1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Ảnh hưởng của các tỷ lệ bột cỏ Stylo Ciat 184 khác nhau đến năng suất và chất lượng của Gà thịt (Ri X Lương Phượng) nuôi trong điều kiện bán chăn thả tại Na Rì, Bắc Kạn

116 248 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 116
Dung lượng 1,78 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM --- DƯƠNG VIẾT PHAN ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC TỶ LỆ BỘT CỎ STYLO CIAT 184 KHÁC NHAU ĐẾN NĂNG SU

Trang 1

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

-

DƯƠNG VIẾT PHAN

ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC TỶ LỆ BỘT CỎ STYLO CIAT

184 KHÁC NHAU ĐẾN NĂNG SUẤT VÀ CHẤT LƯỢNG CỦA GÀ THỊT (RI X LƯƠNG PHƯỢNG) NUÔI TRONG ĐIỀU KIỆN BÁN CHĂN THẢ TẠI NA RÌ - BẮC KẠN

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP

THÁI NGUYÊN – 2013

Trang 2

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

-

DƯƠNG VIẾT PHAN

ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC TỶ LỆ BỘT CỎ STYLO CIAT

184 KHÁC NHAU ĐẾN NĂNG SUẤT VÀ CHẤT LƯỢNG CỦA GÀ THỊT (RI X LƯƠNG PHƯỢNG) NUÔI TRONG ĐIỀU KIỆN BÁN CHĂN THẢ TẠI NA RÌ - BẮC KẠN

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP

CHUYÊN NGÀNH: CHĂN NUÔI

Mã số: 60 62 01 05

Người hướng dẫn khoa học:

PGS.TS PHAN ĐÌNH THẮM

THÁI NGUYÊN – 2013

Trang 3

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn này là hoàn toàn trung thực và chưa từng được ai công bố, sử dụng để bảo vệ một học vị nào Các thông tin, tài liệu trích dẫn trong luận văn này đã được ghi rõ nguồn gốc

Tác giả

Dương Viết Phan

Trang 4

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

LỜI CÁM ƠN

Hoàn thành luận văn này, ngoài sự nỗ lực của bản thân, tôi luôn nhận được

sự giúp đỡ quý báu của các thầy, cô giáo và cán bộ môn Cơ sở, các thầy cô giáo trong Khoa Chăn nuôi Thú y, Khoa Sau Đại học, Ban giám hiệu Nhà trường và địa phương Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ quý báu này

Đặc biệt tôi xin chân thành cám ơn sự hướng dẫn, giúp đỡ nhiệt tình của thầy

giáo hướng dẫn: PGS.TS Phan Đình Thắm đã đầu tư nhiều công sức và thời gian

hướng dẫn tôi trong quá trình thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đối với sự quan tâm giúp đỡ, động viên, an ủi của vợ và gia đình cùng các bạn bè đồng nghiệp đã chia sẻ cùng tôi trong thời gian hoàn thành luận văn này

Tôi xin trân trọng gửi tới các thầy cô giáo, các quý vị trong Hội đồng chấm luận văn lời cảm ơn chân thành và lời chúc tốt đẹp nhất

Thái Nguyên, tháng 9 năm 2013

Tác giả

Dương Viết Phan

Trang 5

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CÁM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vi

DANH MỤC CÁC BẢNG vii

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ VÀ ĐỒ THỊ viii

MỞ ĐẦU 1

1 Đặt vấn đề 1

2 Mục tiêu đề tài 1

3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 2

3.1 Ý nghĩa khoa học 2

3.2 Ý nghĩa thực tiễn 2

Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

1.1 Cơ sở khoa học của đề tài 3

1.1.1 Một số đặc điểm sinh vật học của cỏ Stylo 3

1.1.1.1 Nguồn gốc 3

1.1.1.2 Đặc điểm sinh vật học của cỏ Stylo 3

1.1.2 Bột cỏ - bột lá là một nguồn thức ăn cho vật nuôi 5

1.1.2.1 Nguồn thực vật có thể sản xuất bột lá 5

1.1.2.2 Giá trị dinh dưỡng của bột lá, bột cỏ đối với vật nuôi 6

1.1.2.3 Các hạn chế của bột lá, bột cỏ đối với vật nuôi 8

1.1.2.4 Vai trò của bột lá, bột cỏ trong sinh trưởng của gia cầm thịt 8

1.1.3 Cơ sở khoa học về khả năng sinh trưởng và cho thịt của gia cầm 10

1.1.3.1 Nguồn gốc và vài nét về giống gà Ri và gà Lương Phượng 10

1.1.3.2 Khả năng sinh trưởng và tiêu tốn thức ăn 11

1.1.3.3 Cơ sở khoa học về khả năng cho thịt 17

1.1.4.4 Cơ sở khoa học về tiêu tốn thức ăn 19

1.1.4 Tình hình nghiên cứu trồng, sử dụng bột cỏ trong chăn nuôi 20

Trang 6

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

1.1.4.1 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài 20

1.1.4.2 Tình hình nghiên cứu trong nước 24

Chương 2: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN CỨU 28

2.1 Đối tượng, địa điểm và phương pháp nghiêm cứu 28

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 28

2.1.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 28

2.2 Nội dung và phương pháp nghiên cứu 28

2.2.1 Nội dung nghiên cứu 28

2.2.2 Phương pháp nghiên cứu 28

2.2.2.1 Thí nghiệm A: Khảo sát ảnh hưởng của các tỷ lệ bột cỏ Stylo khác nhau trong khẩu phần ăn có cân đối năng lượng và protein đến tốc độ sinh trưởng gà thịt 28

2.2.2.2 Thí nghiệm B : Khảo sát ảnh hưởng của các tỷ lệ bột cỏ Stylo khác nhau trong khẩu phần ăn không cân đối năng lượng và protein đến tốc độ sinh trưởng gà thịt 31

2.2.2.3 Các chỉ tiêu theo dõi 33

2.3 Phương pháp xử lý số liệu 36

Chương 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 37

3.1 Ảnh hưởng của các tỷ lệ bột cỏ Stylo khác nhau trong khẩu phần ăn có cân đối năng lượng và protein đến tốc độ sinh trưởng gà thịt 37

3.1.1 Tỷ lệ nuôi sống của đàn gà thí nghiệm A qua các tuần tuổi 37

3.1.2 Khả năng sinh trưởng của đàn gà thí nghiệm A qua các tuần tuổi 39

3.1.2.1 Sinh trưởng tích luỹ của đàn gà thí nghiệm A 39

3.1.2.2 Sinh trưởng tuyệt đối của đàn gà thí nghiệm 41

3.1.2.3 Sinh trưởng tương đối của đàn gà thí nghiệm 42

3.1.3 Tiêu tốn thức ăn cho 1kg tăng khối lượng của gà thí nghiệm A 44

3.1.4 Tiêu tốn năng lượng trao đổi (ME), protein thô (CP) cho 1 kg tăng khối lượng của gà thí nghiệm A 46

3.1.5 Chỉ số sản xuất PI (Performance Index) của đàn gà thí nghiệm A 49

Trang 7

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

3.1.6 Năng suất thịt của đàn gà thí nghiệm A 50

3.1.7 Sơ bộ hạch toán kinh tế đàn gà thí nghiệm A 53

3.2 Ảnh hưởng của các tỷ lệ bột cỏ Stylo khác nhau trong khẩu phần ăn không cân đối năng lượng và protein đến tốc độ sinh trưởng gà thịt (Thí nghiệm B) 55

3.2.1 Tỷ lệ nuôi sống của đàn gà thí nghiệm B 55

3.2.2 Khả năng sinh trưởng của đàn gà thí nghiệm B qua các tuần tuổi 56

3.2.2.1 Sinh trưởng tích luỹ của đàn gà thí nghiệm B 56

3.2.2.2 Sinh trưởng tuyệt đối của đàn gà thí nghiệm B 58

3.2.2.3 Sinh trưởng tương đối của đàn gà thí nghiệm B 59

3.2.3 Tiêu tốn thức ăn cho 1kg tăng khối lượng của gà thí nghiệm B 61

3.2.4 Tiêu tốn năng lượng trao đổi (ME), protein thô (CP) cho 1 kg tăng khối lượng của gà thí nghiệm B 63

3.2.5 Chỉ số sản xuất PI (Performance Index) của đàn gà thí nghiệm B 65

3.2.6 Chất lương thịt của đàn gà thí nghiệm B 66

3.2.7 Sơ bộ hạch toán kinh tế đàn gà thí nghiệm B 67

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 68

1 Kết luận 68

2 Đề nghị 69

TÀI LIỆU THAM KHẢO 70

I Tiếng việt 70

II Tiếng Anh 74

MỘT SỐ HÌNH ẢNH MINH HỌA CHO ĐỀ TÀI 66

PHỤ LỤC KẾT QUẢ XỬ LÝ SỐ LIỆU 70

Trang 8

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

BC : Bột cỏ BCS : Bột cỏ Stylo CIAT 184

TLCN : Tỷ lệ cơ ngực TLMB : Tỷ lệ mỡ bụng TLTT : Tỷ lệ thân thịt

TN : Thí nghiệm

TT : Tuần tuổi

TN 1 : Thí nghiệm 1

TN 2 : Thí nghiệm 2 VCK : Vật chất khô

Trang 9

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Sơ đồ bố trí thí nghiệm A 29

Bảng 2.2 Thành phần và giá trị dinh dưỡng của 1kg thức ăn thí nghiệm A 30

Bảng 2.3 Khẩu phần ăn và giá trị dinh dưỡng của thức ăn thí nghiệm A 30

Bảng 2.4 Sơ đồ bố trí thí nghiệm B 31

Bảng 2.5 Thành phần và giá trị dinh dưỡng của 1kg thức ăn thí nghiệm B 32

Bảng 2.6 Khẩu phần ăn và giá trị dinh dưỡng của thức ăn thí nghiệm B 32

Bảng 3.1 Tỷ lệ nuôi sống của gà thí nghiệm A qua các tuần tuổi (%) 37

Bảng 3.2 Sinh trưởng tích luỹ của gà thí nghiệm A qua các tuần tuổi (g) 39

Bảng 3.3 Sinh trưởng tuyệt đối của đàn gà thí nghiệm A (g/con/ngày) 41

Bảng 3.4 Sinh trưởng tương đối của gà thí nghiệm A (%) 42

Bảng 3.5 Tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng của đàn gà thí nghiệm A (kg) 45

Bảng 3.6 Tiêu tốn Protein thô/kg tăng khối lượng của gà thí nghiệm A (gam) 47

Bảng 3.7 Tiêu tốn năng lượng trao đổi/kg tăng khối lượng của gà thí nghiệm A (Kcal) 47

Bảng 3.8 Chỉ số sản xuất của đàn gà thí nghiệm A 49

Bảng 3.9 Năng suất thịt của gà thí nghiệm A 51

Bảg 3.10 Sơ bộ hạch toán kinh tế nuôi gà thí nghiệm A 53

Bảng 3.11 Tỷ lệ nuôi sống của gà thí nghiệm B qua các tuần tuổi (%) 55

Bảng 3.12 Sinh trưởng tích luỹ của gà thí nghiệm B qua các tuần tuổi (g) 56

Bảng 3.13 Sinh trưởng tuyệt đối của đàn gà thí nghiệm B (g/con/ngày) 58

Bảng 3.14 Sinh trưởng tương đối của gà thí nghiệm B (%) 59

Bảng 3.15 Tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng của đàn gà thí nghiệm B (kg) 62

Bảng 3.16 Tiêu tốn Protein thô/kg tăng khối lượng của gà TN B (g) 63

Bảng 3.17 Tiêu tốn năng lượng trao đổi/kg tăng khối lượng của gà TN B (Kcal) 64

Bảng 3.18 Chỉ số sản xuất của đàn gà thí nghiệm B 65

Bảng 3.19 Năng suất thịt của gà thí nghiệm B 67

Bảng 3.20 Sơ bộ hạch toán kinh tế nuôi gà thí nghiệm B 67

Trang 10

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ VÀ ĐỒ THỊ

Hình 3.1 Đồ thị sinh trưởng tích luỹ của gà thí nghiệm A 40

Hình 3.2 Biểu đồ sinh trưởng tuyệt đối của gà thí nghiệm A 42

Hình 3.3 Biểu đồ sinh trưởng tương đối của đàn gà thí nghiệm A 43

Hình 3.4 Biểu đồ chỉ số sản xuất của đàn gà thí nghiệm A 50

Hình 3.5 Đồ thị sinh trưởng tích luỹ của gà thí nghiệm B 57

Hình 3.6 Biểu đồ sinh trưởng tuyệt đối của gà thí nghiệm B 59

Hình 3.7 Biểu đồ sinh trưởng tương đối của đàn gà thí nghiệm B 60

Hình 3.8 Biểu đồ chỉ số sản xuất của đàn gà thí nghiệm B 66

Trang 11

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

MỞ ĐẦU

1 Đặt vấn đề

Kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước đã khẳng định rằng, bột lá thực vật không chỉ có tác dụng nâng cao khả năng sinh trưởng, khả năng sản xuất của vật nuôi, mà còn góp phần hạ giá thành sản phẩm Ở nhiều nước trên thế giới việc sản xuất bột lá thực vật đã trở thành một ngành công nghiệp chế biến bột lá thực vật như: Liên Xô (cũ), Thái Lan, Ấn Độ, Trung Quốc… Qua nhiều nghiên cứu ở trên thế giới và trong nước, nhiều nhà khoa học đã kết luận rằng khi cho vật nuôi ăn bột

lá thực vật không chỉ làm cho khả năng sinh trưởng và sản xuất của vật nuôi cao hơn, mà còn làm cho mức độ an toàn thực phẩm cao hơn so với sử dụng các chế phẩm để tạo màu khác Mặc dù quan trọng như vậy, nhưng đến nay, các nghiên cứu tìm ra các loại cây thức ăn có tiềm năng để sản xuất bột lá, bột cỏ cho chăn nuôi chưa nhiều

