Mục tiêu chung: Mục tiêu nghiên cứu của đề tài này là để làm rõ hơn một số vấn đề về quy trình và kỹ thuật thẩm định cho vay ngắn hạn đối với DNNVV của NHNo&PTNT tỉnh Thái Nguyên; từ đó
Trang 1i
ĐẠI HỌC THÁI NGUYấN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
HỨA THỊ NGỌC LAN
Nâng cao chất l-ợng thẩm định
cho vay ngắn hạn đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa của ngân hàng nông nghiệp
và ptnt chi nhánh tỉnh thái nguyên
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ Chuyờn ngành: Quản lý kinh tế
Trang 2Số húa bởi Trung tõm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn
ii
THÁI NGUYấN - 2013
ĐẠI HỌC THÁI NGUYấN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
HỨA THỊ NGỌC LAN
Nâng cao chất l-ợng thẩm định
cho vay ngắn hạn đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa của ngân hàng nông nghiệp
và ptnt chi nhánh tỉnh thái nguyên
Chuyờn ngành: Quản lý kinh tế
Trang 3iii
LỜI CAM ĐOAN
- Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chƣa từng đƣợc sử dụng để bảo vệ một học vị nào
- Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã đƣợc cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn này đã đƣợc ghi rõ nguồn gốc
Tác giả luận văn
Trang 4Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn
iv
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện luận văn này, tôi đã nhận được sự giúp đỡ chân thành, tận tình và quý báu từ rất nhiều cá nhân và tập thể Xin gửi lời cảm ơn đến tất cả các cơ quan, đồng nghiệp và bạn bè đã dành công sức, kiến thức
và lòng nhiệt tình đóng góp nhiều ý kiến bổ ích trong quá trình viết luận văn
Xin cảm ơn các thầy cô giáo Khoa sau đại học, Trường đại học Kinh tế và Quản trị kinh doanh Thái Nguyên, nơi tôi học tập và nghiên cứu trong thời gian qua
Xin cảm ơn Ngân hàng nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Thái Nguyên đã tạo điều kiện cho tôi làm việc, học tập và cung cấp tài liệu nghiên cứu luận văn
Xin dành sự biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Nguyễn Hữu Tri - người trực tiếp hướng dẫn cho tôi hoàn thành bản luận văn
Đặc biệt, xin dành lời cảm ơn tới gia đình, nguồn động viên và là động lực
để tôi hoàn thành luận văn này
Trang 5v
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN iv
MỤC LỤC v
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT iv
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU v
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ vi
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1.Tính cấp thiết của đề tài: 1
2.Mục tiêu nghiên cứu của luận văn 2
2.1 Mục tiêu chung 2
2.2.Mục tiêu cụ thể 2
3.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
4.Ý nghĩa khoa học và thực tiền của đề tài 3
5 Bố cục của luận văn 3
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG THẨM ĐỊNH CHO VAY NGẮN HẠN ĐỐI VỚI DNNVV TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 4
1.1 Tổng quan về doanh nghiệp nhỏ và vừa trong nền kinh tế thị trường 4
1.1.1 Khái niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa: 4
1.1.2 Những đặc điểm chủ yếu của doanh nghiệp nhỏ và vừa 5
1.1.3 Vai trò của doanh nghiệp nhỏ và vừa trong nền kinh tế thị trường: 6
1.2 Nội dung thẩm định cho vay ngắn hạn đối với các DNNVV của các Ngân hàng thương mại 9
1.2.1 Cho vay ngắn hạn đối với DNNVV của các Ngân hàng thương mại 9
1.2.2 Thẩm định cho vay ngắn hạn đối với DNNVV của các NHTM 12
1.3 Chất lượng thẩm định cho vay ngắn hạn và sự cần thiết nâng cao chất lượng thẩm định cho vay ngắn hạn đối với DNNVV 21
Trang 6Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn
1.3.1 Chất lượng thẩm định tín dụng ngắn hạn 21
1.3.2 Sự cần thiết nâng cao chất lượng thẩm định cho vay ngắn hạn đối với DNNVV: 22
1.3.3 Một số tiêu chí đo lường chất lượng thẩm định cho vay ngắn hạn 23
1.3.4 Một số nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng thẩm định cho vay ngắn hạn đối với DNNVV 25
CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 29
2.1 Khung phân tích 29
2.2 Các câu hỏi đặt ra đề tài cần giải quyết 30
2.3 Phương pháp nghiên cứu 30
2.3.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu 30
2.3.2 Phương pháp thu thập thông tin 30
2.3.3 Phương pháp nghiên cứu tài liệu: 31
2.3.4 Phương pháp tổng hợp và xử lý thông tin 32
2.3.5 Phương pháp phân tích thông tin 32
2.3.6 Phương pháp chuyên gia 34
CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG THẨM ĐỊNH CHO VAY NGẮN HẠN ĐỐI VỚI DNNVV TẠI NHNo&PTNT TỈNH THÁI NGUYÊN 35 3.1 Tình hình kinh tế- xã hội của tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2010-2012 35
3.2 Tình hình hoạt động của các DNNVV trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên 35
3.3 Tình hình hoạt động của các Ngân hàng thương mại trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên 37
3.4 Khái quát về NHNo& PTNT tỉnh Thái Nguyên 38
3.4.1 Mô hình hoạt động, mạng lưới của NHNo&PTNT tỉnh Thái Nguyên 38
3.4.2 Tình hình hoạt động kinh doanh của NHNo&PTNT tỉnh Thái Nguyên 40
3.5 Thực trạng chất lượng cho vay đối với DNNVV của NHNo&PTNT tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2010- 2012 49
3.5.1 Tình hình cho vay DNNVV 49
3.6 Phân tích chất lượng cho vay đối với DNNVV của NHNo&PTNT tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2010- 2012 55
Trang 73.6.1 Chỉ tiêu vòng quay vốn tín dụng đối với cho vay DNNVV 55
3.6.2 Tình hình nợ xấu của DNNVV 56
3.6.3 Trích lập dự phòng và xử lý rủi ro cho vay DNNVV 58
3.7 Đánh giá thực trạng chất lượng thẩm định cho vay ngắn hạn đối với DNNVV tại NHNo&PTNT tỉnh Thái Nguyên 58
3.7.1 Về quy trình và kỹ thuật thẩm định cho vay ngắn hạn đối với DNNVV: 58
3.7.2 Về thực trạng chất lượng thẩm định cho vay ngắn hạn đối với DNNVV của NHNo&PTNT tỉnh Thái Nguyên 65
3.8 Những kết quả đạt được và các hạn chế, tồn tại: 72
3.8.1 Những kết quả đạt được 72
3.8.2 Những hạn chế, tồn tại 74
3.8.3 Nguyên nhân của những tồn tại: 74
CHƯƠNG IV: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG THẨM ĐỊNH CHO VAY NGẮN HẠN ĐỐI VỚI DNNVV TẠI NHNo&PTNT TỈNH THÁI NGUYÊN 78
4.1.Định hướng phát triển hoạt động kinh doanh của NHNo&PTNT Việt Nam đến năm 2020 78
4.1.1.Định hướng và mục tiêu chung của NHNo&PTNT Việt Nam 78
4.1.2.Định hướng và mục tiêu của NHNo&PTNT tỉnh Thái Nguyên 79
4.2.Một số giải pháp nâng cao chất lượng thẩm định cho vay ngắn hạn đối với DNNVV của NHNo&PTNT tỉnh Thái Nguyên 79
4.2.1.Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực: 80
4.2.2.Giải pháp về công tác tổ chức và mạng lưới 81
4.2.3 Nâng cao chất lượng thẩm định phương án SXKD của các DNNVV 82
4.2.4 Tăng cường thẩm định tài sản bảo đảm 83
4.2.5 Giải pháp về công nghệ thông tin 83
4.2.6 Tăng cường công tác kiểm tra và kiểm soát nội bộ 84
4.2.7 Tăng cường các mối quan hệ với các tổ chức phát triển DNNVV 84
4.3 Đề xuất và kiến nghị: 85
Trang 8Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn
4.3.1 Đối với Chính phủ và các Bộ ngành có liên quan 85
4.3.2 Đối với Ngân hàng Nhà nước 87
4.3.3 Đối với NHNo& PTNT Việt Nam 87
4.3.4 Đối với NHNo&PTNT tỉnh Thái Nguyên 88
KẾT LUẬN 91
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 93
PHỤ LỤC 94
Trang 9iv
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
1 CIC Credit Information Center: Trung tâm thông tin Tín dụng-
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
2 GDP Gross Domestic Product : Tổng sản phẩm quốc nội
3 DN Doanh nghiệp
4 DNNVV Doanh nghiệp nhỏ và vừa
5 NHNN Ngân hàng nhà nước
6 NHTM Ngân hàng thương mại
7 NHNo&PTNT Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
8 TCKT Tổ chức kinh tế
10 TPKT Thành phần kinh tế
