1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

vị trí, vai trò và xu hướng phát triển của các thành phần kinh tế ở việt nam

19 834 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 156,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong các chỉ tiêu đánh giá, chỉ có chỉ tiêu tỷ trọng của từng thành phần kinh tế trong tổng sản phẩm quốc nội GDP là được tính toán theo 6 thành phần kinh tế, các chỉ tiêu khác chỉ tính

Trang 1

ĐỀ TÀI: VỊ TRÍ, VAI TRÒ VÀ XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN

CỦA CÁC THÀNH PHẦN KINH TẾ Ở VIỆT NAM

Mục lục

Lời mở đầu 2

Bối cảnh và các khái niệm 3

1 Kinh tế nhà nước 3

2 Kinh tế tập thể 4

3 Kinh tế cá thể 4

4 Kinh tế tư bản tư nhân 4

5 Kinh tế tư bản nhà nước 5

6 Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài 5

Đánh giá vị trí, vai trò của các thành phần kinh tế 7

Xu hướng và định hướng phát triển 14

Kết luận 16

Tài liệu tham khảo 17

Trang 2

Lời mở đầu

Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, để có thể cạnh tranh và đứng vững trên thị trường, Việt Nam đã và đang phát huy sức mạnh tổng hợp của các thành phần kinh tế, kết hợp nội lực với ngoại lực để phát triển nhanh hơn Tuy nhiên, trong giới nghiên cứu và lý luận hiện vẫn còn nhiều tranh luận xung quanh vị trí, vai trò của từng thành phần trong nền kinh tế thị trường định hướng

xã hội chủ nghĩa Bài viết này nhằm mục đích góp thêm tiếng nói vào diễn đàn tranh luận đó Bài viết được trình bày theo 4 phần, trong đó: phần 1 điểm lại những chủ trương chính sách về phát triển các thành phần kinh tế của Nhà nước ta; phần 2 phân tích và đánh giá vị trí vai trò của từng thành phần kinh tế hiện nay; phần 3 dự báo xu hướng phát triển trong thời gian tới và nêu lên một số định hướng chính sách; và phần cuối là kết luận

Để đánh giá vai trò của các thành phần kinh tế, bài viết sẽ xem xét từng thành phần trong việc huy động và sử dụng các nguồn lực sản xuất (vốn, lao động, đất đai, khoa học công nghệ, v.v.), đóng góp vào tăng trưởng kinh tế và thu ngân sách nhà nước và vai trò trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập kinh tế quốc tế Việc dự báo xu hướng phát triển sẽ căn cứ vào quá trình phát triển của các thành phần kinh tế trong thời gian qua, bối cảnh và xu hướng phát triển đất nước trong thời gian tới Bài viết sử dụng những số liệu thống kê công bố chính thức và nhiều kết quả nghiên cứu khác về các lĩnh vực liên quan Tuy nhiên, hiện nay, những

số liệu thống kê theo cả 6 thành phần kinh rất hạn chế nên việc đánh giá khó có thể đầy đủ và hoàn toàn chính xác Trong các chỉ tiêu đánh giá, chỉ có chỉ tiêu tỷ trọng của từng thành phần kinh tế trong tổng sản phẩm quốc nội (GDP) là được tính toán theo 6 thành phần kinh tế, các chỉ tiêu khác chỉ tính theo 3 khu vực kinh tế là kinh tế nhà nước, kinh tế ngoài quốc doanh và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài Thậm chí, khái niệm về từng thành phần kinh tế trong các chỉ tiêu không hoàn toàn trùng nhau Chính vì vậy, bài viết này không có tham vọng đánh giá một cách chính xác tuyệt đối mức độ đóng góp của từng thành phần vào phát triển kinh tế Thay vào đó, bài viết này chỉ cố gắng nêu lên một số nhận định về vị trí, vai trò của từng thành phần kinh tế trong mối tương quan so sánh với vị trí, vai trò của các thành phần kinh tế khác