Stylo là cây họ đậu, là loại cây thích nghi tốt với khí hậu nhiệt đới, ít sâu bệnh, có khả năng thích ứng rộng, chịu được khô hạn và ngập úng tạm thời, thích hợp với đất nghèo dinh dưỡng và chua, dễ nhân giống Cỏ được sử dụng làm nguồn thức ăn cho gia súc chất lượng cao do giàu protein (16-21%) Ngoài ra, nó còn được trồng xen với cây ăn quả, chè, cà phê để cải tạo đất, che phủ đất và chống xói mòn Đối với trâu bò, lợn thì người ta đã chế biến thành bột và sử dụng nó cho những đối tượng này Tuy nhiên, số liệu về việc nghiên cứu sản xuất và bổ sung bột cỏ Stylo cho vật nuôi hiện nay còn rất ít, và đặc biệt cho gia cầm nuôi trong điều kiện nông

hộ Xuất phát từ thực tiễn trên chúng tôi tiến hành đề tài “Ảnh hưởng của các tỷ lệ

bột cỏ Stylo CIAT 184 khác nhau đến năng suất và chất lượng của gà thịt (Ri x Lương Phượng) nuôi trong điều kiện bán chăn thả tại Na Rì - Bắc Kạn”

Trang 12

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

3.1 Ý nghĩa khoa học

- Đề tài sau khi hoàn thành sẽ có thông tin đầy đủ về ảnh hưởng của các mức bột cỏ đối với năng suất và chất lượng thịt gia cầm Đồng thời, có thêm công thức thức ăn hỗn hợp với mức bổ sung bột cỏ Stylo hợp lý trong chăn nuôi gà thịt

- Là tài liệu tham khảo có giá trị khoa học trong giảng dạy, nghiên cứu khoa học và học tập trong trường Đại học và Viện nghiên cứu

3.2 Ý nghĩa thực tiễn

Kết quả nghiên cứu sẽ cung cấp thông tin cho người chăn nuôi sử dung bột

cỏ vào khẩu phần ăn cho gà thịt thuận lợi hơn, nhằm nâng cao chất lượng thịt gà đáp ứng thị hiếu người tiêu dùng và hạ giá thành sản phẩm

Trang 13

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

Chương 1

TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Cơ sở khoa học của đề tài

1.1.1 Một số đặc điểm sinh vật học của cỏ Stylo

1.1.1.1 Nguồn gốc

Đây là loại cỏ thuộc bộ đậu, có nguồn gốc từ châu Mỹ La tinh Cỏ được trồng phổ biến ở Tây Ấn Độ, Hawaii, và một số nước châu Phi như Kenya, Uganda, Nigieria Stylosanthes phân bố tự nhiên ở Trung và Nam Mỹ, từ Brasil nhập vào Australia những năm 1930, nhưng sau chiến tranh thế giới lần thứ II mới được chú

ý đến Đây là loại cây thức ăn gia súc được phát triển đáng kể ở nhiệt đới và cận nhiệt đới, đã nhập vào nhiều nước như: Malaysia, Công Gô, Nam Trung Quốc Ở Việt Nam, cây cỏ Stylo nhập vào lần đầu vào năm 1967 từ Singapore, Australia

Các giống Stylo đang gieo trồng: Stylosanthes guianensis (common Stylo): cây lâu năm Stylosanthes hamata (Caribbcan Stylo): cây hàng năm Stylosanthes

scabra (Shrubby Stylo): cây lâu năm Stylosanthes humilis (Townsville Stylo): cây

hàng năm

1.1.1.2 Đặc điểm sinh vật học của cỏ Stylo

Stylo là cỏ lâu năm, có loại hàng năm, thân thô, đứng hoặc bò, cao tới 1m, ở khí hậu ẩm có thể tới 1,5m Có khả năng ra rễ ở thân, khi già thường chuyển màu xanh sẫm hoặc tím Bộ rễ ăn sâu dưới đất đến 70 cm Rễ phát triển cả chiều sâu lẫn chiều rộng nên có khả năng chịu hạn, chịu úng ngập, chống xói mòn rất tốt Lá chẻ

ba, dài hẹp và nhọn, đầu tày; có lông, có nhiều hoặc ít lông mềm Lá dài 2 - 3cm rộng 5 - 10mm, tỷ lệ lá/thân = 5/7 Loài nhập nội không có vòi cuốn Những chồi thẳng có đốt ngắn, lá nhiều hơn cành ngang, hoa hình bông cuốn không sát nhau, thường có 70 - 1200 chùm, trên mỗi chùm có 5 - 9 hoa Qủa đậu không có cuống, gồm 7 - 8 hạt có vỏ cứng, màu xám đen, trọng lượng 1000 hạt khoảng 5 - 6 gam Cây non mới mọc từ hạt phát triển chậm, dễ rụng lá và bị sâu hại trong 3 - 4 tháng đầu sau khi gieo Nếu gieo vào cuối mùa khô thì sau khi gieo cây non phát triển nhanh, 5 - 6 tháng cây cao 1m hoặc hơn

Trang 14

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

Cỏ Stylo là loại cây bộ đậu thích nghi tốt với khí hậu nhiệt đới Là cây có khả

năng thích nghi rộng với các vùng sinh thái, yêu cầu lượng mưa từ 1500 - 2500mm

Cỏ có thể sống được ở những vùng có lượng mưa trung bình khoảng 890 mm Tuy nhiên, với lượng mưa 650mm cây vẫn có thể sống được nhưng sinh trưởng rất kém

Độ ẩm không khí thích hợp là 70 - 80% Cỏ Stylo cũng có thể chịu được ngập tạm thời, ở những nơi quá ẩm năng suất cỏ cũng bị giảm Cỏ Stylo phát triển tốt khi nhiệt độ không khí trong khoảng 20 - 350C Nhiệt độ thích hợp cho cỏ Stylo sinh trưởng phát triển là 15,50C Khi nhiệt độ dưới 50

C và trên 400C cây phát triển kém Khi thiếu ánh sáng cỏ Stylo bị giảm năng suất Cỏ Stylo có thể mọc được trên nhiều loại đất khác nhau: chua nghèo dinh dưỡng và có thể trồng xen với các cây ăn quả, chè, cà phê Cũng như các loại cây bộ đậu khác, cỏ Stylo là nguồn thức ăn tươi xanh giầu đạm để bổ sung và nâng cao chất lượng khẩu phần thức ăn cho gia súc nhai lại

Cỏ Stylo có khả năng thích ứng rộng và dễ nhân giống, có thể vừa trồng bằng hạt, vừa trồng bằng cành giâm Cỏ Stylo phù hợp với chân ruộng cao và là loại cây chịu được khô hạn, không chịu được đất bị úng ngập Đây là loại cỏ có khả năng chịu bóng kém, vì vậy không nên trồng dưới tán các cây khác Cỏ này có thể thích nghi với nhiều loại đất Nó có thể phát triển được trên đất axít và có khả năng chịu úng tương đối tốt Cỏ có khả năng chịu giẫm đạp nên có thể dùng để chăn thả tuy nhiên chỉ ở mức chăn thả vừa phải, thường thì đậu Stylo được gieo xen với cỏ Ghinê hay Pangola để chăn thả [45]

Cỏ Stylo rất ít bị sâu bệnh và có thể phát triển trên nhiều loại đất, ngay cả ở vùng đất đồi cao Chính vì vậy, ngoài tác dụng làm nguồn thức ăn chất lượng cao cho gia súc nó còn được trồng để cải tạo đất và che phủ đất, chống xói mòn Năng suất xanh đạt 40 - 50 tấn/ha/năm Năng suất chất xanh của cỏ Stylo đạt từ 25 - 60 tấn/ha (5 - 14,5 tấn chất khô/ha/năm) Hàm lượng các chất dinh dưỡng: vật chất khô 23 - 24%, đạm thô 17 - 18%, xơ thô 28 - 31%, khoáng tổng số 8 - 10%, mỡ 1,55% Với thành phần dinh dưỡng như vậy cây Stylo là nguồn thức ăn bổ sung protein rất có giá trị cho gia súc ăn cỏ đặc biệt là có khả năng chế biến thành bột cỏ (Lê Đức Ngoan và Cs) [36]

Trang 15

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

1.1.2 Bột cỏ - bột lá là một nguồn thức ăn cho vật nuôi

1.1.2.1 Nguồn thực vật có thể sản xuất bột lá

Trong tự nhiên, nguồn thực vật để sản xuất bột cho gia súc, gia cầm rất nhiều như: lá sắn, lá Keo giậu, cỏ Stylo, bèo hoa dâu, lá và hạt cây so đũa, lá mắm, lá cây chè đại, rau cỏ…Thức ăn gia cầm, ngoài lượng ngô vàng có sẵn trong công thức, thường cần có thêm nguồn cung cấp sắc tố để làm mượt lông, vàng da, lòng đỏ trứng theo thị hiếu người tiêu dùng Tại các nước ôn đới sử dụng nguồn bột cỏ chế

biến từ cỏ alfalfa (Medicago sativa) và một số cây họ đậu khác Alfalfa là loại cỏ họ đậu (Leguminosacea), có hàm lượng caroten cao, khoảng 270 - 300 mg caroten/kg

bột cỏ, hàm lượng protein thô 17% hoặc 20%, có mùi thơm và chứa nhiều vi khoáng, vitamin Ở các nước nhiệt đới, bột cỏ thường được chế biến từ các nguồn lá

xanh khác như bột lá bình linh (Leucaena leucocephala), cỏ Stylo (Stylosanthes

gracilis)

Cỏ Stylo: Cỏ Stylo là cây họ đậu, 1 kg bột cỏ Stylo có 96 g đạm tiêu hóa,

tương đương 0,64 đơn vị thức ăn, dùng nuôi lợn rất tốt không kém cám gạo

Bèo hoa dâu: Bèo hoa dâu là cây phân xanh có đến 28 - 30% Protein trong vật chất khô, trên 3% chất béo, 10,5% chất khoáng, 6,5% tinh bột đường, còn nhiều vitamin B12, vitamin A rất cần cho gia cầm

Lá sắn: Lá sắn là nguồn nguyên liệu phong phú ở Việt Nam, có hàm lượng chất dinh dưỡng tương đối cao, giá trị protein thô chiếm 21%, chất béo 5,5%, xơ thô 21%

Lá Keo giậu: Cây Keo dậu phát triển ở hầu khắp các vùng trên nhiều loại đất khác nhau Lượng Protein thô trong lá Keo dậu khá cao 270 - 280g/kg chất khô, tỷ

lệ xơ thấp 155g/kg chất khô, nên lá Keo dậu có thể dùng làm thức ăn bổ sung protein, vitamin cho gia súc và gia cầm [42]

Cây so đũa: Là loại cây họ đậu, trồng ở nhiều nơi, hạt và lá so đũa có tỷ lệ protein cao và nhiều vitamin

Cây lá mắm: Cây mắm mọc ở vùng nước mặn, nước lợ ven biển, nhất là ở các tỉnh Nam Trung bộ và miền Nam

Trang 16

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

Cây cỏ VA06: VA06 dạng như cây trúc, thân thảo, cao lớn, họ hoà thảo, dạng bụi, mọc thẳng, năng suất cao, chất lượng tốt, hệ số tiêu hoá cao, là thức ăn tốt nhất cho các loại gia súc ăn cỏ, gia cầm, và cá trắm cỏ

Cỏ Alfalfa: Cỏ Alfalfa hay Cỏ Linh Lăng còn có tên là Mục Túc Braxin (tên khoa học là Lucern) là cây họ đậu thân thảo, có giá trị dinh dưỡng rất cao, làm thức

ăn chăn nuôi gia súc, gia cầm, thuỷ sản, được thế giới rất quan tâm nghiên cứu trên

50 nước

Cây chè đại Trichanthera Gigantea: Cây Trichanthera có nguồn gốc ở Nam

Mỹ, trồng bằng hom đạt tỷ lệ sống 90% - 95% Cây phát triển vào mùa mưa, không kén đất, có kháng thể cao chống được sâu bệnh và không bị cỏ dại lấn át Ngoài cung cấp dinh dưỡng, lá cây còn có tác dụng phòng chống bệnh đường ruột cho vật nuôi

Theo Nguyễn Đức Trân và Cs [10] cho biết: Ở vùng núi, có thể lấy lá và cả cành non các loại cây không độc, không có chất chát (trâu bò thường ăn) để phơi khô, dự trữ dành cho mùa đông hiếm rau cỏ

1.1.2.2 Giá trị dinh dưỡng của bột lá, bột cỏ đối với vật nuôi

Trong phát triển chăn nuôi, việc chọn giải quyết nguồn thức ăn để đảm bảo năng suất, chất lượng thịt, trứng và giảm giá thành sản xuất bằng cách tìm ra những giống cây bổ sung nguồn thức ăn mới phù hợp với điều kiện địa phương là vấn đề rất cần thiết

Ngày nay, ngay ở các nước phát triển, bột cỏ vẫn là thành phần không thể thiếu trong khẩu phần ăn của gia súc, gia cầm Vì bột cỏ cung cấp nhiều vitamin

tự nhiên, đặc biệt là tiền vitamin A (caroten) và sắc tố vàng Xanthophyll Vitamin