11 IPCAS Interbank Payment and Customer Accounting Systerm:
Hệ thống thanh toán và kế toán khách hàng
12 ATM Automatic Teller Machine: Máy rút tiền tự động
Trang 10Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn
v
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1: Một số tiêu chí phân loại doanh nghiệp 5
Bảng 1.2: Một số tiêu chí đo lường chất lượng thẩm định cho vay 23
Bảng 3.1: Số DN hoạt động tại tỉnh Thái Nguyên phân theo loại hình DN 36
Bảng 3.2 : Số DN hoạt động tại tỉnh Thái Nguyên phân theo ngành kinh tế 36
Bảng 3.3: Nguồn vốn huy động và dư nợ cho vay của các NHTM trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2010-2012: 38
Bảng 3.4 Kết quả huy động vốn giai đoạn 2010 - 2012 41
Bảng 3.5: Hoạt động tín dụng giai đoạn 2010-2012 43
Bảng 3.6: Phân loại dư nợ theo nhóm nợ giai đoạn 2010-2012 46
Bảng 3.7: Kết quả thanh toán quốc tế giai đoạn 2010-2012 46
Bảng 3.8: Hoạt động kiều hối và kinh doanh ngoại tệ giai đoạn 2010-2012 47
Bảng 3.9: Hoạt động bảo lãnh giai đoạn 2010-2012 48
Bảng 3.10: Kết quả kinh doanh giai đoạn 2010-2012 49
Bảng 3.11: Số lượng DNNVV vay vốn giai đoạn 2010-2012 49
Bảng 3.12: Doanh số cho vay, thu nợ và dư nợ của DNNVV 50
Bảng 3.13: Dư nợ cho vay DNNVV phân theo thời gian 52
Bảng 3.14: Dư nợ cho vay DNNVV phân theo ngành kinh tế 53
Bảng 3.15: Dư nợ cho vay DNNVV phân theo tài sản đảm bảo 54
Bảng 3.16: Vòng quay vốn tín dụng cho vay DNNVV 56
Bảng 3.17: Nợ xấu cho vay DNNVV 56
Bảng 3.18: Tổng hợp kết quả của các tiêu chí 65
Bảng 3.19: Tình hình phân bổ cán bộ thực hiện công tác thẩm định 70
Trang 11vi
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 2.1: Sơ đồ khung phân tích 29
Sơ đồ 3.1: Mô hình hoạt động, mạng lưới của NHNo&PTNT tỉnh Thái Nguyên 39
Biểu 3.1: Tốc độ tăng trưởng dư nợ cho vay DNNVV 55
Sơ đồ 3.2: Quy trình và kỹ thuật thẩm định cho vay ngắn hạn đối với DNNVV 60
Sơ đồ 4.1: Quy trình thẩm định và phê duyệt khoản vay 89
Trang 121
PHẦN MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài:
Hội nhập kinh tế quốc tế đã chính thức đưa Việt Nam bước vào sân chơi chung của toàn thế giới, của nền kinh tế toàn cầu hóa Những năm qua, nền kinh tế của chúng ta đã có những chuyển biến tích cực và đạt những kết quả đáng khích lệ,
đó là tốc độ tăng trưởng kinh tế luôn đạt ở mức cao, đời sống nhân dân từng bước được cải thiện Sự nghiệp CNH-HĐH đang diễn ra sôi nổi và mạnh mẽ Mục tiêu của đất nước là tới năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp, ngày càng nhiều các doanh nghiệp được thành lập, đặc biệt là các doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV)
Kinh tế tư nhân nói chung DNNVV nói riêng đã trở thành khu vực kinh tế năng động, có vai trò, vị trí quan trọng và đang thực sự là một lực lượng thúc đẩy kinh tế Việt Nam đi lên Trước sự phát triển mạnh mẽ của các DNNVV, vai trò của ngân hàng, với tư cách là kênh dẫn vốn, ngày càng trở nên quan trọng Tuy nhiên, vẫn có không ít vướng mắc nảy sinh từ việc cho vay đáp ứng nhu cầu vốn của khu vực doanh nghiệp này Vốn là nhân tố quan trọng quyết định năng lực hoạt động sản xuất kinh doanh, năng lực tài chính, năng lực thị trường, khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp Làm thế nào để vốn đầu tư có hiệu quả đó là bài toán nan giải đối với các chủ doanh nghiệp, đồng thời nó còn thu hút sự quan tâm của những nhà tài trợ chính cho doanh nghiệp như các ngân hàng thương mại Bởi vì hiệu quả của sử dụng vốn vay cao hay thấp ảnh hưởng tới kết quả kinh doanh của bản thân doanh nghiệp mà nó còn ảnh hưởng tới thu nhập của chính các ngân hàng cho vay Chính
vì vậy để mở rộng cho vay và nâng cao chất lượng cho vay đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa đòi hỏi các ngân hàng phải đưa ra những biện pháp mang tính cụ thể và thực tiễn cho vấn đề này
Cùng với sự cải cách mạnh mẽ về mọi mặt, ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Thái Nguyên đang hướng tới đối tượng là các DNNVV Đây được coi là mũi đột phá mới bên cạnh những thành công về cho vay hộ sản xuất
Trang 132.Mục tiêu nghiên cứu của luận văn
2.1 Mục tiêu chung: Mục tiêu nghiên cứu của đề tài này là để làm rõ hơn một số
vấn đề về quy trình và kỹ thuật thẩm định cho vay ngắn hạn đối với DNNVV của NHNo&PTNT tỉnh Thái Nguyên; từ đó đề xuất các giải pháp và đưa ra một số kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng thẩm định cho vay ngắn hạn đối với DNNVV của các ngân hàng thương mại Việt Nam nói chung và NHNo&PTNT tỉnh Thái Nguyên nói riêng
+ Quy trình thẩm định cho vay ngắn hạn đối với DNNVV
+ Hồ sơ cấp tín dụng ngắn hạn đối với DNNVV
+ Các cách thức và hình thức cho vay ngắn hạn đối với DNNVV
+ Các rủi ro tiềm ẩn trong hoạt động cấp tín dụng ngắn hạn đối với DNNVV + Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động của NHNo&PTNT tỉnh Thái Nguyên trong công tác thẩm định cho vay ngắn hạn đối với DNNVV
+ Những hạn chế và tồn tại trong công tác thẩm định cho vay ngắn hạn đối với DNNVV của NHNo&PTNT tỉnh Thái Nguyên
- Đề xuất các nhóm giải pháp cụ thể về màng lưới, về công nghệ, quy trình
và kỹ thuật thẩm định, về đội ngũ nhân sự nhằm nâng cao hiệu quả công tác thẩm định cho vay ngắn hạn đối với DNNVV của NHNo&PTNT tỉnh Thái Nguyên
- Kiến nghị một số vấn đề cụ thể
Trang 143
3.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu về quy trình, kỹ thuật và chất lượng thẩm định cho vay ngắn hạn đối với DNNVV
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Phạm vi không gian: Các chi nhánh thuộc hệ thống NHNo&PTNT Việt Nam tại Thái Nguyên
+ Phạm vi thời gian: Giai đoạn 2010- 2012
4.Ý nghĩa khoa học và thực tiền của đề tài
Đề tài nghiên cứu dựa trên thực tiễn của việc cấp tín dụng ngắn hạn đối với DNNVV tại NHNo&PTNT tỉnh Thái Nguyên Phân tích thực trạng kết hợp với các nghiên cứu, lý luận, tư duy của các nhà khoa học, các chuyên gia ngành tài chính- ngân hàng, các kinh nghiệm đúc kết trong quá trình làm việc của bản thân để đưa ra các ý kiến, nhận định, đánh giá, đề xuất các giải pháp và kiến nghị nhằm đảm bảo tính tuân thủ hoạt động cho vay đối với DNNVV chính xác, theo đúng quy trình, cũng như giảm thiểu các rủi ro trong hoạt động cho vay
5 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được chia làm bốn chương, gồm:
Chương 1: Cơ sở lý luận về nâng cao chất lượng thẩm định cho vay ngắn hạn đối
với DNNVV tại các NHTM
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu
Chương 3:Thực trạng chất lượng thẩm định cho vay ngắn hạn đối với DNNVV tại
NHNo&PTNT tỉnh Thái Nguyên
Chương 4:Giải pháp nâng cao chất lượng thẩm định cho vay ngắn hạn đối với
DNNVV của NHNo&PTNT tỉnh Thái Nguyên
Trang 154
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG THẨM ĐỊNH CHO VAY NGẮN HẠN ĐỐI VỚI DNNVV TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Tổng quan về doanh nghiệp nhỏ và vừa trong nền kinh tế thị trường
1.1.1 Khái niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa:
DNNVV là loại hình doanh nghiệp (DN) phổ biến ở nhiều nước trên thế giới
và là cấu thành quan trọng của nền kinh tế của một xã hội Khái niệm về DNNVV không chỉ đơn thuần phản ánh quy mô của DN mà nó còn bao trùm nội dung về kinh tế, tổ chức sản xuất, quản lý và tiến bộ khoa học công nghệ Nó tuỳ thuộc vào điều kiện kinh tế xã hội cụ thể của từng nước và nó cũng thay đổi theo từng thời kỳ, từng giai đoạn phát triển kinh tế
Tùy theo điều kiện và hoàn cảnh của mỗi nước, các tiêu thức xác định DNNVV có thể khác nhau, ví dụ như: Ở Mỹ, một doanh nghiệp có mức lợi nhuận hàng năm dưới 150.000 USD thì được coi là DNNVV Hay như ở Nhật Bản, một doanh nghiệp sản xuất có dưới 300 lao động hoặc vốn đầu tư dưới 1 triệu USD được coi là doanh nghiệp nhỏ và vừa Ở Philippin căn cứ vào tổng số vốn của Doanh nghiệp để phân loại,
