1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

đề tài: nội dung, giá trị của luật nhà nước(hiến pháp) qua các lần sửa đổi

18 593 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 275 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

đề tài: nội dung, giá trị của luật nhà nước(hiến pháp) qua các lần sửa đổi

Trang 1

z

Trường Đại Học Bách Khoa Hà Nội

……@&?……

Bài Tiểu Luận

Bộ Môn Cơ Bản

Họ Tên : Nguyễn Văn Chung

Lớp : QTM02K4 Số Sinh Viên :

Đề Tài:

Nội dung, giá trị của Luật nhà nhà nước

(Hiến Pháp) qua các lần sửa đổi

Hà Nội,2012

Trang 3

Mở đầu

Lý do chọn đề tài

Trang 4

Mục Lục

Chương Trang

Chương I : Khái quát về sự ra đời của Hiến pháp ………… 5

Chương II : Lịch sử lập hiến Việt Nam ……… 7

Chương III : Hiến pháp Việt Nam qua các thời kì ………… 8

I Hiến pháp Việt Nam năm 1946 ……… 8

II Hiến pháp Việt Nam năm 1959 ……… 10

III Hiến pháp Việt Nam năm 1980 ……… 12

IV Hiến pháp Việt Nam năm 1992 ……… 14

Chương IV : Kết Luận ……… 15

Trang 5

Chương I :

Khái quát về sự ra đời của Hiến Pháp

- Theo lịch sử, xã hội loài người đã tồn tại hơn 50 nghìn năm, Nhà nước và

pháp luật cũng đã có gần 3 nghìn năm Nhưng Hiến pháp được hiểu như ngày nay là đạo luật cơ bản của mỗi quốc gia để quy định tổ chức quyền lực Nhà nước, quy định các quyền tự do, dân chủ và các nghĩa vụ của công dân chỉ bắt đầu xuất hiện vào thời kỳ cách mạng tư sản Sự ra đời của Hiến pháp gắn liền với việc khẳng định thắng lợi của cách mạng tư sản, đồng thời đánh dấu sự chấm dứt của chế độ cai trị độc đoán, chuyên quyền, sử dụng bạo lực công khai và trắng trợn

đã từng tồn tại hàng nghìn năm dưới chế độ phong kiến, chế độ chiếm hữu nô lệ Trong Nhà nước chiếm hữu nô lệ, Nhà nước phong kiến không hề biết tới Hiến pháp.

- Dưới chế độ phong kiến, vua hay hoàng đế - đại diện giai cấp thống trị phong kiến-được coi là con trời ("thiên tử"), thâu tóm trong tay toàn bộ quyền lực nhà nước: quyền đặt ra pháp luật, quyền cắt cử quan lại để cai quản đất nước, quyền xét xử tối cao Đối với đông đảo các tầng lớp nhân dân được gọi là "thần dân" đã

bị tước đoạt cả các quyền tối thiểu nhất của con người, vua cho sống thì được sống, vua bắt chết thì phải chết

- Để hạn chế quyền lực vô hạn định của giai cấp thống trị phong kiến mà đại diện là nhà vua, tiến tới lật đổ chế độ thống trị hà khắc, độc đoán, chuyên quyền phong kiến, giai cấp tư sản đã phát động cuộc cách mạng tư sản, đưa ra các khẩu hiệu: về chủ quyền nhân dân; về các quyền tự do, bình đẳng, công bằng, bác ái nên được đông đảo các tầng lớp nhân dân ủng hộ và tham gia vào cuộc cách mạng này

- Cách mạng tư sản thắng lợi, Hiến pháp ra đời là sự kiện chính trị-xã hội quan trọng, khẳng định sự thống trị của giai cấp tư sản tiến bộ, đang lên và là lực lượng đại diện cho một phương thức sản xuất mới -phương thức sản xuất TBCN, một chế độ cai trị mới - chế độ dân chủ tư sản, đồng thời đánh dấu sự rút lui khỏi

vũ đài chính trị của giai cấp phong kiến cùng với chế độ cai trị độc đoán, chuyên quyền của nó.Ở đâu cách mạng tư sản giành được thắng lợi hoàn toàn và triệt