E, C và caroten là những chất chống oxi hoá, ngăn cản tích trữ cholesterol trong

máu Ngoài ra, lá xanh còn chứa nhiều chất quinol và phenol, là những chất chống viêm nhiễm và bài tiết chất độc cho người và động vật Chính vì vậy, sử dụng bột

cỏ làm thức ăn chăn nuôi được các nước trên thế giới rất quan tâm (Nguyễn Ngọc Nông, 1999)

Theo Nguyễn Đức Trân và Cs [10], cỏ khô nghiền nhỏ thành bột dùng nuôi

Trang 17

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

lợn và gia cầm rất tốt, nhất là để nuôi súc vật non, vì trong bột cỏ khô có nhiều chất đạm, nhiều sắc tố, tiền vitamin A, vitamin D2 và Canxi Bột thân lá đậu, lạc, điền thanh, Keo dậu, bèo hoa dâu, là những loại tốt, vì có chứa nhiều đạm nên khi hỗn hợp các loại thức ăn tinh khác để nuôi lợn, thì giảm được thức ăn tinh

Thức ăn gia cầm, ngoài lượng bắp vàng có sẵn trong công thức, thường cần

có thêm nguồn cung sắc tố để làm vàng da, lòng đỏ trứng theo thị hiếu người tiêu dùng Các loại bột lá, bột cỏ thường được dùng trong thức ăn gà với mức 3 - 4% để vừa cung cấp caroten, vừa cung cấp sắc tố để da, mỏ và lòng đỏ trứng có màu vàng đẹp mắt

Bột thực vật có giá trị rất tốt đối với vật nuôi, nó có giá trị dinh dưỡng cao không những chứa tỷ lệ protein cao (đặc biệt là cây họ đậu), mà còn chứa nhiều Vitamin nhóm B, vitamin E và tiền vitamin D, A (carotenoic) Phối hợp khẩu phần

ăn của vật nuôi với bột lá, bột cỏ làm tăng chất lượng sản phẩm, tăng tính chất thịt, sữa, trứng…làm tăng màu sắc của sản phẩm (Ash A.J và Chen Chin Peng, 2000) [53]

Thực tế cho thấy: gà ăn bèo hoa dâu tăng tỷ lệ đẻ, ấp nở, giảm chi phí thức

ăn, màu lòng đỏ trứng đậm hơn so với thí nghiệm đối chứng Thường bổ sung 5% vào khẩu phần thức ăn hỗn hợp hàng ngày

Với hàm lượng B - caroten cao, nên cỏ Alfalfa chỉ cần tham gia từ 10 - 20%

trong khẩu phần thức ăn thì gà mẹ, chim cảnh rất mắn đẻ, trứng có lòng đỏ to, màu lòng đỏ đậm, tỷ lệ nở con cao hơn hẳn Nhờ các chất Ancaloid - Enzim dồi dào

trong cỏ Alfalfa, nên bò sữa được ăn loại cỏ này sẽ tiết lượng sữa nhiều và chất

lượng sữa tốt hơn Người ta dùng nó làm thức ăn cao cấp dành cho các vật nuôi quan trọng như: bò đực sản xuất tinh, bò sữa, gia cầm bố mẹ, gà con, chim cảnh Do những tác dụng lớn lao đó các chuyên gia chăn nuôi trên thế giới đã suy

tôn cỏ Alfalfa là "nữ hoàng" trong thức ăn chăn nuôi (D’Mello J.P.F., Acamovic T

và Walker A.G, 1987)[56]

Theo Nguyễn Khánh Quắc và Cs (2002)[39], cho biết rằng: Sử dụng bột cỏ khô hỗn hợp trong thức ăn cho gia cầm, lợn, trâu, bò rất tốt, vừa phòng trừ giun sán

Trang 18

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

lại vừa đỡ công chăn nuôi

Theo kết quả nghiên cứu của Trịnh Văn Trung và Cs (2007) [13]cho biết: Bổ sung bột lá sắn vào khẩu phần ăn của trâu tơ 13 - 18 tháng tuổi đã làm tăng lượng thức ăn thu nhận và tỷ lệ tiêu hoá các chất dinh dưỡng trong khẩu phần Bột lá sắn

có thể dùng làm thức ăn bổ sung cho trâu tơ để nâng cao tỷ lệ tiêu hoá, khả năng tăng trưởng và hiệu quả sử dụng thức ăn

1.1.2.3 Các hạn chế của bột lá, bột cỏ đối với vật nuôi

Nhìn chung gia súc thích ăn các loại thức ăn xanh hơn hoặc ủ chua hơn là ăn các loại thức ăn này chế biến thành bột

Trong bột cỏ và bột lá thực vật, hàm lượng chất xơ là cao, do đó việc sử dụng nó trong thức ăn chăn nuôi gia cầm chỉ chiếm một chỉ lệ rất nhỏ trong khẩu phẩn, trong chăn nuôi gà, tỷ lệ dùng rất ít, chỉ từ 5 - 6% trong khẩu phần mà thôi

Trong một số loại lá thực vật có chứa một số chất như: lá sắn có độc tố HCN,

Cỏ Medicago, cây họ đậu, điền thanh có chứa chất độc saponin nên khi sử dụng chúng cho vật nuôi phải hết sức chú ý đến tỷ lệ trong khẩu phần

Theo Vũ Duy Giảng và Cs (1997) [7] cho biết: Tỷ lệ bổ sung bột lá thực vật cho gà thịt là 2% tính theo đơn vị khẩu phần, gia cầm khác là 4 - 6% tính theo đơn

vị khẩu phần Trong lá Keo dậu có chứa độc tố mimosin, do đó không nên dùng quá 15% trong khẩu phần của lợn và không quá 5% trong khẩu phần của gia cầm (tính theo giá trị dinh dưỡng) Mặt khác, bột lá, bột cỏ nếu bảo quản kém hoặc quá lâu dễ

bị mốc và làm hao hụt các chất dinh dưỡng, đặc biệt là B - caroten, vitamin bị mất

đi (Thành phần thức ăn dinh dưỡng gia súc Việt Nam, 1992)[42]

1.1.2.4 Vai trò của bột lá, bột cỏ trong sinh trưởng của gia cầm thịt

Trong bột cỏ bột lá có chứa nhiều β - caroten, protein, vitamin nên việc sử dụng nó bổ sung vào khẩu phần ăn của gà thịt có tác dụng rất tốt Không những làm tăng khả năng sinh trưởng, tăng năng suất mà đặc biệt là tăng chất lượng thịt, độ cảm quan đới với thịt, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng

Sử dụng bột lá Keo giậu nuôi gà con, ở tỷ lệ 4% trong khẩu phần, Keo giậu

đã có tác dụng tốt tới sinh trưởng của gà Dương Thanh Liêm và Bộ môn Thức ăn

Trang 19

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

và dinh dưỡng Trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh đã thử nghiệm nuôi gà Broiler với các khẩu phần chứa tỷ lệ bột lá Keo giậu khác nhau kết quả cho thấy, khẩu phần chứa 4% bột lá Keo giậu có tác dụng tốt tới sinh trưởng và hiệu suất sử dụng thức ăn của gà Khi tỷ lệ bột lá Keo giậu nâng lên tới mức 6% khẩu phần, tăng khối lượng của gà bắt đầu có xu hướng giảm Ở tỷ lệ 10% bột lá Keo giậu trong khẩu phần, nuôi gà đến 9 tuần tuổi bắt đầu có hiện tượng rụng lông và sưng tuyến giáp trạng, nhưng nếu thêm 0,5 ppm muối KI hay casein vào khẩu phần

ăn, sẽ hạn chế hiện tượng rụng lông và sưng tuyến giáp của gà, do hạn chế độc tính của mimosine có trong Keo giậu

D'Mello và Cs (1987)[63] đã nhận thấy, bột lá Keo giậu đã có tác dụng cải thiện màu sắc thân thịt của gà và sử dụng 5% bột lá Keo giậu thay thế một phần khẩu phần ăn cơ sở đã không gây ra ảnh hưởng xấu nào về sinh trưởng của gà

Theo Từ Quang Hiển và Cs (2008) nghiên cứu sử dụng bột lá Keo giậu để nuôi gà broiler dòng HV35 cho biết: sử dụng bột lá Keo giậu thay thế 3 - 5% khẩu phần cơ sở tương ứng với 2 giai đoạn nuôi (0 - 28 và 29 - 56 ngày tuổi) đối với gà broiler HV35 đã có tác dụng cải thiện sinh trưởng của gà thêm 8,72%, giảm tiêu tốn thức ăn cho sinh trưởng là 5,86%) và giảm chi phí thức ăn/kg tăng khối lượng đến 7,10%

Thí nghiệm nghiên cứu sử dụng bột lá Keo giậu ở các tỷ lệ khác nhau trong khẩu phần ăn của gà broiler dòng Ross 208, cho thấy, tiêu thụ thức ăn của gà có xu hướng giảm liên tục với sự tăng lên của bột lá Keo giậu trong khẩu phần Khi bột lá Keo giậu trong khẩu phần tăng từ 0 - 12%, tiêu thụ thức ăn của gà đã giảm từ 4010 g/con xuống còn 3453 g/con Tuy nhiên, nhóm gà được nuôi với khẩu phần 3% bột

lá Keo giậu không giảm tiêu thụ thức ăn so với nhóm đối chứng (P>0.05), nhưng các nhóm gà được nuôi với khẩu phần chứa từ 6% bột lá Keo giậu trở lên đã làm giảm khá rõ rệt so với đối chứng (P<0.01) Tăng khối lượng của gà cũng giảm liên tục với sự tăng lên của tỷ lệ bột lá Keo giậu có trong khẩu phần Khi bột lá Keo giậu tăng từ 0 - 12 % khẩu phần, tăng khối lượng của gà đã giảm từ 2394g/con xuống còn 1819 g/con Hiệu suất sử dụng thức ăn cho sinh trưởng của gà cũng giảm liên tục với sự tăng lên của bột lá Keo giậu trong khẩu phần

Trang 20

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

1.1.3 Cơ sở khoa học về khả năng sinh trưởng và cho thịt của gia cầm

1.1.3.1 Nguồn gốc và vài nét về giống gà Ri và gà Lương Phượng

* Gà Ri

Theo Nguyễn Duy Hoan và Cs (1999) [14] cho biết gà Ri là giống gà phổ biến nhất mọi vùng, mọi miền Tùy theo sự chọn lọc trong quá trình chăn nuôi gà giống này hình thành nên các dòng gà Ri có thể hình, màu sắc khác nhau ít nhiều ở mỗi địa phương

Thông thường và phổ biến nhất, thì gà mái có lông màu vàng và nâu nhạt, điểm các đốm đen ở cổ, đầu cánh và chót đuôi Gà trống có bộ lông sặc sỡ nhiều màu nhất là lông cỏ và đuôi chiếm ưu thế nhất là lông màu vàng đậm và tía sau đó

là vạng nhạt hoặc trắng ở cổ Rất ít khi thấy gà Ri có màu lông thuần nhất Gà con mọc lông sớm chỉ hơn 1 tháng gà đã đầy đủ lông như gà trưởng thành Gà Ri là giống nhẹ cân, gà mái: 1,2 – 1,8 kg, gà trống: 1,8 – 2,3 kg Gà trống thiến nuôi lâu

có thể đạt 2,5 kg hoặc hơn Gà Ri có dáng thanh, chân nhỏ, đầu nhỏ, cổ và lưng dài, ngực sâu (gà mái chân rất thấp), mỏ vàng, vẩy chân vàng (có khi đen – nhất là gà miền núi) Sức đẻ: 90-120 trứng/mái/năm Khối lượng trứng bình quân: 38-42 gam Nếu nuôi bán chăn thả, sản lượng trứng gà Ri có thể đạt 125-130 quả/mái/năm

Gà Ri thành thục sinh dục sớm (14,1 ngày) Gà có đặc điểm nổi bật là cần cù, chịu khó kiếm ăn, sức chống chịu với thời tiết, bệnh tật cao, nuôi con khéo, thịt có hương vị thơm ngon, nhất là gà mái tơ

Do các ưu và nhược điểm ở trên, gà Ri thích hợp với chế độ dưới chăn thả, hoặc bán chăn thả Trong tương lai, khi mà ngành gia cầm nuôi các giống cao sản phát triển, thì gà Ri có thể sẽ được coi như là một đặc sản

* Gà Lương Phượng

Theo Nguyễn Duy Hoan và Cs (1999) [14] cho biết gà Hoa Lương Phượng hay Lương Phượng hoa, thường được gọi tắt là gà Lương Phượng do xuất xứ từ vùng ven sông Lương Phượng Đây là giống gà thịt lông màu do xí nghiệp nuôi gà thành phố Nam Ninh, tỉnh Quảng Tây Trung Quốc lai tạo thành công sau hơn chục năm nghiên cứu, sử dụng dòng trống địa phương và dòng mái nhập của nước ngoài

Trang 21

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

Gà Lương Phượng đã được giám định kỹ thuật của Uỷ ban khoa học Thành phố Nam Ninh Gà Lương Phượng có dáng bề ngoài gần giống với gà Ri của Việt Nam lông màu vàng tuyền, vàng đốm hoa hoặc đen đốm hoa Sở dĩ gọi là Lương Phượng hoa vì trong đàn gà có rất nhiều màu lông khác nhau như một vườn hoa Mào, yếm mào, mặt và tích tai màu đỏ Gà trống có mào đơn, ngực nở, lưng thẳng, lông đuôi vươn cong chân cao vừa phải Gà mái đầu nhỏ, thân hình chắc, chân thấp Da gà Lương Phượng màu vàng, thịt mịn, thơm ngon Tỷ lệ nuôi sống gà thương phẩm xuất chuồng đều đạt 95% trở lên Gà trống ở độ tuổi trưởng thành có khối lượng cơ thể 2700g, gà mái đạt khối lượng 2100g lúc vào đẻ Gà bắt đầu đẻ vào 24 tuần tuổi, sau một chu kỳ khai thác trứng (66 tuần tuổi) đạt 177 trứng, sản xuất 130 gà con 1 ngày tuổi Gà thịt nuôi đến 70 ngày tuổi đạt 1500g - 1600g Tiêu tốn thức ăn 2,4 - 2,