cụ thể nếu doanh nghiệp có vốn trên 60 triệu Peso tương đương 25 tỷ VNĐ thì xếp vào doanh nghiệp lớn, vốn từ 15 triệu Peso đến 60 triệu Peso thì xếp vào doanh nghiệp vừa, cón có số vốn dưới 15 triệu Peso thì xếp vào doanh nghiệp nhỏ Tại Thái Lan thì khái niệm DNNVV được đưa ra một cách cụ thể và chi tiết hơn với sự tách biệt rõ ràng giữa doanh nghiệp vừa và doanh nghiệp nhỏ, hai thông số quan trọng được sử dụng là số lượng lao động và tài sản cố định
Đối với Việt Nam, căn cứ vào đặc điểm, tình hình thực tế của đất nước cùng với yêu cầu bức thiết trong vần đề hỗ trợ phát triển đối với các DNNVV, ngày 30/06/2009 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 56/2009/NĐ-CP về “Trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa” Theo đó, Doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm, cụ thể như sau:
Trang 16Số lao động Tổng nguồn vốn Số lao động Tổng nguồn vốn Số lao động
Nông, lâm nghiệp
và thủy sản
10 người trở xuống
20 tỷ đồng trở xuống
từ trên 10 người đến 200 người
từ trên 20 tỷ đồng đến 100 tỷ đồng
từ trên 200 người đến
300 người
Công nghiệp và
xây dựng
10 người trở xuống
20 tỷ đồng trở xuống
từ trên 10 người đến 200 người
từ trên 20 tỷ đồng đến 100 tỷ đồng
từ trên 200 người đến
300 người
Thương mại và
dịch vụ 10 người trở xuống 10 tỷ đồng trở xuống
từ trên 10 người đến 50 người
từ trên 10 tỷ đồng đến 50 tỷ đồng
từ trên 50 người đến
100 người
1.1.2 Những đặc điểm chủ yếu của doanh nghiệp nhỏ và vừa
DNNVV bên cạnh việc mang các đặc trưng vốn có của doanh nghiệp, thì
nó còn có những đặc điểm riêng biệt Qua đó người ta có thể phân biệt giữa DNNVV với các loại hình doanh nghiệp khác Cụ thể các DNNVV có các đặc điểm chủ yếu sau:
- DNNVV có cơ cấu tổ chức gọn nhẹ, linh hoạt do vậy dễ thích nghi với sự thay đổi của môi trường kinh doanh, quy mô hoạt động nhỏ, có thể hoạt động đa dạng ở nhiều ngành nghề kinh tế, do đó sức lan toả của các DNNVV là rất lớn, cơ cấu tổ chức gọn nhẹ là điều kiện thuận lợi để chủ doanh nghiệp quản lý và giám sát chặt chẽ tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Điều này cho phép DNNVV giảm thiểu sự sai lệch thông tin, giảm bớt cấp trung gian hơn so với doanh nghiệp lớn Cũng do đặc trưng có quy mô nhỏ và vừa nên các DNNVV có tính linh hoạt cao hơn các doanh nghiệp lớn Điều này được thể hiện DNNVV có thể nhanh chóng điều chỉnh các mục tiêu và chiến lược kinh doanh trong mỗi giai đoạn, thời điểm để thích ứng với tình hình thị trường Do vậy DNNVV dễ thích nghi với điều kiện kinh doanh
- DNNVV cần vốn đầu tư ban đầu ít, tốc độ thu hồi vốn nhanh, hiệu quả kinh
tế cao Và loại hình DNNVV có quy mô vừa phải nên yêu cầu vốn đầu tư sản xuất
Trang 176
không quá lớn (dưới 10 tỷ) hơn nữa chu kỳ sản xuất thường ngắn nên vòng quay của mỗi đồng vốn nhanh, có sức thu hút nhiều thành phần kinh tế đầu tư vào khu vực này
- Là loại hình doanh nghiệp có sự năng động lớn trước những thay đổi của thị trường Mặt khác, nó có thể chuyển hướng kinh doanh và chuyển hướng mặt hàng nhanh, tăng giảm lao động, chuyển địa điểm dễ dàng Nhưng tính ổn định của DNVVN là không cao
- DNNVV có lợi thế trong việc nắm bắt nhu cầu thị hiếu của người tiêu dùng
để sản xuất ra các sản phẩm phù hợp Cụ thể các DNNVV cung ứng ra thị trường khối lượng sản phẩm lớn, đa dạng và phong phú về chủng loại thoả mãn được nhu cầu khác nhau của khách hàng một số DNNVV có khả năng cung cấp các sản phẩm
có chất lượng cao thay thế được hàng nhập khẩu, từng bước chiếm lĩnh thị trường trong nước và quốc tế như hàng may mặc cao cấp, đồ gốm mỹ nghệ, đồ trạm khảm, mây tre đan
- DNNVV tham gia vào hầu hết các lĩnh vực, các thành phần kinh tế Các DNNVV hoạt động trên tất cả các lĩnh vực của nền kinh tế và hoạt động dưới nhiều hình thức như doanh nghiệp Nhà nước, doanh nghiệp tư nhân, công ty cổ phần, công ty TNHH, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và các cơ sở kinh
tế cá thể khác
- DNNVV có khả năng nắm bắt và ứng dụng khoa học công nghệ hiện đại dễ dàng hơn so với các doanh nghiệp lớn Đối với một DNNVV việc đầu tư đổi mới một dây truyền công nghệ đòi hỏi số vốn bổ sung không nhiều lại có thể thu hồi vốn nhanh hơn các doanh nghiệp lớn Lợi thế này giúp các DNNVV nâng cao chất lượng sản phẩm, hạ giá bán, nâng cao khả năng cạnh tranh, đồng thời giảm được thiệt hại do sự lạc hậu lỗi thời của dây truyền công nghệ cũ
1.1.3 Vai trò của doanh nghiệp nhỏ và vừa trong nền kinh tế thị trường:
Trong điều kiện kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay, sự tồn tại nhiều hình thức sản xuất kinh doanh, nhiều loại hình doanh nghiệp với quy mô và trình độ phát triển khác nhau là một tất yếu khách quan, mỗi loại hình doanh nghiệp lại có những
Trang 187
vai trò riêng biệt Ngày nay, hoạt động và sự phát triển của các DNNVV có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước Cụ thể, vai trò của các DNNVV được thể hiện là:
1.1.3.1 DNNVV tham gia giải quyết công ăn việc làm, tạo ra thu nhập cho người lao động, góp phần ổn định xã hội
Sự tồn tại và phát triển của loại hình DNNVV là một phương tiện có hiệu quả để giải quyết vấn đề việc làm, góp phần giảm tỷ lệ thất nghiệp, đồng thời nâng cao chất lượng cuộc sống cho người lao động Bởi vì DNNVV thường xuyên đáp ứng được nhu cầu thay đổi thị trường Vì vậy, mặc dù số lao động làm việc trong một DNNVV không nhiều nhưng theo quy luật số đông với số lượng lớn các DNNVV có khả năng tạo ra khối lượng việc làm vô cùng lớn cho xã hội Ở Việt Nam, sau khi luật doanh nghiệp ban hành thì có trên 40.000 DNNVV ra đời, trung bình mỗi doanh nghiệp tạo việc làm cho 20 lao động, chiếm 50% lực lượng lao
động của cả nước Đây là một trong những vai trò rõ nét nhất của các DNNVV, và
là nguyên nhân khiến chúng ta phải quan tâm và phát triển đối tượng này
1.1.3.2 DNNVV có khả năng tận dụng các nguồn lực xã hội, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, góp phần nâng cao khối lượng và chất lượng hàng hóa, dịch vụ
- Về nguyên vật liệu: các DNNVV có thể vươn tới được những vùng nguyên
liệu dù nhỏ hay xa đến mấy, nhất là những nơi mà các doanh nghiệp lớn không thể bao phủ hết được
- Về vốn: loại hình DNNVV mang tính tư hữu cao, chủ yếu do các cá nhân
có vốn tự đầu tư hoặc góp vốn cùng nhau kinh doanh ở bất cứ nơi đâu, bất kỳ lĩnh vực hoạt động nào với quy mô tuỳ ý Với quy mô nhỏ và vừa được phân bố ở nhiều địa phương và nhiều vùng miền nên các DNNVV có khả năng tận dụng được các tiềm năng về lao động và tài nguyên sẵn có của địa phương phục vụ cho sản xuất kinh doanh
- Về lao động: các DNNVV do nhu cầu đa dạng nên có thể sử dụng lao động
ở đủ mọi lứa tuổi, mọi trình độ, từ lao động có trình độ cao đến lao động có trình
độ thấp hay cả những lao động chưa hề qua đào tạo, và thuộc mọi lĩnh vực, ở khắp
Trang 198
các địa phương Vì vậy, có thể nói chính các DNNVV cũng là một nơi đào tạo người lao động ít tốn kém chi phí nhất
- Về mặt kỹ thuật: DNNVV lựa chọn kỹ thuật phù hợp với khả năng về vốn
và trình độ lao động Những kỹ thuật được ứng dụng trong các DNNVV rất đa dạng, phong phú: từ thủ công đến cơ khí hóa, tự động hóa; từ truyền thống đến tiên tiến, hiện đại
DNNVV chiếm số lượng đông đảo trong nền kinh tế đó tạo ra khối lượng sản phẩm lớn cho xã hội Hàng năm, các DNNVV đóng góp cho nền kinh tế khoảng hơn 40% GDP, 5% giá trị sản lượng công nghiệp, 78% tổng mức bán lẻ, 64% tổng lượng vận chuyển hàng hoá
1.1.3.3 DNNVV tham gia vào quá trình tạo lập sự phát triển công bằng và dịch chuyển cơ cấu kinh tế theo vùng, lãnh thổ
