1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu sự tham gia của cộng đồng trong việc xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình

105 1,8K 8

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 105
Dung lượng 1,68 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI CAM ĐOAN Luận văn tốt nghiệp “Nghiên cứu sự tham gia của cộng đồng trong việc xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Kim Bôi - tỉnh Hòa Bình”,, chuyên ngành Phát Triển Nông Thôn l

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

BÙI MINH TÂN

NGHIÊN CỨU SỰ THAM GIA CỦA CỘNG ĐỒNG TRONG VIỆC XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TRÊN ĐỊA BÀN

HUYỆN KIM BÔI - TỈNH HÒA BÌNH

Chuyên ngành: Phát triển nông thôn

Mã số: 60-62-01-16

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP

Giáo viên hướng dẫn: TS Vũ Trọng Bình

Thái Nguyên, năm 2013

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Luận văn tốt nghiệp “Nghiên cứu sự tham gia của cộng đồng trong việc xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Kim Bôi - tỉnh Hòa Bình”,, chuyên ngành Phát Triển Nông Thôn là công trình nghiên cứu của

riêng tôi luận văn đã sử dụng thông tin từ nhiều nguồn khác nhau, các thông tin có sẵn đã được trích rõ nguồn gốc

Tô xin cam, đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu đã đưa trong luận văn này là trung thực và chưa được sử dụng trong bất cứ một công trình nghiên cứu khoa học nào Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ trong việc thực hiện đề tài này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong đề tài đều đã được chỉ rõ nguồn gốc

Thái nguyên, ngày 19 tháng 10 năm 2013

Tác giả đề tài

Bùi Minh Tân

Trang 3

Có được kết quả này lời đầu tiên em xin gửi lời cám ơn đến các thầy

cô giáo: TS Vũ Trọng Bình, TS Bùi Đình Hòa, PGS.TS Đinh Ngọc Lan, PGS.TS Dương Văn Sơn đã hướng dẫn em trong quá trình hoàn

thành luận văn Các thầy cô đã chỉ bảo và hướng dẫn tận tình cho em những kiến thức lý thuyết, thực tế cũng như các kỹ năng trong viết bài, đồng thời cũng chỉ rõ những thiếu sót và hạn chế để em hoàn thành bài báo cáo với kết quả tốt nhất Các thầy cô luôn là người truyền động lực giúp em hoàn thành

tốt giai đoạn thực tập tốt nghiệp và viết luận văn

Cho phép em gửi lời cảm ơn sâu sắc tới các phòng ban của UBND huyện Kim Bôi, UBND các xã Nam Thượng, Bắc Sơn, Trung Bì đã nhiệt tình giúp đỡ em, cung cấp cho em các thông tin, số liệu để phục vụ cho bài báo cáo Đã tạo mọi điều kiện giúp em hoàn thành luận văn

Em xin chân thành biết ơn sự tận tình dạy dỗ của các thầy cô trong Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, đặc biệt là các thầy cô trong khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn, phòng quản lí và đào tạo sau Đại học

Lời cảm ơn chân thành và sâu sắc, em xin gửi đến gia đình, bạn bè đã luôn sát cánh và động viên em trong những giai đoạn khó khăn nhất

Thái Nguyên, ngày 19 tháng 10 năm2013

Học viên

Bùi Minh Tân

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Đặt vấn đề 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

3 Nội dung nghiên cứu 3

4.Ý nghĩa của đề tài 3

4.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học 3

4.2 Ý nghĩa trong thực tiễn 3

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

1.1 Cơ sở khoa học của đề tài 4

1.1.1 Khái niệm Nông thôn và đặc điểm của nông thôn 4

1.1.2 Nông thôn mới 5

1.1.3 Phát triển nông thôn dựa vào cộng đồng 5

1.1.4 Khái niệm cộng đồng và mức độ tham gia của cộng đồng 6

1.1.5 Khái niệm về nội lực, nội lực của cộng đồng 7

1.1.6 Các yếu tố xác định sự tham gia trong PTNT 11

1.1.7 Vai trò và các yếu tố ảnh hưởng đến sự tham gia của cộng đồng trong PTNT 13

2.1.8 Các chỉ tiêu để xác định sự tham gia 15

1.1.9 Căn cứ pháp lý để xây dựng nông thôn mới 15

1.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài 16

1.2.1 Kinh nghiệm xây dựng nông thôn mới ở một số nước trên thế giới 16

1.2.2 Những kết quả bước đầu về xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam 22

1.2.3 Bài học kinh nghiệm từ xây dựng nông thôn mới 33

Trang 5

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN

CỨU 36

2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 36

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 36

2.1.2 Phạm vi nghiên cứu 36

2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 36

2.3 Nội dung nghiên cứu 37

2.4 Phương pháp nghiên cứu 37

2.4.1 Phương pháp điều tra hộ: Gồm các bước sau 37

2.4.2 Phương pháp xử lý số liệu 39

Chương 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 40

3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Kim Bôi 40

3.1.1 Điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên 40

3.1.2 Thực trạng phát triển kinh tế - xã hội 42

3.1.3 Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội đối với quá trình tham gia của cộng đồng 45

3.2 Tình hình xây dựng NTM ở 3 xã nghiên cứu 46

3.3 Sự tham gia của cộng đồng trong xây dựng nông thôn mới 48

3.3.1 Mức độ đạt tiêu chí của các xã 48

3.3.2 Sự tham gia của người dân trong xây dựng NTM 51

3.3.3 Sự tham gia của cộng đồng trong xây dựng CSHT nông thôn 55

3.3.4 Đóng góp của người dân cho xây dựng CSHT nông thôn 60

3.4 Sự tham gia của cộng đồng trong các hoạt động cải thiện điều kiện ở 69

3.4.1 Các nội dung người dân tham gia hoạt động cải thiện điều kiện ở 69

3.4.2 Khả năng đầu tư, đóng góp của người dân nhằm cải thiện điều kiện ở 71

Trang 6

3.5 Sự tham gia của cộng đồng trong việc phát triển sản xuất 74

3.6 Đánh giá chung về sự tham gia của cộng đồng tại 3 xã điểm 77

3.6.1 Kinh nghiệm huy động cộng đồng tham gia đóng góp 80

3.6.2 Kinh nghiệm huy động cộng đồng theo nội dung xây dựng NTM 85

3.7 Một số giải pháp huy động nội lực từ người dân tham gia xây dựng NTM 87

KẾT LUẬN 92

1 Kết luận 92

2 Kiến nghị 93

TÀI LIỆU THAM KHẢO 95

Trang 7

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

MTQG : Mục tiêu quốc gia

XĐGN : Xóa đói giảm nghèo

PTNT : Phát triển nông thôn

NN&PTNT : Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

LĐ, TB&XH : Lao động, Thương binh và Xã hội

NQ/TW : Nghị quyết Trung ương

HĐND : Hội đồng nhân dân

VH-TT-DL : Văn hóa – Thể thao – Du lịch

SX-KD : Sản xuất – Kinh doanh

GTNT : Giao thông nông thôn

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU

Bảng 3.1 Một số thông tin 3 xã điểm thời điểm cuối năm 2012 47 Bảng 3.2 Mức độ đạt các tiêu chí của 3 xã theo 19 tiêu chí của QĐ 491 48 Bảng 3.3 Một số công trình CSHT có sự tham gia của người dân trong

xây dựng NTM 52 Bảng 3.4 Sự tham gia của người dân vào việc ra quyết định trong

chương trình NTM 53 Bảng 3.5 Đánh giá của người dân về sự tham gia xây dựng CSHT trong

mỗi dự án 58 Bảng 3.6 Giá trị đóng góp của hộ cho xây dựng các công trình hạ tầng 61 Bảng 3.7 Ý kiến của cán bộ xã, thôn về khó khăn trong huy động đóng

góp bằng tiền 63 Bảng 3.8 Đóng góp của hộ cho xây dựng CSHT theo năm 66 Bảng 3.9 Tổng hợp các nội dung tham gia của người dân trong cải thiện

điều kiện ở 69 Bảng 3.10 Đóng góp của hộ gia đình để cải thiện điều kiện ở qua các năm 73 Bảng 3.11 Hỗ trợ trực tiếp bằng hiện vật trong các dự án phát triển sản xuất 75 Bảng 3.12 Tổng hợp giá trị đóng góp của cộng đồng cho xây dựng

NTM ở 3 xã điểm (tính đến hết tháng 6/2013) 78 Bảng 3.13 Ý kiến đánh giá của cán bộ xã, thôn về sự tham gia của cộng

đồng trong xây dựng NTM (n = 12) 79

Bảng 3.14 Ý kiến của hộ về các khoản đóng góp 80

Trang 9

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 3.1.Tỷ lệ hỗ trợ của dự án so với tổng chi phí xây dựng công trình 72 Biểu đồ 3.2 Đóng góp của nhân dân trong xây dựng NTM ở 3 xã điểm 78

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Đặt vấn đề

Xây dựng nông thôn mới (NTM) là một trong những nhiệm vụ hàng đầu nhằm thực hiện thắng lợi mục tiêu Nghị quyết 26 - NQ/TW ngày 05 tháng 08 năm 2008 của Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá X về Nông nghiệp, Nông dân, Nông thôn Thực hiện Nghị quyết 26, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 800/QĐ - TTg ngày 04 tháng 06 năm 2010 phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia (MTQG) về xây dựng NTM giai đoạn 2010 –

2020 Đây là một chương trình tổng thể về phát triển kinh tế - xã hội, chính trị

và an ninh quốc phòng, là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội, được thực hiện trên phạm vi cả nước

Trước giai đoạn 10 năm thực hiện chương trình MTQG xây dựng NTM

đã có 10 năm triển khai các hoạt động thử nghiệm thông qua các chương trình thí điểm xây dựng NTM ở nhiều địa phương Giai đoạn 2001 – 2005 là chương trình thí điểm NTM cấp xã của Ban Kinh tế Trung ương; giai đoạn

2007 – 2009 là chương trình thí điểm NTM cấp thôn bản của Bộ NN&PTNT; giai đoạn 2009 – 2011 là chương trình thí điểm NTM thời kỳ đẩy nhanh CNH-HĐH do Ban bí thư Trung ương Đảng chỉ đạo Song song với các chương trình này, nhiều địa phương cũng triển khai các hoạt động xây dựng NTM theo những chương trình riêng của tỉnh, thành phố

Các chương trình thí điểm và chương trình MTQG xây dựng NTM đều thực hiện nguyên tắc chủ đạo trong triển khai các nội dung xây dựng NTM là phát huy vai trò chủ thể của cộng đồng dân cư địa phương, các hoạt động cụ thể do chính cộng đồng dân cư ở thôn, xã bàn bạc dân chủ để quyết định và tổ chức thực hiện Nguyên tắc này đã xác định xây dựng NTM là một hoạt động

“dựa vào cộng đồng”, phát huy sự tham gia và đóng góp của cộng đồng là

nguồn lực chính để thực hiện các nội dung xây dựng NTM

Tuy nhiên, theo đánh giá chung từ các chương trình thí điểm, quá trình thử nghiệm vẫn chưa khơi dậy hiệu quả nguồn lực từ cộng đồng, người dân chưa

Trang 11

tích cực tham gia đóng góp vào các hoạt động xây dựng NTM Nhiều nơi người dân có tâm lý ỷ lại, chỉ dựa vào sự hỗ trợ, đầu tư của nhà nước Nguồn vốn cho xây dựng NTM, chủ yếu từ ngân sách nhà nước và tập trung cho xây dựng cơ sở

hạ tầng nông thôn, thiếu sự tham gia ý kiến của cộng đồng, thiếu các hoạt động phát huy vai trò cộng đồng trong tổ chức sản xuất, bảo vệ môi trường, duy trì và phát triển các truyền thống văn hoá tốt đẹp… Ngay trong báo cáo của BCĐ Trung ương về kết quả giai đoạn đầu triển khai chương trình MTQG xây dựng NTM, vấn đề tồn tại vẫn là nhận thức của một bộ phận cán bộ các cấp và người dân về xây dựng NTM còn chưa đúng và chưa đầy đủ, mang nặng tâm lý thụ động, trông chờ vào sự hỗ trợ của Nhà nước, chưa phát huy được vai trò chủ thể của cộng đồng dân cư Chính vì vậy, xây dựng NTM đã trở thành nhiệm vụ trọng yếu của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội, là cuộc vận động toàn diện trên tất cả các lĩnh vực, là cơ sở để đến năm 2020, Việt Nam ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp

Hiện nay Bộ chính trị đang chỉ đạo việc sơ kết nông nghiệp, nông dân, nông thôn, đặc biệt là quá trình xây dựng NTM và chuẩn bị cho đại hội Đảng sắp tới Do đó việc nghiên cứu sự tham gia của cộng đồng là quan trọng và cấp thiết làm cơ sở lý luận cũng như thực tiễn giúp cho việc sơ kết “Tam nông” của các địa phương

Xuất phát từ lý do trên tôi tiến hành nghiên cứu đề tài : “Nghiên cứu sự tham gia của cộng đồng trong việc xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Kim Bôi - tỉnh Hòa Bình”, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm thúc

đẩy sự tham gia của cộng đồng trong xây dựng nông thôn mới trên địa bàn nghiên cứu

2 Mục tiêu nghiên cứu

- Xác định được mức độ tham gia của cộng đồng trong việc triển khai thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới

- Đề xuất một số giải pháp nhằm thúc đẩy sự tham gia của người dân trong quá trình xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Kim Bôi - tỉnh Hòa Bình

Trang 12

3 Nội dung nghiên cứu

- Tìm hiểu về các văn bản quy định của địa phương, Trung ương về sự tham gia của cộng đồng trong quá trình triển khai xây dựng nông thôn mới trên địa bàn nghiên cứu

- Tìm hiểu sự tham gia của cộng đồng trong xây dựng nông thôn mới ở huyện Kim Bôi – tỉnh Hòa Bình, theo các qui định của Trung ương, địa phương và sáng tạo của cơ sở

- Trao đổi kết quả với cộng đồng, chính quyền cơ sở để đề xuất một số giải pháp nhằm thúc đẩy sự tham gia của cộng đồng trong việc xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Kim Bôi – tỉnh Hòa Bình

4.Ý nghĩa của đề tài

4.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học

- Thông qua quá trình thực hiện đề tài giúp cho tôi có điều kiện củng cố

và áp dụng những kiến thức lý thuyết vào trong thực tiễn đồng thời bổ xung những kiến thức còn thiếu cho bản thân

- Chương trình xây dựng nông thôn mới là một chương trình rất lớn đã và đang được triển khai trên khắp các tỉnh thành trong cả nước Do vậy, những nghiên cứu của tôi trong đề tài này sẽ là cơ sở cho các nghiên cứu tiếp theo

4.2 Ý nghĩa trong thực tiễn

- Nghiên cứu được mức độ tham gia của cộng đồng trong quá trình xây dựng nông thôn mới sẽ cung cấp thông tin gốc từ thực địa cho quá trình xây dựng NTM ở Kim Bôi – Hòa Bình và Trung ương, để chỉ đạo xây dựng NTM

sẽ sát thực tiễn nhu cầu của người dân hơn

- Kết quả nghiên cứu là cơ sở, căn cứ để đề xuất một số giải pháp thực tiễn nhằm xây dựng nông thôn mới thành công và đạt hiệu quả cao tại Kim Bôi – Hòa Bình

- Kết quả nghiên cứu giúp cho khoa Kinh tế &PTNT trường đại học Nông lâm Thái nguyên, Viện chính sách và chiến lược phát triển nông nghiệp nông thôn Bộ NN&PTNT làm cơ sở để nghiên cứu, đề xuất chính sách cho quá trình sơ kết Nghị quyết số 26 về nông nghiệp, nông dân, nông thôn

Trang 13

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Cơ sở khoa học của đề tài

1.1.1 Khái niệm Nông thôn và đặc điểm của nông thôn

Nông thôn là vùng sinh sống của tập hợp cư dân, trong đó có nhiều nông dân Tập hợp dân cư này tham gia vào các hoạt động kinh tế, văn hoá, xã hội và môi trường trong một thể chế chính trị nhất định và chịu ảnh hưởng của các tổ chức khác

Nông thôn là vùng khác với đô thị là ở đó có một cộng đồng chủ yếu là nông dân, làm nghề chính là nông nghiệp; có mật độ dân cư thấp hơn; có kết cấu hạ tầng kém phát triển hơn; có mức độ phúc lợi xã hội thua kém hơn; có

trình độ dân trí, trình độ tiếp cận thị trường và sản xuất hàng hoá thấp hơn

Phát triển nông thôn là một phạm trù rộng được nhận thức với rất nhiều

quan điểm khác nhau Theo Mai Thanh Cúc và cs (2005) [3]: “Phát triển

nông thôn là một chiến lược nhằm cải thiện các điều kiện sống về kinh tế và

xã hội của một nhóm người cụ thể - người nghèo ở vùng nông thôn Nó giúp những người nghèo nhất trong những người dân sống ở các vùng nông thôn được hưởng lợi ích từ sự phát triển”

Phát triển nông thôn có tác động theo nhiều chiều khác nhau Đây là một quá trình thu hút mọi người dân tham gia vào các chương trình phát triển, nhằm mục tiêu cải thiện chất lượng cuộc sống của các cư dân nông thôn, đồng thời phát triển nông thôn là quá trình thực hiện hiện đại hóa nền văn hóa nông thôn nhưng vẫn bảo tồn được những giá trị truyền thống thông qua việc ứng dụng khoa học và công nghệ PTNT là sự phát triển tổng hợp của tất cả các hoạt động

có mối liên hệ tác động qua lại lẫn nhau giữa các yếu tố vật chất, kinh tế, công nghệ, văn hóa, xã hội, thể chế và môi trường Nó không thể tiến hành một cách độc lập mà phải được đặt trong khuôn khổ của một chiến lược, chương trình phát triển quốc gia Sự phát triển của các vùng nông thôn sẽ đóng góp tích cực vào sự nghiệp phát triển kinh tế nói riêng và sự phát triển chung của đất nước (Phạm Vân Đình và cs, 1997) [8]

Trang 14

1.1.2 Nông thôn mới

Trong Nghị quyết số 26-NQ/TW [20] đưa ra mục tiêu: “Xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội hiện đại, cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ, đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hoá dân tộc; dân trí được nâng cao, môi trường sinh thái được bảo vệ; hệ thống chính trị ở nông thôn dưới sự lãnh đạo của Đảng được tăng cường” Trong quyết định Số 800/QĐ-TTg [22] đưa ra mục tiêu trung về xây dựng mô hình nông thôn mới: “Xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội từng bước hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ; gắn phát triển nông thôn với đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn dân chủ,

ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; môi trường sinh thái được bảo vệ; an ninh trật tự được giữ vững; đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày càng được nâng cao; theo định hướng xã hội chủ nghĩa”

Như vậy nông thôn mới trước tiên nó phải là nông thôn không phải là thị

tứ, thị trấn, thị xã, thành phố và khác với nông thôn truyền thống hiện nay, có thể khái quát gọn theo năm nội dung cơ bản sau: (1) làng xã văn minh, sạch đẹp, hạ tầng hiện đại; (2) sản xuất phát triển bền vững theo hướng kinh tế hàng hóa; (3) đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày càng được nâng cao; (4) bản sắc văn hóa dân tộc được giữ gìn và phát triển; (5) xã hội nông thôn an ninh tốt, quản lý dân chủ

1.1.3 Phát triển nông thôn dựa vào cộng đồng

Theo Báo cáo tổng hợp đề tài khoa học của Viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp – Bộ NN & PTNT (2009) [18]: Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu về phát triển (nông thôn) theo định hướng cộng đồng, và có một số cách dùng từ khác nhau như phát triển theo định hướng cộng đồng, phát triển dựa vào cộng đồng, phát triển do cộng đồng làm chủ, và phát triển lấy người dân làm trung tâm Phát triển theo các tên gọi khác nhau này đều có chung bản chất là phát triển theo định hướng cộng đồng

Trang 15

Phát triển theo định hướng cộng đồng cho rằng các cộng đồng địa phương khi có được quyền ra các quyết định và quản lý các nguồn lực trong tay sẽ thực hiện việc phát triển tốt hơn

Theo định nghĩa của Ngân hàng thế giới, phát triển do cộng đồng làm chủ phụ thuộc vào việc xây dựng mối quan hệ đối tác giữa các tổ chức cộng đồng, các tổ chức phi chính phủ với các đơn vị cung cấp các dịch vụ tư nhân hay công cộng (như dịch vụ khuyến nông) Trong điều kiện của Việt Nam, có thể hiểu trong điều kiện khi chính quyền xã, các thôn và các tổ chức cộng đồng đang giữ vai trò chủ đạo trong việc lựa chọn, lập kế hoạch và quản lý các chương trình, các hoạt động phát triển địa phương Điều đó còn bao gồm cả việc chuyển quyền chủ đầu tư và sử dụng tài chính cho cấp địa phương (Báo cáo tổng hợp đề tài khoa học của Viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp –

Bộ NN & PTNT, 2009) [18]

1.1.4 Khái niệm cộng đồng và mức độ tham gia của cộng đồng

Theo Nguyễn Ngọc Luân và cs (2011) [16], có nhiều khái niệm về cộng

đồng, trong đó nổi bật hai khái niệm: theo Marcia L.Conner “cộng đồng là

các nhóm dân cư có cùng sở thích, có chung lợi ích và mối quan tâm” Khái

niệm này đã phản ánh được những đặc trưng mang tính bản chất của cộng

đồng T.Schouten và P Moriarty lại cho rằng: “cộng đồng sinh ra và tồn tại

do một nhóm những người đồng sở thích, nhưng cộng đồng không chỉ có nghĩa chỉ là một nhóm gồm những cá nhân đó mà còn bao hàm cả mối quan

hệ, hành vi, ứng xử và sự tương tác giữa các thành viên” Trên thực tế, không

có một cộng đồng thuần chất Trong một cộng đồng có thể bao gồm cả những người giàu, người nghèo từ các giai tầng xã hội khác nhau, có trình độ kiến thức và nhu cầu cụ thể khác nhau, nhưng có cùng mối quan tâm và lợi ích chung Mặt khác, một cá nhân có thể đồng thời thuộc về vài cộng đồng tại cùng một thời điểm do bản thân họ có nhiều mối quan tâm, nhiều sở thích và chia sẻ lợi ích với nhiều nhóm người khác nhau; trong một cộng đồng số thành viên thường có xu hướng biến đổi Cộng đồng nông thôn gắn kết với nhau trên cơ sở tình làng nghĩa xóm truyền thống và quan hệ trong nội bộ dòng tộc

Trang 16

Ở Việt Nam, có nhiều tài liệu đưa ra khái niệm “cộng đồng” Từ điển

tiếng Việt, Viện ngôn ngữ học, 1992 giải thích: “cộng đồng là toàn thể những

người sống thành một xã hội, nói chung có những điểm giống nhau, gắn bó thành một khối” Đại từ điển tiếng Việt, Nhà xuất bản văn hóa thông tin, 1999

giải thích: “cộng đồng là tập hợp những người có những điểm giống nhau

làm thành một khối như một xã hội” Cộng đồng là một nhóm người có cùng

những đặc điểm chung, ví dụ: đặc quyền, đặc lợi, sống với nhau, cùng chia sẻ tài nguyên và lợi ích chung, Nói cách khác, cộng đồng là một nhóm người cùng sống với nhau trong một khu vực nhất định, có chung đặc điểm về tâm

lý, tác động qua lại và sử dụng tài nguyên vốn có để đạt mục đích chung ( Nguyễn Ngọc Luân và cs, 2011) [16]