6 kg thức ăn/kg tăng trọng Gà Lương Phượng dễ nuôi, có tính thích nghi cao, chịu đựng tốt với khí hậu nóng ẩm, đòi hỏi chế độ dinh dưỡng không cao, có thể nuôi nhốt (kiểu nuôi công nghiệp), bán công nghiệp (vừa nhốt vừa thả) hoặc nuôi thả ở vườn, ngoài đồng, trên đồi

Bộ nông nghiệp và PTNT đã công nhận 3 dòng gà LV1, LV2, LV3 đạt cấp giống ông bà theo quyết định số 953 QĐ/BN - KHCN ngày 16/4/2004 Gà Lương Phượng hiện nay đang là giống gà được ưa chuộng và phát triển nuôi rộng rãi trong khắp mọi vùng của đất nước ta trong đó có tỉnh Thái Nguyên

1.1.3.2 Khả năng sinh trưởng và tiêu tốn thức ăn

* Khả năng sinh trưởng của gà

Sinh trưởng là quá trình tích luỹ chất hữu cơ do đồng hoá và dị hoá, là sự tăng chiều dài, chiều cao, bề ngang, khối lượng của các bộ phận và toàn bộ cơ thể con vật trên cơ sở tính chất di truyền của đời trước Sự sinh trưởng chính là sự tích luỹ dần các chất mà chủ yếu là Protein

Sinh trưởng là một quá trình sinh lý phức tạp và tuân theo những quy luật nhất định Theo Trần Đình Miên và Cs (1992)[30] cho biết: Midedorpho (1967) là người đầu tiên phát hiện ra quy luật sinh trưởng theo giai đoạn của gia súc, cho rằng gia súc non phát triển mạnh nhất sau khi mới sinh, sau đó tăng khối lượng giảm dần

Trang 22

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

theo từng tháng tuổi

Champer (1990)[66], đã định nghĩa sinh trưởng là sự tổng hợp các bộ phận như thịt, xương, da Những bộ phận này không những khác nhau về tốc độ sinh trưởng mà còn phụ thuộc vào chế độ dinh dưỡng Sự tăng trưởng thực sự khi các tế bào mô cơ có sự tăng thêm về khối lượng, số lượng và kích thước các chiều đo Vì vậy béo mỡ không phải là tăng trưởng, nó được gọi là tăng trọng của cơ thể, vì béo

mỡ chủ yếu là tích nước, không có sự phát triển của thân, mô và cơ

Trong thực tế nuôi gia súc, gia cầm lấy thịt cho thấy, trong giai đoạn đầu của

sự sinh trưởng, thức ăn được dùng tối đa cho sự phát triển của xương, mô cơ, một phần rất ít dùng lưu trữ trong cấu tạo của mỡ Đến giai đoạn cuối của sự sinh trưởng nguồn chất dinh dưỡng vẫn được sử dụng nhiều để nuôi hệ thống cơ xương nhưng hai hệ thống này tốc độ phát triển đã giảm, càng ngày con vật càng tích luỹ chất dinh dưỡng để cấu tạo mỡ

Trong các tổ chức cấu tạo của cơ thể gia cầm thì khối lượng cơ chiếm nhiều nhất: 42 - 45% khối lượng cơ thể Khối lượng cơ con trống luôn lớn hơn khối lượng

cơ con mái (không phụ thuộc vào lứa tuổi và loại gia cầm) Giai đoạn 70 ngày tuổi khối lượng tất cả các cơ của gà trống đạt 530g, của gà mái đạt 467g, (Ngô Giản Luyện, 1994)[27]

Sự sinh trưởng của sinh vật được bắt đầu từ khi trứng được thụ tinh cho đến lúc cơ thể trưởng thành và được chia hai giai đoạn chính: giai đoạn trong thai (giai đoạn trong cơ thể mẹ) và giai đoạn ngoài thai (giai đoạn ngoài cơ thể mẹ) Đối với gia cầm là thời kỳ hậu phôi và thời kỳ trưởng thành Như vậy, cơ sở chủ yếu của sinh trưởng gồm hai quá trình: tế bào sản sinh và tế bào phát triển, trong đó sự phát triển là chính Theo Phùng Đức Tiến (1996), trong quá trình sinh trưởng thì trước hết là kết quả của sự phân chia tế bào, tăng thể tích tế bào để tạo nên sự sống

Khi nghiên cứu về sinh trưởng không thể không nói đến phát dục vì hai quá trình này diễn ra trên cùng một cơ thể vật nuôi: Phát dục là quá trình thay đổi về chất, tức là tăng thêm và hoàn chỉnh các chất, chức năng của các bộ phận của cơ thể, phát dục của cơ thể con vật bắt nguồn từ khi trứng thụ tinh và trải qua nhiều

Trang 23

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

giai đoạn phức tạp mới đến trưởng thành

Khối lượng cơ thể thường được theo dõi theo từng tuần tuổi và đơn vị tính là g/con hoặc kg/con Để xác định khối lượng cơ thể ở các khoảng thời gian khác nhau người ta còn biểu thị khối lượng thông qua đồ thị sinh trưởng

Sinh trưởng của vật nuôi nói chung và sinh trưởng của gà nói riêng chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố, quan trọng nhất là yếu tố giống, thức ăn và các điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng khác

* Các yếu tố ảnh hưởng tới sinh trưởng

Có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng của gà như giống, giới tính, tốc độ mọc lông, khối lượng bộ xương, dinh dưỡng, điều kiện chăn nuôi

- Ảnh hưởng của dòng giống:

Các dòng trong cùng một giống, các giống khác nhau có khả năng sinh trưởng khác nhau Các giống gà chuyên thịt có tốc độ sinh trưởng nhanh hơn các giống gà chuyên trứng và kiêm dụng

Theo Nguyễn Mạnh Hùng và Cs (1994)[15] cho biết: sự khác nhau về khối lượng giữa các giống gia cầm rất lớn, giống gà kiêm dụng nặng hơn gà hướng trứng khoảng 500 - 700g

Trần Long (1994)[24], đã nghiên cứu tốc độ sinh trưởng của 3 dòng thuần (dòng V1, V3 và V5) của giống gà Hybro HV 85 cho thấy tốc độ sinh trưởng 3 dòng hoàn toàn khác nhau ở 42 ngày tuổi

Trần Thanh Vân (2002)[23], khi nghiên cứu khả năng sản xuất thịt của gà lông màu Kabir, Lương Phượng và Sasso cho biết: khối lượng cơ thể gà ở 10 tuần tuổi đạt lần lượt là 1990,28g/con, 1993,27g/con và 2189,29g/con

Theo Nguyễn Duy Hoan và Trần Thanh Vân (1998)[12], cho biết gà con ở

40 ngày tuổi khối lượng tăng gấp 10 lần so với lúc 1 ngày tuổi, trong khi đó vịt con chỉ cần có 20 ngày tuổi để tăng gấp 10 lần khối lượng so với lúc 1 ngày tuổi

Theo Trần Công Xuân và Cs (1999)[40], nghiên cứu tốc độ sinh trưởng trên hai dòng gà kiêm dụng (882 và Jiang Cun) của giống gà Tam Hoàng cho thấy tốc

độ sinh trưởng của hai dòng gà khác nhau: ở 15 tuần tuổi dòng 882 đạt 1872,67

Trang 24

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

g/con, dòng Jiang cun đạt 1742,86g/con

Nguyễn Thị Thuý Mỵ (1997)[34], khi nghiên cứu 3 giống gà AA, Avian và

BE 88 nuôi tại Thái Nguyên cho thấy khối lượng cơ thể của 3 giống khác nhau ở 49 ngày tuổi là khác nhau, cụ thể lần lượt là: 2501,09g/con, 2423,28g/con, 2315,14g/con

Phùng Đức Tiến (1996) , gà Hybro HV85 ở 56 ngày tuổi khối lượng cơ thể đạt 1915,38g/con

Các nghiên cứu trên cho thấy, đặc tính di truyền của các dòng, các giống là nhân tố đặc biệt quan trọng đối với quá trình sinh trưởng và cho thịt của gà Từ các kết quả nghiên cứu này giúp cho người chăn nuôi biết được giới hạn sinh trưởng của từng dòng, giống khác nhau để mà áp dụng vào thâm canh hợp lý có hiệu quả cao

- Ảnh hưởng của tính biệt đến khối lượng cơ thể và khối lượng cơ thể

Tính biệt có ảnh hưởng rất lớn đến tốc độ sinh trưởng và khối lượng cơ thể Theo tài liệu của Champer J.R (1990) [66], có nhiều gen ảnh hưởng đến sinh trưởng

và phát triển của gà Có gen ảnh hưởng tới sự phát triển chung, có gen ảnh hưởng đến sự phát triển nhiều chiều, có gen ảnh hưởng theo nhóm tính trạng, có gen ảnh hưởng tới một vài tính trạng riêng lẻ Godfrey E.F và Joap R.G (1952)[69] và một

số tác giả khác cho rằng các tính trạng số lượng này được quy định bởi 15 cặp gen, trong đó có ít nhất 1 gen về sinh trưởng liên kết với giới tính(nằm trên nhiễm sắc thể X), vì vậy có sự sai khác về khối lượng cơ thể giữa con trống và con mái trong cùng một giống, gà trống nặng hơn gà mái 24 - 32%

Trần Đình Miên, (1994)[30], cho biết gà lúc mới nở gà trống nặng hơn gà mái 1%, tuổi càng tăng sai khác càng lớn, ở 8 tuần tuổi sự sai khác về khối lượng giữa gà trống và gà mái là 27% Theo North và Cs (1990)[48], lúc mới sinh gà trống nặng hơn gà mái 1%, tuổi càng tăng sự khác nhau càng lớn: ở 2; 3 và 8 tuần tuổi sự khác nhau tương ứng là 5%, 11% và 27%

Tốc độ sinh trưởng còn phụ thuộc vào tốc độ mọc lông Các kết quả nghiên cứu xác định, trong cùng một giống, cùng tính biệt thì gà có tốc độ mọc lông nhanh

Trang 25

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

có tốc độ sinh trưởng và phát triển tốt hơn Theo Kushener (1974)[21], cho rằng tốc

độ mọc lông có quan hệ chặt chẽ với tốc độ tăng trưởng Thường gà lớn nhanh thì mọc lông nhanh và đều hơn ở gà chậm lớn Hayer và Cs (1970)[71] đã xác định trong cùng một giống thì gà mái mọc lông đều hơn gà trống và tác giả cho rằng ảnh hưởng của hormon có quan hệ ngược chiều với gen liên kết với giới tính quy định tốc độ mọc lông

Ảnh hưởng của tính biệt đến khả năng sinh trưởng và cho thịt của gà Broiler

có ý nghĩa thực tiễn rất lớn Ở các nước công nghiệp, người ta nuôi gà Broiler tách riêng trống mái Việc này, làm tăng độ đồng đều trong đàn và thuận lợi cho việc giết mổ tự động Nuôi tách riêng trống mái sẽ đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng, tăng khối lượng nhanh, tăng hiệu quả sử dụng thức ăn, làm cho gà trống không lấn át gà mái, giảm gà bị trầy, xước (Đặng Hữu Lanh và Cs (1999)[22]

- Ảnh hưởng của chế độ dinh dưỡng tới khả năng sinh trưởng

Bùi Đức Lũng, Lê Hồng Mận (2003)[26], cho biết để phát huy được sinh trưởng cần cung cấp thức ăn tối ưu với đầy đủ chất dinh dưỡng được cân bằng hợp

lý giữa protein và năng lượng Ngoài ra trong thức ăn hỗn hợp cho chúng còn được

bổ sung hàng loạt các chế phẩm hoá sinh không mang theo nghĩa dinh dưỡng nhưng

có kích thích sinh trưởng làm tăng chất lượng thịt

Phạm Minh Thu (1996)[44], cho thấy khối lượng cơ thể gà Broiler Rhoderi Jiang Cun ở 2 chế độ dinh dưỡng lúc 2 tuần tuổi hoàn toàn khác nhau

Nguyễn Thuý Mỵ (2006)[35], đã nghiên cứu ảnh hưởng của các mức năng lượng và Protein khác nhau cùng với tỷ lệ ME/CP khác nhau nhằm phát huy tốt đến khả năng sinh trưởng của Ngan Pháp nuôi tại Thái Nguyên

Trần Công Xuân (1995)[31], cho biết cùng tổ hợp lai Broiler: Ross 208,Ross

208 - V35 nuôi ở 9 lô với 3 mức năng lượng và 3 mức Protein khác nhau, cho khối lượng ở 8 tuần tuổi khác nhau rõ rệt

Trần Tố (2007)[9], nghiên cứu ảnh hưởng của tỷ lệ khác nhau giữa methionine và lysine trong khẩu phần đến sinh trưởng của gà Broiler Kabir cho biết đến 10 tuần tuổi lô có tỷ lệ methionine/lysine 40,5% cho sinh trưởng tốt hơn các lô

Trang 26

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

có tỷ lệ này bằng 45,5% và 35,5%

Như vậy, để đạt năng suất và hiệu quả trong chăn nuôi gia cầm đặc biệt là phát huy được tiềm năng di truyền về sinh trưởng, thì một những vấn đề căn bản là lập ra được khẩu phần dinh dưỡng hoàn hảo, cân đối trên cơ sở đảm bảo nhu cầu của gia cầm qua từng giai đoạn Mặt khác, khả năng sinh trưởng còn chịu ảnh hưởng của điều kiện chăm sóc, mùa vụ, khí hậu chuồng nuôi, phương thức chăn nuôi, thú y phòng bệnh