Một thực tế ở nước ta hiện nay là hầu hết các doanh nghiệp lớn tập trung ở thành phố, thị xã lớn, chiều hướng đó đó gây ra tình trạng mất cân đối nghiêm trọng về trình độ phát triển kinh tế, văn hoá xã hội giữa thành thị và nông thôn và giữa các vùng miền trong cả nước Chính sự phát triển của khối DNNVV là một giải pháp cho việc tạo lập sự cân đối về trình độ phát triển giữa các vùng miền và
sự phát triển đồng đều giữa các lĩnh vực của nền kinh tế, đồng thời thu hút lao động trong xã hội, hạn chế sự chuyển dịch lực lượng lao động từ nông thôn ra thành thị kiếm việc Tạo động lực khôi phục và phát triển các ngành nghề truyền thống, góp phần nâng cao thu nhập, ổn định đời sống xã hội cho dân cư
1.1.3.4 DNNVV tạo ra môi trường cạnh tranh, ngăn chặn độc quyền, thúc đẩy phát triển sản xuất kinh doanh và gia tăng nguồn hàng xuất khẩu
Trong điều kiện mở cửa hội nhập ở Việt Nam hiện nay các DNNVV phải đối mặt với sự cạnh tranh gay gắt không chỉ với các DNNVV trong nước mà còn phải cạnh tranh với các DNNVV nước ngoài Điều đó tạo ra sức ép buộc các doanh nghiệp phải thường xuyên đổi mới công nghệ kỹ thuật, đổi mới mẫu mã chủng loại, nâng cao chất lượng sản phẩm để thích ứng với yêu của thị trường Sự năng động, nhạy bén và số lượng nhiều của các DNNVV cho phép phá vỡ thế độc quyền, tái
Trang 209
lập môi trường tự do cạnh tranh cho nền kinh tế Hơn thế, các DNNVV giành được
ưu thế trong cạnh tranh do biết nắm bắt cơ hội và lựa chọn đầu tư đúng hướng, có khả năng đầu tư vào một số ngành công nghệ kỹ thuật cao và hiện đại tạo ra nguồn hàng xuất khẩu lớn ra thị trường quốc tế Đem lại nguồn thu nhập lớn cho doanh nghiệp, đồng thời thu về khối lượng ngoại tệ lớn cho ngoại hối quốc gia
1.1.3.5 DNNVV làm cơ sở vệ tinh cho các doanh nghiệp lớn, góp phần quan trọng vào quá trình tích luỹ kinh tế và là cơ sở để phát triển thành doanh nghiệp lớn
Các doanh nghiệp lớn hoạt động thường cần có sự hỗ trợ của các vệ tinh là các DNNVV, có thể với tư cách là người cung cấp nguyên vật liệu đầu vào, cung cấp dịch vụ, hoặc là người trung gian tiêu thụ sản phẩm đầu ra, hay cũng có thể với
tư cách là người gia công một vài công đoạn sản phẩm của doanh nghiệp lớn Vì vậy sự tồn tại và phát triển của các DNNVV rất cần thiết để bổ sung cho hoạt động của các doanh nghiệp lớn
Các DNNVV có xu hướng giữ lại lợi nhuận để tái đầu tư mở rộng sản xuất Chính vì vậy, quá trình phát triển DNNVV cũng là quá trình tích tụ vốn, tìm kiếm
mở rộng thị trường, hoặc sự liên kết, hợp tác kinh doanh…Ngoài ra, do chi phí đầu
tư thấp, việc khởi sự bằng mô hình DNNVV tạo khả năng thử nghiệm các sản phẩm mới và tạo tiền đề phát triển trở thành doanh nghiệp lớn
1.2 Nội dung thẩm định cho vay ngắn hạn đối với các DNNVV của các Ngân hàng thương mại
1.2.1 Cho vay ngắn hạn đối với DNNVV của các Ngân hàng thương mại
1.2.1.1 Khái niệm về cho vay ngắn hạn đối với DNNVV của các NHTM
Tín dụng là quan hệ chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị (dưới hình thức tiền tệ hoặc hiện vật) từ người sở hữu sang người sử dụng để sau một thời gian nhất định thu hồi về một lượng giá trị lớn hơn lượng giá trị ban đầu
Trên cơ sở khái niệm tín dụng ta có khái niệm tín dụng ngân hàng: Tín dụng
ngân hàng là quan hệ tín dụng giữa ngân hàng với các chủ thể trong nền kinh tế như doanh nghiệp, nhà nước, cá nhân hộ gia đình Trong đó ngân hàng đóng vai trò là một trung gian tài chính thực hiện huy động nhàn rỗi trong dân cư để cho vay
Trang 2110
lại đối với nền kinh tế Hay nói cách khác Tín dụng ngân hàng là hoạt động tài trợ
của ngân hàng cho khách hàng Về bản chất tín dụng của NHTM là quan hệ vay mượn dựa trên nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi trong một khoảng thời gian nhất định theo thoả thuận, giữa một bên là các ngân hàng đóng vai trò là người cho vay
và một bên là các tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội và cá nhân, hộ gia đình đóng vai trò là người đi vay
Như vậy, ta có thể hiểu khái niệm về cho vay ngắn hạn đối với DNNVV của
NHTM là: “Cho vay ngắn hạn của NHTM đối với DNNVV là quan hệ giao dịch tiền hoặc tài sản giữa ngân hàng và khách hàng, trong đó ngân hàng giao tiền hoặc tài sản của ngân hàng cho DNNVV sử dụng trong một thời gian ngắn hạn nhất định (thường nhỏ hơn hoặc bằng 1 năm) và khách hàng có nghĩa vụ hoàn trả cả gốc và lãi khi đến hạn”
Cho vay ngắn hạn của ngân hàng nói chung và cho vay ngắn hạn của NHTM đối với các DNNVV nói riêng là loại cho vay đáp ứng nhu cầu vốn lưu động ngắn hạn cho các DNNVV Do đó, cho vay ngắn hạn của NHTM ngày càng trở thành một hình thức tín dụng quan trọng trong hoạt động tín dụng và không thể thiếu được trong nền kinh tế thị trường
1.2.1.2 Vai trò của cho vay ngắn hạn đối với DNNVV:
Vốn tín dụng ngân hàng đầu tư cho các DNNVV đóng vai trò rất quan trọng,
nó chẳng những thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế này mà thông qua đó tác động trở lại thúc đẩy hệ thống ngân hàng, đổi mới chính sách tiền tệ, hoàn thiện các
cơ chế, chính sách về tín dụng, thanh toán, ngoại hối…
- Góp phần hình thành cơ cấu vốn tối ưu cho doanh nghiệp
Hiện nay để thực hiện các quyết định đầu tư, doanh nghiệp có thể sử dụng hai nhóm nguồn vốn là vốn tự có và vốn đi vay Tuy nhiên điều này không có nghĩa
là doanh nghiệp muốn vay bao nhiêu cũng được mà quy mô của khoản vay còn tuỳ thuộc vào các điều kiện, các quy định vay vốn của ngân hàng, của pháp luật Do vậy buộc doanh nghiệp phải xây dựng cơ cấu vốn tối ưu, cơ cấu vốn tối ưu là sự kết hợp hợp lý nhất các nguồn tài trợ cho hoạt động kinh doanh của một doanh nghiệp
Trang 2211
DNNVV sẽ được cung cấp lượng vốn vừa đủ đáp ứng nhu cầu cần thiết đối với mỗi phương án kinh doanh cụ thể; Thời gian vay được căn cứ vào chu kỳ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nên đảm bảo tính chủ động trong việc lập kế hoạch tài chính, kế hoạch trả nợ; Chi phí sử dụng vốn rẻ, từ đó đảm bảo cho phương án được tối đa hoá lợi nhuận
- Góp phần đảm bảo cho hoạt động của các DNNVV được liên tục Trong nền
kinh tế thị trường đòi hỏi các DN luôn cần phải cải tiến kỹ thuật, thay đổi mẫu
mã sản phẩm, đổi mới công nghệ, máy móc thiết bị để tồn tại, đứng vững và phát triển trong cạnh tranh Trên thực tế, không một DN nào có thể đảm bảo đủ 100% vốn cho nhu cầu sản xuất kinh doanh Vốn tín dụng ngân hàng đã tạo điều kiện cho DN đầu tư XDCB, mua sắm máy móc, thiết bị, từ đó góp phần thúc đẩy, tạo điều kiện cho quá trình phát triển, sản xuất kinh doanh được liên tục, nâng cao khả năng cạnh tranh
- Tạo điều kiện cho DNNVV mở rộng sản xuất kinh doanh
Cho vay ngắn hạn giúp các DNNVV duy trì sản xuất, tái sản xuất mở rộng, phát triển các ngành nghề mũi nhọn Ngoài ra ngân hàng còn cung cấp các sản phẩm, dịch vụ tiện ích khác như: chuyển tiền, quản lý tiền mặt, bảo lãnh, mở L/C tài trợ thanh toán xuất nhập khẩu tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp mở rộng thị trường xuất khẩu, tăng năng lực hoạt động, đem lại lợi nhuận ngày càng cao cho doanh nghiệp
- Giúp các DNNVV tổ chức sản xuất kinh doanh có hiệu quả
Đặc trưng của tín dụng ngân hàng không chỉ là tài trợ vốn mà còn hoàn trả gốc và lãi đúng hạn Do vậy khi sử dụng vốn vay các doanh nghiệp không chỉ phải thu hồi vốn là đủ mà còn phải tìm mọi biện pháp sử dụng vốn sao cho có hiệu quả nhất Đảm bảo sử dụng tiết kiệm vốn, tăng nhanh vòng quay của vốn, đảm bảo tỷ suất lợi nhuận cao hơn lãi suất vay vốn ngân hàng Bên cạnh đó trong quá trình cung ứng tín dụng, ngân hàng còn có thể tư vấn cho các DNNVV về những vấn đề
có liên quan đến tình hình tài chính cũng như cung cấp thêm cho doanh nghiệp những thông tin quan trọng về thị trường Những tư vấn của ngân hàng giúp doanh