để, thì ở đó toàn bộ quyền lực Nhà nước được chuyển giao cho giai cấp tư sản

và quyền lực này được tổ chức bằng hình thức chính thể cộng hòa mà Hiến pháp

là văn bản pháp lý chính thức ghi nhận Còn ở đâu, giai cấp tư sản không giành được thắng lợi hoàn toàn và triệt để, thì ở đó giai cấp tư sản phải nhượng bộ và

Trang 6

thỏa hiệp với giai cấp quý tộc phong kiến, ở đó quyền lực Nhà nước được chia sẻ giữa hai giai cấp thống trị này và hình thức chính thể quân chủ đại nghị được ghi nhận bởi một văn bản pháp lý có tên gọi là Hiến pháp (cũng vì thế chính thể này còn gọi là quân chủ lập hiến)

- Văn bản có tính chất Hiến pháp đầu tiên ra đời trong cách mạng tư sản ở nước Anh (1640-1654) là đạo luật năm 1653 về "Hình thức cai quản Nhà nước Anh, Xcốtlen, Ailen và những địa phận thuộc chúng" (một trong các bộ phận hợp thành Hiến pháp không thành văn của nước Anh), trong đó quy định hình thức tổ chức quyền lực mới Tiếp đến là các bản Hiến pháp Hoa Kỳ năm 1787 (Hiến pháp thành văn đầu tiên trên thế giới), Hiến pháp của Pháp năm, Hiến pháp Ba Lan năm 1791, Hiến pháp Na-uy năm 1814, Hiến pháp Bỉ nam 1831, Hiến pháp Ac-hen-ti-na năm 1853, Hiến pháp Luych-xăm-bua năm 1868, Hiến pháp Thuỵ Sỹ năm 1874 v.v Đến cuối thế kỷ thứ 18, ở nhiều nước châu Âu đã có Hiến pháp và

sự ra đời các bản Hiến pháp nói trên đánh dấu bước khởi đầu lịch sử lập hiến của nhân loại

- Hiện nay, trên thế giới có khoảng 190 nước có Hiến pháp và sự hiện diện của Hiến pháp được xem là dấu hiệu pháp lý không thể thiếu của một Nhà nước dân chủ hiện đại

Trang 7

Chương 2 Lịch sử lập hiến việt nam

- Tư tưởng lập hiến ở nước ta trước Cách mạng tháng Tám năm 1945

Trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, nước ta là một nước thuộc địa nửa phong kiến với chính thể quân chủ chuyên chế nên không có Hiến pháp Tuy nhiên, vào những năm đầu thế kỷ XX do ảnh hưởng của tư tưởng cách mạng dân chủ tư sản Pháp (1789), ảnh hưởng của cách mạng Trung Hoa (1911) và chính sách duy tân mà Minh Trị thiên hoàng đã áp dụng ở Nhật Bản…nên trong giới trí thức Việt Nam đã xuất hiện tư tưởng lập hiến

- Có hai khuynh hướng chủ yếu về lập hiến là:

+ Khuynh hướng thứ nhất: thiết lập chế độ quân chủ lập hiến ở Việt Nam dưới

sự bảo hộ của Pháp, cầu xin Pháp ban bố cho Việt Nam một bản Hiến pháp trong

đó bảo đảm : quyền của thực dân Pháp vẫn được duy trì, quyền của Hoàng đế Việt Nam cần hạn chế và quyền của "dân An nam" về tự do, dân chủ được mở rộng Đại diện cho xu hướng này là Bùi Quang Chiêu (người sáng lập ra Đảng lập hiến năm 1923) và Phạm Quỳnh.

+ Khuynh hướng thứ hai: chủ trương đấu tranh giành độc lập, tự do cho dân tộc

và sau khi giành được độc lập sẽ xây dựng bản Hiến pháp của Nhà nước độc lập

đó Không có độc lập dân tộc thì không thể có Hiến pháp thực sự dân chủ Đại diện cho chủ trương này là cụ Phan Bội Châu, cụ Phan Chu Trinh, nhà yêu nước Nguyễn Ai Quốc Thực tiễn cách mạng Việt Nam và lịch sử lập hiến ở nước ta đã chứng minh chủ trương này là hoàn toàn đúng đắn.