Cộng đồng dân cư làng xã truyền thống: Cộng đồng nông thôn truyền

thống ở Việt Nam là làng xã xuất hiện từ khi tổ tiên biết làm nông nghiệp, đặc biệt là từ khi biết trồng lúa nước Cộng đồng dân cư làng xã, những nhóm người dân tự quản gắn bó với nhau trên cơ sở tự nguyện vì những mối quan tâm chung Các mối quan tâm này khá phong phú và đa dạng Để có thể thực hiện mục tiêu chung, cộng đồng đã tự lập ra những hình thức tổ chức tự quản hết sức phong phú của mình Trong lĩnh vực văn hóa tinh thần có loại hình phường hát bội, hội làng Gióng,… được lập ra để gìn giữ các di sản văn hóa giá trị Nhiều tổ chức cộng đồng được lập ra để bảo vệ an ninh trật tự công cộng trong làng xã Nhiều nơi, các dòng họ cũng đặt ra các quy ước nghiêm ngặt buộc các thành viên tuân theo nhằm duy trì và phát huy truyền thống của dòng họ ( Nguyễn Ngọc Luân và

cs, 2011) [16]

1.1.5 Khái niệm về nội lực, nội lực của cộng đồng

Không có nhiều các khái niệm về “nội lực từ người dân” được tìm thấy Trong cuốn “sổ tay hướng dẫn xây dựng nông thôn mới cấp xã” của Bộ Nông nghiệp và PTNT (2009) [2] có giải thích “nội lực của cộng đồng” bao gồm:

(i) Công sức, tiền của do người dân và cộng đồng tự bỏ ra để chỉnh trang nơi ở của gia đình mình như: xây dựng, nâng cấp nhà ở; xây dựng đủ 3 công trình vệ sinh; cải tạo, bố trí lại các công trình phục vụ khu chăn nuôi hợp vệ

Trang 17

sinh theo tiêu chuẩn nông thôn mới; cải tạo lại vườn ao để có thu nhập và cảnh quan đẹp; sửa sang cổng ngõ, tường rào đẹp đẽ, khang trang,…

(ii) Đầu tư cho sản xuất ngoài đồng ruộng hoặc cơ sở sản xuất tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ để có thu nhập cao

(iii) Đóng góp xây dựng các công trình công cộng của làng, xã như: đường giao thông thôn, xóm; kiên cố hóa kênh mương; vệ sinh công cộng,

Theo giải thích trong cuốn sổ tay này thì “nội lực của cộng đồng” chính là

những đóng góp bằng tiền và công sức của người dân và cộng đồng Cách hiểu này chưa thật đầy đủ vì ngoài đóng góp bằng tiền và công sức, người dân và cộng đồng còn có thể đóng góp cho xây dựng nông thôn bằng các nguồn nội lực khác như: đất đai và các tài sản khác (nguyên vật liệu của hộ và của cộng đồng: tre, luồng, cát, sỏi ở địa phương); trí tuệ và năng lực của người dân; hoặc bằng các mối quan hệ xã hội, quyền được ra quyết định ( Nguyễn Tiến Định và cs, 2010) [15]

Trong nghiên cứu này, nội lực từ người dân được hiểu là những nguồn lực sẵn

có của người dân có thể đóng góp cho phát triển nông thôn, các công việc làm tham gia của người dân cũng chính là nội lực Cụ thể nội lực của người dân bao gồm:

- Tiền (vốn tài chính);

- Sức lao động;

- Tài sản sở hữu (đất đai và các tài sản khác);

- Trí tuệ và năng lực (trình độ, kỹ năng);

- Quan hệ xã hội (quyền ra quyết định, mối quan hệ)

a) Nguồn lực cộng đồng:

Theo Nguyễn Ngọc Luân và cs (2011) [16], một cách khái quát nhất, nguồn lực từ cộng đồng là tất cả các nguồn lực thực tế trong cộng đồng giúp người dân tạo dựng cuộc sống cho chính họ (Gord Cunningham, 2006) Trong tài liệu tập huấn Kỹ năng phát triển cộng đồng (Đại học An Giang, 2007), nguồn lực cộng đồng được khái niệm một cách toàn vẹn bao gồm các thành phần sau:

Trang 18

- Các nguồn tài nguyên thiên nhiên (natural capitals): là các nguồn tài

nguyên thiên nhiên tồn tại trong cộng đồng Ví dụ: đất sản xuất, tài nguyên rừng, thuỷ sản…

- Các nguồn tài sản vật chất (physical capitals): là các công trình được xây

dựng phục vụ trực tiếp hay gián tiếp cho đời sống nhân dân tại cộng đồng (và các cộng đồng lân cận) Ví dụ: cơ sở hạ tầng (điện, đường, trường, trạm)

- Các nguồn tài sản về con người (human capitals): gồm các kỹ năng

(skills), kiến thức (knowledge) và năng lực (talent) của các thành viên trong cộng đồng

- Các nguồn tài sản xã hội (social capitals): mối quan hệ giữa các thành

viên trong cộng đồng, ví dụ như niềm tin (trust)

- Các nguồn tài sản tài chính (financial capitals): là các nguồn lực kinh

tế tồn tại trong cộng đồng như hệ thống ngân hàng đang hoạt động trong vùng, khả năng kinh tế của các thành viên trong cộng đồng

Trong nghiên cứu này, các nguồn lực cộng đồng không nhìn ở phạm vi rộng như trên Nguồn lực cộng đồng ở đây được hiểu là những đóng góp của người dân (cá nhân, hộ gia đình, tổ nhóm…) cho các hoạt động xây dựng NTM Các nguồn lực mà họ có thể đóng góp là: tiền, tài sản, vật chất, công lao động, tham gia ý kiến

b) Vai trò của cộng đồng trong phát triển nông thôn:

Trong cuốn cẩm nang “Phát triển nông thôn toàn diện” (2004), giáo sư

Michael Dower cho rằng cộng đồng đóng vai trò quan trọng trong phát triển nông thôn, là cơ sở cho phát triển nông thôn bền vững vì:

- Họ biết rõ nhất những khó khăn và nhu cầu của mình

- Họ quản lý nguồn tài nguyên như đất đai, nhà xưởng, sản phẩm địa phương mà quá trình phát triển phải dựa vào đó

- Kỹ năng, truyền thống, kiến thức và năng lực của họ là tiềm năng chính

để phát triển

- Sự cam kết của họ là sống còn (nếu như họ không ủng hộ một kế hoạch nào, kế hoạch đó sẽ không thực hiện được)

Trang 19

- Hơn thế nữa, một cộng đồng càng phát triển và năng động, thì càng có khả năng thu hút người dân ở lại, và giữ họ không di chuyển đi nơi khác (Nguyễn Ngọc Luân và cs, 2011) [16]

c) Phát triển nông thôn dựa vào cộng đồng

Theo các phân tích ở trên thì vai trò của cộng đồng trong phát triển nông thôn được xác định là rất quan trọng Các nguồn lực cộng đồng có thể huy động cho phát triển nông thôn cũng rất đa dạng Chính vì thế, những năm vừa qua, cách tiếp cận phát triển nông thôn dựa vào cộng đồng được thực hiện phổ biến ở nhiều chương trình, dự án phát triển nông thôn trên thế giới

Theo Nguyễn Ngọc Luân và cs (2011) [16]: Phát triển nông thôn dựa

vào cộng đồng (Community-Based Rural Development –CBRD) là phương

pháp tiếp cận dựa vào cộng đồng để phát triển các lĩnh vực khác nhau ở khu vực nông thôn Phương pháp tiếp cận phát triển nông thôn dựa vào cộng đồng được nhiều chương trình/dự án sử dụng phổ biến Mỗi chương trình/dự án có mục tiêu riêng, có thể là nhằm tăng cường vai trò của phụ nữ trong cộng đồng, phát triển hệ thống dịch vụ chăm sóc sức khoẻ nhân dân, quản lý nguồn tài nguyên rừng, cải thiện chất lượng cơ sở hạ tầng ở khu vực nông thôn… Chính vì thế, có rất nhiều quan niệm khác nhau về phát triển nông thôn dựa vào cộng đồng Tuy nhiên có một điểm chính vẫn còn đang có nhiều

tranh luận, đó là cách hiểu như thế nào là “dựa vào cộng đồng”

(community-based) Có ý kiến cho rằng, ở các nước đang phát triển, vấn đề phát triển nông thôn là rất quan trọng do phần lớn dân cư sống ở khu vực nông thôn và hoạt động chính là sản xuất nông nghiệp, vì thế rất nhiều tổ chức khác nhau áp dụng các biện pháp phát triển cộng đồng khác nhau đã được thực hiện tại các quốc gia này Hầu hết những nỗ lực hỗ trợ phát triển này được tạo ra từ phía bên ngoài cộng đồng (nhà nước, tổ chức phi chính phủ, cơ quan nghiên cứu – phát triển) chứ bản thân cộng đồng không tự tổ chức phát triển Điều này tạo

đặt ra vấn đề là “sự tham gia” hay “dựa vào cộng đồng” nằm ở đâu? Nhiều

câu hỏi cũng được đặt ra về sự bền vững của những tác động phát triển này cũng như câu hỏi về việc cộng đồng có được tăng cường sức mạnh để tự ra quyết định của mình hay không ( Nguyễn Ngọc Luân và cs, 2011) [16]

Trang 20

Theo Nguyễn Ngọc Luân và cs (2011) [16], cũng có nhiều câu trả lời cho những tranh luận trên, trong đó đáng chú ý là khái niệm phát triển nông

thôn dựa vào nội lực cộng đồng (Asset-Based Community Development –

ABCD) do Jody Kretzmann và John McKnight (1993) đưa ra Đây là một

cách tiếp cận phát triển cộng đồng đề cao việc sử dụng những kỹ năng và sức mạnh đã và đang hiện hữu ngay trong cộng đồng nông thôn hơn là việc lôi

kéo, trông chờ vào sự trợ giúp từ bên ngoài Cụm từ “dựa vào cộng đồng” ở

đây đề cập đến tính chủ động, tự phát triển, trong đó khuyến khích các thành viên trong cộng đồng tạo ra sự tiến triển cho chính bản thân họ (capacity-driven), đối lập với cách tiếp cận truyền thống là dựa theo nhu cầu (needs-driven) mà đã khiến cho cộng đồng phụ thuộc vào các hỗ trợ bên ngoài

1.1.6 Các yếu tố xác định sự tham gia trong PTNT

Theo Vũ Trọng Bình [1]: Trong phát triển nông thôn có sự tham gia của nhiều tác nhân khác nhau Những năm gần đây khái niệm phát triển nông thôn

có sự tham gia được sử dụng phổ biến trên thế giới Hai tác giả Cohen và

Uphoff (1979) cho rằng: “liên quan đến phát triển nông thôn, sự tham gia

bao gồm sự liên quan của người dân vào quá trình ra quyết định, vào việc thực hiện các chương trình, sự chia sẻ lợi ích có được từ chương trình phát triển; và/hoặc các cố gắng để đánh giá những chương trình như vậy”

Các lĩnh vực tham gia thay đổi tùy theo mục tiêu của người nghiên cứu Tuy nhiên, việc ra quyết định luôn được xem là lĩnh vực quyết định nhất cho bất kì mục tiêu nào và không đựơc bỏ qua Cohen và Uphoff (1979) đã đưa ra khung phân tích để giám sát vai trò của tham gia trong các dự án và chương trình phát triển Họ thấy có 4 lĩnh vực tham gia: (1) ra quyết định, (2) thực hiện, (3) hưởng lợi, (4) đánh giá (Vũ Trọng Bình) [1]

Trong khi đó, Finsterbusch và Wiclin(1987) nhận thấy dự án có 3 pha và 5 hình thức tham gia là: (1) Lập kế hoạch (nguyên gốc và thiết kế), (2) Thực hiện (thực hiện và thiết kế lại), và (3) bảo dưỡng Khung phân tích Cohen và Uphoff có mục tiêu tham gia và khung phân tích Finsterbusch và Wiclin có mục tiêu dự án, nhưng chúng tương hợp để phù hợp với thực tế Trong nghiên cứu sự tham gia

Trang 21

của địa phương về các hoạt động phát triển ở nông thôn Thái Lan, Pong Quan (1992) quan sát thấy tham gia bao gồm: đóng góp, hưởng lợi, liên quan đến ra quyết định và đánh giá Tham gia hưởng lợi trong đánh giá dự án là không đáng

kể nên điều này có thể bỏ qua trong nghiên cứu của chúng ta, điều này cũng thấy trong nghiên cứu của Finsterbusch và Wiclin ( Vũ Trọng Bình) [1]

Khi áp dụng vào thực tế, sự tham gia dường như thể hiện ở nhiều dạng khác nhau Sự tham gia là một khái niệm khó nắm bắt mà sự phân biệt giữa các dạng khác nhau là không dễ dàng Tuy nhiên, trong bản tóm tắt của các

dự án phát triển của các quốc gia và các tổ chức phi hính phủ, Oakley (1987)

có gợi ý rằng ba dạng khác nhau của sự tham gia trong thực tế là: đóng góp,

tổ chức và trao quyền (Vũ Trọng Bình) [1]

 Tham gia là đóng góp: Theo cách hiểu này, sự tham gia nhấn mạnh

đến sự tự nguyện hay các dạng khác của sự đóng góp của người dân nông thôn để quyết định trước các chương trình và dự án Ví dụ như các dự án về y

tế, cấp nước, lâm nghiệp, cơ sở hạ tầng và bảo tồn các nguồn tài nguyên thiên nhiên chủ yếu nhằm vào sự đóng góp của người dân nông thôn ẩn trong sự

tham gia và thực sự là cơ sở để thành công ( Vũ Trọng Bình) [1]

 Tham gia là tổ chức: Đã có các cuộc tranh luận rất lâu về phạm vi của

lý thuyết và thực tế phát triển rằng sự tổ chức là công cụ cơ bản của sự tham gia Rất ít người tranh luận về luận điểm này nhưng sẽ không đồng ý về bản chất và phát triển của sự tổ chức Sự phân biệt giữa nguồn gốc của dạng tổ chức mà sẽ dùng như là phương tiện cho sự tham gia, hoặc các tổ chức này được giới thiệu và hình thành bên ngoài như hợp tác xã, hội nông dân, ban y tế…, hay các tổ chức này xuất hiện và tự cơ cấu mình như là kết quả của quá trình có sự tham gia Cán bộ phát triển nhìn nhận có nhu cầu lớn về hỗ trợ hình thành các tổ chức thích hợp của người nông dân, tuy vậy chỉ khuyến khích để người dân nông thôn tự quyết định bản chất và cấu trúc của tổ chức

(Vũ Trọng Bình)[1]

 Tham gia là trao quyền: Khái niệm về sự tham gia như là sự áp dụng trao

quyền cho người dân đã được ủng hộ rộng rãi hơn trong những năm gần đây Tuy

Trang 22

nhiên, đó là một khái niệm khó định nghĩa và gây ra nhiều cách giải thích khác nhau Một số coi trao quyền là sự phát triển các kỹ năng và khả năng giúp người dân nông thôn quản lý tốt hơn, có tiếng nói và đàm phán với hệ thống tổ chức, dịch vụ phát triển hiện có, một số khác lại coi đó là cơ bản và cần thiết liên quan đến cho phép người dân quyết định và tự thực hiện những việc mà họ cho rằng

cần thiết cho sự phát triển của mình (Vũ Trọng Bình) [1]

1.1.7 Vai trò và các yếu tố ảnh hưởng đến sự tham gia của cộng đồng trong PTNT

Theo Vũ Trọng Bình [14]: Các yếu tố ảnh hưởng tới sự tham gia của người dân địa phương trong các hoạt động phát triển phụ thuộc vào nhiều yếu tố:

 Điều kiện hộ gia đình: trong khuôn khổ nghiên cứu về sự tham gia

Cohen và Uphoff (1979) đã liệt kê các đặc trưng hộ gia đình ảnh hưởng tới sự tham gia Đó là: độ tuổi, giới tính, tình trạng hôn nhân, điều kiện kinh tế, quan

hệ xã hội, và vv Trong nghiên cứu khác, W Alters và các cộng sự (1999) thấy rằng lịch sử di dân và định cư của hộ gia đình cũng ảnh hưởng tới sự

tham gia

Feachem (1980) nhấn mạnh 5 vấn đề khó khăn về tham gia của cộng đồng trong cung cấp nước sạch và công nghệ vệ sinh: khả năng áp dụng trong thực tiễn, tính thích hợp, giá thành, tiêu chuẩn, và hoàn cảnh chính trị Các dự án vệ sinh và cung cấp nước sạch có thể được hoàn thiện nếu: (1) thiết kế hoàn chỉnh; (2) giảm giá thành công trình; (3) hỗ trợ và giảm giá thành vận hành và bảo dưỡng.; (4) thực hiện các lợi ích của dự án; và (5) khuyến khích cộng đồng chủ động phát triển

 Điều kiện môi trường cộng đồng: điều kiện môi trường cộng đồng cũng

ảnh hưởng tới mức độ tham gia của người dân Các yếu tố môi trường khác nhau

có ảnh hưởng tới việc thammgia vào dự án (Cohen và Uphoff, 1980; Finterbusch, 1989) Xu thế và sự kiện lịch sử có những hệ quả quan trọng đối với sự tham gia của người dân Các sự kiện như: lịch sử di dân và định cư; dòng giống gia đình và nhóm, lịch sử của các tổ chức chính trị xã hội và các xung đột vv ( Walter và cộng sự, 1999) Các hoạt động phát triển trong cộng đồng được tổ chức thông qua

Trang 23

hoạt động tập thể, người dân địa phương tụ họp cùng nhau để làm việc Ở các cộng đồng nông thôn, ở mức độ nào đó, người dân luôn duy trì một số các hoạt động tập thể, ví dụ: các hoạt động cộng đồng như xây dựng nhà, lễ hội vv (Vũ

Trọng Bình) [1]

 Tính cộng đồng: Ý thức cộng đồng có thể tự thể hiện bằng việc tự nguyện tham gia vào các hoạt động tập thể của cộng đồng Trong nghiên cứu

về phong trào làng mới (Saemual Undong) ở Hàn Quốc, Park (2001) nhận thấy, tính đồng nhất của những nông dân trong khuôn khổ kinh tế - xã hội là yếu tố quan trọng dẫn tới sự hợp tác chặt chẽ giữa người dân trong thôn khi thực hiện phong trào làng mới Park (2001) cũng nhận thấy người dân nông thôn Hàn Quốc có truyền thống lâu đời góp công lao động trong vụ nông nhàn để bảo dưỡng giao thông công cộng và hoàn thiện cơ sở hạ tầng của thôn (Vũ Trọng

Bình) [1]

 Tổ chức cộng đồng: các đặc điểm chính trị và tổ chức của cộng đồng

ảnh hưởng tới sự tham gia của người dân địa phương trong các hoạt động phát triển (Rao, 2004; Jorgensen, 2001; Walters, 1999; Finsterbusch,1987; Cohen, 1980) Nhìn chung, người lãnh đạo của cộng đồng do dân bầu Đó là người có vai trò quan trọng trong quản lý cộng đồng và trong huy động các nguồn lực để phát triển Năng lực của trưởng thôn có ảnh hưởng mạnh tới sự tham gia cộng đồng (Kim 2005) Trong các trường hợp khác, các nhóm xã hội khác có thể cũng tham gia, và mặc dù họ không sử dụng quyền chính thức như là trường hợp của cán bộ Đảng viên, trong 1 số trường hợp, khác với trưởng thôn, họ cũng tác động đến việc ra quyết định trong quản lý cộng đồng (Jorgensen, 2001) Mức độ mà chính quyền cấp trên tham gia trong các hoạt động của cộng đồng phụ thuộc vào mức độ phân cấp quyền lực và nguồn lực mà chính quyền cấp trên trao cho cấp

dưới (Vũ Trọng Bình) [1]

 Đặc điểm của dự án: Các đặc trưng của chính dự án cũng có thể ảnh

hưởng đến mức độ tham gia Khi dự án đã được xác định nhằm vào nhu cầu của dân địa phương, tính phức tạp về kỹ thuật sẽ ảnh hưởng tới mức độ tham gia (USAID, 1996) Nhìn chung, chỉ có lao động không có tay nghề trong mỗi

Trang 24

cộng đồng do đú những dự ỏn cú cụng nghệ đơn giản sẽ làm dõn địa phương

dễ dàng tham gia Mặt khỏc cỏc dự ỏn yờu cầu kỹ thuật phức tạp sẽ phụ thuộc vào số lao động lành nghề từ bờn ngoài và điều này hạn chế khả năng tham gia của dõn địa phương, thậm chớ ngay cả với dự ỏn do dõn quyết định (Vũ

Trọng Bỡnh) [1]

2.1.8 Cỏc chỉ tiờu để xỏc định sự tham gia

Theo Vũ Trọng Bỡnh [1] Trong nghiờn cứu phỏt triển tham gia ở vựng nụng thụn Nigeria, Okarfor(1997) nhận thấy 4 lĩnh vực tham gia, và do đú 4 yếu tố để đo phạm vi tham gia là:

(1) tham giam vào cuộc họp của dự ỏn;

(2) tham gia vào việc ra quyết định

(3) tham gia vào giỏm sỏt cỏc dự ỏn phỏt triển;

(4) tham gia đúng gúp vốn;

Sự tham gia cú thể ỏp dụng cho rất nhiều cỏc hoạt động để tăng hiệu quả của cỏc hoạt động hoặc dự ỏn Sự tham gia cũng đặc trưng cho quản lý tài nguyờn thiờn nhiờn (Lise 2000; Dupar 2002; Seker 2001;) Sự tham gia cũng đúng vai trũ đỏng

kể trong xõy dựng cơ sở hạ tầng, như cụng trỡnh thủy lợi, giao thụng, hệ thống điện,

và vv (UNCDF; Feachem, 1980; Jogresen et al., 2001; lam 2001) Nú cũng cú vai trũ tớch cực trong cỏc hoạt động văn húa xó hội như là cỏc dụ ỏn về y tế, giỏo dục vv.(Rao et al., 2004) (Vũ Trọng Bỡnh) [1]

1.1.9 Căn cứ phỏp lý để xõy dựng nụng thụn mới

Nghị quyết số 26-NQ/TW, ngày 05/8/2008 của Ban chấp hành Trung -ơng khoá X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn;

Nghị quyết số 24/2008/NQ-CP, ngày 28/10/2008 của Chớnh phủ ban hành chương trỡnh hành động thực hiện nghị quyết hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khúa X về nụng nghiệp, nụng dõn, nụng thụn [18]

Quyết định số 491/2009/QĐ-TTg, ngày 16/4/2009 của Thủ t-ớng Chính phủ về việc ban hành bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới;

Quyết định số 22/QĐ-TTg của Thủ Tướng Chớnh phủ ngày 05 thỏng 01 năm 2010 Phờ duyệt đề ỏn "Phỏt triển văn húa nụng thụn đến năm 2015, định hướng đến năm 2020

Trang 25

Quyết định số 800/QĐ-TTg ngày 04/6/2010 của Thủ tướng Chính phủ

về việc phê duyệt Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 - 2020;

C¸c tiªu chuÈn kinh tÕ - kü thuËt vÒ n«ng th«n míi cña c¸c Bé, Ngµnh cã liªn quan;

1.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài

1.2.1 Kinh nghiệm xây dựng nông thôn mới ở một số nước trên thế giới

1.2.1.1 Phong trào Làng mới của Hàn Quốc

Vào những năm 1960, nông thôn Hàn Quốc còn hết sức lạc hậu, đời sống nhân dân còn gặp vô vàn khó khăn Trong cả nước có 34% dân số thuộc vào nhóm nghèo đói và chỉ có 20% dân số có thể tiếp cận với điện Dù đã đình chiến những hai miền Nam - Bắc vẫn đang còn căng thẳng, không có đủ kinh phí để đầu tư phát triển nông thôn Trước hoàn cảnh đó, bước vào những năm 1970, Chính phủ Hàn Quốc bắt đầu thực hiện mô hình “Nông thôn mới” để thực hiện công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa công nghiệp - nông thôn (

www.Agroviet.gov.vn )[23]

- Vực dậy nông thôn bắt đầu bằng việc cải thiện dân sinh

Từ năm 1970, Chính phủ Hàn Quốc thực hiện mô hình “Nông thôn mới” (Saemaul Undong SMU) với mục tiêu công nghiệp hóa và hiện đại hóa nông thôn Mô hình này thực hiện 16 dự án với mục tiêu là cải thiện môi trường sống cho người dân ở nông thôn: Mở rộng đường giao thông, hoàn thiên hệ thống nước thải sinh hoạt, xây dựng nhà sinh hoạt công cộng và trồng thêm nhiều cây xanh, xây dựng sân chơi cho trẻ em…Cải thiện môi trường sống cho nông thôn được coi là nền tảng cho quá trình phát triển nông thôn (

www.Agroviet.gov.vn) [23]

Chính phủ đã liên tục điều chỉnh chính sách hỗ trợ phát triển để phù hợp với tình hình thực tiễn Năm 1971 các dự án thực hiện hỗ trợ cho 33 nghìn làng với mỗi làng là 300 bao xi măng Đất đai và công lao động do chính dân trong làng đó đã bỏ ra Nhưng năm 1972, chiến lược đầu tư đã được điều

Trang 26

chỉnh, chỉ con một nửa trong số 33 nghìn làng được hỗ trợ Nhưng nhà nước

đã hỗ trợ thêm 1 tấn thép và tăng lên 500 bao xi măng

Để đánh giá những kết quả này, dự án đã xếp loại các làng này thành 3 nhóm: Nhóm làng tích cực nhất, nhóm trung bình và nhóm cơ bản Bằng việc trao thưởng cho mỗi làng 2000 USD nếu được thăng nhóm xếp hạng, chương trình đã tạo sự chuyển biến tích cực của việc phân loại các nhóm trong các làng trong vòng 3 năm sau đó

- Con người là nhân tố quyết định

Để thực hiện có hiệu quả quá trình hỗ trợ cho các làng, dự án Nông thôn mới chú trọng đến nhân tố con người Trình độ văn hóa của người dân nông thôn rất thấp cho nên việc phổ biến gặp rất nhiều khó khăn Để khắc phục hạn chế này, dự án chú trọng vào việc phát triển đội ngũ cán bộ cấp làng, cán bộ chính quyền địa phương

Trước khi tiến hành hỗ trợ cho các làng, cán bộ dự án tiến hành các điều tra xã hội học đối với ba nhóm đối tượng là : Cán bộ địa phương, cán bộ làng

và người dân Các điều tra này cho biết được đích xác nhu cầu hiện tại của người dân trong các làng, suy nghĩ và trình độ nhận thức của lãnh đạo làng

Dự án tổ chức các lớp tập huấn, đào tạo cán bộ cấp làng và chính quyền cấp địa phương Tại các lớp tập huấn, sẽ có các buổi thảo luận nhóm về vấn đề: “Làm thế nào để người dân hiểu và thực hiện các chính sách của nhà nước?” Với chủ đề này, lãnh đạo làng và các chính quyền địa phương đã đưa

ra những ý kiến, giải pháp cho hoàn cảnh cụ thể ở làng mình

Để sự tham gia của người dân chủ động và hiệu quả, các cán bộ làng sẽ thực hiện quá trình trao đổi ý kiến với dân làng, tiếp thu ý kiên của nhân dân

để điều chỉnh và phát triển dự án

Dự án Nông thôn mới trả lương cho cán bộ làng thay cho nhân dân như trước đây, cho nên đã khuyến khích cả cán bộ làng và nhân dân cùng tham gia Nâng cao chất lượng cán bộ, lãnh đạo và tiếp thu ý kiến từ trong nhân dân là hai biện pháp mang lại hiệu quả cao cho các dự án hỗ trợ trong mô

hình “Nông thôn mới”

Trang 27

Quyền làm chủ của cộng đồng dân cư được phát huy đến mức tối đa, phù hợp với khả năng tổ chức và thực hiện của cộng đồng, đáp ứng nhu cầu thiết thực của họ, nhấn mạnh đến khai sáng tinh thần cộng đồng và làm việc chăm chỉ do vậy có khả năng nhân rộng trên khắp cả nước ( Báo cáo tổng hợp đề tài khoa học của Viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp – Bộ NN & PTNT

(2009) [18]

- Bài học kinh nghiệm từ phong trào “làng mới”

Ngài Le Sang Mu, cố vấn đặc biệt của Chính phủ Hàn Quốc về nông, lâm, ngư nghiệp cho biết: Chính phủ hỗ trợ một phần đầu tư hạ tầng để nông thôn tự mình vươn lên, xốc lại tinh thần, đánh thức khát vọng tự tin Thắng lợi đó được

Hàn Quốc tổng kết thành 6 bài học lớn ( http://www.tapchicongsan.org.vn ) [28]

Thứ nhất, phát huy nội lực của nhân dân để xây dựng kết cấu hạ tầng

nông thôn phương châm là nhân dân quyết định và làm mọi việc “Nhà nước

bỏ ra 1 vật tư, nhân dân bỏ ra 5 – 10 công sức và tiền của” Dân quyết định

loại công trình, dự án nào cần ưu tiên làm trước, công khai bàn bạc, quyết định thiết kế và chỉ đạo thi công, nghiệm thu công trình Năm 1971, Chính phủ chỉ hỗ trợ cho 33.267 làng, mỗi làng 335 bao xi măng Năm 1972 lựa chọn 1.600 làng làm tốt được hỗ trợ thêm 500 bao xi măng và 1 tấn sắt thép

Sự trợ giúp này chính là chất xúc tác thúc đẩy phong trào nông thôn mới, dân làng tự quyết định mức đóng góp đất, ngày công cho các dự án

Thứ hai, phát triển sản xuất để tăng thu nhập Khi kết cấu hạ tầng phục

vụ sản xuất được xây dựng, các cơ quan, đơn vị chuyển giao tiến bộ kỹ thuật, giống mới, khoa học công nghệ giúp nông dân tăng năng suất cây trồng, vật nuôi, xây dựng vùng chuyên canh hàng hóa Chính phủ xây dựng nhiều nhà máy ở nông thôn để chế biến và tiêu thụ nông sản cũng như có chính sách tín dụng nông thôn, cho vay thúc đẩy sản xuất Từ năm 1972 đến năm 1977 thu nhập trung bình của các hộ tăng lên 3 lần

Thứ ba, đào tạo cán bộ phục vụ phát triển nông thôn Hàn Quốc, xác định

nhân tố quan trọng nhất để phát triển phong trào “làng mới” là đội ngũ cán bộ

cơ sở theo tinh thần tự nguyện và do dân bầu Hàn Quốc đã xây dựng 3 trung tâm đào tạo quốc gia và mạng lưới trường nghiệp vụ của các ngành ở địa

Trang 28

phương Nhà nước đài thọ, mở các lớp học trong thời gian từ 1-2 tuần để trang

bị đủ kiến thức thiết thực như kỹ năng lãnh đạo cơ bản, quản lý dự án, phát triển cộng đồng

Thứ tƣ, phát huy dân chủ để phát triển nông thôn Hàn Quốc thành lập

hội đồng phát triển xã, quyết định sử dụng trợ giúp của Chính phủ trên cơ sở công khai, dân chủ, bàn bạc để triển khai các dự án theo mức độ cần thiết của địa phương Thành công ở Hàn Quốc là xã hội hóa các nguồn hỗ trợ để dân tự quyết định lựa chọn dự án, phương thức đóng góp, giám sát công trình

Thứ năm, phát triển kinh tế hợp tác từ phát triển cộng đồng Hàn Quốc đã

thiết lập lại các hợp tác xã (HTX) kiểu mới phục vụ trực tiếp nhu cầu của dân,

cán bộ HTX do dân bầu chọn Phong trào “làng mới” là bước ngoặt đối với sự

phát triển của HTX hoạt động đa dạng, hiệu quả trong dịch vụ tín dụng, cung cấp đầu vào cho sản xuất, tiếp thị nông sản, bảo hiểm nông thôn và các dịch vụ khác Trong vòng 10 năm, doanh thu bình quân của 1 HTX tăng từ 43 triệu won lên 2,3 tỉ won

Thứ sáu, phát triển và bảo vệ rừng, bảo vệ môi trường bằng sức mạnh

toàn dân Chính phủ quy hoạch, xác định chủng loại cây rừng phù hợp, hỗ trợ giống, tập huấn cán bộ kỹ thuật chăm sóc vườn ươm và trồng rừng để hướng dẫn và yêu cầu tất cả chủ đất trên vùng núi trọc đều phải trồng rừng, bảo vệ rừng Nếu năm 1970 phá rừng còn là quốc nạn thì 20 năm sau rừng xanh đã

che phủ khắp nước và đây được coi là một kỳ tích của phong trào “làng mới”

Phong trào “Làng mới” của Hàn Quốc là một trong các phong trào điển hình thực hiện phát triển nông thôn cấp cơ sở Nguyên tắc thực hiện của phong trào về thực chất là phát triển nông thôn dựa vào cộng đồng Việc thực hiện phong trào được đánh giá là rất thành công khi có đóng góp đáng kể vào

sự phát triển của Hàn Quốc từ một nước nông nghiệp nghèo nàn lạc hậu trong những năm 1960 trở thành một nước công nghiệp hiện đại vào những năm

1990 trở lại đây Các kinh nghiệm và bài học từ chương trình làng mới có thể đóng góp đáng kể cho việc nghiên cứu xây dựng chương trình MTQG về xây dựng NTM của Việt Nam để thực hiện thành công quá trình công nghệp hóa,

hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn (http://www.tapchicongsan.org.vn) [28]

Trang 29

1.2.1.2 Xây dựng nông thôn mới ở Trung Quốc

Từ đầu những năm 80 của thế kỷ 20, Trung Quốc đã chọn hướng phát triển nông thôn bằng cách phát huy những công xưởng nông thôn thừa kế được của những công xã nhân dân trước đây, thay đổi sở hữu và phương thức quản lý để phát triển mô hình “công nghiệp hưng trấn” Các lĩnh vực như chế biến nông lâm sản, hàng công nghiệp nhẹ, máy móc nông cụ phục vụ sản xuất nông nghiệp

đang ngày càng được đẩy mạnh ( http://nongthonmoi.gov.vn )[26]

Nguyên tắc của Trung Quốc là quy hoạch đi trước, định ra các biện pháp thích hợp cho từng nơi, đột phá trọng điểm, làm mẫu đường Chính phủ hỗ trợ, nông dân xây

dựng Với mục tiêu “ly nông bất ly hương” ( http://nongthonmoi.gov.vn) [26]

Việc chỉ đạo của Chính phủ trước kia cũng kiểu mệnh lệnh hành chính, nên việc thực hiện khá miễn cưỡng Sau đó, việc thực hiện xây dựng NTM linh hoạt hơn, dựa trên quy hoạch tổng thể (ngân sách nhà nước và địa phương) Căn cứ tình hình cụ thể ở các địa phương, đặc điểm tự nhiên, xã hội,

để đưa ra chính sách, biện pháp thích hợp Ngân sách nhà nước chủ yếu dùng làm đường, công trình thủy lợi…, một phần dùng để xây nhà ở cho dân Đối với nhà ở nông thôn, nếu địa phương nào ngân sách lớn, nông dân chỉ bỏ ra

một phần, còn lại là tiền của ngân sách” (http://nongthonmoi.gov.vn) [26]

Tuy vậy, dù với rất nhiều cố gắng, xây dựng NTM tại Trung Quốc cũng chưa đạt được các mục tiêu đề ra để thúc đẩy phát triển khu vực nông thôn

Mô hình NTM của Trung Quốc chưa được coi là thành công khi hiện nay, khoảng cách giữa khu vực thành thị và nông thôn vẫn đang ngày càng rộng ra Còn tồn tại nhiều vấn đề trong khu vực nông nghiệp, nông thôn Trung Quốc (theo Báo cáo tổng hợp đề tài khoa học của Viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp – Bộ NN & PTNT, 2009) [18]

1.2.1.3 Xây dựng NTM từ phong trào “Mỗi làng một sản phẩm” của Nhật Bản

Từ năm 1979, ở tỉnh Oi-ta, Nhật Bản đã hình thành và phát triển phong

trào 'Mỗi làng, một sản phẩm' (OVOP), với mục tiêu phát triển vùng nông

thôn của khu vực này một cách tương xứng với sự phát triển chung của cả Nhật Bản Người khởi xướng phong trào OVOP của thế giới, Tiến sĩ Mo-ri-

Trang 30

hi-kô Hi-ra-mát-su nhấn mạnh ba nguyên tắc chính xây dựng phong trào OVOP Đó là, địa phương hóa rồi hướng tới toàn cầu; tự chủ, tự lập, nỗ lực sáng tạo; và phát triển nguồn nhân lực Trong đó, nhấn mạnh đến vai trò của chính quyền địa phương trong việc hỗ trợ kỹ thuật, quảng bá, hỗ trợ tiêu thụ sản phẩm Câu chuyện từ những kinh nghiệm trong quá trình xây dựng các thương hiệu đặc sản nổi tiếng của Nhật Bản như nấm hương khô, rượu Shochu lúa mạch, chanh Kabosu cho thấy những bài học sâu sắc đúc kết không chỉ từ thành công mà cả sự thất bại Người dân sản xuất rồi tự chế biến,

tự đem đi bán mà không phải qua thương lái Họ được hưởng toàn bộ thành quả chứ không phải chia sẻ lợi nhuận qua khâu trung gian nào Chỉ tính riêng trong 20 năm kể từ năm 1979-1999, phong trào OVOP 'Mỗi làng, một sản phẩm' của đất nước mặt trời mọc đã tạo ra được 329 sản phẩm bình dị và đơn giản như nấm, cam, cá khô, chè, măng tre được sản xuất với chất lượng và

giá bán rất cao( http://www.ncseif.gov.vn) [25]

Theo Tiến sĩ Hi-ra-mát-su, gần 30 năm hình thành và phát triển, sự thành công của phong trào OVOP đã lôi cuốn không chỉ các địa phương trên đất nước Nhật Bản mà còn rất nhiều khu vực, đáng chú ý là các quốc gia ở châu Á và châu Phi tìm hiểu và áp dụng Một số quốc gia trong khu vực Đông-Nam Á như Thái-lan, Phi-li-pin tận dụng được nguồn lực địa phương, phát huy sức mạnh cộng đồng, bảo tồn các làng nghề truyền thống, đã thu được những thành công nhất định trong phát triển nông thôn của đất nước mình nhờ áp dụng kinh nghiệm của

phong trào OVOP của Nhật Bản (http://www.ncseif.gov.vn) [25]

1.2.1.4 Xây dựng NTM ở Thái Lan

Thái Lan vốn là một nước nông nghiệp truyền thống với dân số nông thôn chiếm khoảng 80% dân số cả nước Để thúc đẩy sự phát triển bền vững nền nông nghiệp, Thái Lan đã áp dụng một số chiến lược như: Tăng cường vai trò của cá nhân và các tổ chức hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp; đẩy mạnh phong trào học tập, nâng cao trình độ của từng cá nhân và tập thể bằng cách mở các lớp học

và các hoạt động chuyên môn trong lĩnh vực nông nghiệp và nông thôn; tăng cường công tác bảo hiểm xã hội cho nông dân, giải quyết tốt vấn đề nợ trong nông nghiệp; giảm nguy cơ rủi ro và thiết lập hệ thống bảo hiểm rủi ro cho nông

dân (http://www.ncseif.gov.vn) [25]

Trang 31

Kinh nghiệm trong phát triển nông nghiệp, nông thôn của Thái Lan cho thấy, những ý tưởng sáng tạo, khâu đột phá và sự trợ giúp hiệu quả của nhà nước trên cơ sở phát huy tính tự chủ, năng động, trách nhiệm của người dân

để phát triển khu vực này, có ý nghĩa và vai trò hết sức quan trọng đối với việc công nghiệp hóa, hiện đại hóa thành công nông nghiệp - tạo nền tảng thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

1.2.2 Những kết quả bước đầu về xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam

1.2.2.1 Phát triển nông nghiệp, nông thôn từ năm 1954 đến nay

Theo Báo cáo tổng hợp đề tài khoa học của Viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp – Bộ NN & PTNT (2009) [18]:

- Từ năm 1954 - 1959, ruộng đất được giao cho người dân với mục tiêu

“người cày có ruộng” Giai đoạn này quan hệ sản xuất chuyển từ địa chủ phong kiến sang quan hệ sản xuất mới: nông dân làm chủ ruộng đất và sản xuất độc lập trên ruộng đất của mình

- Từ 1960 - 1985: chia làm 2 giai đoạn nhỏ: Mô hình tổ chức sản xuất dưới dạng hợp tác xã nông nghiệp

- Từ 1960 - 1975: mô hình hợp tác xã hóa nông nghiệp được triển khai trên toàn miền Bắc Trong thời kỳ này Nhà nước đã tăng cường đầu tư cho nông thôn về cơ sở hạ tầng kỹ thuật chủ yếu để phát triển HTX: phát triển các công trình kỹ thuật (nhà kho, sân phơi, các trại giống,…) đẩy mạnh việc chuyển giao khoa học kỹ thuật về trồng trọt, chăn nuôi… đã có những tác động tích cực đến sản xuất nông nghiệp

- Từ 1976 - 1980: mô hình tổ chức hợp tác xã nông nghiệp được triển khai trên phạm vi cả nước Trong đó vai trò của cấp huyện được coi trọng, là cấp quản lý kinh tế chủ yếu đối với việc thực hiện các chiến lược phát triển nông nghiệp và nông thôn Hình ảnh của người nông dân lúc này là hình ảnh của người xã viên HTX (theo Vũ Trọng Bình) [1]

Giai đoạn này người dân tham HTX với vai trò là “xã viên“ tham gia lao động phát triển sản xuất để lấy điểm, sản phẩm cuối năm sẽ được chia đều Tất cả các phương án, kế hoạch sản xuất, tiêu thu sản phẩm đều do HTX quyết định, người dân không được tham gia Điều này đã làm ảnh hưởng lớn đến nền kinh tế của đất nước

Trang 32

Mô hình khoán sản phẩm đến nhóm và người lao động (1981 - 1985): Chỉ thị 100 CT-TW (13/01/1981) về “khoán sản phẩm đến nhóm và người lao động”, cho phép người lao động được HTX giao đất và thu hồi một phần sản phẩm theo một mức “khoán” nhất định

Chỉ thị chỉ nói đến việc khoán sản phẩm đến nhóm và người lao động chứ chưa nhắc đến khoán hộ; gia đình mới chỉ được làm 3 khâu là cấy, chăm sóc và thu hoạch còn tập thể đảm nhiệm 5 khâu trong quá trình sản xuất cây lúa Chỉ thị đã tạo ra một không khí mới trong nông thôn: nông dân đã phấn khởi sản xuất, năng suất tăng lên rõ rệt Tuy nhiên, người dân vẫn còn nhiều băn khoăn, không chịu bó buộc ở “5 khâu” do tập thể đảm nhiệm ( Báo cáo tổng hợp đề tài khoa học của Viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp – Bộ

NN & PTNT, 2009) [18]

Giai đoạn này, mục tiêu sản xuất vẫn bị áp đặt bởi kế hoạch từ trên xuống, nông dân vẫn chưa có quyền làm chủ thực sự

Từ 1986 - 1991: cơ chế khoán cho nhóm và người lao động:

Nghị quyết 10 (Bộ chính trị ngày 05/08/1988) trong nông nghiệp đã khắc phục được những tồn tại của chỉ thị 100

Nét đổi mới của Nghị quyết 10 so với chỉ thị 100 là “một chủ, bốn tự”

“Một chủ” là xác định hộ là đơn vị kinh tế tự chủ Đó chính là sự đột phá rất quan trọng của Nghị quyết 10

“Bốn tự”, nghĩa là hợp tác xã tự xác định phương hướng, nhiệm vụ sản xuất kinh doanh; tự xác định hình thức, quy mô sản xuất; tự xác định hình thức phân phối, tiêu thụ sản phẩm, bảo đảm để xã viên tự vào ra hợp tác xã Điều đáng nói ở đây là: Đảm bảo tự xác định hình thức, quy mô sản xuất

có nghĩa là xóa bỏ việc chỉ đạo nhất loạt lên hợp tác xã cấp cao, lên quy mô

xã to Đảm bảo tự xác định hình thức quản lý nghĩa là không nhất thiết “năm khâu, ba khâu” như Chỉ thị 100 mà khoán theo mức, đơn giá, gia đình làm được khâu nào thì cứ tính theo đơn giá mà hưởng Trong vấn đề tiêu thụ sản phẩm, tư tưởng chính sách “thuận mua vừa bán” trong nghị quyết là xóa cách bắt buộc bán theo nghĩa vụ đang thực hiện Chính sách này chỉ có thể thực

Trang 33

hiện được khi đổi mới đồng bộ khâu lưu thông, phân phối mà trong Chỉ thị

100 đã chưa đề cập đến

- Mô hình sản xuất nông nghiệp bằng việc giao đất cho nông hộ:

Từ 1991 đến nay, đất đai được giao toàn quyền sử dụng cho các nông hộ, người nông dân được hoàn toàn chủ động sản xuất trên mảnh đất được giao Giai đoạn này, mỗi hộ dân là một đơn vị sản xuất cơ bản Người nông dân đã chủ động chú trọng đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật cho phát triển sản xuất và đóng góp nhiều cho phát triển cơ sở hạ tầng, làm cho bộ mặt nông thôn có những thay đổi đáng kể

Mô hình này có tác dụng làm cho cơ cấu kinh tế nông thôn chuyển dịch mạnh theo hướng tích cực Đời sống của người dân nông thôn đã ngày càng nâng cao, đẩy mạnh tiến trình phát triển nông thôn theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa ( Báo cáo tổng hợp đề tài khoa học của Viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp – Bộ NN & PTNT, 2009) [18]

1.2.2.2 Thực trạng xây dựng nông thôn mới

* Thành tựu của quá trình phát triển nông thôn

Trải qua gần 30 năm thực hiện đường lối đổi mới và xây dựng chủ nghĩa

xã hội, kể từ Ðại hội VI (năm 1986), và hơn 20 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (năm 1991) đến nay, Việt Nam đã thu được những thành tựu to lớn, hết sức quan trọng

- Về phát triển kinh tế

+ Giai đoạn 1991 - 1995: GDP bình quân tăng 8,2%/năm; giá trị sản xuất công nghiệp tăng 13,3%/năm; nông nghiệp tăng 4,5%/năm; lĩnh vực dịch vụ tăng 12%/năm; tổng sản lượng lương thực 5 năm (1991 - 1995) đạt 125,4 triệu tấn, tăng 27% so với giai đoạn 1986 - 1990 Hầu hết các lĩnh vực kinh tế đều đạt nhịp độ tăng trưởng tương đối khá “Nước ta đã ra khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội nghiêm trọng và kéo dài hơn 15 năm, tuy còn một số mặt chưa vững chắc, song đã tạo được tiền đề cần thiết để chuyển sang một thời kỳ phát triển mới: đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” (Võ Hồng Phúc, 2005) [10]

Trang 34

+ Giai đoạn 1996 - 2000: GDP bình quân của cả giai đoạn 1996 - 2000 đạt 7%; trong đó, nông, lâm, ngư nghiệp tăng 4,1%; công nghiệp và xây dựng tăng 10,5%; các ngành dịch vụ tăng 5,2% “Nếu tính cả giai đoạn 1991 - 2000 thì nhịp độ tăng trưởng GDP bình quân là 7,5% So với năm 1990, GDP năm

2000 tăng hơn hai lần” (Võ Hồng Phúc, 2005) [10]

+ Giai đoạn 2001 - 2005: GDP tăng bình quân 7,5%/năm, riêng năm

2005 đạt 8,4%; trong đó, nông nghiệp tăng 3,8%; công nghiệp và xây dựng tăng 10,2%; các ngành dịch vụ tăng 7% Riêng quy mô tổng sản phẩm trong nước của nền kinh tế năm 2005 đạt 837,8 nghìn tỷ đồng, tăng gấp đôi so với năm 1995 GDP bình quân đầu người khoảng 10 triệu đồng (tương đương 640 USD), vượt mức bình quân của các nước đang phát triển có thu nhập thấp (500 USD) (theo Võ Hồng Phúc, 2005) [10].Từ một nước thiếu ăn, mỗi năm phải nhập khẩu từ 50 vạn đến 1 triệu tấn lương thực, Việt Nam đã trở thành nước xuất khẩu gạo lớn trên thế giới Năm 2005, Việt Nam đứng thứ nhất thế giới về xuất khẩu hạt tiêu; đứng thứ hai về các mặt hàng gạo, cà phê, hạt điều; thứ 4 về cao su;…

+ Giai đoạn 2006 - 2010: GDP bình quân 5 năm đạt 7% Mặc dù bị tác động của khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu (từ cuối năm 2008), nhưng thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam vẫn đạt cao Tổng vốn FDI thực hiện đạt gần 45 tỷ USD, vượt 77% so với kế hoạch đề ra Tổng

số vốn đăng ký mới và tăng thêm ước đạt 150 tỷ USD, gấp hơn 2,7 lần kế hoạch đề ra và gấp hơn 7 lần so với giai đoạn 2001 - 2005 Tổng vốn ODA cam kết đạt trên 31 tỷ USD, gấp hơn 1,5 lần so với mục tiêu đề ra; giải ngân ước đạt khoảng 13,8 tỷ USD, vượt 16% GDP năm 2010 tính theo giá thực tế

đạt 101,6 tỷ USD, gấp 3,26 lần so với năm 2000 ( Văn kiện Đại hội đại biểu

toàn quốc lần thứ XI của Đảng Cộng sản Việt Nam, 2011) [4]

+ Trong năm 2011, mặc dù sự phục hồi kinh tế sau khủng hoảng tài chính toàn cầu còn rất chậm, song mức tăng trưởng kinh tế bình quân vẫn đạt 7%/năm, tuy thấp hơn kế hoạch (7,5% - 8%), nhưng vẫn được đánh giá cao hơn bình quân các nước trong khu vực (theo Dương Ngọc) [9]

Trang 35

+ Như vậy, trong vòng 20 năm (1991 - 2011), tăng trưởng GDP của Việt Nam đạt 7,34%/năm, thuộc loại cao ở khu vực Đông Nam Á nói riêng, ở châu Á

và trên thế giới nói chung; quy mô kinh tế năm 2011 gấp trên 4,4 lần năm 1990, gấp trên 2,1 lần năm 2000 (thời kỳ 2001 - 2011 bình quân đạt 7,14%/năm) (Dương Ngọc) [9]

+

, lâm nghiệp v

18,3% Kim ngạch xuất khẩu có thể vượt qua mốc 100 tỷ USD,

tỷ lệ kim ngạch xuất, nhập khẩu so với GDP năm 2011 đã đạt xấp xỉ 170%, đứng thứ 5 thế giới Vốn FDI tính từ 1988 đến tháng 7-2012 đăng ký đạt trên

236 tỷ USD, thực hiện đạt trên 96,6 tỷ USD Vốn ODA từ 1993 đến nay cam kết đạt gần 80 tỷ USD, giải ngân đạt trên 35 tỷ USD ( Dương Ngọc) [9]

+ Nhìn chung, các ngành, lĩnh vực của nền kinh tế đều có bước phát triển khá, trong đó sự phát triển ổn định trong ngành nông nghiệp, nhất là sản xuất lương thực đã bảo đảm an ninh lương thực quốc gia; sản phẩm công nghiệp phát triển ngày càng đa dạng và phong phú về chủng loại, chất lượng được cải thiện, từng bước nâng cao khả năng cạnh tranh, bảo đảm cung cầu của nền kinh tế, giữ vững thị trường trong nước và mở rộng thị trường xuất khẩu; chú trọng đầu tư phát triển một số ngành công nghiệp mới, công nghệ

cao; khu vực dịch vụ có tốc độ tăng trưởng ổn định

- Về phát triển các mặt xã hội

+ Trong lĩnh vực lao động và việc làm: Từ năm 1991 đến năm 2000,

trung bình mỗi năm cả nước đã giải quyết cho khoảng 1 - 1,2 triệu người lao động có công ăn việc làm; những năm 2001 - 2005, mức giải quyết việc làm trung bình hằng năm đạt khoảng 1,4 - 1,5 triệu người; những năm 2006 -

2010, con số đó lại tăng lên đến 1,6 triệu người Công tác dạy nghề từng bước phát triển, góp phần đưa tỷ lệ lao động qua đào tạo từ dưới 10% năm 1990 lên khoảng 40% năm 2010 (theo Nguyễn Duy Quý) [17]

Trang 36

+ Công tác xóa đói giảm nghèo đạt được kết quả đầy ấn tượng Theo chuẩn quốc gia, tỷ lệ hộ đói nghèo đã giảm từ 30% năm 1992 xuống khoảng 9,5% năm

2010 Còn theo chuẩn do Ngân hàng thế giới (WB) phối hợp với Tổng cục Thống

kê tính toán, thì tỷ lệ nghèo chung (bao gồm cả nghèo lương thực, thực phẩm và nghèo phi lương thực, thực phẩm) đã giảm từ 58% năm 1993 xuống 29% năm

2002 và còn khoảng 17% năm 2008 ( Nguyễn Duy Quý) [17]

+ Sự nghiệp giáo dục có bước phát triển mới về quy mô, đa dạng hóa về loại hình trường lớp từ mầm non, tiểu học đến cao đẳng, đại học Năm 2000, cả nước

đã đạt chuẩn quốc gia về xóa mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học; dự tính đến cuối năm 2010, hầu hết các tỉnh, thành sẽ đạt chuẩn phổ cập giáo dục trung học cơ

sở Tỷ lệ người lớn (từ 15 tuổi trở lên) biết chữ đã tăng từ 84% cuối những năm

1980 lên 90,3% năm 2007 Từ năm 2006 đến nay, trung bình hằng năm quy mô đào tạo trung học chuyên nghiệp tăng 10%; cao đẳng và đại học tăng 7,4% (Nguyễn Duy Quý) [17]

+ Hoạt động khoa học và công nghệ có bước tiến đáng ghi nhận Đội ngũ cán bộ khoa học và công nghệ (bao gồm khoa học xã hội, khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật) đã góp phần cung cấp luận cứ khoa học phục vụ hoạch định đường lối, chủ trương, chính sách đổi mới của Đảng và Nhà nước + Công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân có tiến bộ Bảo hiểm y tế được mở rộng đến khoảng gần 60% dân số Các chỉ số sức khỏe cộng đồng được nâng lên Tỷ

lệ tử vong ở trẻ em dưới 5 tuổi đã giảm từ 81% năm 1990 xuống còn khoảng 28% năm 2010; tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng đã giảm tương ứng từ 50% xuống còn khoảng 20% Công tác tiêm chủng mở rộng được thực hiện, nhiều dịch bệnh hiểm nghèo trước đây đã được thanh toán hoặc khống chế Tuổi thọ trung bình của người dân từ 63 tuổi năm 1990 tăng lên 72 tuổi hiện nay (Nguyễn Duy Quý) [17]

+ Chỉ số phát triển con người (HDI) tăng đều đặn và liên tục suốt mấy thập kỷ qua: từ 0,561 năm 1985 lần lượt tăng lên 0,599 năm 1990; 0,647 năm 1995; 0,690 năm 2000; 0,715 năm 2005 và 0,725 năm 2007 Nếu so với thứ bậc xếp hạng GDP bình quân đầu người thì xếp hạng HDI của Việt Nam năm

Trang 37

2007 vượt lên 13 bậc: GDP bình quân đầu người xếp thứ 129 trên tổng số 182 nước được thống kê, còn HDI thì xếp thứ 116/182 Điều đó chứng tỏ sự phát triển kinh tế - xã hội của nước ta có xu hướng phục vụ sự phát triển con người, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội khá hơn một số nước đang phát triển có GDP bình quân đầu người cao hơn Việt Nam (Nguyễn Duy Quý) [17]

Tóm lại, sau gần 30 năm thực hiện đổi mới, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, toàn diện Cùng với tăng trưởng kinh tế, sự ổn định kinh tế vĩ

mô được duy trì, các mặt: chính trị, xã hội, quốc phòng và an ninh được bảo đảm

và ổn định Trong đó có những thành tựu rất đáng khích lệ về thực hiện tiến bộ

và công bằng xã hội gắn bó chặt chẽ với tăng trưởng kinh tế, phát triển nguồn lao động và chất lượng lao động, khoa học và công nghệ Thành tựu đó ngày càng khẳng định sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố quyết định thành công của đổi mới, khích lệ, động viên nhân dân tiếp tục hưởng ứng, góp phần quan trọng vào việc giữ vững ổn định chính trị - xã hội, tiếp tục thúc đẩy sự nghiệp đổi mới

toàn diện đất nước với những bước tiến cao hơn

* Tình hình xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam

án 11 xã được chọn thí điểm xây dựng mô hình nông thôn mới gồm: Thanh Chăn (huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên), Tân Thịnh (Lạng Giang - Bắc Giang), Hải Đường (Hải Hậu - Nam Định), Gia Phổ (Hương Khê - Hà Tĩnh), Tam Phước (Phú Ninh - Quảng Nam), Tân Hội (Đức Trọng - Lâm Đồng), Tân Lập (Đồng Phú - Bình Phước), Định Hòa (Gò Quao - Kiên Giang), Mỹ Long Nam (Cầu Ngang - Trà Vinh), Tân Thông Hội (Củ Chi - TP Hồ Chí Minh) và Thụy

Hương (Chương Mỹ - Hà Nội) (http://baodientu.chinhphu.vn) [24]

Sau hơn 2 năm thực hiện, chương trình thí điểm mô hình nông thôn mới

đã thành công bước đầu và đạt được một số kết quả quan trọng Mô hình nông thôn mới theo 19 tiêu chí đã được hình thành, khẳng định việc lấy xã làm địa bàn tổ chức thực hiện và tổ chức xây dựng mô hình theo Bộ tiêu chí nông

thôn mới là phù hợp (http://nongthonmoi.gov.vn) [26]

Trang 38

Theo kết quả đánh giá của các địa phương, đến nay đã có 7/11 xã đạt được

10 tiêu chí trở lên, gồm Thuỵ Hương; Tân Thịnh; Hải Đường; Gia Phố; Tân Thông Hội; Mỹ Long Nam; Định Hoà; trong đó có 3 xã đạt 14/19 tiêu chí trở lên

là Thuỵ Hương 13, Tân Thịnh 14, Tân thông Hội 14 Có 3 xã đạt từ 8-10 tiêu chí, gồm Tân Lập, Tân Hội, Tam Phước Riêng xã Thanh Chăn (Điện Biên) tuy

là xã khó khăn nhất, nhưng đã đạt 7/19 tiêu chí Một số xã đạt kết quả tương đối toàn diện như: Hải Đường, Tân Thịnh, Tân Thông Hội Một số xã đạt được mô hình tốt ở một số mặt như: quy hoạch và thực hiện tốt quy hoạch ở Hải Đường; phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập ở Mỹ Long Nam; huy động nguồn lực ở Thanh Chăn và Định Hoà; phát triển sản xuất gắn với quy hoạch đồng ruộng và

cơ sở hạ tầng ở Tam Phước; phong trào cải tạo điều kiện sống của các hộ dân cư

ở Tân Thịnh; liên kết sản xuất giữa nông dân với doanh nghiệp ở Thụy Hương, Tân Hội; thu hút doanh nghiệp đầu tư vào nông thôn ở Tân Thông Hội, Tân Lập Hiện các mô hình này là những điểm thực tiễn được các địa phương khác

đến tham quan và học tập ( http://nongthonmoi.gov.vn) [26]

Qu

( http://baodientu.chinhphu.vn) [24]

* Những hạn chế và bất cập

Theo http://www.tapchicongsan.org.vn [28]: Xây dựng mô hình nông

thôn mới là việc làm khó khăn, tốn kém, liên quan đến nhiều ngành, nhiều cấp nên quá trình tổ chức thực hiện thí điểm đã xuất hiện nhiều vấn đề mới,

Trang 39

ít, vì không mang tính công bằng, như

ng cũng như các địa phương

, thành còn

thấp so với mục tiêu và yêu cầu của chương trình, cũng như đầu tư của Nhà nước.

4 xã đạt từ 10 tiêu chí trở xuống, trong đó có xã Thanh Chăn (Điện Biên) đạt 7 tiêu chí Điều đáng lưu ý là kết quả đó

) Do đó, tính pháp lý của các kết quả đó chưa cao, chưa thuyết phục Tình hình tương tự cũng đã diễn ra ở các xã điểm của địa phương

Trang 40

(http://www.tapchicongsan.org.vn) [28]

hạ tầng

Chương trình nông

công trình ở các thôn hoặc ở hộ nông dân (http://www.tapchicongsan.org.vn) [28]

, về công tác phát triển sản xuất

năm, chưa có chuyển biến rõ rệt Trên thực tế, đây là công việc rất khó vì liên quan

đến chính sách đất đai, đặc biệt tại các tỉnh miền Bắc ruộng đất còn manh mún nhưng Chương trình xây dựng nông thôn mới không có nội dung dồn điền đổi thửa, nên chưa thu hút được doanh nghiệp đầu tư tại địa bàn nông thôn, chưa tạo ra các

mô hình tổ chức sản xuất mới gắn nông nghiệp với công nghiệp và dịch vụ, gắn sản

xuất với chế biến, tiêu thụ sản phẩm (http://www.tapchicongsan.org.vn) [28]

, về công tác đào tạo nghề cho nông dân chưa gắn với các dự

án, chương trình và nhu cầu sử dụ

, thiếu giáo viên

có chất lượng, thiếu thiết bị phục vụ thực hành

, nhận thức của các ngành các cấp về Chương trình xây dựng nông thôn mới chưa đúng, chưa đầy đủ Một số bộ, ngành chưa có kế hoạch triển khai

các nhiệm vụ được giao, chưa bố trí đủ cán bộ

, hiệu quả của một số mô hình xã điểm còn chưa cao, chưa đồng bộ

và chưa vững (http://www.tapchicongsan.org.vn) [28]

Ngày đăng: 19/11/2014, 19:35

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Vũ Trọng Bình, “Kinh nghiệm quốc tế về sự tham gia của cộng đồng trong xây dựng nông thôn” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh nghiệm quốc tế về sự tham gia của cộng đồng trong xây dựng nông thôn
3. Mai Thanh Cúc, Quyền Đình Hà (2005), Giáo trình phát triển nông thôn, Nxb Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình phát triển nông thôn
Tác giả: Mai Thanh Cúc, Quyền Đình Hà
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2005
4. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
5. Đề án xây dựng nông thôn mới xã Bắc Sơn – huyện Kim Bôi – tỉnh Hòa Bình (giai đoạn 2010 - 2015) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đề án xây dựng nông thôn mới xã Bắc Sơn
6. Đề án xây dựng nông thôn mới xã Nam Thượng – huyện Kim Bôi – tỉnh Hòa Bình (giai đoạn 2010 - 2015) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đề án xây dựng nông thôn mới xã Nam Thượng
7. Đề án xây dựng nông thôn mới xã Trung Bì – huyện Kim Bôi – tỉnh Hòa Bình (giai đoạn 2010 - 2015) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đề án xây dựng nông thôn mới xã Trung Bì
8. Phạm Vân Đình và Đỗ Kim Chung (1997), Kinh tế nông nghiệp Nxb nông nghiệp, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế nông nghiệp
Tác giả: Phạm Vân Đình, Đỗ Kim Chung
Nhà XB: Nxb nông nghiệp
Năm: 1997
9. Dương Ngọc: Kinh tế Việt Nam: 67 năm qua các con số, VnEconomy 10. Võ Hồng Phúc: Những thành tựu về kinh tế - xã hội qua 20 năm đổi mới(1986 - 2005), trong Việt Nam 20 năm đổi mới, Nxb Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế Việt Nam: 67 năm qua các con số
Tác giả: Dương Ngọc
Nhà XB: VnEconomy
11. Đặng Kim Sơn (2008), Kinh nghiệm quốc tế về nông nghiệp, nông thôn, nông dân trong quá trình công nghiệp hóa, Nxb chính trị quốc gia, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh nghiệm quốc tế về nông nghiệp, nông thôn, nông dân trong quá trình công nghiệp hóa
Tác giả: Đặng Kim Sơn
Nhà XB: Nxb chính trị quốc gia
Năm: 2008
14. Tổng cục Thống kê (2009), Niên giám Thông kê năm 2008. Báo cáo khoa học, bài báo Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám Thông kê năm 2008
Tác giả: Tổng cục Thống kê
Năm: 2009
17. Nguyễn Duy Quý: Công cuộc đổi mới: những thành tựu và bài học kinh nghiệm, Báo Điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công cuộc đổi mới: những thành tựu và bài học kinh nghiệm
Tác giả: Nguyễn Duy Quý
Nhà XB: Báo Điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam
19. Nghị quyết số 24/2008/NQ-CP, ngày 28/10/2008 của Chính phủ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 24/2008/NQ-CP
Nhà XB: Chính phủ
Năm: 2008
2. Bộ NN&PTNT, tháng 8/2009: Sổ tay hướng dẫn xây dựng nông thôn mới (cấp xã) Khác
12. Tổng cục Thống kê (2005), Niên giám Thông kê năm 2004 Khác
13. Tổng cục Thống kê (2007), Niên giám Thông kê năm 2006 Khác
15. Nguyễn Tiến Định, Hoàng Vũ Quang, Vũ Trọng Bình, Nguyễn Mạnh Cường, Đào Đức Huấn, Nguyễn Ngọc Luân, Đỗ Công Hưng, Trần Nhật Khác
20. Nghị quyết 26 - NQ/TW ngày 05 tháng 08 năm 2008 của Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá X về Nông nghiệp, Nông dân, Nông thôn Khác
21. Quyết định số 491/QĐ-TTg ngày 16/4/2009 về việc ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về NTM Khác
22. Quyết định 800/QĐ-TTg ngày 4 tháng 6 năm 2010: Phê duyệt chương trình MTQG về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 - 2020.Tài liệu trang Web Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.2. Mức độ đạt các tiêu chí của 3 xã theo 19 tiêu chí của QĐ 491 - Nghiên cứu sự tham gia của cộng đồng trong việc xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình
Bảng 3.2. Mức độ đạt các tiêu chí của 3 xã theo 19 tiêu chí của QĐ 491 (Trang 57)
13  Hình  thức  tổ - Nghiên cứu sự tham gia của cộng đồng trong việc xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình
13 Hình thức tổ (Trang 59)
Bảng 3.3. Một số công trình CSHT có sự tham gia của người dân trong - Nghiên cứu sự tham gia của cộng đồng trong việc xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình
Bảng 3.3. Một số công trình CSHT có sự tham gia của người dân trong (Trang 61)
Bảng 3.4. Sự tham gia của người dân vào việc ra quyết định trong - Nghiên cứu sự tham gia của cộng đồng trong việc xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình
Bảng 3.4. Sự tham gia của người dân vào việc ra quyết định trong (Trang 62)
Bảng 3.5. Đánh giá của người dân về sự tham gia xây dựng CSHT trong - Nghiên cứu sự tham gia của cộng đồng trong việc xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình
Bảng 3.5. Đánh giá của người dân về sự tham gia xây dựng CSHT trong (Trang 67)
Bảng 3.6. Giá trị đóng góp của hộ cho xây dựng các công trình hạ tầng - Nghiên cứu sự tham gia của cộng đồng trong việc xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình
Bảng 3.6. Giá trị đóng góp của hộ cho xây dựng các công trình hạ tầng (Trang 70)
Bảng 3.7. Ý kiến của cán bộ xã, thôn về khó khăn trong huy - Nghiên cứu sự tham gia của cộng đồng trong việc xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình
Bảng 3.7. Ý kiến của cán bộ xã, thôn về khó khăn trong huy (Trang 72)
Bảng 3.8. Đóng góp của hộ cho xây dựng CSHT theo năm - Nghiên cứu sự tham gia của cộng đồng trong việc xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình
Bảng 3.8. Đóng góp của hộ cho xây dựng CSHT theo năm (Trang 75)
Bảng 3.9. Tổng hợp các nội dung tham gia của người dân - Nghiên cứu sự tham gia của cộng đồng trong việc xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình
Bảng 3.9. Tổng hợp các nội dung tham gia của người dân (Trang 78)
Bảng 3.10. Đóng góp của hộ gia đình để cải thiện điều kiện ở qua các năm - Nghiên cứu sự tham gia của cộng đồng trong việc xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình
Bảng 3.10. Đóng góp của hộ gia đình để cải thiện điều kiện ở qua các năm (Trang 82)
Bảng 3.11. Hỗ trợ trực tiếp bằng hiện vật trong các dự án phát triển sản xuất - Nghiên cứu sự tham gia của cộng đồng trong việc xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình
Bảng 3.11. Hỗ trợ trực tiếp bằng hiện vật trong các dự án phát triển sản xuất (Trang 84)
Bảng trên cho thấy: trong 3 xã, xã Bắc Sơn nhân dân đóng góp nhiều nhất  (26%), sau đến Nam Thượng (9,1%), cuối cùng là xã Trung Bì (7,02%) - Nghiên cứu sự tham gia của cộng đồng trong việc xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình
Bảng tr ên cho thấy: trong 3 xã, xã Bắc Sơn nhân dân đóng góp nhiều nhất (26%), sau đến Nam Thượng (9,1%), cuối cùng là xã Trung Bì (7,02%) (Trang 87)
Bảng 3.13. Ý kiến đánh giá của cán bộ xã, thôn về sự tham gia của cộng - Nghiên cứu sự tham gia của cộng đồng trong việc xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình
Bảng 3.13. Ý kiến đánh giá của cán bộ xã, thôn về sự tham gia của cộng (Trang 88)
Bảng 3.14. Ý kiến của hộ về các khoản đóng góp - Nghiên cứu sự tham gia của cộng đồng trong việc xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình
Bảng 3.14. Ý kiến của hộ về các khoản đóng góp (Trang 89)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w