Trang 2312
nghiệp hoàn thiện các phương án, dự án kinh doanh có hiệu quả hay ngăn chặn việc
đầu tư vào những phương án, dự án kém hiệu quả
Tóm lại tín dụng ngân hàng và cho vay ngắn hạn của NHTM là công cụ hữu ích cho các doanh nghiệp đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh, nâng cao vị thế cạnh tranh, đạt được tốc độ tăng trưởng và phát triển bền vững, đồng thời đóng góp cho
sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước
1.2.2 Thẩm định cho vay ngắn hạn đối với DNNVV của các NHTM
1.2.2.1 Khái niệm về thẩm định cho vay ngắn hạn
Thẩm định tín dụng là quá trình xem xét, phân tích các tài liệu, các thông tin cần thiết về khách hàng có nhu cầu tín dụng mà ngân hàng thu thập được, để từ đó làm căn cứ quyết định trước khi ngân hàng cho khách hàng vay một giới hạn cho phép
Như vậy, thẩm định tín dụng phải tuân theo một quy trình nhất định, đòi hỏi cán bộ thẩm định phải có sự hội tụ các kiến thức sâu rộng như: Kiến thức về kế toán, quản trị, kiến thức về kinh tế, xã hội, các kiến thức về ngành nghề có liên quan, các thông tin thị trường, các thông tin về tài sản, công nghệ kỹ thuật và máy móc, có khả năng nắm bắt được tâm lý của khách hàng để phán đoán… Sau cùng để thẩm định có kết quả tốt, cán bộ thẩm định cần đạt ra các câu hỏi và tự trả lời như: Khách hàng có nhu cầu và mong muốn vay vốn, hoàn trả vốn thực sự hay không? Hoặc khách hàng liệu có đủ khả năng trả nợ hay không? hay khách hàng có ý định thực hiện nghĩa vụ vay và trả nợ trong suốt thời gian vay hay không, hay là có ý định đảo nợ… Những câu hỏi và tự trả lời này của cán bộ thẩm định có vai trò rất lớn trong việc đưa ra quyết định có nên tài trợ tín dụng cho khách hàng hay không
1.2.2.2 Mục đích của thẩm định cho vay ngắn hạn
Trong xu thế hoạt động của các ngân hàng hiện đại trên thế giới thì doanh thu chủ yếu của các ngân hàng này là thu từ lĩnh vực dịch vụ, còn việc thu từ tín dụng có mức độ thấp hơn Tuy nhiên, ở Việt Nam hiện nay, nguồn thu của các NHTM vẫn chủ yếu là thu từ tín dụng nói chung (gồm tín dụng ngắn hạn và tín dụng dài hạn), đây là nguồn thu có ý nghĩa quan trọng và quyết định tới sự sinh tồn
Trang 2413
của các NHTM Việt Nam Với tầm quan trọng của tín dụng, kết hợp với nhiệm vụ bảo tồn, luân chuyển vốn cho vay lại càng có ý nghĩa và cần phải thực hiện tốt hơn Hiện nay, ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã ban hành nhiều loại luật, văn bản nhằm hạn chế rủi ro tín dụng, bảo toàn vốn, thêm vào đó có nhiều sách, kinh nghiệm của các ngân hàng đi trước…Song trên thực tế, rủi ro tín dụng vẫn xảy ra và các sai lầm vẫn lặp lại Điều này trở thành vấn đề nan dải đối với các NHTM Việc xảy ra rủi ro tín dụng nói chung và rủi ro tín dụng ngắn hạn nói riêng có rất nhiều nguyên nhân,
có thể là do yếu tố chủ quan, cũng có thể là do yếu tố khách quan, nhưng theo thống
kê xuất phát từ yếu tố chủ quan vẫn là lớn hơn, trong đó phần nhiều là do sai sót của việc thẩm định và quyết định cho vay Có nhiều trường hợp khi sau khi thẩm định xong, quyết định xong mới biết là không đúng… Vì vậy, không thể chủ quan mà phải nhận thức rõ tính phức tạp của hoạt động tín dụng, nên mỗi khi đưa ra quyết định cho vay phải có sự cân nhắc kỹ lưỡng, không thể xem xét một cách hời hợt và
dễ dàng phê duyệt Cần phải có sự lồng ghép, so sánh, đối chiếu với pháp luật, quy trình thẩm định và quy định của ngân hàng trước khi quyết định cấp tín dụng Đây
là vấn đề cốt lõi để đảm bảo hiệu quả đồng vốn cho vay Do đó, mục đích của thẩm định tín dụng nói chung và thẩm định tín dụng ngắn hạn nói riêng là đánh giá một cách chính xác và trung thực khả năng trả nợ của khách hàng để làm căn cứ cho vay, cụ thể như:
- Giúp ngân hàng đánh giá được mức độ tin cậy của phương án sản xuất hoặc
dự án đầu tư mà khách hàng đã lập và nộp cho ngân hàng khi làm thủ tục vay vốn
- Phân tích và đánh giá được mức độ rủi ro có thể xảy đến với ngân hàng khi chấp nhận cho vay
Mặt khác, việc thẩm định tín dụng còn giúp cho việc xây dựng một chính sách khách hàng đúng đắn và hợp lý hơn, giúp ngân hàng và khách hàng nâng cao hiệu quả và mở rộng hoạt động kinh doanh
1.2.2.3 Phương pháp thẩm định cho vay ngắn hạn
Lựa chọn phương pháp thẩm định tín dụng ngắn hạn là việc làm đầu tiên trong công tác thẩm định tín dụng ngắn hạn đối với các DNNVV của ngân hàng
Trang 2514
Nếu ngân hàng lựa chọn phương pháp thẩm định không hợp lý, phù hợp với điều kiện thực tế của ngân hàng, thì sẽ làm giảm kết quả và chất lượng của công tác thẩm định tín dụng ngắn hạn của ngân hàng Ngược lại, nếu một phương pháp thẩm định phù hợp và hợp lý sẽ làm tăng kết quả và hiệu quả của công tác thẩm định tín dụng ngắn hạn Hiện nay, các NHTM khi thực hiện thẩm định tín dụng nói chung và tín dụng ngắn hạn nói riêng thường áp dụng cả hai phương pháp thẩm định: Phương pháp định tính và phương pháp định lượng
Phương pháp định tính là phương pháp mà kết quả được xác định trên cảm nhận định tính của cán bộ thẩm định
Phương pháp định lượng là phương pháp đánh giá qua hệ thống chỉ số tài chính, hay phân tích độ nhạy
1.2.2.4 Quy trình thẩm định cho vay ngắn hạn:
Quy trình cho vay bắt đầu từ khi tiếp nhận giấy đề nghị vay vốn của khách hàng đến khi thanh toán hết nợ gốc, lãi, phí và thanh lý hợp đồng tín dụng Quy trình cho vay được thực hiện theo trình tự sau:
- Thẩm định trước khi cho vay;
- Kiểm tra, giám sát trong khi cho vay;
- Kiểm tra, giám sát, thu hồi, xử lý nợ sau khi cho vay
Trình tự trên được thực hiện theo các bước:
- Bước 1 : Tiếp nhận, tư vấn, hướng dẫn khách hàng lập hồ sơ vay vốn
- Bước 2: Thẩm định các điều kiện vay vốn
- Bước 3: Xét duyệt cho vay
- Bước 4: Hoàn thiện hồ sơ và ký kết hợp đồng ( tín dụng, bảo đảm tiền vay)
- Bước 5: Kiểm tra, kiểm soát hồ sơ và giải ngân
- Bước 6: Thu hồi nợ gốc, lãi, phí và xử lý các phát sinh
- Bước 7: Thanh lý hợp đồng tín dụng và giải chấp tài sản bảo đảm
1.2.2.5 Nội dung thẩm định cho vay ngắn hạn
Nội dung của công tác thẩm định trước cho vay của ngân hàng cho DNNVV thường được tập trung vào các nội dung sau:
Trang 26tố rất quan trọng trong việc đánh giá khả năng trả nợ của khách hàng khi vay vốn và cũng là yếu tố rất quan trọng để thực hiện tốt các yêu cầu của nguyên tắc bảo đảm
an toàn tín dụng Do đó, những khách hàng không có hoặc không có đủ năng lực pháp lý thì sẽ không được ngân hàng thiết lập quan hệ tín dụng và cho vay Để đánh giá về năng lực pháp lý của khách hàng vay thì yêu cầu đặt ra đối với bên cho vay là phải có những kiến thức và am hiểu nhất định về pháp luật
Năng lực pháp lý của các DNNVV được thể hiện ở tư cách pháp nhân của chính họ Việc ngân hàng thẩm định tư cách pháp lý của các DNNVV chủ yếu dựa vào các tài liệu sau: Quyết định thành lập doanh nghiệp, giấy phép kinh doanh, mã số thuế, trụ sở của doanh nghiệp, giấy đăng ký mẫu dấu, tên và giấy
tờ liên quan đến người đại diện hợp pháp của doanh nghiệp… Theo luật doanh nghiệp thì các doanh nghiệp nói chung (trừ doanh nghiệp tư nhân) có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp giấy phép đăng ký kinh doanh Còn các doanh nghiệp tư nhân thì có tư cách pháp nhân kể từ ngày cấp giấy chứng nhận kinh doanh và chủ doanh nghiệp tư nhân có đầy đủ năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự Việc thẩm định về mặt pháp lý phải thoả mãn được một số điểm sau:
- Chức năng nhiệm vụ kinh doanh của doanh nghiệp có phù hợp với giấy phép kinh doanh mà doanh nghiệp đã đăng ký hay không
Trang 2716
- Vốn pháp định của doanh nghiệp từ nguồn nào mà có, vốn đó có đủ bằng tổng số vốn cần thiết để thành lập kinh doanh ngành đó không
- Thời gian hoạt động của doanh nghiệp là bao lâu
- Ngoài ra cần xem tính chân thực và mức độ tin cậy của bộ hồ sơ và các giấy tờ khác mà khách hàng lập trước khi đề nghị vay vốn…
Việc thẩm định tư cách pháp lý của khách hàng là công việc đầu tiên của công tác thẩm định, công việc này không khó, vì tất cả các điều cần thẩm định ở hết trong các giấy tờ, hồ sơ mà khách hàng cung cấp Tuy nhiên, nếu các ngân hàng không cẩn thận và chủ quan trong công tác thẩm định này sẽ gây ra nhiều rủi ro đối với ngân hàng trong quá trình thu hồi nợ, đặc biệt là trong trường hợp khách hàng không hoàn trả nợ, khi đó ngân hàng cần sự can thiệp của pháp luật
(2) Thẩm định mục đích sử dụng vốn vay
Mục đích sử dụng vốn là phương án sản xuất, kinh doanh không trái với các quy định của pháp luật mà doanh nghiệp trình lên ngân hàng xin cấp vốn, khi ngân hàng chấp nhận cho vay thì doanh nghiệp được sử dụng nhằm đạt được mục đích đó Trước khi xem xét cấp tín dụng cho khách hàng, ngân hàng luôn mong muốn là cấp tín dụng cho khách hàng sử dụng đúng mục đích, do đó ngân hàng thường thẩm định rất kỹ về mục đích sử dụng vốn của khách hàng
Vì, khi khách hàng được ngân hàng tài trợ vốn, khách hàng sử dụng sai mục đích sẽ dẫn đến toàn bộ những nhận định, phân tích đánh giá… của ngân hàng
về mục đích vay vốn của khách hàng đều không có ý nghĩa, mặt khác khi khách hàng sử dụng vốn không đúng với mục đích, điều đó sẽ làm tăng tính rủi ro trong việc trả nợ của khách hàng Vì vậy, ngoài việc thẩm định mục đích vay vốn của khách hàng khi đề nghị vay vốn, mà ngay cả sau khi ngân hàng giải ngân cho khách hàng các ngân hàng vẫn phải theo dõi, kiểm tra xem khách hàng có sử dụng đúng mục đích mà khách hàng đã cam kết hay không Một đề nghị vay mà mục đích sử dụng không được ngân hàng chấp nhận thì dù khách hàng có tài sản bảo đảm, có khả năng trả nợ lớn, thì ngân hàng cũng không chấp nhận cấp tín dụng
Trang 2817
Mục đích sử dụng tiền vay của khách hàng thường được thể hiện rõ trong đơn xin vay vốn, trong kế hoạch sản xuất kinh doanh, phương án sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Do đó, trước khi tiến hành cấp tín dụng, các ngân hàng sẽ tiến hành thẩm định xem mục đích sử dụng vốn vay của khách hàng có hợp pháp hay không, có phù hợp với giấy phép đăng ký kinh doanh mà doanh nghiệp đã đăng
ký hay không
(3) Thẩm định kế hoạch và phương án sản xuất kinh doanh
Hàng năm, các DNNVV thường xây dựng các phương án sản xuất, kinh doanh cho doanh nghiệp của mình Trong phương án sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp cần phải chỉ rõ: Tình hình nhu cầu của thị trường; dự kiến doanh thu; chi phí; lợi nhuận dự kiến ; đánh giá nguồn trả nợ và khả năng hoàn trả gốc và lãi Thông thường các phương án sản xuất, kinh doanh hiệu quả và phù hợp với giấy phép kinh doanh của doanh nghiệp, phương án sản xuất kinh doanh phải có độ tin cậy, thì sẽ được ngân hàng chấp nhận cấp vốn, còn các phương án kém khả thi, độ tin cậy nhỏ sẽ bị ngân hàng từ chối
Một phương án được đánh giá là khả thi khi phương án đó có mức độ rủi ro thấp, các thông tin hoàn toàn minh bạch và có thể kiểm chứng được, các lượng về chi phí, lợi nhuận gộp, lợi nhuận thuần phải đều dương… Kết quả của thẩm định phương án sản xuất kinh doanh là đánh giá một cách chính xác và trung thực tính khả thi của phương án sản xuất kinh doanh, qua đó, kết luận được khả năng thu hồi vốn khi cho vay để thực hiện phương án sản xuất kinh doanh đó
(4) Thẩm định về khả năng tài chính
Tình hình tài chính của các DN thường được thể hiện qua các tài liệu như: Bảng cân đối kế toán, Báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh, Báo cáo lưu chuyển tiền tệ, Thuyết minh báo cáo tài chính Các tài liệu này thể hiện rất rõ tình hình tài chính, kết quả hoạt động kinh doanh, trình độ sử dụng vốn và những triển vọng kinh tế, tài chính của doanh nghiệp DN có khả năng tài chính đảm bảo trả nợ trong thời gian cam kết là một trong những điều kiện tiên quyết để xem xét cho khách hàng vay Điều kiện này đặt ra vừa tốt cho cả khách hàng và ngân hàng
Trang 2918
Đối với doanh nghiệp, khi có tình hình tài chính tốt sẽ có thuận lợi trong việc thiết lập quan hệ tín dụng với ngân hàng, vì nó thể hiện giá trị thực và kết quả hoạt động kinh doanh tốt của DN Mặt khác, khi tài chính của DN vững mạnh sẽ góp phần vào việc đảm bảo cho các khoản vay trong trường hợp doanh nghiệp không hoàn trả nợ được cho ngân hàng Do đó, các ngân hàng thường xuyên quan tâm đến tình hình tài chính của DN khi vay tiền Thông thường khi thẩm định tài chính của
DN, các ngân hàng thường tập trung tính một số chỉ tiêu đo lường sau:
* Khả năng thanh toán ngắn hạn của doanh nghiệp
Chỉ số này >1 là tỷ lệ an toàn cho thấy tình hình thanh khoản của DN là tốt DN đảm bảo khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn trong ngắn hạn Chỉ số <1 phản ánh khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn trong ngắn hạn của DN không được đảm bảo, tình hình thanh khoản không tốt
* Khả năng thanh toán tức thời của doanh nghiệp
Chỉ số này phản ánh khả năng ứng phó nhanh của DN trước những khoản nợ ngắn hạn Chỉ số này >0,5 cho thấy khả năng thanh toán của doanh nghiệp rất cao, doanh nghiệp sẵn sàng để thanh toán ngay lập tức khoản nợ khi đến hạn Nếu tỷ lệ này quá cao lại là điều không tốt vì nó thể hiện việc quay vòng vốn chậm, hiệu quả sử dụng vốn không cao
* Hệ số nợ: đo lường mức độ nợ của DN so với tổng tài sản:
Trang 30và mức độ rủi ro thấp, theo chuẩn mực thì tỷ lệ này ít nhất là 8%
* Hệ số nợ vay ngắn hạn: phản ánh nợ vay ngắn hạn tham gia hình thành nên
tài sản ngắn hạn
x 100%
Hệ số này thông thường phải <1, trường hợp = 1 chứng tỏ tài sản được hình thành 100% vốn vay, trường hợp >1 rất nguy hiểm, chứng tỏ một phần vốn vay ngắn hạn
đã sử dụng vào đầu tư tài sản cố định
* Mức sinh lời trên tổng vốn sử dụng(ROA)
=
Trang 3120
Tỷ số này đo lường mức độ tạo lợi nhuận từ vốn chủ sở hữu Tỷ số này được dùng như một thước đo hiệu quả đầu tư nếu đứng trên quan điểm của các cổ đông, và được so sánh với mức sinh lời chung về quản lý vốn Tỷ số này càng cao càng tốt Ngoài ra, có thể phân tích thêm một số chỉ tiêu tài chính khác để nắm rõ hơn về tình hình hoạt động của doanh nghiệp
Do vậy, muốn thẩm định tốt được tình hình tài chính của doanh nghiệp, cán
bộ thẩm định cần phải nắm chắc được nghiệp vụ kế toán doanh nghiệp, tài chính doanh nghiệp, có như vậy thì mới đánh giá tốt được tình hình tài chính hiện tại và
có thể dự đoán được xu hướng tài chính của doanh nghiệp trong tương lai
(5) Thẩm định các phương pháp đảm bảo tín dụng
Mặc dù đã thẩm định tất cả các điều kiện ở trên nhằm hạn chế tới mức tối đa rủi ro có thể xẩy ra khi ngân hàng chấp nhận cấp tín dụng cho DN Tuy nhiên, để đảm bảo thêm cho khoản tín dụng mà ngân hàng cấp cho doanh nghiệp, hay ngân hàng muốn thiết lập cơ sở pháp lý cho nguồn thu thứ hai khi mà nguồn thu ban đầu
dự kiến không thực hiện được, đồng thời thúc đẩy khách hàng vay có trách nhiệm trong việc sử dụng vốn vay Mặt khác, khi ngân hàng mở rộng quy mô hoạt động kinh doanh thì đảm bảo tiền vay là điều cần thiết Trong hoạt động kinh doanh tín dụng, vai trò của đảm bảo tiền vay sẽ chẳng bao giờ mất đi cho nên dù bất kỳ ở đâu, trong điều kiện nào ngân hàng cũng nắm lấy đảm bảo nhằm tránh sự đổ bể có thể xảy ra đối với khách hàng vay vốn
Khi cán bộ thẩm định các phương án bảo đảm tín dụng cần phải trả trả lời được một số câu hỏi sau:
- Tài sản bảo đảm có thuộc quyền sở hữu hợp pháp của khách hàng và được thể hiện trên các giấy tờ sở hữu do cơ quan có thẩm quyền cấp không?