Nhiệt độ môi trường ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng rất rõ rệt, đặc biệt

là giai đoạn gà con Với gà Broiler và gà hậu bị, nhiệt độ ngày thứ nhất cần đảm bảo

32 - 340C; ngày thứ 2 - 7 là 300C; tuần thứ 2 là 260C; tuần thứ 3 là 220C; tuần thứ 4

là 200C

Lê Hồng Mận và Cs (1993)[29], cho biết nhiệt độ tối ưu chuồng nuôi với gà con sau 3 tuần tuổi là 18 - 200C Nhiệt độ ảnh hưởng rất lớn tới nhu cầu năng lượng trao đổi (ME) và protein thô (CP) của gà Broiler, như vậy tiêu thụ thức ăn của gà chịu sự chi phối của nhiệt độ môi trường Trong điều kiện nhiệt độ khác nhau thì mức tiêu thụ thức ăn của gà cũng khác nhau

Mật độ nuôi nhốt cũng là yếu tố ảnh hưởng tới khả năng sinh trưởng của gia cầm Theo Van Horne P, 1991 [51]: Khi chăn nuôi gà ở mật độ cao thì hàm lượng

NH3, CO2 và H2S được sinh ra trong chất độn chuồng cao Vì khi mật độ gà đông thì lượng bài tiết thải ra nhiều hơn, trong khi đó gà cần tăng cường trao đổi chất nên lượng nhiệt thải ra cũng nhiều, do đó nhiệt độ chuồng nuôi tăng, nên sẽ ảnh hưởng tới việc tăng khối lượng gà và làm tăng tỷ lệ chết khi mật độ chuồng nuôi quá cao cùng nhiệt độ không khí cao

- Ảnh hưởng của độ tuổi tới sinh trưởng

Khi nghiên cứu về độ tuổi và chế độ dinh dưỡng ảnh hưởng đến sinh trưởng của gà thì Champer J.R (1990) [66] cho biết: Sinh trưởng là tổng số của sự phát triển các phần cơ thể như thịt, xương, da Tỷ lệ sinh trưởng các phần này phụ thuộc vào độ tuổi, tốc độ sinh trưởng và mức độ dinh dưỡng

Theo Đào Văn Khanh (2002)[19] nghiên cứu trên gà Tam Hoàng nuôi vụ hè

Trang 27

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

tại Thái nguyên cho biết, gà Tam Hoàng có khả năng sinh trưởng tương đối ở tuần 1

là cao nhất 83,25%, sau đó giảm dần, tuần 2 là 62,38% và ở tuần 3 là 52,41%

1.1.3.3 Cơ sở khoa học về khả năng cho thịt

Khả năng sản xuất thịt là khả năng tạo nên khối lượng cơ ở độ tuổi mà đem giết thịt đạt hiệu quả kinh tế cao Khả năng cho thịt của gà Broiler được đánh giá qua năng suất và chất lượng thịt

* Năng suất thịt

Năng suất thịt là chỉ tiêu quan trọng và thông dụng để đánh giá sức sản xuất thịt của gia cầm Năng suất thịt phụ thuộc vào khối lượng cơ thể, mà tính trạng này lại phụ thuộc vào kích thước các chiều đo cơ thể (dài lườn, rộng ngực, dài đùi ) Năng suất thịt có thể biểu thị bằng tỷ lệ thịt xẻ, tỷ lệ giữa các bộ phận như: Nạc,

mỡ, da Ở gà Broiler các tỷ lệ thường được tính là: Tỷ lệ thịt xẻ, tỷ lệ cơ đùi, tỷ lệ

cơ ngực, tỷ lệ mỡ bụng Năng suất thịt cao hay thấp còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau như: Giống, dòng, điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng, tính biệt, phương thức nuôi, thú y phòng bệnh

Ngô Giản Luyện (1994)[27], khi khảo sát năng suất thịt của 3 dòng V1, V3

và V5 trong giống gà Hybro cho thấy giữa các dòng có sự khác nhau rõ rệt Trong cùng một dòng: tỷ lệ thân thịt gà trống cao hơn gà mái và thịt ngực của gà mái cao hơn gà trống

Đỗ Xuân Tăng (1980)[41], cho biết tỷ lệ thịt đùi của gà trống thường cao hơn gà mái, còn tỷ lệ thịt ngực của gà mái cao hơn gà trống, hàm lượng protein ở thịt gà mái cao hơn gà trống, sự tích luỹ protein ở gà mái kéo dài đến 90 ngày tuổi sau đó giảm dần theo sự già đi của cơ thể

Theo Đào Văn Khanh (2000)[18], cho biết gà Broiler Tam Hoàng ở 63 ngày tuổi có tỷ lệ thịt xẻ cao nhất trống 79,20%, mái 78,61% càng về các giai đoạn sau tỷ

lệ thịt xẻ có xu hướng giảm dần, lúc 84 ngày tuổi con trống đạt 70,26%, con mái đạt 70,11% Ngược lại tỷ lệ cơ ngực và cơ đùi lại có chiều hướng tăng lên ở các giai đoạn tuổi sau, thấp nhất lúc 70 ngày tuổi và đạt cao nhất lúc 84 ngày tuổi (trống đạt 40,30%, mái đạt 38,59%) Tỷ lệ mỡ bụng của cả gà trống và gà mái đều có xu

Trang 28

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

hướng tăng dần theo tuổi và đạt cao nhất ở ngày tuổi 77 và 84

Trần Công Xuân và Cs (2000)[43], nghiên cứu lai kinh tế giữa gà Kabir và Lương Phượng hoa cho thấy tỷ lệ thân thịt 72,4% - 72,32%; tỷ lệ thịt đùi 20,64% - 21,43%; tỷ lệ thịt ngực 20,68% - 20,80%

Trần Công Xuân, Hoàng Văn Lộc và Cs (1997)[38], mổ khảo sát gà Tam Hoàng và gà Ri lúc 15 tuần tuổi cho biết tỷ lệ thịt đùi + thịt ngực/thân thịt ở gà Tam Hoàng là 45 - 54% và ở gà Ri là 43%

* Chất lượng thịt

Chất lượng thịt được phản ánh thông qua thành phần hoá học của thịt Chất lượng thịt thường được đánh giá qua hàm lượng vật chất khô, tỷ lệ protein, lipit, khoáng tổng số

Vật chất khô thể hiện độ chắc của thịt, protein thể hiện giá trị dinh dưỡng,

mỡ thể hiện độ béo của thịt, khoáng tạo nên độ đậm đà Giá trị của thịt còn phụ thuộc vào các yếu tố khác như hàm lượng và tỷ lệ các acid amin, hàm lượng vitamin, khoáng đa lượng, các hoạt chất sinh học

Khi xã hội ngày càng phát triển thì nhu cầu thị hiếu của con người ngày càng một cải tiến, nhu cầu dinh dưỡng của con người ngoài tính ngon miệng còn mang tính cảm quan hấp dẫn đối với người tiêu dùng đang là vấn đề được quan tâm

Thịt gà không chỉ chứa hàm lượng protein cao, mà hàm lượng vitamin và khoáng cũng lớn, hàm lượng mỡ thấp nhưng lại chứa đầy đủ lượng các acid béo cần thiết

Thành phần hoá học, cảm quan và các mức độ đáp ứng yêu cầu về tiêu chuẩn

vệ sinh an toàn thực phẩm cũng như giá trị dinh dưỡng quyết định đến chất lượng thịt Chất lượng thịt phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: Loài, giống, dòng, kỹ thuật chăm sóc nuôi dưỡng, đặc điểm bệnh tật và quy trình vệ sinh thú y áp dụng đối với gia cầm

Theo Proudman J.A và Cs (1970) [50], những dòng gà Plymouth trắng khi cho ăn tự do và mổ khảo sát lúc 6 tuần tuổi, phân tích thịt cho thấy nhóm sinh trưởng nhanh tỷ lệ nước 68,1%, protein 20,7%, mỡ 6,9% và khoáng 3% Các nhóm

Trang 29

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

sinh trưởng chậm có tỷ lệ tương ứng là 69,8%; 20,6%; 4,8%; và 3,1%

1.1.4.4 Cơ sở khoa học về tiêu tốn thức ăn

Trong chăn nuôi gia cầm thì ngoài vấn đế tạo ra các giống mới có năng suất cao thì nhà chăn nuôi phải chú ý đến nguồn thức ăn cân bằng đầy đủ các chất dinh dưỡng mà phù hợp với đặc điểm sinh vật học của gia cầm và phù hợp với mục đích sản xuất của từng dòng, từng giống khác nhau, và từng giai đoạn phát triển của cơ thể mà vẫn đảm bảo được các chỉ tiêu về kinh tế, vì trong chăn nuôi thức ăn chiếm 70% giá thành sản phẩm

Tiêu tốn thức ăn cho 1kg tăng khối lượng phản ánh quá trình chuyển hoá thức ăn để sinh trưởng Tiêu tốn thức ăn/1kg tăng khối lượng càng thấp thì hiệu quả càng cao và ngược lại

Tiêu tốn thức ăn/tăng khối lượng là tỷ lệ chuyển hoá thức ăn để đạt được 1

kg tăng trọng Nếu khối lượng tăng càng nhanh thì khả năng trao đổi chất cao, khả năng đồng hoá thức ăn lớn, do đó hiệu quả chuyển hoá thức ăn cao và dẫn đến tiêu tốn thức ăn thấp Đây là chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật rất quan trọng Tiêu tốn thức ăn /kg tăng khối lượng phù thuộc vào rất nhiều yếu tố: Giống, tuổi, tính biệt, chế độ chăm sóc nuôi dưỡng, tình trạng sức khỏe của đàn gia cầm

Theo Phùng Đức Tiến (1996), hệ số tương quan giữa khối lượng cơ thể và tăng trọng với tiêu tốn thức ăn đã được Chambers (1984)[64] xác định là - 0,5 đến - 0,9 Tương quan giữa sinh trưởng và chuyển hoá thức ăn là âm và thấp từ (- 0,2) đến (- 0,8)

Trần Công Xuân, Phùng Đức Tiến và Cs (1999)[43], cho biết gà Tam Hoàng khi nuôi thịt đến 15 tuần tuổi tiêu tốn 3,609 kg thức ăn/kg tăng trọng Gà Tam Hoàng Jiangcun tiêu tốn 3,652 - 3,911 kg thức ăn/kg tăng trọng

Trần Công Xuân, Nguyễn Huy Đạt (2006)[45], khi nghiên cứu chọn tạo một

số dòng gà chăn thả Việt Nam năng suất và chất lượng cao đã đưa ra kết luận Tổ hợp lai 3/4 máu Lương Phượng và 1/4 máu Sasso X44 tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng là 2,54 - 2,68kg

Bùi Đức Lũng (1992)[25] cho biết rằng gà lai V135 tiêu tốn thức ăn /kg tăng

Trang 30

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

khối lượng ở các độ tuổi như sau: 4 tuần tuổi là 1,91; 5 tuần tuổi là 1,98; 6 tuần tuổi

là 2,01; 7 tuần tuổi là 2,13; 8 tuần tuổi là 2,26kg

1.1.4 Tình hình nghiên cứu trồng, sử dụng bột cỏ trong chăn nuôi

1.1.4.1 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài

Ở nước ngoài chủ yếu tập trung nghiên cứu trồng và sử dụng cỏ Stylo cho chăn nuôi đại gia súc, Cỏ S.guianensis CIAT 184 đã được trồng ở nhiều nước Đông Nam Á, vì chúng có khả năng thích nghi rộng, nhiều cách sử dụng và cho năng suất cao ở những vùng đất chua và kém màu mỡ Triển vọng sử dụng những giống cỏ này đặc biệt là ở những hệ thống canh tác trang trại quy mô nhỏ là rất tốt

Các giống cỏ khác và các dòng của cỏ Stylosanthes đã được sự quan tâm, đánh giá của nhiều tổ chức Nông nghiệp - Nông thôn và các dự án trong khu vực, nhưng những kế hoạch lớn có xu hướng nghiêm ngặt là sử dụng những giống của

Úc Chỉ có giống cỏ Stylosanthes guianensis CIAT 184 là được chấp nhận và trồng phổ biến trong vùng và hạt của giống cỏ này hiện nay đã được đưa tới nhiều nước

Trung Quốc đã có hàng loạt các loài cỏ Stylosanthes từ Úc được đưa vào vùng nhiệt đới phía Nam Trung Quốc vào đầu những năm 80 Cỏ Stylosanthes cho thấy khả năng thích nghi tốt với môi trường ở Quảng Đông và đảo Hải Nam Hiện nay được trồng dưới tán của các cây lâu năm như xoài, cao su như là một loài cây độc canh để lấy bột lá hoặc lấy hạt hoặc được trồng xen với các loại cỏ khác

Đầu tiên, cỏ Stylosanthes guianensis cv Schofield, Cook và Graham, S.scabra cv.Seca và S.hamata cv.Verano được trồng ở tất cả các mùa vụ Sau đó đã thay đổi và hiện nay cỏ Graham là loại cỏ Stylo nhập từ Úc được sử dụng phổ biến nhất Năm 1982, một loạt các giống cỏ được nhập từ CIAT về Viện khoa học nông nghiệp nhiệt đới Trung Quốc (CATAS) ở Hải Nam Trong số này giống cỏ CIAT