Trang 3

Bối cảnh và các khái niệm

Quan niệm về các thành phần kinh tế ở nước ta có sự thay đổi cùng với sự phát triển của nền kinh tế Trước năm 1986 chỉ có hai thành phần kinh tế được công nhận chính thức, đó là kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể Đến Đại hội Đảng lần thứ VI (1986), khi bắt đầu bước vào xây dựng nền kinh tế nhiều thành phần, Nhà nước chính thức xác nhận các thành phần kinh tế (bao gồm kinh tế xã hội chủ nghĩa gồm khu vực quốc doanh và khu vực tập thể cùng với bộ phận kinh tế gia đình gắn liền với thành phần đó và các thành phần kinh tế khác gồm: kinh tế tiểu sản xuất hàng hoá, kinh tế tư bản tư nhân, kinh tế tư bản nhà nước, kinh tế tự nhiên, tự cấp, tự túc trong một bộ phận đồng bào dân tộc tiểu số ở Tây Nguyên và các vùng núi cao khác) Cũng những thành phần kinh tế đó, Đại hội Đảng VII (1991) và VIII (1996) đã phân định thành 5 thành phần (bao gồm: kinh

tế quốc doanh/kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể/HTX, kinh tế tư bản nhà nước, kinh tế cá thể, tiểu chủ và kinh tế tư bản tư nhân) Đại hội Đảng IX (2001) đã bổ sung thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài Văn kiện của Đại hội IX đã

khẳng định rõ "Thực hiện nhất quán chính sách phát triển nền kinh tế nhiều

thành phần Các thành phần kinh tế kinh doanh theo pháp luật đều là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân"

Bài viết này sử dụng cách phân loại của Đại hội IX Theo đó, Nhà nước

đã xác định, kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể phải từng bước trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân, t rong đó, kinh tế nhà nước đóng vai trò chủ đạo

1 Kinh tế nhà nước

Thành phần kinh tế nhà nước bao gồm các tổ chức kinh tế thuộc các ngành

kinh tế quốc dân do Nhà nước đầu tư vốn và quản lý và phần vốn nhà nước trong các liên doanh hoặc công ty cổ phần Cụ thể là doanh nghiệp 100% vốn nhà nước, doanh nghiệp nhà nước đã khoán, cho thuê (sở hữu vẫn thuộc nhà nước); liên doanh mà các bên tham gia đều là doanh nghiệp nhà nước; quỹ dự trữ quốc gia, quỹ bảo hiểm nhà nước, tài sản thuộc sở hữu nhà nước có thể đưa vào vòng chu chuyển kinh tế; ngân hàng nhà nước; liên doanh mà nhà nước chiếm cổ phần lớn và người đầu tư nước ngoài chiếm phần rất nhỏ

Trong quá trình phát triển kinh tế ở nước ta, kinh tế nhà nước từ chỗ là khu vực kinh tế gần như độc nhất trong nền kinh tế (bên cạnh còn có kinh tế tập thể) đã dần chuyển sang giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế nhiều thành phần

Trang 4

Trong bối cảnh chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Nhà nước đã tiến hành nhiều biện pháp cải cách khu vực kinh tế nhà nước để khu vực kinh tế này có thể bảo đảm được vai trò chủ đạo như: sắp xếp, sát nhập các công ty, công ty hoá, cổ phần hoá, giao, bán, khoán, cho thuê, phát triển các tập đoàn kinh tế và giải thể các doanh nghiệp thua lỗ trầm trọng

2 Kinh tế tập thể.

Thành phần kinh tế tập thể bao gồm các tổ chức kinh tế được thành lập

theo Luật Hợp tác xã (HTX) trên cơ sở tự nguyện góp vốn của những người sản xuất kinh doanh, tiêu dùng, quyền sở hữu vốn thuộc về tập thể các thành viên tham gia góp vốn Khác với khu vực kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể có những thay đổi cơ bản trong thời gian qua Giai đoạn trước những năm đổi mới, quan niệm đơn giản về kinh tế tập thể và nền kinh tế xã hội chủ nghĩa đã dẫn đến hiện tượng tập thể hoá tràn lan, nhất là trong ngành nông nghiệp Tuy nhiên, sự không hiệu quả của mô hình này đã ngày càng bộc lộ rõ Chính vì vậy, trong thời kỳ đổi mới, nhiều đơn vị kinh tế tập thể đã được giải thể hoặc chuyển đổi Tuy vậy, do xác định kinh tế tập thể phải cùng với kinh tế nhà nước trở thành nền tảng trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN nên Việt Nam đã có nhiều biện pháp chính sách hỗ trợ để phát triển khu vực này, đặc biệt là những năm gần đây Năm