- Tài sản bảo đảm hiện có tranh chấp hay không, có nằm trong vùng quy hoạch hay không ?
- Giá trị của tài sản bảo đảm có hoàn toàn xác định và có giá trị ổn định hợp
lý trong nhiều năm để dự phòng mất giá không?
Trang 3221
- Tài sản dùng để bảo đảm có dễ dàng chuyển nhượng, không bị ép giá ? Mặt khác, tài sản bảo đảm có thị trường để ngân hàng phát mại khi cần sẽ giúp cho ngân hàng thu hồi vốn nhanh không?…
Việc bảo đảm tín dụng về mặt hình thức là sự cam kết của khách hàng vay vốn đối với ngân hàng về việc thế chấp, cầm cố, bảo lãnh được thể hiện bằng văn bản Do vậy, ngân hàng cần phải thẩm định cam kết đó có đáng tin cậy không, bên cạnh đó ngân hàng cần phải giữ lấy các giấy tờ sử hữu tài sản và quản lý chặt chẽ để phòng mọi bất chắc có thể xảy đến
Tuy nhiên, không phải khách hàng nào khi được ngân hàng cấp tín dụng đều cũng phải có tài sản bảo đảm, có những doanh nghiệp đã gây dựng được uy tín, niềm tin đối với ngân hàng, thì các ngân hàng cho vay sẽ không chú trọng đến việc phải có tài sản bảo đảm Tuy nhiên, dù ngân hàng có thẩm định kỹ càng các yếu tố ở trên, có tài sản bảo đảm cũng không có nghĩa là khoản tài trợ của ngân hàng cho khách hàng
là hết rủi ro, vì nó còn phụ thuộc vào các yếu tố khác như: Cơ chế, chính sách, môi trường kinh tế, chính trị, xã hội…
1.3 Chất lượng thẩm định cho vay ngắn hạn và sự cần thiết nâng cao chất lượng thẩm định cho vay ngắn hạn đối với DNNVV
1.3.1 Chất lượng thẩm định tín dụng ngắn hạn
Chất lượng thẩm định tín dụng là một khái niệm trìu tượng, do đó mỗi người tiếp cận ở góc độ khác nhau, sẽ đưa được ra những quan điểm khác nhau Hiện nay, chưa có một khái niệm, một quan điểm chuẩn nào về chất lượng thẩm định tín dụng ngắn hạn Qua nghiên cứu, tác giả đưa ra quan điểm về chất lượng thẩm định tín dụng ngắn hạn như sau:
“Chất lượng thẩm định tín dụng ngắn hạn thể hiện mức độ tin cậy và phù hợp trong việc lựa chọn, áp dụng các phương pháp, quy trình, nội dung và tổ chức thực hiện thẩm định, nhằm đưa ra quyết định cấp tín dụng ngắn hạn một cách chính xác của ngân hàng với thời gian ngắn nhất và chi phí thấp nhất, vừa thoả mãn nhu cầu tín dụng ngắn hạn của các DNNVV vừa tối đa hoá lợi ích của ngân hàng
Trang 3322
Chất lượng thẩm định còn là sự phù hợp giữa kết quả tính toán và kết quả thực
tế khi thực hiện dự án và phương án sản xuất kinh doanh Như vậy, các yếu tố này sẽ tạo nên một kết quả thẩm định có tính khoa học và thực tiễn dù người thẩm định đứng
ở góc độ nào nghiên cứu, thì cũng có kết luận tương tự nhau
1.3.2 Sự cần thiết nâng cao chất lượng thẩm định cho vay ngắn hạn đối với DNNVV:
1.3.2.1 Đối với ngân hàng
Nâng cao chất lượng thẩm định cho vay đối với DNNVV làm tăng khả năng cung cấp các dịch vụ ngân hàng của các NHTM, do hoạt động cho vay của ngân hàng
có khả năng tạo thêm nguồn vốn từ việc tăng vòng quay vốn tín dụng và thu hút thêm nhiều khách hàng Mặt khác các sản phẩm dịch vụ ngân hàng càng đa dạng, phong phú, chất lượng càng cao càng thoả mãn tốt yêu cầu của khách hàng Hơn nữa nó giúp ngân hàng xây dựng thương hiệu, hình ảnh đẹp và nâng cao uy tín của ngân hàng trên thị trường
Nâng cao chất lượng thẩm định cho vay đối với DNNVV còn giúp ngân hàng thực hiện tốt hai mục tiêu chiến lược là an toàn và lợi nhuận Và hiệu quả cho vay cao sẽ làm tăng khả năng sinh lời cho các sản phẩm và dịch vụ ngân hàng do giảm được sự chậm trễ, giảm chi phí nghiệp vụ, chi phí quản lý và các chi phí thiệt hại do không thu hồi được vốn Mặt khác nâng cao chất lượng thẩm định cho vay các DNNVV còn giúp ngân hàng mở rộng thị phần hoạt động, nâng cao hiệu quả kinh doanh và đem lại lợi nhuận lớn cho ngân hàng do
số lượng các DNNVV trong nền kinh tế là rất lớn và có xu hướng ngày càng
mở rộng
1.3.2.2 Đối với các DNNVV
Khi chất lượng thẩm định cho vay ngắn hạn được nâng cao tạo điều kiện để các doanh nghiệp có những khoản vốn vay từ ngân hàng với thủ tục đơn giản, nhanh gọn giúp doanh nghiệp tranh thủ được thời cơ, mở rộng sản xuất kinh doanh, gia tăng lợi nhuận
Trang 3423
Nâng cao chất lượng thẩm định cho vay vốn góp phần thực hiện tốt các mục tiêu của chính sách tiền tệ là ổn định giá trị tiền tệ, kiềm chế lạm phát, tăng trưởng kinh tế và tạo công ăn việc làm
Với những lợi ích trên việc nâng cao chất lượng thẩm định cho vay vốn đối với DNNVV là thật sự cần thiết cho sự tồn tại và phát triển của ngân hàng cũng như của các doanh nghiệp nói chung và các DNNVV nói riêng trong nền kinh tế
1.3.3 Một số tiêu chí đo lường chất lượng thẩm định cho vay ngắn hạn
Để thẩm định tín dụng ngắn hạn đối với DNNVV đạt chất lượng cao, thì tất cả các khâu từ xây dựng quy trình thẩm định, tổ chức quản lý, cung cấp trang thiết bị, thu thập các thông tin, thực hiện các nội dung thẩm định, theo dõi các kết quả thẩm định
và báo cáo thẩm định phải được tiến hành một cách nghiêm túc và có chất lượng
Tuy nhiên, việc đánh giá chất lượng thẩm định tín dụng ngắn hạn thường mang yếu tố định tính và phụ thuộc rất nhiều vào chủ quan của người đánh giá Do
đó, để có căn cứ đánh giá chất lượng thẩm định tín dụng ngắn hạn nên xây dựng
một hệ thống các “tiêu chí” và lượng hoá nó để đánh giá
Bảng 1.2: Một số tiêu chí đo lường chất lượng thẩm định cho vay
Nhóm tiêu chí liên quan đến việc xây dựng, tuân thủ quy trình và sự phù hợp trong tổ chức, quản lý hoạt động thẩm định
Vượt quá thời gian quy định ( lớn hơn 5 ngày làm việc)
4 Doanh nghiệp có mất
phí thẩm định không? Có Không
Trang 35Chỉ tuân thủ một số nội dung quan trọng
Không tuân thủ, làm theo thói quen
Có quy định nhƣng không
cụ thể, rõ ràng
Không có quy định
Nhóm tiêu chí về thông tin phục vụ cho quá trình thẩm định
8
Thông tin phục vụ cho
công tác thẩm định tín
dụng cho vay có đầy
đủ và tin cậy không?
Thông tín đáng tin cậy,
có căn cứ để kiểm chứng
Một số thông tin đáng tin cậy, một số thông tin không kiểm chứng đƣợc
Phần lớn thông tin chƣa đƣợc kiểm chứng
Có một phần thông tin có một nguồn cung cấp
Chỉ có doanh nghiệp cung cấp
Nhóm tiêu chí liên quan đến thực hiện nội dung thẩm định
rủi ro có thể xảy ra thuyết phục Đầy đủ, một số rủi ro chủ yếu Chỉ đánh giá hình thức Không đánh giá
Nhóm tiêu chí phản ánh sự phù hợp của kết quả thẩm định
Từ 26% đến 50%
Từ 51% đến 75%
Từ 75% đến 100%
Trang 36Từ 6% đến 10%
Từ 11% đến 20% Trên 20%
Nhóm tiêu chí về năng lực của cán bộ thẩm định
Từ 26% đến 50%
Từ 51% đến 75%
Từ 75% đến 100%
Từ 26% đến 50%
Từ 51% đến 75%
Từ 75% đến 100%
Từ 51% đến 100%
Trong các nhóm chỉ tiêu nêu trên thì Nợ cần chú ý, Nợ xấu được phân chia theo Quyết định 493/QĐ-NHNN ngày 22/4/2005 và quyết định số 18/2007/QĐ-NHNN ngày 25/4/2007 của Thống đốc ngân hàng Nhà nước Việt Nam
1.3.4 Một số nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng thẩm định cho vay ngắn hạn đối với DNNVV
Chất lượng thẩm định tín dụng nói chung và chất lượng thẩm định tín dụng ngắn hạn đối với các DNNVV nói riêng chịu ảnh hưởng bởi nhiều nhân tố, các nhân
tố này có thể ảnh hưởng trực tiếp hoặc ảnh hưởng gián tiếp đến kết quả và chất lượng thẩm định tín dụng ngắn hạn của ngân hàng
1.3.4.1 Nhân tố khách quan:
- Môi trường kinh tế: Sự ổn định hay bất ổn của nền kinh tế luôn ảnh hưởng đến sức
mạnh tài chính của doanh nghiệp, vì vậy cũng ảnh hưởng gián tiếp đến hoạt động tín dụng của Ngân hàng Nền kinh tế ổn định, lạm phát ở mức vừa phải sẽ kích thích tăng trưởng và đầu tư, tạo môi trường kinh doanh tốt cho các doanh nghiệp đặc biệt
Trang 3726
là DNNVV, tạo cho họ có nhiều cơ hội đầu tư phát triển sản xuất- kinh doanh và từ
đó Ngân hàng có điều kiện thuận lợi để phát triển tín dụng Tuy nhiên, hiện nay thị trường tài chính Việt nam còn nhiều khiếm khuyết, phát triển chưa đồng bộ, có nhiều lỗ hổng như: thông tin còn chậm, chưa đầy đủ và thiếu chính xác; Công tác nghiên cứu và dự báo thị trường còn nhiều yếu kém, việc minh bạch hóa hoạt động
và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp còn hạn chế…Những điều này ảnh hưởng đến chất lượng thẩm định cho vay ngắn hạn đối với DNNVV, cụ thể là làm cho việc phân tích, đánh giá doanh nghiệp không chính xác, việc dự báo thị trường không sát thực do thiếu thông tin, số liệu
- Môi trường pháp lý: hệ thống Pháp luật, cơ chế, chính sách của Nhà nước, đây là
hành lang pháp lý quan trọng, định hướng cho sự tồn tại và phát triển của các doanh nghiệp nói chung và các NHTM nói riêng Hệ thống Pháp luật và các văn bản đầy
đủ, đồng bộ, ổn định, phù hợp với thực tiễn và xu thế phát triển, sẽ giúp doanh nghiệp tổ chức và đưa ra những phương án sản xuất kinh doanh khả thi, có hiệu quả, doanh nghiệp yên tâm hoạt động kinh doanh, khi đó giúp cho Ngân hàng đưa
ra quyết định tài trợ vốn cho doanh nghiệp một cách chính xác, có hiệu quả Những
cơ chế, chính sách vĩ mô của Nhà nước sẽ tạo điều kiện hay cản trở việc phát triển các doanh nghiệp hoạt động trong một ngành, một lĩnh vực nào đó, ảnh hưởng rất lớn đến các doanh nghiệp vì đây là đối tượng nhạy cảm với bất kỳ sự thay đổi tốt hay xấu của các chính sách vĩ mô Tác động tới doanh nghiệp cũng chính là tác động tới Ngân hàng Do đó, đây cũng là nguyên nhân ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng tín dụng của Ngân hàng
- Môi trường tự nhiên: Sự biến động của môi trường tự nhiên như: bão, lũ lụt, hạn
hán…cũng ảnh hưởng không nhỏ đến kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp và đồng thời ảnh hưởng đến chất lượng thẩm định cho vay ngắn hạn đối với DNNVV của ngân hàng
- Môi trường chính trị- xã hội: Một quốc gia ổn định về chính trị- xã hội sẽ tạo điều
kiện thu hút vốn đầu tư của nhà đầu tư trong và ngoài nước Từ đó tạo điều kiện cho
Trang 3827
hoạt động huy động vốn cũng như tín dụng, phát triển sản phẩm, dịch vụ ngân hàng, góp phần nâng cao chất lượng tín dụng
- Nhân tố thuộc về khách hàng: Xuất phát từ quan hệ tín dụng thì DNNVV là người
nhận tiền vay và là người trực tiếp sử dụng tiền vay của Ngân hàng vào mục đích sản xuất kinh doanh của mình Do vậy chất lượng thẩm định cho vay phụ thuộc vào: năng lực quản lý, điều hành; năng lực tài chính; tính khả thi, hiệu quả của phương
án vay vốn ngân hàng; khả năng bảo đảm cho khoản vay tại Ngân hàng; đạo đức kinh doanh của doanh nghiệp
- Các nhân tố khách quan khác: ngoài các nhân tố khách quan trên, chất lượng tín
dụng đối với DNNVV còn chịu ảnh hưởng của các nhân tố khác như: khủng hoảng kinh tế thế giới và khu vực, lạm phát và suy yếu của các nền kinh tế lớn, chiến tranh, bạo loạn
1.3.4.1 Nhân tố chủ quan
- Chấp hành quy trình tín dụng: quy trình tín dụng có ý nghĩa rất quan trọng trong
việc hạn chế các sai sót khi cho vay và giảm thiểu khả năng xảy ra rủi ro Quy trình
sẽ định rõ từng khâu công việc và trách nhiệm của từng cán bộ, từng bộ phận có liên quan bắt đầu từ khâu điều tra, lập hồ sơ, thẩm định xét duyệt cho vay, phát tiền vay, kiểm tra sử dụng vốn vay, thu hồi nợ gốc, lãi…Do đó đòi hỏi phải chấp hành đúng quy trình tín dụng, không thể làm tắt bất kỳ bước nào, khâu nào
- Trình độ, năng lực và ý thức của cán bộ thẩm định cho vay: Chất lượng thẩm định
tín dụng ngắn hạn của các DNVVN phụ thuộc rất lớn vào người thẩm định Vì cán
bộ thẩm định cho vay là người trực tiếp thu thập, khai thác và xử lý thông tin của khách hàng để từ đó phân tích và tính toán các chỉ tiêu tài chính, xác định hiệu quả kinh doanh của các phương án sản xuất kinh doanh mà doanh nghiệp muốn ngân hàng tài trợ vốn Ngoài ra, cán bộ tín dụng còn thẩm định tư cách pháp nhân, năng lực tài chính… của khách hàng để báo cáo, đề xuất với lãnh đạo xem xét và ra quyết định có cấp tín dụng hay không Như vậy, việc phát triển, dự báo các thông tin trong tương lai, hay việc thực hiện đúng hay không đúng quy trình tín dụng, nội dung thẩm định… nói một cách khác chất lượng thẩm định cho vay có chất lượng hay
Trang 3928
không phụ thuộc rất nhiều vào năng lực, trình độ chuyên môn và ý thức của cán bộ thẩm định Nếu một cán bộ thẩm định có trình độ chuyên môn giỏi, có nhiều kinh nghiệm thực tế, am hiểu nhiều về lĩnh vực thẩm định và có ý thức trong công việc thẩm định thì sẽ làm cho chất lượng thẩm định tín dụng ngắn hạn được nâng cao và ngược lại Một ngân hàng mà đội ngũ cán bộ có đạo đức nghề nghiệp đồng thời giỏi chuyên môn, nghiệp vụ chắc chắn ngân hàng đó sẽ có ưu thế hơn trong mở rộng và
nâng cao chất lượng tín dụng
- Trình độ tổ chức quản lý của ngân hàng: Việc thẩm định cho vay ngắn hạn là một
quá trình gồm nhiều hoạt động có liên quan mật thiết với nhau Vì vậy, nó cần được
tổ chức một cách hợp lý cả về cơ cấu và nhân sự Nếu không có sự phân công công việc và trách nhiệm một cách rõ ràng giữa các thành viên sẽ dẫn đến công việc chồng chéo, làm tăng thời gian, chi phí, và làm giảm tính linh động, sáng tạo của cán bộ thẩm định Mặt khác, nó còn xảy ra hiện tượng trốn tránh, đùn đẩy trách
nhiệm giữa cán bộ tín dụng, cán bộ thẩm định với nhau
- Nguồn thông tin mà ngân hàng khai thác và sử dụng khi thẩm định để cho vay:
Để công tác thẩm định cho vay ngắn hạn đạt chất lượng tốt thì yêu cầu đặt ra
là phải có được nguồn thông tin và việc xử lý các nguồn thông tin đó Trong lĩnh vực ngân hàng, với sự cạnh tranh gay gắt giữa các tổ chức tín dụng như hiện nay, việc cấp tín dụng và đặc biệt là tín dụng ngắn hạn, nếu người thẩm định càng nắm được nhiều thông tin chính xác, kịp thời bao nhiêu sẽ càng làm tăng sự chính xác trong hoạch định, dự báo trước khi quyết định cấp tín dụng, khi đó sẽ làm tăng chất lượng thẩm định tín dụng cho vay Mặt khác, khi thông tin được lấy từ nguồn kém tin cậy, không đầy đủ, chính xác và không cập nhật sẽ làm giảm chất lượng thẩm định
- Chế độ khen thưởng, kỷ luật và xử phạt của ngân hàng đối với cán bộ thực hiện công tác thẩm định: Khi chế độ khen thưởng, kỷ luật và xử phạt được cụ thể hoá, sẽ
góp phần làm cho ý thức, trách nhiệm công việc của cán bộ thẩm định được nâng cao, thêm vào đó sẽ hạn chế được tính tiêu cực trong khi thẩm định, khi đó chất lượng thẩm định tín dụng ngắn hạn sẽ được nâng cao
Trang 4029
CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Khung phân tích
Sơ đồ 2.1: Sơ đồ khung phân tích
Thực trạng công tác thẩm định cho vay ngắn hạn đối với DNNVV của NHNo&PTNT tỉnh Thái Nguyên