển quá trình TSTN cả ở rừng nguyên sinh và rừng thứ sinh

Nếu các điều kiện khác của môi trường như đất rừng, nhiệt độ, độ ẩm dưới tán rừng chưa thay đổi thì tổ hợp các loài cây tái sinh không có những biến đổi lớn và cũng không diễn thế một cách tuần hoàn trong không gian và theo thời gian mà diễn thế theo những phương thức tái sinh có qui luật nhân quả giữa sinh vật và môi trường

Một số tác giả trong nước đã nghiên cứu về mối quan hệ giữa địa hình và khả năng tái sinh tự nhiên của thực vật: Ngô Quang Đê, Lê Văn Toán, Phạm Xuân Hoàn (1994) nghiên cứu mật độ cá thể và số lượng loài cây phục hồi sau nương rẫy bỏ hóa tại Con Cuông - Nghệ An; Lâm Phúc Cố (1996) nghiên cứu ở Púng Luông - Yên Bái; Phùng Tửu Bôi - Trần Xuân Thiệp (1997) nghiên cứu ở vùng Bắc Trung Bộ

Trang 23

Mặt khác, theo Thái Văn Trừng [28] một kiểu thảm thực vật có xuất hiện hay không trước hết phụ thuộc vào khu hệ thực vật ở đó và điều kiện khí hậu thổ nhưỡng thích hợp Việc tái sinh phục hồi lại rừng trên đất chưa có rừng ngoài việc bị chi phối bởi khu hệ thực vật thì nó còn chịu ảnh hưởng bởi khoảng cách

từ nơi đó đến các khu rừng lân cận Thực vật có khả năng tự phát tán để gieo giống hoặc gieo giống nhờ gió, nhờ nước, nhờ động vật Tuy vậy, phạm vi phát tán để gieo giống của bất kỳ cách thức nào cũng không phải là vô hạn, nên khoảng cách càng xa thì khả năng tái sinh của thực vật càng kém vì càng xa thì mật độ hạt giống đưa đến càng thấp Phạm Ngọc Thường (2001) [23] đã nghiên cứu mối liên quan giữa khoảng cách từ nguồn giống tự nhiên đến khu vực tái sinh trên đất sau canh tác nương rẫy và kết luận: “khoảng cách từ nơi tái sinh đến nguồn cung cấp giống càng xa thì mật độ và số loài cây tái sinh càng thấp” Theo Phạm Ngọc Thường (2003)[24] đã nghiên cứu ảnh hưởng của hoàn cảnh rừng đến sự phát triển của nương rẫy tại Thái Nguyên và Bắc Kạn, theo tác giả khoảng cách đám nương đến vách rừng tự nhiên gieo giống càng gần thì khả năng gieo giống càng thuận lợi: cách 20 mét mật độ tái sinh cây hạt là

2622 41cây/ha, cách 70 mét là 2577 32 cây/ha và cách 120 mét là 2310

57 cây/ha Vị trí địa hình và độ dốc: ở chân đồi số loài, mật độ cây gỗ tái sinh

là lớn nhất (45 loài, N = 5020 140 cây/ha) và ít nhất là ở đỉnh (39 loài, N =

3540 110 cây/ha) Độ dốc càng lớn thì quá trình phục hồi rừng càng khó khăn Mật độ và chất lượng cây tái sinh ở độ dốc cấp I (<150) cao nhất (N=

5340 150 cây/ha, tỷ lệ cây tốt 70,4%), ở độ dốc cấp III (>250) là thấp nhất (N = 3560 120 cây/ha, tỷ lệ cây tốt đạt 64,7%)

Đinh Quang Diệp nghiên cứu tái sinh tự nhiên ở rừng khộp vùng Easup, Đắc Lắc kết luận: Độ tàn che của rừng, thảm mục, độ dầy của thảm tươi, điều kiện lập địa, lửa rừng là những nhân tố có ảnh hưởng lớn đến số lượng và chất lượng cây con tái sinh dưới tán rừng, trong đó lửa rừng là nguyên nhân gây

Trang 24

nên hiện tượng cây chồi Về quy luật phân bố cây trên bề mặt đất, tác giả nhận định khi tăng diện tích lên thì lớp cây tái sinh có phân bố cụm

Trần Ngũ Phương (1970) [15], khi nghiên cứu về kiểu rừng nhiệt đới mưa mùa lá rộng thường xanh đã có nhận xét: “Rừng tự nhiên dưới tác động của con người khai thác hoặc làm nương rẫy, lặp đi lặp lại nhiều lần thì kết quả cuối cùng là sự hình thành đất trống, đồi núi trọc Nếu chúng ta để thảm thực vật hoang dã tự nó phát triển lại thì sau một thời gian dài trảng cây bụi, trảng cỏ sẽ chuyển dần lên những dạng thực bì cao hơn thông qua quá trình tái sinh tự nhiên và cuối cùng rừng khí hậu sẽ có thể phục hồi dưới dạng gần giống rừng khí hậu ban đầu”

Trần Ngũ Phương (2000) [16], khi nghiên cứu các quy luật phát triển rừng tự nhiên miền Bắc Việt Nam đã nhấn mạnh quá trình diễn thế thứ sinh của rừng tự nhiên như sau: “trường hợp rừng tự nhiên có nhiều tầng khi tầng trên già cỗi, tàn lụi rồi tiêu vong thì tầng kế tiếp sẽ thay thế; trường hợp nếu chỉ có một tầng thì trong khi nó già cỗi một lớp cây con tái sinh xuất hiện và

sẽ thay thế nó sau khi nó tiêu vong, hoặc cũng có thể một thảm thực vật trung gian xuất hiện thay thế, nhưng về sau dưới lớp thảm thực vật trung gian này

sẽ xuất hiện một lớp cây con tái sinh lại rừng cũ trong tương lai và sẽ thay thế thảm thực vật trung gian này, lúc bấy giờ rừng cũ sẽ được phục hồi”

Nghiên cứu sự biến động về mật độ và tổ thành loài tái sinh trong các trạng thái thực bì ở tỉnh Quảng Ninh, Nguyễn Thế Hưng (2003), nhận xét trong lớp cây tái sinh tự nhiên ở rừng non phục hồi thành phần loài cây ưa sáng cực đoan giảm nhường chỗ cho nhiều loài cây ưa sáng sống định cư và

có đời sống dài chiếm tỉ lệ lớn, thậm chí trong tổ thành cây tái sinh đã xuất hiện một số loài chịu bóng sống dưới tán rừng như Bứa, Ngát Sự có mặt với tần số khá cao của một số loài ưa sáng định cư và một số loài chịu bóng là dấu hiệu chuyển biến tích cực của diễn thế rừng Tác giả kết luận khả năng tái sinh tự nhiên của các trạng thái thực vật có liên quan nhiều đến độ che phủ,

Trang 25

mức độ thoái hoá của thảm thực vật, phương thức tác động của con người và

tổ thành loài trong quần xã Quảng Ninh rừng thứ sinh có mức độ tái sinh trung bình với các loài khá phong phú Những dạng thảm mới phục hồi hoặc