Chương 3 Hiến pháp Việt Nam qua các thời kì

Trang 8

Trước năm 1945, Việt Nam không có hiến pháp Từ sau khi thành lập nhà nước

cộng hòa đầu tiên, lịch sử Việt Nam ghi nhận 4 bản Hiến pháp đã được ra đời, trong các năm 1946, 1959, 1980, 1992 (được sửa đổi vào năm 2001).

I Hiến pháp năm 1946

A Hoàn cảnh ra đời:

- Cách mạng tháng Tám thành công, ngày 2/9/1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh thay

mặt Chính phủ lâm thời đọc bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa.

- Tại phiên họp đầu tiên của Chính phủ (3/9/1945), Hồ Chủ tịch đề ra sáu nhiệm

vụ cấp bách của Chính phủ, mà một trong sáu nhiệm vụ cấp bách đó là xây dựng

và ban hành bản Hiến pháp Vì theo Người: "Trước chúng ta đã bị chế độ quân chủ cai trị, rồi đến chế độ thực dân không kém phần chuyên chế nên nước ta không có Hiến pháp, nhân dân ta không được hưởng quyền tự do, dân chủ Chúng ta phải có một Hiến pháp dân chủ" (Hồ Chí Minh Toàn tập, T.4, tr.8).

- Ngày 20/9/1945 Chính phủ lâm thời ban hành Sắc lệnh số 34 thành lập Ban

dự thảo Hiến pháp gồm 7 người, do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu Tháng 11/1945 bản Dự thảo Hiến pháp đầu tiên được công bố để nhân dân đóng góp ý kiến Ngày 9/11/1946 tại kỳ họp thứ hai của Quốc hội khóa I (do cuộc tổng tuyển

cử ngày 6/1/1946 bầu) đã thông qua bản Hiến pháp đầu tiên của nước ta.

B Nội dung cơ bản của Hiến pháp năm 1946:

Hiến pháp 1946 gồm : lời nói đầu, 7 chương với 70 điều.

- Lời nói đầu Hiến pháp 1946 xác định nhiệm vụ của dân tộc ta trong giai

đoạn này là "bảo toàn lãnh thổ, giành độc lập hoàn toàn và kiến thiết quốc gia

trên

nền tảng dân chủ" Lời nói đầu còn xác định ba nguyên tắc cơ bản xây dựng

Hiến pháp là: "- Đoàn kết toàn dân không phân biệt giống nòi, gái trai, giai cấp, tôn giáo; - Đảm bảo các quyền tự do dân chủ Thực hiện chính quyền mạnh mẽ

và sáng suốt của nhân dân"

- Chương I: Chính thể (gồm 3 điều) xác định rõ: nước Việt Nam là một nước dân

chủ cộng hòa Tất cả quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam.

- Chương II: Nghĩa vụ và quyền lợi công dân (gồm 18 điều), trong đó quy định

các quyền rất cơ bản như : quyền bình đẳng trước pháp luật; quyền bầu cử, ứng cử; quyền tư hữu tài sản; các quyền tự do dân chủ và tự do cá nhân; quyền phúc quyết về Hiến pháp và những việc quan hệ đến vận mệnh quốc gia… Công dân

có các nghĩa vụ: bảo vệ Tổ quốc, tôn trọng Hiến pháp, tuân theo pháp luật.

Trang 9

- Từ chương III đến chương VI : quy định về Nghị viện nhân dân, về Chính phủ, Hội đồng nhân dân và Uy ban hành chính, về cơ quan tư pháp Nghị viện nhân dân được xác định là cơ quan có quyền cao nhất của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, do công dân Việt nam từ 18 tuổi trở lên bầu ra theo nguyên tắc phổ thông, tự do, trực tiếp và kín, nhiệm kỳ 3 năm Nghị viện có những quyền hạn quan trọng như: giải quyết mọi vấn đề chung cho toàn quốc, đặt ra pháp luật, biểu quyết ngân sách, bầu Ban thường vụ Nghị viện, bầu Chủ tịch nước, biểu quyết chức danh Thủ tướng và danh sách các Bộ trưởng…Hiến pháp quy định Chính phủ là cơ quan hành chính cao nhất của toàn quốc, gồm Chủ tịch nước và nội các Nội các gồm Thủ tướng và các Bộ trưởng, Thứ trưởng Chế định Chủ tịch nước theo Hiến pháp năm 1946 có vị trí đặc biệt quan trọng trong bộ máy Nhà nước, vừa là nguyên thủ quốc gia, vừa là người đứng đầu Chính phủ (cơ quan hành pháp cao nhất), là nghị viên của Nghị viện nhân dân, được Nghị viện bầu, nhưng lại có quyền ban hành sắc lệnh có giá trị gần như luật, có quyền yêu cầu Nghị viện thảo luận và biểu quyết lại dự luật của nghị viện đã thông qua; Chủ tịch nước còn là tổng chỉ huy quân đội…Chủ tịch nước có quyền hạn rất rộng lớn, nhưng "không phải chịu một trách nhiệm nào, trừ tội phản quốc" (Điều 50 Hiến pháp 1946)

Hiến pháp còn quy định về 4 cấp chính quyền địa phương là cấp bộ, tỉnh (thành phố, thị xã), huyện và xã Ở mỗi cấp chính quyền địa phương tổ chức hai loại cơ

quan là: Hội đồng nhân dân (HĐND) và Ủy ban hành chính (UBHC), trừ cấp bộ và

huyện chỉ có UBHC

Các cơ quan tư pháp theo Hiến pháp năm 1946 gồm: Toà án tối cao, các tòa án phúc thẩm, các toà án đệ nhị cấp và sơ cấp.

- Chương VII: sửa đổi Hiến pháp.

C Ý nghĩa của Hiến pháp năm 1946:

- Là bản Hiến pháp đầu tiên trong lịch sử nước nhà và cũng là bản Hiến pháp đầu tiên của một Nhà nước cộng hòa dân chủ nhân dân ở Đông Nam châu Á Hiến pháp đã ghi nhận thành quả đấu tranh của nhân dân ta giành độc lập, tự

do cho dân tộc, lật đổ chế độ thực dân-phong kiến ở nước ta Đây là sự kiện đánh dấu sự "đổi đời" của đất nước và của nhân dân ta

- Các quyền tự do, dân chủ của công dân được Hiến pháp năm 1946 quy định mang tính tiến bộ, tính nhân văn sâu sắc

- Hiến pháp năm 1946 đặt cơ sở pháp lý nền tảng cho việc tổ chức và hoạt động của một "chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt" của nhân dân với sự sáng

tạo ra một hình thức chính thể cộng hòa dân chủ độc đáo với chế định Chủ

Trang 10

tịch nước phù hợp với điều kiện chính trị-xã hội rất phức tạp ở nước ta giai đọan này

Nhiều nguyên tắc tổ chức và hoạt động của bộ máy Nhà nước được Hiến pháp 1946 quy định đến nay vẫn còn nguyên giá trị

II Hiến pháp năm 1959

A Hoàn cảnh ra đời:

- Sau chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, thực dân Pháp đã phải ký Hiệp định Giơ-ne-vơ (20/7/1954), miền Bắc được hoàn toàn giải phóng nhưng đất nước còn tạm chia làm hai miền Nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn mới này là: xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh thống nhất nước nhà Hiến pháp năm 1946 "đã hoàn thành sứ mệnh của nó Nhưng so với tình hình mới và nhiệm vụ cách mạng mới hiện nay thì nó không thích hợp nữa Vì vậy, chúng ta phải sửa đổi Hiến pháp ấy" (Hồ Chí Minh: Báo cáo về Dự thảo Hiến pháp sửa đổi năm 1959)

- Ngày 23/1/1957 tại kỳ họp thứ 6 Quốc hội khóa I đã ra nghị quyết về việc sửa đổi Hiến pháp và thành lập Ban sửa đổi Hiến pháp đứng đầu là Chủ tịch

Hồ Chí Minh Ngày 1/4/1959 Dự thảo Hiến pháp sửa đổi công bố để nhân dân thảo luận, đóng góp ý kiến Tại kỳ họp thứ 11 Quốc hội khóa I, ngày 31/12/1959 Hiến pháp sửa đổi được thông qua và ngày 1/1/1960 Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh công bố Hiến pháp này

B Nội dung cơ bản của Hiến pháp 1959 :

Hiến pháp 1959 gồm có Lời nói đầu và 112 điều, chia thành 10 chương

- Chương I " Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa" quy định về hình thức chính thể của Nhà nước ta vẫn là Nhà nước cộng hoà dân chủ nhân dân, xác định tất cả quyền lực Nhà nước đều thuộc về nhân dân Hiến pháp khẳng định nước Việt nam là một khối thống nhất không thể chia cắt, khẳng định nguyên tắc bình đẳng và đoàn kết dân tộc…

- Chương II "Chế độ kinh tế và xã hội" là chương mới so với Hiến pháp năm

1946, trong đó quy định về đường lối chính sách phát triển kinh tế, các hình thức sở hữu ( của Nhà nước, tập thể, của người lao động riêng lẻ và của nhà

tư sản dân tộc), về chính sách của Nhà nước đối với các thành phần kinh tế…

- Chương III "Quyền lợi và nghĩa vụ của công dân" Ở chương này, Hiến pháp năm 1959 đã kế thừa và phát triển các quy định của Hiến pháp năm 1946

Trang 11

nghĩa vụ mới như : quyền người lao động được giúp đỡ về vật chất khi già yếu, bệnh tật, hoặc mất sức lao động (Điều 32), quyền tự do nghiên cứu khoa học, sáng tác văn học nghệ thuật (Điều 34), quyền khiếu nại, tố cáo (Điều 29), nghĩa vụ tôn trọng và bảo vệ tài sản công cộng (Điều 46)…

Từ chương IV đến chương VIII quy định về tổ chức bộ máy Nhà nước : Quốc hội, Chủ tịch nước, Hội đồng Chính phủ, Hội đồng nhân dân và Uy ban hành chính địa phương các cấp, Toà án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân So với Hiến pháp năm 1946, bộ máy Nhà nước có những điểm mới cơ bản là: Hiến pháp quy định 4 cấp chính quyền ( trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã), các đơn vị hành chính nói trên đều tổ chưc HĐND và UBHC , các cơ quan dân

cử được đề cao, được xác định là cơ quan quyền lực Nhà nước ở mỗi cấp; UBHC cấp nào do HĐND cấp đó bầu ra Chế định Chủ tịch nước tách khỏi Chính phủ, quyền hạn của Chủ tịch nước hạn chế hơn rất nhiều so với Hiến pháp năm 1946 ( không còn quyền đứng đầu Chính phủ, không còn quyền ban hành sắc lệnh, quyền yêu cầu Quốc hội thảo luận và biểu quyết lại dự luật đã thông qua, không là tổng chỉ huy quân đội, chỉ thống lĩnh các lực lượng vũ trang…) Hiến pháp 1959 quy định thành lập hệ thống Tòa án tương ứng với cấp chính quyền địa phương từ cấp huyện trở lên, do cơ quan dân cử cùng cấp bầu; quy định thành lập hệ thống Viện kiểm sát độc lập, theo nguyên tắc tập trung thống nhất để thực hiện chức năng kiểm sát tuân theo pháp luật và công tố…

C Ý nghĩa của Hiến pháp năm 1959

- Hiến pháp năm 1959 ghi nhận thành quả đấu tranh giữ nước và xây dựng đất nước của nhân dân ta, khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng lao động Việt Nam (tức Đảng cộng sản Việt Nam ngày nay) trong sự nghiệp cách mạng ở nước ta

- Hiến pháp năm 1959 là Hiến pháp XHCN đầu tiên của nước ta, đặt cơ sở pháp lý nền tảng cho sự nghiệp xây dựng CNXH ở nước ta không qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa

- Hiến pháp năm 1959 là cương lĩnh đấu tranh để thực hiện hoà bình thống nhất nước nhà ( Xem: Tìm hiểu Hiến pháp nước Việt Nam dân chủ cộng hòa NXB Sự thật, Hà Nội, 1976, tr.35-45)

III Hiến pháp năm 1980

Ngày đăng: 19/11/2014, 09:54

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w