184 là nổi tiếng và được phổ biến như giống “Reyen II - Zhuhuacao” vào năm

1987 Ở Quảng Đông, sản lượng cỏ CIAT 184 cao hơn khoảng 20% so với cỏ Graham và hiện nay là giống cỏ thứ 2 được phổ biến rộng rãi sau cỏ Graham ở miền Nam Trung Quốc Diện tích trồng giống cỏ này tăng lên hàng năm từ 11 ha năm 1987 tăng lên cao nhất trên 10.000ha năm 1991 và giữ ổn định khoảng 500ha

Trang 31

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

trong vài năm qua

Một trong những lợi thế của cỏ CIAT 184 là có sức đề kháng cao với bệnh thối cây, loại bệnh đã gây thiệt hại lớn ở cỏ Schofield vào năm 1982 và cỏ Cook năm 1987 Giống cỏ Graham đã có biểu hiện bị bệnh thối cây từ năm 1990 và mức

độ thiệt hại trung bình vào năm 1993 Ở Hải Nam việc sản xuất hạt Graham bị dừng lại từ năm 1993 và được thay thế bằng cỏ CIAT 184 Biểu hiện bệnh thối cây ở cỏ CIAT 184 được theo dõi trong nhiều năm nhưng mức độ thiệt hại không đáng kể

Trong thời gian từ năm 1990 - 1993, 40 tấn hạt cỏ Graham đã được sản xuất

Do bệnh thối cây gây nhiều thiệt hại đối với cỏ Graham năm 1994 nên sản lượng hạt cỏ đã giảm xuống 2 tấn Bộ phát triển vật nuôi (DLD) đã quyết định thay đổi sản xuất hạt từ cỏ Graham sang cỏ CIAT 184 vào năm 1996, giống cỏ có triển vọng kháng bệnh tốt trong nhiều thí nghiệm ở vùng Đông Bắc Thái Lan Mặt khác, từ quyết định của DLD, trường Đại học Khon Kaen đã nghiên cứu đặc điểm nông sinh vật học và sản xuất hạt cỏ Stylo được nhập từ Úc thông qua trường ĐH Queensland Trường ĐH KhonKaen đã nghiên cứu tăng khả năng kháng bệnh thối cây của giống

cỏ S.humilis CPI61674 và đặt tên là cỏ Stylo Khon Kaen thay thế cho giống cỏ Townsville

Theo J.P.Muir and L.Abrao (1999) [46]]cho biết: Ở Philipines, các giống cỏ Stylo thương phẩm được nhập từ Úc đã được đưa vào từ đầu những năm 1970 Các công nghệ chăn nuôi (BIA) đã chọn giống cỏ S.guianensis cv Schofield trong nhiều năm đã sản xuất được khoảng 5 tấn /năm hạt cỏ Schofield ở các trạm giống chính phủ và ở Masbate và Bohol vào cuối những năm 1970 Hạt giống đã được phân phối với các chủ trang trại để thay thế các giống cỏ địa phương hoặc trồng kết hợp với các giống cỏ khác như cỏ Brachiaria decumbens Vào đầu những năm

1980, bệnh thối cây đã gây hại cho cỏ Schofield, Cook, do đó cỏ S scabra cv Seca

đã được nhập voà năm 1983 để thay thế cho giống cỏ Schofield Năm 1992, giống

cỏ Stylosanthes guianensis CIAT 184 được FSP (Dự án hạt giống cỏ vùng Đông Nam Châu Á và dự án sản xuất cỏ cho các trang trại) đưa vào Philipines, cùng với

dự án phối hợp trồng cỏ với phát triển nông thôn (R& D) ở Đông Nam Á do

Trang 32

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

AusAID tài trợ và sự ủng hộ của CIAT và CSIRO Giống cỏ CIAT 184 đã phát triển rất tốt trên diện tích rộng lớn ở Philipines cũng như các nước khác trong khu vực Năm 1995, giống cỏ Cook và CIAT 184 đã được sở nông nghiệp Isabela và Quirino ở Bắc Philipines đưa vào sản xuất hạt giống thí điểm Ở cả hai nơi, giống

cỏ Cook đã bị bệnh thối cây gây tác hại nhiều trong khi đó giống cỏ CIAT 184 chỉ

bị ảnh hưởng rất nhỏ và cho sản lượng hạt tốt

Theo Guodao, Phaikaew và Stur (1997)[47] còn cho biết: Ở Indonexia, các trại chăn nuôi nhỏ của Chính phủ đã nhập hạt của các giống cỏ S.humilis, S.hamata cv.Verano và S.guianensis cv Schofield và Cook để sử dụng trên đồng cỏ ở miền Nam Sulawesi vào đầu những năm 1970 Nhiều giống cỏ khác cũng đã nhập thông qua các dự án phát triển chăn nuôi ở Java và phía đông Indonexia Các giống cỏ chủ yếu được sử dụng là Leucaena Leucocephala, nhưng một số lượng nhỏ cỏ S.hamata cv.Verano và S.scabra cv Seca vào phân phối cũng được sử dụng và phân phối cho nông dân trong dự án IFAD Năm 1993, giống cỏ S.guianensis cvv Cook và Graham, và CIAT 184 được đánh giá ở nhiều nơi của Kalimantan Trong

số đó, giống cỏ CIAT 184 được lựa chọn để sản xuất hạt và phân phối cho nông dân vì nó có khả năng thích ứng với đất chua, kém màu mỡ

Malaysia: tác giả Ng và cộng sự (1997) của viện nghiên cứu cao su đang tiến hành đánh giá một lượng lớn các giống cỏ họ đậu, bao gồm S.guianensis cvv.Cook, Endeavour và Graham, và CIAT 184 S.scabra cv Seca, S.hamata cv Amiga và S.capitata CPI 55843 để sử dụng trong rừng trồng cao su Giống cỏ Seca và CIAT 184 là những giống cỏ họ đậu có năng suất cao nhất và ổn định trong những thí nghiệm này, nhưng chỉ có bộ giống cỏ CIAT 184 là thành công Nghiên cứu về năng suất hạt của giống cỏ CIAT 184 được thực hiện ở bắc bán đảo Malaysia trong một phần của dự án FSP của MARDI, trong năn 1994, 500 kg hạt

cỏ CIAT 184 đầu tiên được sản xuất bởi Cục thú y để phân phối cho nông dân ở Malaysia [47]

Ở Thái Lan, giống cỏ Verano được sử dụng chủ yếu để che phủ các đồng

cỏ chăn thả như các đồng cỏ tự nhiên, các lề đường, các vùng trồng lúa, rừng và

Trang 33

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

những vùng bỏ hoang trong những năm 1976 - 1990 Từ đó, giống cỏ Verano được sử dụng chủ yếu trồng kết hợp với các giống cỏ khác để làm bãi chăn cho

bò Trong tương lai, DLD dự tính sẽ sản xuất bột cỏ Stylo Nhu cầu về cỏ đã được

mở rộng thông qua các chương trình của Chính phủ như chương trình DLD khuyến nông chăn nuôi, dự án “ Nâng cao hiệu quả sản xuất sữa” và chương trình

“tái tạo lại hệ thống nông nghiệp” Tập trung chủ yếu vào sản xuất cỏ, 150 tấn hạt được sản xuất để gieo trồng vào năm sau

Ở vùng nhiệt đới Trung Quốc, giống cỏ Graham và CIAT 184 được trồng nhiều ở vùng đất vành đai, thường là trồng kết hợp với cây lâu năm như: Xoài, cam, Cao su, dừa và phổ biến hơn ở các rừng tái sinh Chúng được trồng chủ yếu

ở các trang trại nhỏ, nông trường quốc doanh, các trang trại sản xuất kinh doanh

và được sử dụng Ở vùng nhiệt đới Trung Quốc, giống cỏ Graham và CIAT 184 được sử dụng ở dạng tươi cho động vật nhai lại, lợn và thỏ hoặc dưới dạng bột lá khô Chỉ có một phần cỏ Graham (20%) được trồng làm bãi chăn Cũng có một lượng nhỏ các giống cỏ Stylo khác cũng được sử dụng Trong đó có cỏ Seca sử dụng ở bãi chăn, cỏ Verano được sử dụng 50% trên bãi chăn và 50% trồng dưới tán cây Bột lá được sử dụng phối hợp một lượng nhỏ (2 - 5%) trong khẩu phần ăn cho gia cầm và lợn, nhưng cũng được sử dụng cho trâu bò, vịt và cá

Tác giả Devendra và Sere (1992) đã ước tính có khoảng 113000 ha cỏ Stylo được 108000 trang trại tư nhân trồng ở tỉnh Quảng Đông Để sản xuất bột cỏ, cỏ Stylo được trồng riêng rẽ với lượng phân bón trung bình Cỏ sẽ được thu hoạch khi thời tiết phù hợp để làm khô và thiết bị chế biến đầy đủ Cỏ Stylo được cắt, phơi khô dưới ánh nắng mặt trời trong vài ngày, sau đó được nghiền nhỏ bằng máy nghiền đến dạng bột phù hợp [47]

Trung tâm nghiên cứu chăn nuôi, viện nghiên cứu Nông lâm quốc gia, Bộ nông nghiệp và lâm nghiệp Lào: cho biết rằng dê ăn cỏ Stylo CIAT 184 có tăng trọng hàng ngày cao hơn dê không ăn cỏ Stylo 184 Bổ sung cỏ Stylo 184 vào khẩu phần của dê với tỷ lệ 30% thì khối lượng cỏ Stylo tiêu thụ và tăng trọng của

dê đạt cao nhất [77]

Trang 34

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

1.1.4.2 Tình hình nghiên cứu trong nước

Ở Việt Nam, có rất ít nghiên cứu sử dụng bột cỏ Stylo cho gia cầm Hầu hết các nghiên cứu cũng tập trung vào theo dõi năng suất, chất lượng, khả năng thích nghi và áp dụng một số biện phá kỹ thuật để nâng cao năng suất của cỏ Theo kết quả nghiên cứu đề tài "Đánh giá năng suất, chất lượng và tính thích nghi của 05 giống cỏ trên từng loại đất cát và đất phèn tại huyện Châu Thành và Cầu Ngang tỉnh Trà Vinh" của Trường Đại học Trà Vinh gồm: giống cỏ Sả lá lớn, giống cỏ Ruzi, giống cỏ Voi, giống cỏ Stylo, giống cỏ hỗn hợp cho thấy: Trên đất phèn: tổng năng suất chất xanh của cỏ Sả, Stylo, Voi, Ruzi không khác biệt và cao hơn so với cỏ hỗn hợp (89,38 tấn/ha/năm) Trên đất giồng cát: tổng năng suất xanh và khô của cỏ Sả là cao nhất (178,53 tấn/ha/năm) và thấp nhất là cỏ hỗn hợp (96,17 tấn/ha/năm) Hàm lượng dinh dưỡng của cỏ được trồng trên đất phèn cũng như trên đất cát: cỏ Stylo

có phần trăm protein thô cao nhất ở lứa thu hoạch thứ 1 và thứ 3 Tỷ lệ vật chất khô (DM) của cỏ Voi đạt thấp nhất khi trồng trên đất phèn cũng như trên đất giồng cát Trên đất phèn: tổng năng suất protein thô của các giống cỏ ở lứa thu hoạch thứ 1 và thứ 3 đạt cao nhất là cỏ Stylo (5,05 tấn/ha/năm) và (4,50 tấn/ha/năm), thấp nhất là

cỏ hỗn hợp (1,47 tấn/ha/năm) và (1,13 tấn/ha/năm) Trên đất giồng cát: tổng năng suất protein thô của các giống cỏ ở lứa thu hoạch thứ 1 và thứ 3 đạt cao nhất là cỏ Stylo (4,43 tấn/ha/năm) và (4,31 tấn/ha/năm), thấp nhất là cỏ Voi (2,14 tấn/ha/năm)

và (1,97 tấn/ha/năm) [1]

Theo Lê Hoa, Bùi Quang Tuấn [11] cho biết: Thí nghiệm năng suất chất

lượng một số giống cây thức ăn gia súc (Pennisetum perpureum, Panicum

maximum, Brachiaria ruziziensis, Stylosanthes guianensis) trồng tại Đắc Lắc, được

tiến hành để tuyển chọn một số cây thức ăn gia súc phù hợp với điều kiện đất trồng tại Đắk Lắk, giúp tạo cơ sở thức ăn thô xanh ổn định cho đàn gia súc ăn cỏ của tỉnh Kết quả thí nghiệm cho thấy, cỏ Ghi nê phát triển rất tốt tại Đắk Lắk với năng suất chất khô trung bình đạt 11,67 tấn/ha/lứa cắt Cỏ Voi cũng phát triển tương đối tốt với năng suất chất khô 9,60 tấn/ha/lứa cắt Năng suất của cây đậu Stylo đạt khá cao (3,08 tấn chất khô/ha/lứa cắt, tương ứng 21.56 tấn/ha/năm) Tỷ lệ tiêu hoá in - vitro

Trang 35

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

và tỷ lệ sử dụng của cỏ Voi, Ghi nê và Stylo tương ứng đạt 53,2% và 75,9%, 55,4%

và 92,2%, 58,9% và 87,6%

Theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Mùi và Cs (2008) [33] cho biết: Các giống

cỏ họ đậu thí nghiệm cho năng suất vật chất khô (VCK) từ 10,5 đến 18,1 tấn/ha/năm đối với giống lá Keo dậu K636 và 13,6 đến 19,2 tấn/ha/năm đối với cỏ Stylo Plus Hàm lượng Protein đạt bình quân 22% cho lá Keo dậu K636 và 17% cho

cỏ Stylo Plus cao hơn giống cỏ Stylo Cook (12,5 tấn VCK/ha/năm) trong nghiên cứu của Trương Tuấn Khanh và CTV (1999)[20]