ở mức độ thái hoá chưa cao có khả năng tái sinh tự nhiên rất tốt bằng các hình thức tái sinh phong phú Tuy nhiên, cây có triển vọng thuộc nhóm loài ưa sáng còn chiếm tỉ lệ cao trong các quần xã này

Tìm hiểu đặc điểm quá trình tái sinh, diễn thế tự nhiên của thảm thực vật cây gỗ trên đất bỏ hoá sau canh tác nương rẫy ở Bắc Kạn Tác giả Phạm Ngọc Thường (2003) [24] cho rằng: Tổ thành cây gỗ phụ thuộc vào mức độ thoái hoá đất Phân bố số cây tái sinh theo cỡ chiều cao có dạng một đỉnh, từ giai đoạn II (3-6 năm), đến giai đoạn V (12-15 năm) được mô tả bởi phân bố Weibull Phân bố số cây theo mặt phẳng ngang dưới 7 năm là phân bố cụm, từ 7-15 năm là phân bố ngẫu nhiên và có xu hướng tiến dần đến phân bố đều Mật độ tái sinh giảm dần theo thời gian phục hồi Từ kết quả trên tác giả cho biết nếu sau nương rẫy thảm thực vật tái sinh không bị phá hoại thì rừng thứ sinh được phục hồi thông qua con đường tái sinh tự nhiên là thuận lợi Tuy nhiên, do tổ thành loài đơn giản nên trong điều kiện cho phép cần xúc tiến tái sinh tự nhiên bằng biện pháp tra dặm hạt giống, phát dây leo bụi dậm, kết hợp trồng bổ sung cây có giá trị kinh tế để nâng cao năng suất chất lượng rừng

1.3.4 Nghiên cứu về điều tra, đánh giá tái sinh tự nhiên

Từ năm 1962 - 1967 Cục điều tra quy hoạch rừng (nay là Viện Điều tra quy hoạch rừng) đã điều tra tái sinh tự nhiên trên một số vùng thuộc tỉnh Quảng Bình, Hà Tĩnh, Nghệ An, Yên Bái và Quảng Ninh với sự tư vấn của chuyên gia Hà Cự Trung - Trung Quốc Phương pháp tiến hành là điều tra khu tiêu chuẩn điển hình của các trạng thái rừng, trên cơ sở sử dụng ô điều tra 2.000 m2 diện tích đo đếm tái sinh 100 - 125 m2 kết hợp với điều tra theo tuyến Dựa vào các tài liệu đã thu thập ngoài rừng, các tác giả tiến hành phân

Trang 26

tích, tính toán những chỉ tiêu cây đứng và cây tái sinh, phân chia các loại hình thực vật rừng và dựa trên cơ sở đó nhận xét thực trạng rừng, đánh giá tình hình TSTN và đề xuất biện pháp kinh doanh [3]

Trong thời gian từ năm 1962 đến năm 1969, Viện Điều tra - Quy hoạch rừng đã điều tra tái sinh tự nhiên theo các "loại hình thực vật ưu thế" rừng thứ sinh ở Yên Bái (1965), Hà Tĩnh (1966), Quảng Bình (1969) và Lạng Sơn (1969) Đáng chú ý là kết quả điều tra tái sinh tự nhiên ở vùng sông Hiếu (1962-1964) bằng phương pháp đo đếm điển hình Từ kết quả điều tra tái sinh, dựa vào mật độ cây tái sinh, đã phân chia khả năng tái sinh rừng thành 5 cấp, rất tốt, tốt, trung bình, xấu và rất xấu Nhìn chung nghiên cứu này mới chỉ chú trọng đến số lượng mà chưa đề cập đến chất lượng cây tái sinh Dưới tán rừng nguyên sinh, tổ thành loài cây tái sinh tương tự như tầng cây gỗ; dưới tán rừng thứ sinh tồn tại nhiều loài cây gỗ mềm kém giá trị và hiện tượng tái sinh theo đám được thể hiện rõ nét tạo nên sự phân bố số cây không đồng đều trên mặt đất rừng Với những kết quả đó, tác giả đã xây dựng biểu đánh giá tái sinh áp dụng cho các đối tượng rừng lá rộng, miền Bắc nước ta

Lê Đồng Tấn (1999) [21], nghiên cứu quá trình phục hồi tự nhiên một số quần xã thực vật sau nương rẫy tại Sơn La theo phương pháp kết hợp điều tra ô tiêu chuẩn 400 m2

cho các đối tượng là thảm thực vật phục hồi sau nương rẫy và theo dõi ô định vị 2000 m2 Tác giả kết luận: Mật độ cây tái sinh giảm dần từ chân đồi lên đỉnh đồi Tổ hợp loài cây ưu thế trên ba vị trí địa hình và 3 cấp độ dốc là giống nhau Sự khác nhau chính là hệ số tổ thành các loài trong tổ hợp đó Đánh giá vai trò tái sinh và phục hồi rừng tự nhiên ở các vùng miền Bắc, Trần Xuân Thiệp (1995) [27] nghiên cứu tập trung vào sự biến đổi về lượng, chất lượng của tái sinh tự nhiên và rừng phục hồi Qua đó, tác giả kết luận: Rừng phục hồi vùng Đông Bắc chiếm trên 30% diện tích rừng hiện có, lớn nhất so với các vùng khác Khả năng phục hồi hình thành các rừng vườn, trang trại rừng đang phát triển ở các tỉnh trong vùng Rừng Tây Bắc phần lớn

Trang 27

diện tích rừng phục hồi sau nương rẫy, diễn thế rừng ở nhiều vùng xuất hiện nhóm cây ưa sáng chịu hạn hoặc rụng lá, kích thước nhỏ và nhỡ là chủ yếu và nhóm cây lá kim rất khó tái sinh phục hồi trở lại do thiếu lớp cây mẹ

Đỗ Thị Ngọc Lệ (2009) [13], thử nghiệm một số phương pháp điều tra tái sinh rừng tự nhiên Kết quả nghiên cứu cho thấy, các phương pháp điều tra tái sinh khác nhau sẽ thu được những số liệu biểu thị tái sinh khác nhau về tổ thành, mật độ, nguồn gốc, chất lượng và hình thái phân bố cây tái sinh Căn

cứ vào sai số giữa các chỉ tiêu biểu thị tái sinh ở các phương pháp điều tra với phương pháp điều tra toàn diện trên 6 ô tiêu chuẩn có diện tích 1.000m2

, tác giả đã lựa chọn được hai phương pháp phù hợp là phương pháp điều tra 5 ô dạng bản với diện tích mỗi ô là 25m2

(5x5m) và phương pháp điều tra theo dải để điều tra tái sinh rừng tự nhiên

1.3.5 Nghiên cứu về phân chia các kiểu trạng thái rừng và phân loại đối tượng rừng thứ sinh nghèo để áp dụng biện pháp phục hồi

- Hệ thống phân chia các kiểu trạng thái rừng được xây dựng dựa trên cơ

sở hệ thống phân loại trạng thái rừng của Loeischau (1963) [3] Đây là hệ thống phân loại đứng trên quan điểm đánh giá tài nguyên rừng Sau năm

1975, Viện Điều tra - Quy hoạch rừng đã đưa ra hệ thống phân loại mới, có sự cải tiến cho phù hợp với thực tiễn kinh doanh