1996, Quốc hội đã ban hành Luật hợp tác xã, trong đó quy định việc thành lập,

tổ chức quản lý, hoạt động của HTX kiểu mới và nhiều chính sách ưu đãi dành riêng cho thành phần kinh tế này Năm 2003, sau 7 năm thực hiện, Quốc hội sửa đổi Luật lần thứ nhất nhằm chuyển đổi HTX theo hướng hoạt động hiệu quả hơn, tạo điều kiện thuận lợi hơn và đưa ra nhiều ưu đãi dành riêng cho các HTX về đất đai, về thuế, về tín dụng, hỗ trợ thông tin tiếp thị và nghiên cứu thị trường Hội nghị Trung ương 5 khoá IX cũng đã ban hành Nghị quyết số 13 năm 2002 đưa ra các biện pháp hỗ trợ khác về vốn, đào tạo nhân lực, quản lý nhà nước đối với kinh tế tập thể

3 Kinh tế cá thể

Thành phần kinh tế cá thể thực chất là kinh tế tư nhân có qui mô nhỏ, bao

gồm hộ sản xuất kinh doanh cá thể, tiểu chủ trực tiếp sản xuất kinh doanh, có thuê mướn lao động nhưng chưa thành lập doanh nghiệp theo Luật Doanh nghiệp (ví dụ như các trang trại, chủ thầu xây dựng loại nhỏ, chủ cửa hàng, xưởng sản xuất), các liên doanh trong đó cá thể, tiểu chủ chiếm tỷ trọng vốn lớn Đây là khu vực kinh tế tồn tại nh một tất yếu và mang tính đặc thù của nền kinh tế nhỏ lẻ, đang phát triển ở trình độ thấp bắt nguồn từ nông nghiệp nh nước ta

4 Kinh tế tư bản tư nhân

Trang 5

Kinh tế tư bản tư nhân bao gồm những doanh nghiệp do các nhà đầu tư

trong nước bỏ vốn thành lập, thuê mướn lao động và hưởng lợi nhuận Đó là những doanh nghiệp đăng ký theo Luật Doanh nghiệp (doanh nghiệp tư nhân, công ty TNHH, công ty cổ phần không có vốn nhà nước), liên doanh với thành phần kinh tế tập thể và tiểu chủ trong đó thành phần kinh tế tư bản tư nhân chiếm nguồn vốn lớn nhất

Về chủ trương chính sách, kinh tế tư bản tư nhân được chính thức công

nhận từ năm 1986 Những năm gần đây, khu vực tư bản tư nhân được huy động phát triển Nghị quyết trung ương 4 khoá VIII nêu lên chủ trương phát huy tối đa

và sử dụng có hiệu quả nguồn lực trong nước; tháo gỡ khó khăn tạo thuận lợi cho kinh tế tư nhân phát triển Năm 2002, Hội nghị Trung ương 5 đã ban hành Nghị quyết số 14 về phát triển kinh tế tư nhân bằng cách tạo điều kiện thuận lợi hơn

về khung thể chế, tiếp cận nguồn vốn và các nhân tố sản xuất khác để khuyến khích phát triển kinh tế tư nhân Tương ứng với các chủ trương đó, hành lang pháp lý cho phát triển kinh tế tư bản tư nhân cũng dần được mở rộng Luật Doanh nghiệp tư nhân và Luật Công ty (1990) đặt cơ sở pháp lý đầu tiên cho việc hình thành và phát triển các doanh nghiệp tư nhân với các loại hình pháp lý bao gồm công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần và doanh nghiệp tư nhân Đặc biệt, sự ra đời của Luật Doanh nghiệp năm 2000 đã thể chế hoá quyền tự do kinh doanh của tư nhân, tạo điều kiện thuận lợi cho kinh tế tư bản tư nhân phát triển

5 Kinh tế tư bản nhà nước

Kinh tế tư bản nhà nước là thành phần kinh tế bao gồm các liên doanh

giữa kinh tế nhà nước và tư bản tư nhân trong nước, trong đó tư nhân trong nước chiếm tỷ trọng vốn lớn nhất và liên doanh với tư bản tư nhân nước ngoài trong

đó kinh tế nhà nước chiếm tỷ trọng lớn nhất Sự ra đời của thành phần kinh tế này là kết quả của quá trình cải cách khu vực doanh nghiệp nhà nước và mở cửa nền kinh tế Việt Nam ra thế giới Chính sách thu hút vốn đầu tư nước ngoài thông qua thành lập các liên doanh giữa doanh nghiệp nhà nước với nhà đầu tư nước ngoài, chính sách cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước và phát triển các thành phần kinh tế khác đã làm cho qui mô của kinh tế tư bản nhà nước được nâng lên đáng kể

6 Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài

Khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài bao gồm doanh nghiệp 100%

vốn nước ngoài và các liên doanh với các doanh nghiệp trong nước mà nước ngoài chiếm tỷ trọng vốn lớn nhất Thành phần kinh tế này đã tồn tại ngay từ cuối những năm 80 thế kỷ 20 và ngày càng phát triển lớn mạnh hơn Tuy nhiên,

Trang 6

chỉ mới gần đây, tại Đại hội IX, Việt Nam mới chính thức coi kinh tế có vốn đầu

tư nước ngoài là một thành phần kinh tế, bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Trong những năm qua, Nhà nước

đã có nhiều chủ trương, chính sách khuyến khích sự phát triển của kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài Tháng 12 năm 1987, Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam đã được Quốc hội thông qua, và sau đó đã qua 4 lần sửa đổi (1990, 1992, 1996 và 2000) Những qui định luật pháp đó đã tạo hành lang pháp lý, cam kết bảo vệ lợi Ých hợp pháp của các nhà đầu tư nước ngoài Gần đây, Nhà nước ta đã tiếp tục

bổ sung nhiều chính sách, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho các nhà đầu tư nước ngoài như: mở rộng phạm vi đầu tư về quy mô, về lĩnh vực hoạt động, về hình thức đầu tư

Trang 8

Đỏnh giỏ vị trớ, vai trũ của cỏc thành phần kinh tế

Đồ thị: Tỷ trọng doanh nghiệp thuộc cỏc thành phần kinh tế theo một số chỉ

tiờu chủ yếu năm 2002

0%

10%

20%

30%

40%

50%

60%

70%

80%

90%

100%

Số Doanh nghiệp

Lao

động

Nguồn vốn

Doanh thu

Nộp ngân sách

Doanh nghiệp

có vốn ĐTNN

T nhân

Hợp tác xã

Doanh nghiệp Nhà n ớc

Nguồn: Tổng cục thống kờ, 2003

Cỏc thành phần kinh tế ở Việt Nam trong thời gian qua đều cú những đúng gúp nhất định vào kết quả tăng trưởng của nền kinh tế (xem Bảng 1)

Bảng 1: Cơ cấu GDP (giỏ thực tế) phõn theo thành phần kinh tế và tốc độ

tăng trưởng theo thành phần kinh tế, %

2000 2001 2002 2003 2004 2005

Cơ cấu GDP (giỏ hiện hành) 100,00 100,00 100,00 100,00 100,00 100,00

Kinh tế nhà nước 38,52 38,40 38,38 39,08 39,23 38,42 Kinh tế ngoài quốc doanh 48,20 47,84 47,86 46,45 45,61 45,68 Kinh tế cú vốn đầu tư nước

Tốc độ tăng GDP (giỏ so

Kinh tế ngoài quốc doanh 5,04 6,36 7,04 6,36 6,95 8,19 Kinh tế cú vốn đầu tư nước

Trang 9

Chú thích: (*) Tương đương với khái niệm về kinh tế tư bản nhà nước; **: tổng

của 3 khu vực kinh tế: tư nhân, cá thể, hỗn hợp

Nguồn: Tổng cục Thống kê, Bộ Kế hoạch và Đầu tư.

Bảng 1 cho thấy kinh tế nhà nước chiếm vị trí quan trọng và có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của nền kinh tế Khu vực kinh tế nhà nước chiếm giữ phần lớn các nguồn lực từ tài sản, đất đai đến nguồn vốn tài chính, vốn con người đồng thời có những đóng góp nhiều nhất cho tăng trưởng kinh tế Trong năm

2003, khu vực kinh tế nhà nước hiện có khoảng 5175 doanh nghiệp chiếm giữ 56,5% tổng vốn đầu tư phát triển và đóng góp hơn 38% GDP (xem bảng 2) Doanh nghiệp nhà nước đóng vai trò chủ đạo, thậm chí độc quyền trong nhiều ngành kinh tế, nhất là những ngành có vị trí then chốt như bưu chính viễn thông, hàng không, v.v Doanh nghiệp nhà nước góp phần đẩy mạnh quá trình công nghiệp hoá đất nước theo hướng xuất khẩu Khu vực này đã sản xuất ra 39,5% giá trị sản lượng công nghiệp, trên 50% kim ngạch xuất khẩu và 23,7% tổng thu ngân sách nhà nước Hầu hết các hoạt động sản xuất và dịch vụ công Ých đều do doanh nghiệp nhà nước đảm nhiệm (Phương Ngọc Thạch, 2003)

Năm 2005, tỷ trọng trong GDP của khu vực kinh tế nhà nước rất ít thay đổi, chỉ giảm 0,1 điểm phần trăm so với năm 2000 Trong khi đó, tỷ trọng của khu vực kinh tế ngoài quốc doanh đã giảm từ 48,2% năm 2000 xuống còn 45,7% năm 2005

B ng 2: Vai trò c a khu v c kinh t nh n ảng 2: Vai trò của khu vực kinh tế nhà nước trong nền kinh tế ủa khu vực kinh tế nhà nước trong nền kinh tế ực kinh tế nhà nước trong nền kinh tế ế nhà nước trong nền kinh tế à nước trong nền kinh tế ước trong nền kinh tế c trong n n kinh t ền kinh tế ế nhà nước trong nền kinh tế

Đóng góp cho tổng vốn đầu tư phát triển (giá

thực tế, %)

Đóng góp cho tổng thu ngân sách (DNNN, %) 22,28 23,37 23,71

Tỷ trọng trong tổng lực lượng lao động (%) - 4,8

-Nguồn: Tổng cục Thống kê, 2003

Tuy vậy, thực chất, vai trò quan trọng của khu vực kinh tế nhà nước nói chung và của doanh nghiệp nhà nước nói riêng có được chủ yếu là do lịch sử để lại và là kết quả của ý muốn chủ quan và sự tác động bằng các cơ chế, chính sách của Nhà nước trong việc cố gắng duy trì vai trò của khu vực này như đã xác định Hay nói một cách khác, vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước hiện nay chưa thực sự xuất phát từ thực lực vượt trội của khu vực này so với các thành phần kinh tế khác và so với các doanh nghiệp trên thế giới

Đặc điểm này thể hiện rõ trong một số điểm cơ bản nh sau:

Trang 10

Thứ nhất, năng lực cạnh tranh của khu vực doanh nghiệp nhà nước thấp

kém, nhiều doanh nghiệp hoạt động không hiệu quả Nợ của khu vực doanh nghiệp nhà nước quá lớn, nợ quá hạn, nợ khó đòi ngày càng tăng (chiếm tới 74,8% trong số nợ quá hạn của ngân hàng thương mại quốc doanh) So với các doanh nghiệp trên thế giới, doanh nghiệp nhà nước Việt Nam có quy mô nhỏ bé; công nghệ lạc hậu, tạo ra giá trị gia tăng thấp, sản xuất ra những hàng hoá và dịch vụ Ýt có khả năng cạnh tranh trên thị trường thế giới,

Thứ hai, so với các thành phần kinh tế khác, doanh nghiệp nhà nước được

nhận nhiều sự hỗ trợ và hưởng những đặc quyền mà các doanh nghiệp khác không thể có được Doanh nghiệp nhà nước được vay vốn không cần thế chấp (khi kinh doanh thua lỗ, vẫn được khoanh nợ, giảm nợ, dãn nợ); được giao đất

mà không phải thuế đất, được giao thực hiện các dự án lớn của Nhà nước mà nắm chắc là thu lãi lớn, v.v Trong 4 năm 1997-2000, ngân sách nhà nước đã đầu tư gần 8.200 tỉ đồng cho doanh nghiệp nhà nước (trong đó 2.216 tỉ đồng cấp

bổ sung vốn lưu động, 1.464 tỉ đồng bù lỗ, giúp donh nghiệp giảm bớt khó khăn

về tài chính), miễn giảm thuế 1.351 tỉ đồng, xoá nợ 1.088 tỉ đồng, khoanh nợ 3.392 tỉ đồng, giãn nợ 540 tỉ đồng, giảm trích khấu hao 200 tỉ đồng Hiện Nhà nước vẫn đang tiếp tục cấp thêm nhiều tỉ đồng bổ sung vốn cho các doanh nghiệp nhà nước, để trong 5 năm 2001-2005, cơ bản tạo đủ vốn cho doanh nghiệp (Đinh Văn Ân, 2003),

Thứ ba, bên cạnh sự yếu kém của doanh nghiệp nhà nước, hiệu quả hoạt

động của hệ thống ngân hàng nhà nước và các dịch vụ công khác, kể cả các dịch

vụ công Ých, cũng thấp Hệ thống ngân hàng chưa bảo đảm cung cấp nguồn vốn đầy đủ và thuận lợi cho doanh nghiệp thuộc mọi thành phần Các dịch vụ công, nhất là những dịch vụ phục vô khu vực doanh nghiệp còn yếu kém, chi phí cao, chất lượng thấp

Khác với khu vực kinh tế nhà nước, vai trò của khu vực kinh tế tập thể đã

giảm đi rất nhiều so với thời kỳ trước đổi mới Trong 3 năm gần đây, khu vực kinh tế này trung bình chỉ tạo ra khoảng 7,8% GDP, đóng góp không đáng kể cho ngân sách nhà nước Hiện nay, cả nước có khoảng 17.500 HTX, chỉ bằng 20% sè doanh nghiệp thuộc khu vực tư bản tư nhân, với qui mô nhỏ, lượng vốn

Ýt Các HTX thu hút hơn 7 triệu xã viên và tạo việc làm cho khoảng 10 triệu lao động (Trương Tấn Sang, 2003) Trong quá trình công nghiệp hoá hiện nay, khu vực kinh tế tập thể đã có những dấu hiệu chuyển dịch theo hướng gia tăng dần tỉ trọng các HTX phi nông nghiệp Hiện nay, HTX nông nghiệp chiếm khoảng 31%, công nghiệp chiếm 23,6%, thuỷ sản 12,7%, giao thông vận tải 11%, xây dựng 9%, thương mại chưa đầy 3%

Về mô hình hoạt động, sau nhiều nỗ lực cải cách của Nhà nước, so với trước đây, khu vực kinh tế tập thể đã xuất hiện nhiều mô hình HTX kiểu mới có

cơ chế hoạt động và quản lý năng động hơn, loại hình đa dạng hơn (kể cả hình

Ngày đăng: 19/11/2014, 08:23

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Cơ cấu GDP (giá thực tế) phân theo thành phần kinh tế và tốc độ - vị trí, vai trò và xu hướng phát triển của các thành phần kinh tế ở việt nam
Bảng 1 Cơ cấu GDP (giá thực tế) phân theo thành phần kinh tế và tốc độ (Trang 8)
Bảng 5 : Đóng góp cho tổng thu nhập ngân sách của các thành phần - vị trí, vai trò và xu hướng phát triển của các thành phần kinh tế ở việt nam
Bảng 5 Đóng góp cho tổng thu nhập ngân sách của các thành phần (Trang 14)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w