Trên cả 3 vùng nghiên cứu, khi thâm canh với 20 - 30 tấn phân hữu cơ/ha/năm với năng suất VCK đạt tương tự với lá Keo dậu và Stylo (20tấn VCK/ha/năm) trong nghiên cứu của Wong.C.C (1999)[52]

Khi chỉ áp dụng tưới nước tuỳ vào khả năng của cơ sở cho thảm cỏ trong

mùa khô đã tăng được năng suất VCK của cặp cỏ Stylo Plus và cỏ Ghinê là 10,5%

và của cặp cỏ Stylo Plus và B.hybrid là 6,5% so với các công thức không tưới nước

Bón 20 - 30 tấn phân hữu cơ/ha/ năm đã tăng năng suất VCK của cặp cỏ Stylo và Ghinê lên 18 - 29%, tăng năng suất VCK của cặp cỏ B.hybrid và Stylo lên 21 - 34%

so với bón 10 tấn phân hữu cơ/ha/năm khi có tưới nước[33]

Theo Đặng Thuý Nhung [37] cho biết: hàm lượng protein cao nhất ở cọng lá Keo dậu khô (26,54%) sau đó là lá M.oleifera khô (21,19%), thân lá cỏ Stylo khô (16,3%) và thấp là thân lá đậu tương khô (13,8%) Hàm lượng xơ cao nhất ở thân lá đậu tương khô (27,3%), thấp nhất là lá M.oleifera khô (15,49%) Với hàm lượng xơ cao như vậy, các loại thức ăn khô này chỉ thích hợp làm thức ăn cho loài nhai lại Hàm lượng Lipit cao nhất ở lá M.oleifera khô (6,79%) và thấp nhất ở trong cỏ Stylo khô (2,1%)

Theo Lê Hà Châu (1999) [3] cho biết: giống Stylo Cook có thể cho năng suất xanh 21 tấn/lứa cắt/ha (4 lứa/năm) trên nền đất xám các nông hộ nuôi bò sữa tại

Bình Dương hoặc giống Stylo Guianensis FM05 - 2 và Stylo Guianensis CIAT184

có khả năng cho năng suất vật chất khô 11,4 - 12,2 tấn/ha/năm (Trương Tuấn Khanh và CTV, 1999) [20]

Trang 36

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

Theo kết quả nghiên cứu của một số nhà khoa học, năng suất xanh của cỏ Stylo khoảng 25 - 60 tấn /ha một lần cắt (9,5 - 14,5 tấn vck/ha) (Havard - Duclos, 1969); khoảng 71 - 114tấn /ha/năm (Đinh Bừng, 1970) [2] Ở Malaixia nếu gieo vào tháng 10 thì đến tháng 6 có thể thu hoạch cho đến tháng 12, trung bình mỗi tháng được 6,404 lbs/aere, sang năm thứ 3 mỗi tháng thu được 2,217 lbs/aere (Nguyễn An Trường, 1974) [17]; theo Bogdan 1977 [63] năng suất thường 2,5 - 10 tấn vật chất khô/năm/ha có khi tới 15 tấn

Theo Nguyễn Thị Mùi và Cs (2006) [32]: Tùy thuộc vào vùng chăn nuôi, vào mức phân bón và nước tưới mà năng suất của các giống cỏ trong điều kiện trồng thuần có khác nhau Các giống cỏ họ đậu thí nghiệm cho năng suất vật chất khô từ

10, 5 đến 18, 1 tấn/ha/ năm đối với giống Keo dậu K636 và từ 13,6 đến 19,2 tấn/ha/năm đối với cỏ Stylo Plus cao hơn năng suất của giống Stylo Cook (12,5 tấn vật chát khô/ha/năm) trong nghiên cứu của Trương Tuấn Khanh và CTV (1999) [18], tương đương với giống Stylo Cook trồng trên nền đất xám Bình Dương của Lê Hà Châu (1999) [3] Tại Ba Vì, Stylo Plus chỉ cho năng suất vật chất

khô tương đương với năng suất của Stylosanthes guianensis CIAT 184 trong nghiên

cứu của Trương Tuấn Khanh và CTV (1999) [20] Trên cả ba vùng nghiên cứu (Thái Nguyên, Lâm Đồng, Ba Vì) giống Keo dậu K636 cho năng suất vật chất khô tương tự như kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Mùi năm 2002 Khi thâm canh với 20 - 30 tấn phân hữu cơ năng suất vật chất khô của Keo dậu và Stylo (20 tấn vật chất khô/ha/năm) đạt tương tự kết quả nghiên cứu của Wong C.C (1999) [52]

Trồng sắn xen với cỏ Stylo 184 có tác dụng có lợi và có thể cải thiện năng suất sinh khối lá và độ màu mỡ của đất, đó sẽ là một hệ thống bền vững hơn so với trồng các giống sắn đơn canh Về năng suất và hàm lượng protein thô, hai hàng Stylo 184 để một hàng của sắn có thể là mô hình tối ưu cho hệ thống này [33]

Theo Lê Hoa, Bùi Quang Tuấn (2009) [11]: cây đậu Stylo có năng suất không cao như một số giống cỏ hòa thảo nhưng có giá trị dinh dưỡng cao, tỷ lệ protein thô đạt 16,68% Tỷ lệ sử dụng của cỏ Stylo cũng tương đối cao (87,6%)

Trang 37

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

Theo Nguyễn Thị Mùi và cộng sự, (2006) [32]: Trên cả ba vùng nghiên cứu (Thái Nguyên, Lâm Đồng, Ba Vì) hàm lượng protein đạt bình quân 22% cho Keo dậu K636 và 17% cho cỏ Stylo Plus

Tóm lại: Tiềm năng của việc sử dụng các loại cây cỏ ở nước ta để chế biến thành bột cỏ để sử dụng trong chăn nuôi gia cầm là rất lớn Tỷ lệ bột cỏ có thể bổ sung vào khẩu phần của gà thịt từ 2 – 5%, tùy thuộc vào hàm lượng chất xơ, chất kháng dinh dưỡng trong đó nhiều hay ít Khó khăn lớn nhất của người chăn nuôi trong điều kiện miền núi là làm thế nào để có thể sử dụng bột cỏ trong khẩu phần tiện lợi nhất, mà vẫn mang lại hiệu quả kinh tế cao

Trang 38

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

Chương 2

ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng, địa điểm và phương pháp nghiêm cứu

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu

- Bột cỏ Stylosanthes CIAT 184

- 450 gà thịt (Ri x Lương Phượng) nuôi thịt từ 1 – 10 tuần tuổi nuôi tại huyện

Na Rì - Bắc Kạn (Gà 1 ngày tuổi nhập từ Công ty TNHH MTV Gà giống DABACO – Tiên Du, Bắc Ninh)

2.1.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

- Thời gian: Bắt đầu từ tháng 10/2012, kết thúc 01/2013

- Địa điểm: Thị trấn Yến Lạc, Huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn

2.2 Nội dung và phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Nội dung nghiên cứu

- Bổ sung các tỷ lệ bột cỏ Stylo CIAT 184 khác nhau vào khẩu phần ăn có cân đối năng lượng và protein (Thí nghiệm A)

- Bổ sung các tỷ lệ bột cỏ Stylo CIAT 184 khác nhau vào khẩu phần ăn không cân đối năng lượng và protein (Thí nghiệm B)

2.2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.2.1 Thí nghiệm A: Khảo sát ảnh hưởng của các tỷ lệ bột cỏ Stylo khác nhau trong khẩu phần ăn có cân đối năng lượng và protein đến tốc độ sinh trưởng gà thịt

* Bố trí thí nghiệm A

270 gà con ở 1 ngày tuổi được chia làm 3 lần thí nghiệm lặp lại Mỗi lần 90 con chia 3 lô, mỗi lô 30 con, 3 lô tương ứng với 3 công thức thí nghiệm Thí nghiệm được bố trí theo sơ đồ phân lô so sánh với thời gian theo dõi là 10 tuần (từ ngày tuổi thứ 1 đến ngày thứ 70)

Trang 39

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

Ri x Lương Phượng

Phương thức nuôi 0-4 tuần tuổi Nuôi nhốt Nuôi nhốt Nuôi nhốt

5-10 tuần tuổi Bán chăn thả Bán chăn thả Bán chăn thả

Thí nghiệm được lặp lại 3 lần:

- Lô thí nghiệm 1 (TN1): Lô a1 – Lô b1 – Lô c1

- Lô thí nghiệm 2 (TN2): Lô a2 – Lô b2 – Lô c2

- Lô đối chứng (ĐC): Lô a3 – Lô b3 – Lô c3

+ Gà thí nghiệm 1 ngày tuổi được chọn là gà loại 1: khỏe mạnh, nhanh nhẹn + Tất cả gà thí nghiệm được nuôi trong chuồng thông thoáng tự nhiên có đệm lót giai đoạn 0-4 tuần tuổi Từ tuần thứ 5-10 ngoài thời gian nhốt trong chuồng vào ban đêm, chúng được thả vào vườn đã có quây sẵn Gà được nuôi hỗn hợp chung trống mái

+ Đệm lót: Sử dụng trấu được phun sát trùng và phơi khô trước khi dùng + Nhiệt độ: Các lô thí nghiệm đều có chụp sưởi để đảm bảo nhiệt độ cho

cơ thể

+ Máng ăn, máng uống: Trong 3 tuần đầu sử dụng khay tròn tương ứng cho

50 gà/khay và cho uống nước bằng các máng uống tròn Gallon 50 gà/máng Các máng ăn, máng uống được đặt xen kẽ nhau xung quanh chụp sưởi

+ Nước uống tự do

+ Phòng và sử dụng vacxin: Tất cả số gà thí nghiệm đều được tiêm chủng các loại vacxin và phòng bệnh theo đúng quy trình kỹ thuật