- Phân loại đối tượng để từ đó áp dụng các biện pháp kỹ thuật tác động phù hợp là một trong những vấn đề hết sức quan trọng, nó đóng vai trò quyết định đến sự thành công của hoạt động phục hồi rừng thứ sinh nghèo Chính vì vậy, các nghiên cứu đã tập trung vào vấn đề này, trong đó có phân loại rừng của Nguyễn Văn Thông (2001), Phạm Xuân Hoàn, Vũ Tiến Hinh và Phạm Văn Điển (2005) [10]

Hai văn bản được đánh giá là tiêu biểu cho việc phân loại đối tượng tác động, và được áp dụng rộng rãi trong thực tiễn kinh doanh rừng ở nước ta trong một thời gian dài, đó là quy phạm các giải pháp kỹ thuật lâm sinh áp

Trang 28

dụng cho rừng sản xuất gỗ và tre nứa (QPN 14-92) được Bộ lâm nghiệp nay

là Bộ NN&PTNT ban hành ngày 31 tháng 3 năm 1993, và quy phạm phục hồi rừng bằng khoanh nuôi xúc tiến tái sinh kết hợp trồng bổ sung (QPN 21-98) ban hành ngày 04 tháng 11 năm 1998 [1], [2]

1.3.6 Nghiên cứu về giải pháp về tái sinh phục hồi rừng

Các nghiên cứu liên quan đến phục hồi rừng tự nhiên ở Việt Nam đã được bắt đầu từ những năm 1960, các đề tài nghiên cứu về phân loại rừng, nghiên cứu cấu trúc, động thái, các kỹ thuật khai thác bảo đảm tái sinh, kỹ thuật làm giàu rừng, với các hệ sinh thái rừng đặc trưng của Việt Nam Trong giai đoạn 1991 - 2000, các nghiên cứu về rừng tự nhiên hầu như bị gián đoạn

để tập trung cho nghiên cứu trồng rừng, bắt đầu từ năm 2001 trở lại đây, các nghiên cứu về rừng tự nhiên mới được khởi động trở lại

Trong một công trình nghiên cứu về cấu trúc, tăng trưởng trữ lượng và tái sinh tự nhiên rừng thường xanh lá rộng hỗn loài ở ba vùng kinh tế (sông Hiếu, Yên Bái và Lạng Sơn), Nguyễn Duy Chuyên (1988) [7] đã khái quát đặc điểm phân bố của nhiều loài cây có giá trị kinh doanh và biểu diễn bằng các hàm lý thuyết Từ đó làm cơ sở định hướng các giai pháp lâm sinh cho các vùng sản xuất nguyên liệu Tiếp theo, sự ra đời của thuật ngữ phục hồi rừng bằng “khoanh nuôi xúc tiến tái sinh” những năm 1990 được coi như một bước tiến vượt bậc về mặt khoa học trong phục hồi rừng khi hàng loạt công trình nghiên cứu về lĩnh vực này được triển khai và tập trung theo hai hướng chủ yếu:

Tập trung nghiên cứu các vấn đề cơ bản của quá trình phục hồi rừng tự nhiên Điển hình trong số đó là các đề tài của Viện Sinh thái và tài nguyên sinh vật, (1992, 1994), Trường Đại học Lâm nghiệp (1993), Đỗ Hữu Thư cùng các cộng sự (1994), Viện Điều tra quy hoạch rừng (1991-1995)

Tập trung nghiên cứu triển khai bao gồm việc phân loại đối tượng, đề xuất các biện pháp cũng như các quy trình kỹ thuật nhằm phục hồi rừng bằng khoanh nuôi; điển hình trong số đó là hai đề tài nghiên cứu cấp Nhà nước

Trang 29

thuộc Chương trình lâm nghiệp tổng hợp, mã số 04.01, giai đoạn 1986-1990

và Chương trình khôi phục và phát triển rừng, giai đoạn 1991-1995 Một số nghiên cứu điển hình khác của Trung tâm Khoa học sản xuất lâm nghiệp Tây Bắc (1992), Trần Đình Đại (1990), Trần Đình Lý (1995), Viện ĐTQHR (1998), Phạm Ngọc Thường (2001-2003), v.v [14][23][24]

Phạm Ngọc Thường (2001) [23], lựa chọn đối tượng là thảm thực vật rừng phục hồi sau nương rẫy ở các giai đoạn khác nhau xây dựng mô hình phục hồi rừng với quy mô 0,5 ha/ô mẫu, 5-10 ô mẫu/ mô hình/ địa điểm Và tìm kiếm các mô hình sử dụng đất bỏ hoá sau nương rẫy có hiệu quả ở địa phương để tìm hiểu các biện pháp tác động Kết quả điều tra, theo dõi một số

mô hình, tác giả kết luận: Mô hình khoanh nuôi tái sinh kết hợp trồng bổ sung, làm giàu rừng là mô hình dựa trên cơ sở triệt để lợi dụng tái sinh, diễn thế tự nhiên của thực vật chi phí ban đầu thấp, góp phần rút ngắn thời gian phục hồi rừng, cải thiện cấu trúc tổ thành, mật độ theo hướng làm tăng giá trị phòng hộ và kinh tế của rừng trong hiện tại cũng như trong tương lai Một số loài cây như: Hồi, Lát hoa, Quế là những cây có giá trị kinh tế, phù hợp với điều kiện tự nhiên của địa phương, được người dân lựa chọn, đó là những cây

có triển vọng phù hợp với biện pháp kỹ thuật khoanh nuôi tái sinh kết hợp trồng bổ sung và làm giàu rừng

Kết quả nghiên cứu của các đề tài trên không chỉ là tiền đề cho các hoạt động khoanh nuôi phục hồi rừng mà còn đặt nền móng cho sự ra đời của các quy phạm về phục hồi rừng đã được Nhà nước ban hành trong những năm

1990, bao gồm quy phạm "các giải pháp kỹ thuật lâm sinh áp dụng cho rừng sản xuất gỗ và tre nứa" (QPN 14 - 92) và "phục hồi rừng bằng khoanh nuôi xúc tiến tái sinh tự nhiên kết hợp trồng bổ sung" (QPN 21 - 98)[2][3]

* Nhận xét và đánh giá chung

Tóm lại, các công trình nghiên cứu về tái sinh rừng trên đây đã làm sáng

tỏ phần nào cho chúng ta để hiểu biết về đặc điểm tái sinh rừng, các nhân tố

Trang 30

ảnh hưởng đến tái sinh rừng, các phương pháp điều tra đánh giá tái sinh rừng Tuy nhiên các nghiên cứu về đặc điểm tái sinh ở khu vực miền múi phía bắc còn ít ỏi và tản mạn, hạn chế này gây khó khăn cho thực tiễn sản xuất, cụ thể là: (i) chưa tìm ra đặc điểm, quy luật tái sinh và đặc trưng riêng của từng vùng miền, (ii) chưa có các giải pháp đồng bộ và hiệu quả mong muốn cho từng đối tượng cụ thể, (iii) còn nhầm lẫn trong đối tượng phục hồi rừng

Xuất phát từ những tồn tại nêu trên, việc nghiên cứu đề tài là hướng đi đúng đắn và thiết thực trong công tác phục hồi và phát triển rừng

1.4 Tổng quan về điều kiện tự nhiên, dân sinh kinh tế - xã hội khu vực nghiên cứu

1.4.1 Điều kiện tự nhiên

1.4.1.1 Vị trí địa lý

Huyện Chợ Mới nằm ở phía Nam tỉnh Bắc Kạn, có diện tích tự nhiên 60.651 ha Trong tọa độ địa lý như sau: Từ 105 040’ đến 106024’ kinh độ Đông, 21 047’ đến 22008’ vĩ độ Bắc

+ Phía Bắc giáp huyện Bạch Thông và thị xã Bắc Kạn

+ Phía Tây giáp huyện Định Hóa ( tỉnh Thái Nguyên)

+ Phía Nam giáp huyện Võ Nhai và Phú Lương (Thái Nguyên)

+ Phía Đông giáp huyện Na Rì

1.4.1.2 Địa hình

Địa hình địa mạo khá phúc tạp, độ chia cắt mạnh, núi đá xen núi đất, địa hình thấp dần từ Bắc xuống Nam, có thể chia thành một kiểu địa hình sau:

* Kiểu địa hình núi trung bình (700 -1700m): Kiểu địa hình này phân bố

ở các xã Tân Sơn, Nông Hạ, Cao Kỳ và một ít diện tích ở Bình Văn Diện tích chiếm khoảng 8,8% Đặc điểm địa hình cao dốc, độ dốc trung bình từ 30 -

>350, nhiều nơi có dốc hiểm trên 500 Kiểu địa hình này thuộc khu vực đầu nguồn, các dãy núi giáp ranh giữa các xã

Trang 31

* Kiểu địa hình núi thấp (300-700m): Kiểu địa hình này chiếm khoảng

44,1 % diện tích tự nhiên và phân bố rải rác trong toàn huyện Kiểu địa hình này có độ dốc 28-350, xen kẽ với kiểu địa hình này là các thung lũng và ruộng bậc thang Những nơi có độ dốc <300

thuận lợi cho việc canh tác nông lâm nghiệp đặc biệt cây lâm nghiệp, cây ăn quả và cây đặc sản (Hồi)

* Kiểu địa hình đồi (<300m: Diện tích chiếm khoảng 47,1% diện tích tự

nhiên toàn huyện, kiểu địa hình này tập trung nhiều ở các xã phía Nam của huyện Xen kẽ đồi núi là những cánh đồng ruộng bậc thang và thung áng trũng Địa hình này thuận lợi cho sản xuất nông lâm nghiệp, cây ăn quả và cây công nghiệp dài ngày

* Kiểu địa hình đá vôi: Chiếm khoảng 5% diện tích tự nhiên, Phân bố ở

các xã, Tân sơn, Hòa Mục, Quảng Chu, Nông Hạ Đặc điểm kiểu địa hình này

là những khối đá vôi dựng, dốc, xen kẽ là những thung lũng bằng phẳng

1.4.1.3 Khí hậu, thủy văn

a Khí hậu

Huyện Chợ Mới có khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa nhưng có sự phân hoá theo độ cao của địa hình và hướng núi Với chế độ nhiệt đới gió mùa, một năm ở Chợ Mới - Bắc Kạn có hai mùa rõ rệt: mùa mưa nóng ẩm từ tháng 5 đến tháng 10, chiếm 70 - 80% lượng mưa cả năm; mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, lượng mưa chỉ chiếm khoảng 20 – 25% tổng lượng mưa trong năm, tháng mưa ít nhất là tháng 12 Nhiệt độ trung bình hàng năm từ 20

- 220C Nhiệt độ thấp tuyệt đối -0,10C, gây băng giá ảnh hưởng lớn đến cây trồng, vật nuôi Số giờ nắng trung bình là 1400 - 1600 giờ Lượng mưa trung bình năm ở mức 1400 - 1600mm và tập trung nhiều vào mùa hạ Độ ẩm trung bình là 84% Bắc Kạn nói chung, huyện Chợ Mới nói riêng có lượng mưa thấp so với các tỉnh Đông Bắc do bị che chắn bởi cánh cung Ngân Sơn ở phía Đông Bắc và cánh cung Sông Gâm ở phía Tây Nam [30]

Bên cạnh đó có cả khí hậu cực đoan như sương muối, mưa đá, lốc làm ảnh hưởng đến đời sống và hoạt động sản xuất của nhân dân

Trang 32

b Thủy văn

Trên địa bàn huyện có sông Cầu, sông Chu chảy qua và các chi lưu đổ vào, với đặc điểm là ngắn, dốc, thuỷ chế thất thường Sông ngòi có ý nghĩa quan trọng đối với sản xuất và đời sống của nhân dân Là nguồn cung cấp nước chủ yếu cho sản xuất nông lâm nghiệp và phát triển thủy điện nhỏ

1.4.1.4 Đất đai

Huyện Chợ Mới có những loại đất chính sau: Đất feralit màu vàng nhạt trên núi trung bình; đất feralit điển hình vùng đồi và núi thấp, khu vực núi đá vôi thường rất ít đất Nhiều vùng có tầng đất khá dày, hàm lượng mùn cao, đặc biệt một số loại đất là sản phẩm phong hoá từ núi đá vôi

a Sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản

Giá trị sản xuất theo giá hiện hành của ngành nông nghiệp đạt 325,04 tỷ đồng, trong đó: Giá trị sản xuất nông nghiệp đạt 286,9 tỷ đồng (trồng trọt đạt 228 tỷ đồng, chăn nuôi 58,9 tỷ đồng); giá trị sản xuất lâm nghiệp đạt 33,7

tỷ đồng; giá trị sản xuất thủy sản đạt 4,44 tỷ đồng

Trang 33

- Trồng trọt: Diện tích lúa ruộng 2.612 ha, năng suất bình quân đạt 46,73tạ/ha, sản lượng 12.416 tấn Diện tích ngô 2.354 ha, năng suất bình quân đạt 38,51 tạ/ha, sản lượng 9.067 tấn Diện tích thuốc lá đạt 150 ha, năng suất đạt 15,53 ta/ha Các loại cây trồng khác như Đậu tương, khoai lang, khoai tây, sắn, lạc, rau các loại đều có diện tích và năng suất đạt hoặc vượt kế hoạch đề

ra so với năm trước

- Chăn nuôi: Tổng đàn trâu, bò là 9.283 con; lợn 23.330 con; dê 2.243 con; gia cầm 187.100 con; sản lượng thịt hơi 2.460 tấn Nhìn chung đàn gia súc, gia cầm có xu hướng giảm so với các năm trước Chăn nuôi phát triển theo hình thức hộ gia đình và cá thể là chính, chưa có trang trại chăn nuôi lớn tập trung

- Lâm nghiệp: Hệ thống quản lý sản xuất lâm nghiệp trên địa bàn huyện gồm có Phòng Nông nghiệp và PTNT, hạt Kiểm lâm huyện tham mưu giúp UBND huyện triển khai thực hiện các hoạt động, chính sách bảo vệ và triển rừng trên địa bàn

Trên địa bàn có Lâm trường thuộc Công ty Lâm nghiệp Bắc Kạn, Công ty TNHH Hoàng Long, nhà máy chế biến gỗ SAHABAK thực hiện tổ chức sản xuất kinh doanh, chế biến lâm sản theo chức năng, nhiệm được giao Đối với các hộ gia đình được giao đất lâm nghiệp và rừng tiến hành trồng rừng và bảo

vệ rừng theo các nguồn vốn như: Dự án 661, 147, liên doanh liên kết, tự có … Trồng rừng tập trung được 1.866 ha, chăm sóc rừng trồng 2.920 ha, khai thác 5.648m3 gỗ tròn các loại

- Thủy sản: Diện tích 164 ha, sản lượng khai thác đạt 269,8 tấn các loại

b Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp

Giá trị sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp đạt 35,8 tỷ đồng, trong đó: Khai thác đạt 13,2 tỷ đồng, chế biến đạt 20,5 tỷ đồng, sản xuất và phân phối đạt 2,1 tỷ đồng

Nhìn chung các giá trị công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp còn rất thấp trong khu vực kinh tế

Trang 34

* Giao thông: Giao thông trên địa bàn huyện tương đối thuận lợi Có

quốc lộ 3 chạy qua địa bàn khoảng 40km Hệ thống đường giao thông đến trung tâm xã đều được trải nhựa Tuy nhiên, đường giao thông nông thôn còn rất nhiều khó khăn, chủ yếu là cấp phối, rất khó khăn trong việc đi lại và vận chuyển hàng hóa nhất là mùa mưa Do địa hình cao dốc, hiểm trở nên vào mùa mưa tình trạng sạt lở hay say ra gây phá hủy giao thông, cũng như khó khăn trong việc đi lại

* Thủy lợi: Hệ thống thủy lợi trên địa bàn huyện tuy được kiên cố hóa

hoàn toàn, vẫn còn nhiều phai đập xây dựng tạm Tuy nhiên trong mấy năm gần đây được sự quan tâm của các cấp chính quyền địa phương, hệ thống thủy lợi đang được kiên cố hóa, nhiều công trình thủy lợi được xây dựng mới Hàng năm công tác thủy lợi đã có nhiều cố gắng để đảm bảo hệ thống nước tưới, tiêu phục vụ cho kế hoạch sản xuất trên địa bàn huyện

b Văn hóa xã hội

- Y tế: Công tác khám chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe cho nhân dân được thực hiện thường xuyên Các chương trình y tế quốc gia được thực hiện đầy đủ và nghiêm túc như chương trình tiêm chủng, dân số kế hoạch hóa gia đình, chương trình phòng chống HIV Các cơ quan chuyên môn tăng cường công tác giám sát vệ sinh an toàn thực phẩm, tích cực tuyên truyền phòng chống dịch bệnh nên những năm gần đây trên địa bàn không có hiện tượng dịch bệnh bùng phát trên diện rộng

Trang 35

- Giáo dục: Ngành giáo dục đào tạo của huyện đã chỉ đạo các trường trong việc dạy và học của học sinh nên đã đạt được những thành tích đáng kể Trong Năm học 2012-2013 số học sinh vào lớp một đạt 100% trong độ tuổi đều được đến trường, số học sinh cơ sở đến trường đạt 98% trong độ tuổi Cơ

sở vật chất trường lớp đều được xây dựng kiên cố Tuy nhiên một số phòng học của các điểm trường đã xuống cấp nhất là các phòng học của các trường mầm non Cơ sở vật chất dạy và học con nhiều thiếu thốn

1.4.3 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - Xã hội hai xã thực hiện đề tài

1.4.3.1 Điều kiện tự nhiên

a Vị trí địa lý

Nông Hạ và Cao Kỳ là hai xã được lựa chọn triển khai, thực hiện đề tài thuộc huyện Chợ Mới, có hình dạng kéo dài theo chiều đông tây, với vị trí: Phía bắc giáp xã Thanh Mai, Hòa Mục, Tân Sơn;

Phía đông giáp xã Yên Cư, Yên Hân, Bình Văn;

Phía nam giáp xã Như Cố, Nông Thịnh, Thanh Bình;

Phía tây giáp xã Thanh Vận và xã Tân Thịnh của huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên

Là khu vực có một vị trí tương đối thuận lợi về giao thông với trục đường quốc lộ 3 chạy trên địa bàn song song với sông Cầu, nối từ thị trấn Chợ Mới qua xã Nông Hạ, Cao Kỳ đến thị xã Bắc Kạn tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển kinh tế, giao lưu hàng hóa và đi lại của người dân

b Địa hình

Phần lớn là các kiểu địa hình đồi, núi thấp, núi trung bình, núi cao, núi đá vôi Xen kẽ những cánh đồng nhỏ hẹp được tạo thành do phù s a của sông, suối đặc biệt có sông Cầu chảy qua, nên việc phát triển kinh tế

Trang 36

nông nghiệp tương đối thuận lợi, với độ dốc tương đối lớn, hiểm trở, thảm thực vật chủ yến là rừng tự nhiên tái sinh, giao thông liên thôn đi lại khó khăn, chủ yếu là đường mòn

Nhìn chung địa hình của hai xã phức tạp, khó khăn cho phát triển kinh tế xã hội

d Khí hậu, thuỷ văn

* Khí hậu: Hai xã mang đặc điểm chung của khí hậu nhiệt đới gió mùa miền núi vùng cao phía Bắc, và cũng mang đặc điểm chung nền khí hậu của huyện

* Thuỷ văn: Xen kẽ giữa các khu dân cư là đồi, núi, khe, suối và hệ thống sông Cầu chảy dọc qua xã nên có ảnh hưởng quan trọng đến tưới tiêu cho sản xuất Vào mùa mưa với độ dốc tương đối cao, dòng chảy lớn gây lũ, ngập úng các cây hoa màu và đây cũng là vấn đề bức xúc mà chính quyền và nhân dân trong xã đang quan tâm Ngoài ra sông Cầu còn là nơi nông dân khai thác cát, sỏi làm nguyên vật liệu xây dựng, góp phần làm tăng thu nhập

và giải quyết việc làm lúc nông nhàn

1.4.3.2 Thực trạng phát triển các ngành kinh tế

* Kinh tế nông, lâm nghiệp

Nông Hạ, Cao Kỳ là xã miền núi sản xuất nông nghiệp là chính trong

đó sản xuất trồng trọt giữ vị trí quan trọng đối với đời sống của nhân dân Lâm nghiệp được coi là có tiềm năng, thế mạnh tuy nhiên việc phát huy còn hạn chế

Trang 37

- Trồng trọt: Diện tích, năng suất, sản lượng được thống kê ở bảng 2.1

Bảng 1.1: Một số cây trồng chính xã Cao Kỳ, Nông Hạ

Cây

trồng

Chỉ tiêu

(Nguồn: Báo cáo của UBND xã Cao Kỳ, Nông Hạ )

- Chăn nuôi: Hình thức chăn thả tự nhiên là chủ yếu, đối với trâu, bò, dê

thì được các hộ thả rông trên rừng Đây là một trong những nguyên nhân ảnh

hưởng đến sự sinh trưởng của cây tái sinh trong rừng tự nhiên

Bảng 1.2: Đàn vật nuôi xã Cao Kỳ, Nông Hạ

(Nguồn: Báo cáo của UBND xã Cao Kỳ, Nông Hạ )

- Lâm nghiệp: Hoạt động sản xuất lâm nghiệp tập trung vào trồng rừng và

Trang 38

khai thác lâm sản với quy mô nhỏ và lẻ Từ năm 2000 đến nay, xã đã tiếp nhận một

số dự án trồng rừng, chủ yếu là trồng cây nguyên liệu như là mỡ, keo Ngoài ra còn

có một số loại cây khác (cây Gió trầm, măng Bát độ, cây chè và cây ăn quả)

* Tài nguyên rừng

Hiện nay tài nguyên rừng đã bị khai thác cạn kiệt, động vật quý hiếm gần như không còn Với diện tích rừng hiện có, kết hợp với kế hoạch trồng rừng mới, rừng đang dần dần hồi phục và phát triển, do đó lâm nghiệp là ngành kinh tế quan trọng của xã trong những năm tới

- Tài nguyên động vật, tài nguyên thực vật

Do sự khai thác rừng quá mức, trái phép, tài nguyên động vật rừng, thực vật rừng ở cả hai xã đã suy giảm mạnh, gần như là không còn động vật, thực vật quý hiếm, các loài động, thực vật khác hiện nay cũng đang bị săn bắn và khai thác, ngoài ra việc khai thác rừng và chuyển đổi mục đích sử dụng đất cũng làm cho các loài động vật mất đi nơi sống, nguồn thức ăn do đó kéo theo

sự suy giảm về số lượng các loài, cá thể trong loài, dẫn đến số lượng còn rất

ít, suy giảm tính đa dạng sinh hoc Rừng nghèo cả về số lượng và chất lượng

1.4.3.3 Thực trạng cơ sở hạ tầng

- Giao thông

Trên địa bàn hai xã có tuyến quốc lộ 3 chạy qua nối Nông Hạ, Cao Kỳ với thị trấn Chợ Mới và thị xã Bắc Kạn, tạo điều kiện cho dịch vụ thượng mại được thuận lợi Đường liên xã đã được nhà nước đầu tư xây dựng, tuyến đường giao thông liên thôn chưa được xây dựng nên việc đi lại còn gặp nhiều khó khăn đặc biệt là vào mùa mưa

- Thủy lợi

Nhìn chung hệ thống thủy lợi của xã ngày càng hoàn thiện, tại Nông

Hạ hệ thống kênh mương nội đồng co bản được kiên cố hóa, nguồn nước tương đối dồi dào nên thuận lợi cung cấp nước cho đồng ruộng Tại xã Cao Kỳ đã xây dựng các công trình thủy lợi nhỏ đảm bảo lực phục vụ sản xuất cho trên 85% diện tích đất lúa nước, nhưng một số nơi của xã vẫn thiếu nước vào mùa khô

Trang 39

- Y tế

Các xã đều có trạm y tế đủ điều kiện chăm sóc sức khỏe cho ngươi dân Các hoạt động Y tế chăm sóc sức khỏe cộng đồng được duy trì thường xuyên, thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia về y tế góp phần nâng cao sức khỏe cộng đồng

- Văn hóa

Phong trào đoàn kết toàn dân xây dựng đời sông văn hóa ở khu dân cư, gia đình văn hóa, làng văn hóa, đơn vị văn hóa, việc cưới hỏi ma chay có nhiều tiến bộ

- Thương mại, dịch vụ

Trong địa bàn hai xã chủ yếu kinh doanh hàng tạp hóa, phân bón, thuốc trừ sâu, thức ăn gia súc, thuốc thú y, sửa chữa xe máy….với quy mô nhỏ lẻ Người dân vẫn phải đi mua sắm xa Tuy nhiên ngành dịch vụ cũng đóng góp

một phần không nhỏ vào phát triển nền kinh tế của xã

- Thành phần dân tộc, dân số, lao động

Dân số phân bố không đồng đều, tập trung dọc trục đường quốc lộ 3, số còn lại phân bố rải rác các làng bản trong xã Hiện nay, việc làm cho người lao động đang là vấn đề được chính quyền cũng như nhân dân rất quan tâm, đặc biệt là lao động nông nhàn lúc kết thúc mùa vụ Thành phần dân tộc, dân số và lao động của hai xã thể hiện trong bảng 2.6:

Bảng 1.3: Dân số, dân tộc và lao động xã Cao Kỳ, Nông Hạ

2.289 lao động, chiếm 62,3% dân số, trong đó lao động nông, lâm nghiệp chiếm khoảng 89% tổng số lao động

Dân tộc Tày, Kinh, Dao, Hoa… Tày, Nùng, Dao, Sán Chay, Kinh

(Nguồn: Báo cáo của UBND xã Cao Kỳ, Nông Hạ)

Trang 40

- Thực trạng phát triển các khu dân cư

Hai xã có diện tích đất tự nhiên tương đối rộng, địa hình đồi núi, các điểm dân cư phân bố rải rác, có quy mô nhỏ gần nguồn nước, đường giao thông Cơ sở hạ tầng trong khu dân cư nông thôn còn nhiều bất cập, giao thông đi lại còn nhiều khó khăn Các công trình điện, nước, y tế, giao dục, văn hóa, thể thao, vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của người dân Môi trường sinh thái trong các khu dân cư bị ảnh hưởng do tập quán sinh hoạt, chăn thả gia súc, gia cầm

Ngày đăng: 19/11/2014, 19:45

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Nông nghiệp &amp; PTNT (1993), Quy phạm các giải pháp lâm sinh áp dụng cho rừng sản xuất gỗ và tre nứa (QP14-92), NXB Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy phạm các giải pháp lâm sinh áp dụng cho rừng sản xuất gỗ và tre nứa (QP14-92)
Tác giả: Bộ Nông nghiệp &amp; PTNT
Nhà XB: NXB Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 1993
2. Bộ Nông nghiệp &amp; PTNT (1998), Quy phạm phục hồi rừng bằng khoanh nuôi xúc tiến tái sinh kết hợp trồng bổ sung (QP21-98), NXB Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy phạm phục hồi rừng bằng khoanh nuôi xúc tiến tái sinh kết hợp trồng bổ sung (QP21-98)
Tác giả: Bộ Nông nghiệp &amp; PTNT
Nhà XB: NXB Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 1998
3. Bộ Nông nghiệp &amp; PTNT (2006), Công tác điều tra rừng ở Việt Nam, Cẩm nang ngành lâm nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công tác điều tra rừng ở Việt Nam
Tác giả: Bộ Nông nghiệp &amp; PTNT
Năm: 2006
5. Baur G.N (1976), Cơ sở sinh thái học của kinh doanh rừng mưa, Vương Tấn Nhị dịch, NXB khoa học kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở sinh thái học của kinh doanh rừng mưa
Tác giả: Baur G.N
Nhà XB: NXB khoa học kỹ thuật
Năm: 1976
8. Ngô Quang Đê (1992), lâm sinh học tập 1,2, Trường đại học Lâm nghiệp Việt Nam, Hà Tây Sách, tạp chí
Tiêu đề: lâm sinh học tập 1,2
Tác giả: Ngô Quang Đê
Năm: 1992
9. Vũ Tiến Hinh (1991), Đặc điểm tái sinh của rừng tự nhiên, tạp chí lâm nghiệp, 9 (2), tr 3-4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm tái sinh của rừng tự nhiên, tạp chí lâm nghiệp
Tác giả: Vũ Tiến Hinh
Năm: 1991
10. Vũ Tiến Hinh, Phạm Văn Điển (2005), Báo cáo kết quả nghiên cứu các giải pháp phục hồi rừng bằng khoanh nuôi ở một số tỉnh phía Bắc Việt Nam, Đề tài KHCN - Bộ Nông nghiệp và PTNT Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kết quả nghiên cứu các giải pháp phục hồi rừng bằng khoanh nuôi ở một số tỉnh phía Bắc Việt Nam
Tác giả: Vũ Tiến Hinh, Phạm Văn Điển
Năm: 2005
11. Nguyễn Thị Thu Hoàn (2012), Nghiên cứu phân cấp rừng phòng hộ đầu nguồn trên địa bàn huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn, Báo cáo kết quả đề tài NCKH cấp bộ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu phân cấp rừng phòng hộ đầu nguồn trên địa bàn huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn
Tác giả: Nguyễn Thị Thu Hoàn
Năm: 2012
14. Trần Đình Lý (1995), “Khả năng tái sinh tự nhiên thảm thực vật vùng núi cao Sa Pa”, tạp chí lâm nghiệp số 2, trang 8-9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khả năng tái sinh tự nhiên thảm thực vật vùng núi cao Sa Pa”, "tạp chí lâm nghiệp số 2
Tác giả: Trần Đình Lý
Năm: 1995
15. Trần Ngũ Phương (1970), Bước đầu nghiên rừng Miền Bắc Việt Nam, NXBKH KT Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bước đầu nghiên rừng Miền Bắc Việt Nam
Tác giả: Trần Ngũ Phương
Nhà XB: NXBKH KT Hà Nội
Năm: 1970
16. Trần Ngũ Phương (2000), Một số vấn đề rừng nhiệt đới ở Việt Nam, NXB nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề rừng nhiệt đới ở Việt Nam
Tác giả: Trần Ngũ Phương
Nhà XB: NXB nông nghiệp Hà Nội
Năm: 2000
17. Bùi Đăng Pho (2006), Điều tra đánh giá tình hình tái sinh tự nhiên trên đất trống đồi núi trọc vùng miền núi phía Bắc và đề xuất các giải pháp khoanh nuôi phục hồi rừng phục vụ cho chương trình trồng mới 5 triệu ha rừng, Viện ĐTQHR, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều tra đánh giá tình hình tái sinh tự nhiên trên đất trống đồi núi trọc vùng miền núi phía Bắc và đề xuất các giải pháp khoanh nuôi phục hồi rừng phục vụ cho chương trình trồng mới 5 triệu ha rừng
Tác giả: Bùi Đăng Pho
Năm: 2006
18. Plaudy.J. (1987), Rừng nhiệt đới ẩm, Tổng luận chuyên đề, Bộ lâm nghiệp 19. Richards P.W. (1959,1968,1970), Rừng mưa nhiệt đới, Vương Tấn Nhịdịch, NXB khoa học kỹ thuật Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rừng nhiệt đới ẩm," Tổng luận chuyên đề, Bộ lâm nghiệp 19. Richards P.W. (1959,1968,1970), "Rừng mưa nhiệt đới
Tác giả: Plaudy.J
Nhà XB: NXB khoa học kỹ thuật Hà Nội
Năm: 1987
20. Lê Đồng Tấn, Đỗ Hữu Thư và cs (1995), Một số kết quả nghiên cứu về cấu trúc thảm thực vật tái sinh trên đất sau nương rẫy tại Chiềng Sinh Sơn La, tuyển tập các công trình sinh thái và tài nguyên sinh vật, NXB KHKT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số kết quả nghiên cứu về cấu trúc thảm thực vật tái sinh trên đất sau nương rẫy tại Chiềng Sinh Sơn La
Tác giả: Lê Đồng Tấn, Đỗ Hữu Thư và cs
Nhà XB: NXB KHKT
Năm: 1995
21. Lê Đồng Tấn (1999), Nghiên cứu quá trình phục hồi tự nhiên của một số quần xã thực vật sau nương rẫy tại Sơn La phục vụ cho khoanh nuôi, Luận án tiến sĩ sinh học, Viện sinh thái và tài Nguyên sinh vật Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu quá trình phục hồi tự nhiên của một số quần xã thực vật sau nương rẫy tại Sơn La phục vụ cho khoanh nuôi
Tác giả: Lê Đồng Tấn
Năm: 1999
22. Nguyễn Văn Thêm (2004), Lâm sinh học, NXBNN Thành phố Hồ Chí Minh 23. Phạm Ngọc Thường (2001), “Một số mô hình phục hồi rừng và sử dụngđất bỏ hóa sau nương rẫy ở Thái Nguyên và Bắc Kạn”, Tạp chí nông nghiệp và phát triển nông thôn số 01 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lâm sinh học", NXBNN Thành phố Hồ Chí Minh 23. Phạm Ngọc Thường (2001), “Một số mô hình phục hồi rừng và sử dụng đất bỏ hóa sau nương rẫy ở Thái Nguyên và Bắc Kạn”
Tác giả: Nguyễn Văn Thêm (2004), Lâm sinh học, NXBNN Thành phố Hồ Chí Minh 23. Phạm Ngọc Thường
Nhà XB: NXBNN Thành phố Hồ Chí Minh 23. Phạm Ngọc Thường (2001)
Năm: 2001
24. Phạm Ngọc Thường (2003), Nghiên cứu đặc điểm quá trình tái sinh tự nhiên và đề xuất một số giải pháp kỹ thuật lâm sinh phục hồi rừng sau nương rẫy ở hai tỉnh Thái Nguyên-Bắc Kạn, Luận văn tiến sĩ khoa học lâm nghiệp. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu đặc điểm quá trình tái sinh tự nhiên và đề xuất một số giải pháp kỹ thuật lâm sinh phục hồi rừng sau nương rẫy ở hai tỉnh Thái Nguyên-Bắc Kạn
Tác giả: Phạm Ngọc Thường
Năm: 2003
25. Nguyễn Vạn Thường (1991), Bước đầu tìm hiểu tình hình tái sinh tự nhiên ở một số khu rừng miền Bắc Việt Nam, Một số công trình 30 năm điều tra quy hoạch rừng 1961-1991, Viện điều tra quy hoạch rừng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bước đầu tìm hiểu tình hình tái sinh tự nhiên ở một số khu rừng miền Bắc Việt Nam, Một số công trình 30 năm điều tra quy hoạch rừng 1961-1991
Tác giả: Nguyễn Vạn Thường
Năm: 1991
27.Trần Xuân Thiệp(1995), Vai trò tái sinh và phục hồi rừng tự nhiên trong diễn biến tài Nguyên các vùng Miền Bắc, công trình khoa học kỹ thuật điều tra quy hoạch rừng, NXBNN Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò tái sinh và phục hồi rừng tự nhiên trong diễn biến tài Nguyên các vùng Miền Bắc, công trình khoa học kỹ thuật điều tra quy hoạch rừng
Tác giả: Trần Xuân Thiệp
Nhà XB: NXBNN Hà Nội
Năm: 1995
28. Thái Văn Trừng (1978), Thảm thực vật rừng Việt Nam. NXB KHKT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thảm thực vật rừng Việt Nam
Tác giả: Thái Văn Trừng
Nhà XB: NXB KHKT
Năm: 1978

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.2: Đàn vật nuôi xã Cao Kỳ, Nông Hạ  Vật nuôi - Nghiên cứu đặc điểm tái sinh tự nhiên trong một số kiểu thảm thực vật và đề xuất một số biện pháp kỹ thuật nhằm phục hồi rừng tại huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc kạn
Bảng 1.2 Đàn vật nuôi xã Cao Kỳ, Nông Hạ Vật nuôi (Trang 37)
Bảng 1.1: Một số cây trồng chính xã Cao Kỳ, Nông Hạ  Cây - Nghiên cứu đặc điểm tái sinh tự nhiên trong một số kiểu thảm thực vật và đề xuất một số biện pháp kỹ thuật nhằm phục hồi rừng tại huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc kạn
Bảng 1.1 Một số cây trồng chính xã Cao Kỳ, Nông Hạ Cây (Trang 37)
Hình 2.1. Cách bố trí các ô đo đếm trong ô tiêu chuẩn diện tích 2500 m2 - Nghiên cứu đặc điểm tái sinh tự nhiên trong một số kiểu thảm thực vật và đề xuất một số biện pháp kỹ thuật nhằm phục hồi rừng tại huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc kạn
Hình 2.1. Cách bố trí các ô đo đếm trong ô tiêu chuẩn diện tích 2500 m2 (Trang 43)
Bảng 3.2: Đặc điểm chung các ô nghiên cứu  TT  Số hiệu OTC  Khu vực  Độ dốc - Nghiên cứu đặc điểm tái sinh tự nhiên trong một số kiểu thảm thực vật và đề xuất một số biện pháp kỹ thuật nhằm phục hồi rừng tại huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc kạn
Bảng 3.2 Đặc điểm chung các ô nghiên cứu TT Số hiệu OTC Khu vực Độ dốc (Trang 52)
Bảng 3.3: Tổ thành và mật độ rừng trạng thái IIA   TT  Tên phổ thông  Ni đo đếm - Nghiên cứu đặc điểm tái sinh tự nhiên trong một số kiểu thảm thực vật và đề xuất một số biện pháp kỹ thuật nhằm phục hồi rừng tại huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc kạn
Bảng 3.3 Tổ thành và mật độ rừng trạng thái IIA TT Tên phổ thông Ni đo đếm (Trang 53)
Bảng 3.4: Tổ thành và mật độ rừng trạng thái IIb   TT  Tên phổ thông  Ni đo đếm - Nghiên cứu đặc điểm tái sinh tự nhiên trong một số kiểu thảm thực vật và đề xuất một số biện pháp kỹ thuật nhằm phục hồi rừng tại huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc kạn
Bảng 3.4 Tổ thành và mật độ rừng trạng thái IIb TT Tên phổ thông Ni đo đếm (Trang 54)
Bảng 3.5: Tổng hợp công thức tổ thành trạng thái rừng IIa, IIb  Xã  Trạng - Nghiên cứu đặc điểm tái sinh tự nhiên trong một số kiểu thảm thực vật và đề xuất một số biện pháp kỹ thuật nhằm phục hồi rừng tại huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc kạn
Bảng 3.5 Tổng hợp công thức tổ thành trạng thái rừng IIa, IIb Xã Trạng (Trang 55)
Bảng 3.6: Chỉ số đa dạng cây gỗ tại trạng thái IIa, IIb - Nghiên cứu đặc điểm tái sinh tự nhiên trong một số kiểu thảm thực vật và đề xuất một số biện pháp kỹ thuật nhằm phục hồi rừng tại huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc kạn
Bảng 3.6 Chỉ số đa dạng cây gỗ tại trạng thái IIa, IIb (Trang 56)
Bảng 3.7: Phân bố số cây theo cỡ đường kính (D 1.3 ) trạng thái IIa - Nghiên cứu đặc điểm tái sinh tự nhiên trong một số kiểu thảm thực vật và đề xuất một số biện pháp kỹ thuật nhằm phục hồi rừng tại huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc kạn
Bảng 3.7 Phân bố số cây theo cỡ đường kính (D 1.3 ) trạng thái IIa (Trang 57)
Hình 3.1:  Phân bố số cây theo cỡ đường kính trạng thái IIa - Nghiên cứu đặc điểm tái sinh tự nhiên trong một số kiểu thảm thực vật và đề xuất một số biện pháp kỹ thuật nhằm phục hồi rừng tại huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc kạn
Hình 3.1 Phân bố số cây theo cỡ đường kính trạng thái IIa (Trang 58)
Hình 3.2:  Phân bố số cây theo cỡ đường kính trạng thái IIb  3.2.3.2. Phân bố số cây theo cỡ chiều cao (Hvn) - Nghiên cứu đặc điểm tái sinh tự nhiên trong một số kiểu thảm thực vật và đề xuất một số biện pháp kỹ thuật nhằm phục hồi rừng tại huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc kạn
Hình 3.2 Phân bố số cây theo cỡ đường kính trạng thái IIb 3.2.3.2. Phân bố số cây theo cỡ chiều cao (Hvn) (Trang 58)
Bảng 3.9: Phân bố số cây theo cỡ chiều cao - Nghiên cứu đặc điểm tái sinh tự nhiên trong một số kiểu thảm thực vật và đề xuất một số biện pháp kỹ thuật nhằm phục hồi rừng tại huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc kạn
Bảng 3.9 Phân bố số cây theo cỡ chiều cao (Trang 59)
Hình 3.3. Đồ thị phân bố số cây theo cỡ chiều cao - Nghiên cứu đặc điểm tái sinh tự nhiên trong một số kiểu thảm thực vật và đề xuất một số biện pháp kỹ thuật nhằm phục hồi rừng tại huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc kạn
Hình 3.3. Đồ thị phân bố số cây theo cỡ chiều cao (Trang 59)
Bảng 3.10: Cấu trúc tổ thành cây tái sinh trạng thái rừng   Trạng thái  Tên loài  Ký hiệu  Hệ số - Nghiên cứu đặc điểm tái sinh tự nhiên trong một số kiểu thảm thực vật và đề xuất một số biện pháp kỹ thuật nhằm phục hồi rừng tại huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc kạn
Bảng 3.10 Cấu trúc tổ thành cây tái sinh trạng thái rừng Trạng thái Tên loài Ký hiệu Hệ số (Trang 60)
Bảng 3.11: Mật độ cây tái sinh - Nghiên cứu đặc điểm tái sinh tự nhiên trong một số kiểu thảm thực vật và đề xuất một số biện pháp kỹ thuật nhằm phục hồi rừng tại huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc kạn
Bảng 3.11 Mật độ cây tái sinh (Trang 61)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w