Trang 40

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

Bảng 2.2 Thành phần và giá trị dinh dưỡng của 1kg thức ăn thí nghiệm A

TT Thành phần và giá trị

dinh dưỡng

TĂHH 1-4 TT

TĂHH 5-10 TT

Bột cỏ Stylo

Đỗ tương rang

Dầu thực vật

Ngày đăng: 19/11/2014, 19:31

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
14. Nguyễn Duy Hoan, Bùi Đức Lũng, Nguyễn Thanh Sơn, Đoàn Xuân Trúc (1999), chăn nuôi gia cầm (giáo trình dùng cho cao học ngành chăn nuôi), NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: chăn nuôi gia cầm (giáo trình dùng cho cao học ngành chăn nuôi)
Tác giả: Nguyễn Duy Hoan, Bùi Đức Lũng, Nguyễn Thanh Sơn, Đoàn Xuân Trúc
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1999
15. Nguyễn Mạnh Hùng, Hoàng Thanh, Bùi Hữu Đoàn, Nguyễn Thị Mai (1994), Chăn nuôi gia cầm, NXB Nông nghiệp Hà Nội, tr104 - 108; 122 - 123; 170 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chăn nuôi gia cầm
Tác giả: Nguyễn Mạnh Hùng, Hoàng Thanh, Bùi Hữu Đoàn, Nguyễn Thị Mai
Nhà XB: NXB Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 1994
16. Trung tâm khuyến nông quốc gia, Kỹ thuật chăn nuôi gà trong nông hộ, NXB Nông nghiệp (2007), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật chăn nuôi gà trong nông hộ
Tác giả: Trung tâm khuyến nông quốc gia, Kỹ thuật chăn nuôi gà trong nông hộ, NXB Nông nghiệp
Nhà XB: NXB Nông nghiệp (2007)
Năm: 2007
17. Nguyễn An Trường (1974): "Giá trị và việc sử dụng cây stylosanthes gracilis trong chăn nuôi ở các nước nhiệt đới", Đồng có và cây thức ăn gia súc nhiệt đới tập II, NXB Khoa học và kỹ thuật, tr 340 - 383 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giá trị và việc sử dụng cây stylosanthes gracilis trong chăn nuôi ở các nước nhiệt đới
Tác giả: Nguyễn An Trường
Nhà XB: NXB Khoa học và kỹ thuật
Năm: 1974
18. Đào Văn Khanh (2000), "Nghiên cứu năng suất thịt gà Broiler giống Tam Hoàng 882 nuôi ở các vụ mùa khác nhau của vùng sinh thái Thái Nguyên", Kết quả nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ nhân dịp kỷ niệm 30 năm thành lập trường ĐHNL, NXB Nông Nghiệp, tr 40 - 45 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu năng suất thịt gà Broiler giống Tam Hoàng 882 nuôi ở các vụ mùa khác nhau của vùng sinh thái Thái Nguyên
Tác giả: Đào Văn Khanh
Nhà XB: NXB Nông Nghiệp
Năm: 2000
19. Đào Văn Khanh (2002), Nghiên cứu khả năng sinh trưởng và chất lượng thịt của 3 giống gà lông màu Kabir, Lương Phượng, Tam Hoàng nuôi bán chăn thả ở 4 mùa vụ khác nhau tại Thái Nguyên, Luận án tiến sĩ khoa học nông nghiệp, ĐH Nông Lâm Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu khả năng sinh trưởng và chất lượng thịt của 3 giống gà lông màu Kabir, Lương Phượng, Tam Hoàng nuôi bán chăn thả ở 4 mùa vụ khác nhau tại Thái Nguyên
Tác giả: Đào Văn Khanh
Năm: 2002
20. Trương Tuấn Khanh và CTV (1999), "Tuyển chọn và sản xuất mở rộng một số giống cỏ hoà thảo và cỏ họ đậu tại vùng Selection and extention of the graMnes and legumes on M'Đrac", Tuyển tập nghiên cứu chăn nuôi, Phần dinh dưỡng thức ăn, tr 144 - 155 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập nghiên cứu chăn nuôi, Phần dinh dưỡng thức ăn
Tác giả: Trương Tuấn Khanh, CTV
Năm: 1999
21. Kushener K.F(1974), "Các cơ sở di truyền học của sự lựa chọn giống gia cầm", Tạp chí khoa học và kỹ thuật số 141, Phần thông tin khoa học nước ngoài, tr222 - 227 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các cơ sở di truyền học của sự lựa chọn giống gia cầm
Tác giả: Kushener K.F
Năm: 1974
23. Trần Thanh Vân (2002), "Nghiên cứu ảnh hưởng của một số biện pháp giống, kỹ thuật đến khả năng sản xuất thịt của gà lông màu Kabir, Lương Phượng, SaMno nuôi bán chăn thả tại Thái Nguyên", Báo cáo đề tài cấp Bộ B 2001 - 02 - 10, tr 50 - 55 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu ảnh hưởng của một số biện pháp giống, kỹ thuật đến khả năng sản xuất thịt của gà lông màu Kabir, Lương Phượng, SaMno nuôi bán chăn thả tại Thái Nguyên
Tác giả: Trần Thanh Vân
Nhà XB: Báo cáo đề tài cấp Bộ
Năm: 2002
24. Trần Long (1994), "Xác định đặc điểm di truyền một số tính trạng sản xuất và lựa chọn phương pháp chọn giống thích hợp đối với các dòng gà thịt Hybro HV85", TT khoa học kỹ thuật gia cầm số 1/1994, tr14 - 16 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xác định đặc điểm di truyền một số tính trạng sản xuất và lựa chọn phương pháp chọn giống thích hợp đối với các dòng gà thịt Hybro HV85
Tác giả: Trần Long
Nhà XB: TT khoa học kỹ thuật gia cầm
Năm: 1994
25. Bùi Đức Lũng (1992), "Nuôi gà Broiler năng suất cao", Báo cáo chuyên đề quản lý kỹ thuật ngành gia cầm TP Hồ Chí Minh, tr 1 - 24 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nuôi gà Broiler năng suất cao
Tác giả: Bùi Đức Lũng
Năm: 1992
26. Bùi Đức Lũng, Lê Hồng Mận (2003), "Chăn nuôi gà công nghiệp và lông màu thả vườn", NXB Nghệ An, tr20 - 22 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chăn nuôi gà công nghiệp và lông màu thả vườn
Tác giả: Bùi Đức Lũng, Lê Hồng Mận
Nhà XB: NXB Nghệ An
Năm: 2003
27. Ngô Giả Luyện (1994), "Nghiên cứu một số tính trạng sản xuất của các dòng thuần chủng V1, V3, V5, giống gà thịt cao sản Hybro trong điều kiện Việt Nam", Luận án phó Tiến sĩ Khoa học Nông nghiệp, 1994 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu một số tính trạng sản xuất của các dòng thuần chủng V1, V3, V5, giống gà thịt cao sản Hybro trong điều kiện Việt Nam
Tác giả: Ngô Giả Luyện
Năm: 1994
28. Chu Thị Lỵ (2008), Nghiên cứu ảnh hưởng của việc bổ sung vitamin ADE với các mức khác nhau trong khẩu phần đến khả năng sản xuất của gà Lương Phượng thương phẩm nuôi thịt, Luận văn thạc sỹ khoa học Nông nghiệp, Đại học Nông Lâm Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu ảnh hưởng của việc bổ sung vitamin ADE với các mức khác nhau trong khẩu phần đến khả năng sản xuất của gà Lương Phượng thương phẩm nuôi thịt
Tác giả: Chu Thị Lỵ
Năm: 2008
29. Lê Hồng Mận, Bùi Đức Lũng, Phạm Quang Hoán (1993), "Nghiên cứu yêu cầu Protein trong thức ăn hỗn hợp nuôi tách trống mái giống gà HV85 từ 1 - 63 ngày tuổi", Thông tin gia cầm số 13, tr17 - 29 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu yêu cầu Protein trong thức ăn hỗn hợp nuôi tách trống mái giống gà HV85 từ 1 - 63 ngày tuổi
Tác giả: Lê Hồng Mận, Bùi Đức Lũng, Phạm Quang Hoán
Năm: 1993
30. Trần Đình Miên, Nguyễn Kim cường (1992), "Chọn giống và nhân giống gia súc", NXB nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chọn giống và nhân giống gia súc
Tác giả: Trần Đình Miên, Nguyễn Kim cường
Nhà XB: NXB nông nghiệp
Năm: 1992
31. Trần Công Xuân (1995), "Nghiên cứu các mức năng lượng thích hợp trong khẩu phần nuôi gà Broiler RoMn 208, RoMn 208 - V35", Tuyển tập công trình Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu các mức năng lượng thích hợp trong khẩu phần nuôi gà Broiler RoMn 208, RoMn 208 - V35
Tác giả: Trần Công Xuân
Năm: 1995
32. Nguyễn Thị Mùi và Dương Thế Hùng (2006), "xác định tỷ lệ họ đậu trong cơ cấu thức ăn xanh và ứng dụng kỹ thuật canh tác trong sản xuất cỏ keo dậu (L.L K636) và Stylosanthes Plus tại Phổ Yên Thái Nguyên", Báo cáo khoa học Viện Chăn nuôi 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: xác định tỷ lệ họ đậu trong cơ cấu thức ăn xanh và ứng dụng kỹ thuật canh tác trong sản xuất cỏ keo dậu (L.L K636) và Stylosanthes Plus tại Phổ Yên Thái Nguyên
Tác giả: Nguyễn Thị Mùi và Dương Thế Hùng
Năm: 2006
33. Nguyễn Thị Mùi, Nguyễn Văn Quang, Lê Xuân Đông (2008), "Xác định tỷ lệ thích hợp trong cơ cấu sản xuất của cây thức ăn xanh và phương pháp phát triển cây cỏ chủ yếu cho chăn nuôi bò sữa ở một số vùng sinh thái khác nhau", Tạp chí khoa học công nghệ chăn nuôi, số 10 - 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xác định tỷ lệ thích hợp trong cơ cấu sản xuất của cây thức ăn xanh và phương pháp phát triển cây cỏ chủ yếu cho chăn nuôi bò sữa ở một số vùng sinh thái khác nhau
Tác giả: Nguyễn Thị Mùi, Nguyễn Văn Quang, Lê Xuân Đông
Năm: 2008
34. Nguyễn Thị Thuý Mỵ (1997), "Khảo sát so sánh khả năng sản xuất của gà Broiler 49 ngày tuổi thuộc giống AA, Avian, BE 88 nuôi vụ hè tại Thái Nguyên", Luận văn Thạc sĩ KHNN, Trường Đại học Nông Lâm, ĐH Thái Nguyên, tr104,107 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát so sánh khả năng sản xuất của gà Broiler 49 ngày tuổi thuộc giống AA, Avian, BE 88 nuôi vụ hè tại Thái Nguyên
Tác giả: Nguyễn Thị Thuý Mỵ
Năm: 1997

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1. Sơ đồ bố trí thí nghiệm A - Ảnh hưởng của các tỷ lệ bột cỏ Stylo Ciat 184 khác nhau đến năng suất và chất lượng của Gà thịt (Ri X Lương Phượng) nuôi trong điều kiện bán chăn thả tại Na Rì, Bắc Kạn
Bảng 2.1. Sơ đồ bố trí thí nghiệm A (Trang 39)
Bảng 2.5. Thành phần và giá trị dinh dƣỡng của 1kg thức ăn thí nghiệm B - Ảnh hưởng của các tỷ lệ bột cỏ Stylo Ciat 184 khác nhau đến năng suất và chất lượng của Gà thịt (Ri X Lương Phượng) nuôi trong điều kiện bán chăn thả tại Na Rì, Bắc Kạn
Bảng 2.5. Thành phần và giá trị dinh dƣỡng của 1kg thức ăn thí nghiệm B (Trang 42)
Bảng 3.2. Sinh trưởng tích luỹ của gà thí nghiệm A qua các tuần tuổi (g) - Ảnh hưởng của các tỷ lệ bột cỏ Stylo Ciat 184 khác nhau đến năng suất và chất lượng của Gà thịt (Ri X Lương Phượng) nuôi trong điều kiện bán chăn thả tại Na Rì, Bắc Kạn
Bảng 3.2. Sinh trưởng tích luỹ của gà thí nghiệm A qua các tuần tuổi (g) (Trang 49)
Hình 3.1. Đồ thị sinh trưởng tích luỹ của gà thí nghiệm A - Ảnh hưởng của các tỷ lệ bột cỏ Stylo Ciat 184 khác nhau đến năng suất và chất lượng của Gà thịt (Ri X Lương Phượng) nuôi trong điều kiện bán chăn thả tại Na Rì, Bắc Kạn
Hình 3.1. Đồ thị sinh trưởng tích luỹ của gà thí nghiệm A (Trang 50)
Hình 3.2. Biểu đồ sinh trưởng tuyệt đối của gà thí nghiệm A - Ảnh hưởng của các tỷ lệ bột cỏ Stylo Ciat 184 khác nhau đến năng suất và chất lượng của Gà thịt (Ri X Lương Phượng) nuôi trong điều kiện bán chăn thả tại Na Rì, Bắc Kạn
Hình 3.2. Biểu đồ sinh trưởng tuyệt đối của gà thí nghiệm A (Trang 52)
Bảng 3.4. Sinh trưởng tương đối của gà thí nghiệm A (%) - Ảnh hưởng của các tỷ lệ bột cỏ Stylo Ciat 184 khác nhau đến năng suất và chất lượng của Gà thịt (Ri X Lương Phượng) nuôi trong điều kiện bán chăn thả tại Na Rì, Bắc Kạn
Bảng 3.4. Sinh trưởng tương đối của gà thí nghiệm A (%) (Trang 52)
Hình 3.3. Biểu đồ sinh trưởng tương đối của đàn gà thí nghiệm A - Ảnh hưởng của các tỷ lệ bột cỏ Stylo Ciat 184 khác nhau đến năng suất và chất lượng của Gà thịt (Ri X Lương Phượng) nuôi trong điều kiện bán chăn thả tại Na Rì, Bắc Kạn
Hình 3.3. Biểu đồ sinh trưởng tương đối của đàn gà thí nghiệm A (Trang 53)
Hình 3.4. Biểu đồ chỉ số sản xuất của đàn gà thí nghiệm A - Ảnh hưởng của các tỷ lệ bột cỏ Stylo Ciat 184 khác nhau đến năng suất và chất lượng của Gà thịt (Ri X Lương Phượng) nuôi trong điều kiện bán chăn thả tại Na Rì, Bắc Kạn
Hình 3.4. Biểu đồ chỉ số sản xuất của đàn gà thí nghiệm A (Trang 60)
Bảng 3.12. Sinh trưởng tích luỹ của gà thí nghiệm B qua các tuần tuổi (g) - Ảnh hưởng của các tỷ lệ bột cỏ Stylo Ciat 184 khác nhau đến năng suất và chất lượng của Gà thịt (Ri X Lương Phượng) nuôi trong điều kiện bán chăn thả tại Na Rì, Bắc Kạn
Bảng 3.12. Sinh trưởng tích luỹ của gà thí nghiệm B qua các tuần tuổi (g) (Trang 66)
Hình 3.6. Biểu đồ sinh trưởng tuyệt đối của gà thí nghiệm B - Ảnh hưởng của các tỷ lệ bột cỏ Stylo Ciat 184 khác nhau đến năng suất và chất lượng của Gà thịt (Ri X Lương Phượng) nuôi trong điều kiện bán chăn thả tại Na Rì, Bắc Kạn
Hình 3.6. Biểu đồ sinh trưởng tuyệt đối của gà thí nghiệm B (Trang 69)
Bảng 3.14. Sinh trưởng tương đối của gà thí nghiệm B (%) - Ảnh hưởng của các tỷ lệ bột cỏ Stylo Ciat 184 khác nhau đến năng suất và chất lượng của Gà thịt (Ri X Lương Phượng) nuôi trong điều kiện bán chăn thả tại Na Rì, Bắc Kạn
Bảng 3.14. Sinh trưởng tương đối của gà thí nghiệm B (%) (Trang 69)
Bảng 3.15. Tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lƣợng của đàn gà thí nghiệm B (kg) - Ảnh hưởng của các tỷ lệ bột cỏ Stylo Ciat 184 khác nhau đến năng suất và chất lượng của Gà thịt (Ri X Lương Phượng) nuôi trong điều kiện bán chăn thả tại Na Rì, Bắc Kạn
Bảng 3.15. Tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lƣợng của đàn gà thí nghiệm B (kg) (Trang 72)
Bảng 3.17. Tiêu tốn năng lƣợng trao đổi/kg tăng khối lƣợng của gà TN B (Kcal) - Ảnh hưởng của các tỷ lệ bột cỏ Stylo Ciat 184 khác nhau đến năng suất và chất lượng của Gà thịt (Ri X Lương Phượng) nuôi trong điều kiện bán chăn thả tại Na Rì, Bắc Kạn
Bảng 3.17. Tiêu tốn năng lƣợng trao đổi/kg tăng khối lƣợng của gà TN B (Kcal) (Trang 74)
Hình 3.8. Biểu đồ chỉ số sản xuất của đàn gà thí nghiệm B - Ảnh hưởng của các tỷ lệ bột cỏ Stylo Ciat 184 khác nhau đến năng suất và chất lượng của Gà thịt (Ri X Lương Phượng) nuôi trong điều kiện bán chăn thả tại Na Rì, Bắc Kạn
Hình 3.8. Biểu đồ chỉ số sản xuất của đàn gà thí nghiệm B (Trang 76)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm