1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

SO SÁNH TƯƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT GIỮA NHO GIA VÀ PHÁP GIA

26 455 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 525,7 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

SO SÁNH TƯƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT GIỮA NHO GIA VÀ PHÁP GIA

Trang 1

PHẦN I: MỞ ĐẦU

Triết học ra đời và phát triển cho đến nay đã có lịch sử gần 3000 năm Sự phát triển những tư tưởng triết học của nhân loại là một quá trình lâu dài và hoàn thiện của hai nền văn hóa phương Đông và phương Tây Nếu Phương Đông là chiếc nôi lớn của văn minh nhân loại thì Trung Quốc là một trong những trung tâm văn hoá triết học cổ xưa rực rỡ, phong phú nhất của nền văn minh ấy Triết học Trung Quốc trải qua nhiều thời kỳ, trong đó thời Xuân thu, Chiến quốc là thời kỳ phát triển rực rỡ nhất, có nhiều học thuyết gọi thời kỳ này là “Bách gia chu tử, trăm nhà trăm thấy”; “Bách gia tranh minh, trăm nhà đua tiếng” Trong số những thành tựu của triết học Phương Đông thời đó phải kể đến trường phái triết học Nho gia và Pháp gia, đây là hai hệ tư tưởng xưa mà ý nghĩa của nó vẫn còn có giá trị cho đến tận ngày nay về vấn đề luân lý, đạo đức, chính trị- xã hội…

Trong quá trình phát triển kinh tế ở nước ta nói riêng và ở các nước khác nói chung, sự phát triển kinh tế ở mỗi nước tuy khác nhau nhưng đều có một số điểm chung, dựa trên một số quy tắc cơ bản để xây d ng và phát triển kinh tế Một trong những nguyên tắc cơ bản trong phát triển kinh tế ở mỗi nước là nhà nước cần phải xây dựng một hệ thống pháp luật hoàn thiện và thích hợp Nghiên cứu về đề tài “Sự tương đồng và khác biệt giữa Nho gia và pháp gia”, ngoài sự hiểu biết sâu sắc về hai

hệ tư tưởng này, sẽ phần nào giúp chúng ta hiểu rõ được cách vận dụng những tư tưởng ấy trong đường lối xây dựng, phát triển kinh tế xã hội đương thời

Em xin chân thành cảm ơn TS Bùi Văn Mưa đã nhiệt tình hướng dẫn

em hoàn thành bài viết này!

Trang 2

PHẦN 2: NỘI DUNG

CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT NHO GIA VÀ PHÁP GIA

1 Lịch sử hình thành và đặc điểm

a) Lịch sử hình thành:

Lịch sử Trung Hoa cổ đại nhiều biến động được tiếp nối bởi thời trung đại khá huy hoàng Nền văn hóa mà nhân dân Trung Hoa xây dựng lúc bấy giờ đã tác động rất lớn đến đời sống của họ và nhiều nước khác trong khu vực, nhiều hệ thống triết học ra đời và phát triển nhằm đưa ra những phương cách giải quyết khác nhau cho những vấn đề thực tiễn chính trị - đạo đức - xã hội mà thời đại đã đặt ra Sự phát triển của triết học Trung hoa cổ - trung đại là một quá trình đan xen của các trường phái khác nhau, một trong những trường phái triết học lớn có ảnh hưởng sâu rộng đó

việc giải thích vạn vật, con người và xã hội qua thuyết “trời sinh vạn vật và thiên nhân cảm ứng”

Đến thời nhà Tống, Nho giáo mới thực sự phát triển mạnh, Chu Tôn Dị và Thiệu Ung đã khởi xướng lý học trong Nho giáo Ngoài ra, thời này còn có những nhà lý học xuất sắc như : Trình Hạo, Trình Di, Chu Hy…Họ đã đưa ra thuyết “cách

Trang 3

vật trí tri” (đó là cách vật, trí tri, thành ý, chính tâm, tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ)

Ở các triều đại tiếp theo, Nho giáo tiếp tục chi phối đời sống tư tưởng xã hội Trung Quốc Đến thời nhà Minh – Thanh, Nho giáo đã không có sự phát triển mới nổi bật mà ngày càng khắc khe và bảo thủ Sang thế kỷ XIX, Nho giáo thật sự trở nên già cỗi, không còn sức sống

Tóm lại : Nho giáo phát triển qua nhiều giai đoạn khác nhau, có 3 giai đoạn tiêu biểu:

b) Đặc điểm của Nho gia:

Cốt lõi của Nho giáo là Nho gia Đó là một học thuyết chính trị nhằm tổ chức xã hội Để tổ chức xã hội có hiệu quả, điều quan trọng nhất là phải đào tạo cho được người cai trị kiểu mẫu - người lý tưởng này gọi là quân tử (quân = kẻ làm vua, quân tử = chỉ tầng lớp trên trong xã hội, phân biệt với "tiểu nhân", những người thấp kém về điạ vị xã hội; sau "quân tử" còn chỉ cả phẩm chất đạo đức: những người cao thượng, phẩm chất tốt đẹp, phân biệt với "tiểu nhân" là những người thiếu đạo đức hoặc đạo đức chưa hoàn thiện Điều này có thể được lí giải bởi đối tượng mà Nho giáo hướng đến trước tiên là những người cầm quyền) Để trở thành người quân tử, con người ta trước hết phải "tự đào tạo", phải "tu thân" Sau khi tu thân xong, người quân tử phải có bổn phận phải "hành đạo" (Đạo không đơn giản chỉ là đạo lí Nho gia hình dung cả vũ trụ được cấu thành từ các nhân tố đạo đức, và Đạo ở đây bao chứa cả nguyên lí vận hành chung của vũ trụ, vấn đề là nguyên lí đó là những nguyên lí đạo đức do Nho gia đề xướng (hoặc như họ tự nhận là phát hiện ra) và cần phải tuân theo Trời giáng mệnh làm vua cho kẻ nào có Đạo, tức là nắm được đạo

Đổng Trọng Thư Lưu Hâm (đề cao mệnh trời)

Tống nho Minh nho

Trang 4

trời, biết sợ mệnh trời Đạo vận hành trong vũ trụ khi giáng vào con người sẽ được gọi là Mệnh) Cần phải hiểu cơ sơ triết lí của Nho giáo mới nắm được logic phát triển và tồn tại của nó

2 Các quan điểm của Nho gia

2.1 Đường lối xây dựng đất nước

a) Ba điều hướng đến của nho gia :

Khổng Tử quan niệm rằng một quốc gia muốn thịnh vượng thì người cầm quyền

phải thực hiện được 3 điều kiện làm cho xã hội ổn định: (Thực túc + Binh cường +

Dân tín)

b) Dưỡng dân: nuôi dân

Nhiệm vụ quan trọng nhất của nhà cầm quyền là phải khéo nuôi dân, khéo nuôi dân thì dân quý, nước thịnh, ngược lại thì nước loạn, họ sẽ bỏ đi nơi khác Phải có chính sách làm cho dân no đủ

c) Giáo dân: Dân được giáo hóa thì dễ sai bảo, dễ trị, giáo hóa tốt nước sẽ yên

d) Đào tạo con người : Phân làm ba loại người: kẻ sỹ, đại trượng phu và quân tử

2.2 Đạo đức về Nhân – Lễ - Chính danh

Nhân là yêu người (ái nhân), người có nhân là người biết yêu thương người khác, điều gì mình không muốn thì đừng đem áp dụng cho kẻ khác (Kỷ sử bất dục, vật thi

ư nhân), đừng làm cho người khác những gì mình không muốn họ làm cho mình, mình muốn thành đạt thì cũng giúp người khác thành đạt (Lưu Bình – Dương Lễ) Muốn đạt được đức nhân thì phải “khắc kỷ”, phải “phục lễ”:

- Khắc kỷ: từ bỏ tính tham lam, ích kỉ, biết hạn chế lòng mình

- Phục lễ: hành động đúng theo đạo lý, chân lý

Người có nhân là người hoàn thiện, thực hiện đúng các chuẩn mực: Trung +

Trang 5

a) Trung: Trung với vua: 2 chiều: vua minh – tôi trung

b) Hiếu: Với cha mẹ, kính yêu cha mẹ và những người lớn tuổi trong nhà,

có như vậy mới kính yêu người ngoài

Những yêu cầu đòi hỏi phải có (phải đạt được)

+ Phải có con nối dõi

+ Phải chăm sóc bố mẹ - kính trong lòng

+ Phụ mẫu tại, bất viễn du

c) Nghĩa:

Thấy việc gì đáng làm thì làm, không hề mưu tính đến lợi ích cá nhân, việc nên làm mà không làm là bất nghĩa, việc không nên làm mà lại làm cũng là bất nghĩa Mạnh Tử nêu lên 4 điều người ta giữ được là nghĩa : phú quý bất năng dâm…

d) Trí: Được hiểu là sự minh mẫn sáng suốt, biết nhận thức được đúng sai Trí phải gắn liền với nhân nghĩa, tách rời là xảo (Hồ Tôn Hiến), muốn có trí thì phải học vì trí không phải tự nhiên mà có, nó là cả một quá trình học hỏi không ngừng, không học thì dù thiện tâm đến đâu cũng bị cái ngu dốt cái lầm lạc làm biến chất, muốn trở thành người có nhân thì phải học

e) Dũng: Được hiểu là lòng can đảm, là sức mạnh để làm chủ tình thế, hiểu rõ chân lý và dũng cảm bảo vệ chân lý

Có dũng mà không có trí thì sẽ làm bậy, nguy cho mình, cho người Có nhân

mà không có trí thì không phân biệt được người tốt , người xấu, không biết phải giúp người ra sao, trong hoàn cảnh nào (Mối quan hệ Nhân – Trí – Dũng)

Người dũng là người không sợ sệt Æ khi mất phương hướng sẽ phá phách gây nên những hậu quả tiêu cực

f) Lễ:

Lễ nghi: những nghi thức nhất định trong tế lễ

Là trật tự kỷ cương của xã hội, xã hội nào có trật tự có kỷ cương thì có lễ

Trang 6

Là những quy phạm đạo đức, những quy tắc cư xử hàng ngày

g) Chính danh:

Trong cuộc sống mỗi người, mỗi một thời điểm có một cái danh nhất định, khi mang danh nào thì phải thực hiện cho bằng được những điều mà danh đó quy định

Nguyên nhân xã hội loạn lạc là do mọi người không chính danh Muốn xã hội thái bình, trật tự mọi người phải chính danh, cho chính danh là quan trọng Æ Khổng Tử chia xã hội làm 5 mối quan hệ gọi là ngũ luân Æ 2 chiều

Quản Trọng (chữ Hán: 管仲) là một chính trị gia, nhà quân sự và nhà tư tưởng Trung Quốc thời Xuân Thu (685 TCN) Ông nổi tiếng với "chiến lược

và kinh tế Đối với ông, người trị nước phải coi trọng luật, lệnh, hình, chính Luật là để định danh phận cho mỗi người, Lệnh là để cho dân biết

Trang 7

việc mà làm, Hình là để trừng trị những kẻ làm trái luật và lệnh, Chính là để sửa cho dân theo đường ngay lẽ phải Quản Trọng được đánh giá là thủy tổ của Pháp gia, đồng thời ông cũng là cầu nối Nho gia với Pháp gia

Sang nữa đầu thời Chiến quốc, tư tưởng pháp trị được tiếp tục phát triển Thương Ưởng( 商鞅 - khoảng 390 TCN-338 TCN) được vua Tần tin dùng áp dụng chính sách Pháp trị của mình coi trọng hiến pháp, chủ trương "pháp trị" thay "đức trị", sử dụng các chính sách khuyến khích dân chúng lao động, binh sĩ chiến đấu Thân Bất Hại ( 401-337 TCN) chủ trương dùng thuật cai trị đất nước, Thận Đáo (370-290 TCN) chủ trương dùng thế, Ngô Khởi (440 – 381 TCN) cho rằng muốn làm cho nước mạnh phải biết đạo nuôi quân, trả lương hậu cho quân thì họ mới vì nước liều mình

Cuối cùng phải kể đến Hàn Phi (韓非 - khoảng 280 - 233 TCN) là học giả nổi tiếng Trung Quốc cuối thời Chiến Quốc theo trường phái pháp gia, Hàn Phi theo thuyết tính ác của thầy là Tuân Tử một cách triệt để, cho rằng con người bẩm sinh vốn đại

ác Do đó ông không bàn đến nhân nghĩa, cũng không trọng lễ như Tuân Tử, mà đề cao phương pháp dùng thế, dùng thuật, dùng luật của pháp gia để trị nước.Ông chủ trương cho dân chúng tự do cạnh tranh trong phạm vi kinh tế để nước được mau giàu Và ông tin rằng theo chính sách độc tài về chính trị, tự do về kinh tế, thì nhà vua chẳng cần làm gì, cứ ngồi ở trên kiểm soát kẻ dưới, là nước sẽ trị Theo ông, thời thế hoàn cảnh đã thay đổi thì phép trị nước không thể viện dẫn theo “đạo đức” của Nho gia, “Kiêm ái” của Mặc gia, “Vô vi nhi trị” của Đạo gia như trước nữa mà phải dùng Pháp trị Từ đó, ông đã phát triển và hoàn thiện tư tưởng pháp gia thành một đường lối trị nước khá hoàn chỉnh và thích ứng với thời đại lúc bấy giờ

2 Các quan điểm của Pháp gia:

2.1 Đường lối xây dựng đất nước

Trị nước phải kết hợp các yếu tố:

Pháp Hình Nông Chiến Nghệ Thế Luật Phạt Nghiệp Tranh Thuật Lực

Trang 8

• Pháp luật, hình phạt:

Thưởng hậu thì điều mình muốn dân làm, dân mau mắn làm Phạt nặng thì điều mình ghét và cấm đoán thì dân mới tránh, từ đó mới khuyến khích dân làm điều thiện, ngăn ngừa điều ác Theo Hàn Phi Tử thì hình phạt nghiêm khắc sẽ loại bỏ được 6 hạng người: bọn hàng giặc, sợ chết; bọn lìa xa pháp luật; bọn ăn chơi xa sỉ; bọn bạo ngược, ngạo mạn; bọn dung thứ lũ giặc, che dấu kẻ gian và bọn nói khéo, khoe khôn, dối trá Và khuyến khích được 6 loại người : những người lăn mình vào chốn hiểm nghèo, dám hi sinh; những người tuân theo pháp luật; những người dốc sức làm ăn, làm lợi cho đời; những người trung hậu, thật thà, ngay thẳng, hiền lành; những người giết giặc trừ gian và những người làm sáng tỏ lệnh trên

• Chủ trương xây dựng pháp luật tuân theo 4 nguyên tắc:

Nguyên tắc 1: thiên thời, địa lợi, nhân hòa;

Nguyên tắc 2: luật pháp phải minh bạch, phải được cân nhắc kỹ càng;

Nguyên tắc 3: pháp luật phải soạn thảo sao cho dâm dễ hiểu, dễ thi hành, phải được

áp dụng nhất loạt với mọi người;

Nguyên tắc 4: pháp luật phải công bằng, phải mang tính phổ biến

Đối tượng tác động của pháp luật là toàn xã hội, tất cả thần dân; không phân biệt đẳng cấp từ quan lại đến tướng lĩnh đã phạm tội thì phải chịu tội, tội nặng hay nhẹ đều không được bỏ qua Ông cũng đòi hỏi bậc minh chủ sai khiến bề tôi, không đặt

ý ngoài pháp, không ban ơn trong pháp, không hành động trái pháp

Nông nghiệp: phát triển nông nghiệp, hạn chế buôn bán (ức thương), tập trung lực lượng để làm ruộng, làm cho lương thực dồi dào để xây dựng quân đội mạnh

• Chiến tranh:

Trường phái pháp gia chủ trương xây dựng quân đội hùng mạnh đủ sức đè bẹp và thôn tính các nước khác, dùng chiến tranh để giải quyết chiến tranh

• Thuật:

Trang 9

thuật được hiểu là phương pháp, thủ thuật, cách thức, mưu lược khiển việc, khiến người ta triệt để thực hiện mệnh lệnh mà không hiểu người sai dùng họ như thế nào Vua trị dân thông qua quan lại, quan lại tốt thì dân không loạn, quan lại xấu thì dân nổi loạn Thuật dựa trên hai nguyên tắc, thứ nhất bề tôi tức là quan lại không làm hết trách nhiệm hay vượt quá trách nhiệm của mình đều bị phạt; thứ hai là “Công”,

“Danh” tức là lời nói và việc làm của quân thần không cân xứng cũng phạt Nhờ Thuật mà vua chọn được người tài năng, trao đúng chức vụ, quyền hạn và loại được

kẻ bất tài

• Thế:

Thế là địa vị, thế lực, quyền uy của người cầm đầu chính thể Dựa vào thế mà vua đặt ra luật, ban bố luật pháp, chọn bề tôi giao nhiệm vụ thực hiện pháp luật Địa vị, thế lực, quyền uy đó của người trị vì phải là độc tôn, thế quan trọng đến mức có thể thay thế vai trò của bậc hiền nhân Muốn thi hành được pháp thì phải có thế, Pháp và Thế không thể tách rời nhau

2.2 Tư tưởng biện chứng:

• Thời biến thì pháp biến :

Quan điểm thời biến, pháp biến thừa nhận sự biến đổi của đời sống xã hội: mọi chủ trương phải thích hợp với thời, khi tình hình thay đổi phải thay đổi cho phù hợp Không nên bắt chước người xưa mà phải xuất phát từ thực tế trước mắt, không dùng lời lẽ cố nhân để biện hộ cho sự yếu kém của mình Đại diện Hàn Phi Tử cho rằng, không có một thứ pháp luật nào luôn luôn đúng với mọi thời đại Pháp luật mà biến chuyển được theo thời đại thì thiên hạ trị, còn thời thế thay đổi mà phép trị dân không thay đổi thì thiên hạ loạn.Theo Hàn Phi Tử, ông thừa nhận sự tồn tại của lý-tính quy luật hay những lực lượng khách quan trong xã hội Lý chi phối mọi sự vận động của tự nhiên và xã hội Ông yêu cầu con người phải nắm lấy cái lý của vạn vật luôn biến hóa mà hành động cho phù hợp

• Điều hành đất nước theo số ( quy luật):

Trang 10

Thừa nhận bản tính con người là ác, cho rằng trong xã hội người tốt ít, còn kẻ xấu thì rất nhiều nên muốn xã hội yên bình, không nên trông chờ vào số ít, mong họ làm việc thiện (thực hiện nhân nghĩa trị), mà phải xuất phát từ số đông, ngăn chặn không cho họ làm điều ác

Chương II: SỰ TƯƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT GIỮA NHO GIA VÀ PHÁP

GIA

I SỰ TƯƠNG ĐỒNG

• Cả hai trường phái pháp gia và nho gia đều coi việc phát triển nông

nghiệp(túc thực) sẽ làm cho đất nước hùng mạnh

Khi Nhan Uyên hỏi phép trị nước, Khổng Tử đáp: “Theo lịch nhà Hạ, ngồi xe nhà

Ân, đội mũ miện nhà Chu, nhạc thì theo nhạc và vũ thiều…” Theo lịch nhà Hạ vì lịch nhà Hạ lấy tháng đầu làm tháng giêng (như Âm lịch của chúng ta ngày nay) tiện cho việc nông hơn là lấy tháng tí, tức tháng 11 làm tháng giêng như nhà Chu,

Khổng Tử coi trọng việc dưỡng dân hơn cả việc bảo vệ xã tắc, nhưng mới dừng lại

ở những nguyên tắc có tính đường lối, thì Mạnh Tử quan tâm nhiều hơn đến các biện pháp kinh tế cụ thể nhằm tạo ra cho dân số một sản nghiệp no đủ Mạnh Tử đòi hỏi bậc minh quân phải "chế định điền sản mà chia cho dân cày cấy, cốt khiến cho

họ trên đủ phụng dưỡng cha mẹ, dưới đủ nuôi sống vợ con, nhằm năm trúng mùa thì mãi mãi no đủ, phải năm thắt ngặt thì khỏi nạn chết đói" (19), và "Thánh nhân cai trị thiên hạ, phải làm cho dân có đậu thóc nhiều như nước lửa, khi đậu thóc nhiều như nước lửa thì dân chẳng còn ai bất nghĩa nữa.”

Trên cơ sở tiếp thu tư tưởng "sử dân dĩ thời" của Khổng Tử, Mạnh Tử đã đề xuất một đường hướng kinh tế khá hoàn chỉnh nhằm hướng đến cải thiện đời sống của dân, nếu bậc quốc trưởng làm cho việc ruộng nương được dễ dàng (đừng bắt họ làm xâu lúc cày cấy gặt hái) và bớt thuế má cho dân, thì dân trở nên phú túc bực thánh nhân cai trị thiên hạ, khiến ai nấy đều có đủ ruộng và lúa, cũng như họ có đủ nước

và lửa vậy Nếu dân chúng có bề phú túc về đậu và lúa cũng như họ có đủ về nước

và lửa thì họ còn ăn ở bất nhân làm chi Với Mạnh Tử giảm bớt tô thuế không chỉ là

Trang 11

việc làm có ý nghĩa đối với dân chúng mà còn là một trong những tiêu chuẩn của người trị dân theo đường lối nhân chính

Còn đối với Quản Trọng mục đích trị nước theo ông là làm sao cho quốc phú, binh cường Ông chú trọng nhất đến sự phú quốc vì "kho lẫm đầy rồi mới biết lễ tiết, y thực đủ rồi mới biết vinh nhục"

Trong khi đó một quốc gia lý tưởng của Hàn Phi Tử lại là một quốc gia trọng nông, ức công thương.trong thiên Ngụy sử, ông viết:"Kho lẫm đầy là nhờ nghề gốc, tức canh nông, thế mà những kẻ làm những nghề ngọn như dệt gấm vóc, chạm vẽ lại giàu.”

• Binh cường: cả hai trường phái đều hướng đến sự thái bình, nhằm mục đích ổn định đất nước

Trong bộ máy cai trị, Khổng Tử khuyên nhà cầm quyền phải thực túc, binh cường

và dân tín

Quản Trọng cho rằng muốn cho binh cường, ông có sáng kiến "ngụ binh ư nông" (gởi việc binh vào nghề nông ), thời bình dân làm ruộng, những lúc rảnh rỗi thì luyện võ bị, có bao nhiêu nông dân khoẻ mạnh là có được bấy nhiêu binh sỹ

Như vậy cần phải nhiều giáp binh; ông đặt ra lệ cho chuộc tội: tội nặng thì chuộc bằng một cái tê giáp (áo giáp bằng da con tê), tội nhẹ thì chuộc bằng một cái quy thuẫn (cái thuẫn bằng mai rùa); tội nhỏ thì nộp kim khí, tội còn nghi thì tha hẳn; còn như hai bên thưa kiện nhau mà bên nào cũng có lỗi một phần thì ông bắt nộp mỗi bên một bó tên rồi xử hoà

Ông tổ chức lại quân đội: năm người họp thành một ngũ, năm chục người (tức mười ngũ) thành một tiểu nhung, hai trăm người thành một tốt, hai ngàn người thành một

lữ, một vạn người thành một quân Mùa xuân tổ chức những cuộc đi săn để nhân thể chấn chỉnh hàng ngũ; mùa thu cũng nhân những cuộc đi săn mà luyện tập binh sỹ

• Tuân Tử (nho gia) coi con người sinh ra vốn bản chất là ác = Hàn Phi

Tử cũng có cùng quan điểm (Hàn Phi Tử là học trò của Tuân Tử) Tuân: định nghĩa chữ tính là cái tự nhiên trời sinh ra, cái sinh ra đã có sẵn không đợi làm (học tập) rồi mới có (Sinh chi sở dĩ nhiên giả, vị chi tính - Bất sự nhi tự nhiên

Trang 12

có thầy, có phép để cải hoá cái tính đi, có lễ nghĩa để dắt dẫn nó, rồi sau mới có từ nhượng hợp văn lí mà thành ra trị (Kim nhân chi tính sinh nhi hiếu lợi yên, thuận thị cố tranh đoạt sinh, nhi từ nhượng vong yên; sinh nhi hữu tật ố yên, thuận thị cố tàn tặc sinh, nhi trung tín vong yên Sinh nhi hữu nhi mục chi dụng hữu hiếu sắc yên, thuận thị cố dâm loạn sinh, nhi lễ nghĩa văn lí vong yên Nhiên tắc tòng nhân chi tính, thuận nhân chi tình, tất xuất vụ tranh đoạt, hợp vu phạm phận loạn lí, nhi qui vu bạo Cố tất tương hữu sư pháp chi hoá, lễ nghĩa chi đạo, nhiên hậu xuất từ nhượng, hợp vụ văn lí nhi qui vu trị - Tính ác)

Về Hàn Phi Tử ông lại cho rằng trừ một số ít thánh nhân, còn thì hạng thường nhân đều

- Tranh nhau vì lợi ;Làm biếng, khi có dư ăn rồi thì không muốn làm gì nữa;Chỉ phục tòng quyền lực

a) Về tính ham lợi, ông cho rằng ngay giữa cha con vợ chồng chớ đừng nói giữa vua tôi, bạn bè, người ta hành động, cư xử với nhau cũng chỉ vì tư lợi

"Cha mẹ không săn sóc con kĩ khi nó còn nhỏ thì lớn lên nó oán mình Con được nuôi cho thành người rồi mà cung dưỡng cha mẹ không được hậu thì cha mẹ giận oán trách nó Cha con là tình chí thân mà có khi còn trách nhau, oán nhau là do ai nấy đều muốn cho người khác phải vì mình (cha muốn con phải vì cha, con muốn

Trang 13

cho cha phải vì con), chứ không muốn cho mỗi người phải vì bản thân người đó thôi"

b) Về bản tính thứ nhì, Tuân tử bảo con người "mệt thì muốn nghỉ" (có thể hiểu là ít chịu gắng sức); Hàn Phi gay gắt hơn, cho là làm biếng, hễ có dư ăn rồi thì không muốn làm gì nữa Hàn cũng có lý: loài người thời ăn lông ở lỗ chắc chắn là như vậy

• Đều là những tư tưởng trị quốc trong lịch sử Trung Quốc cổ Đại, có

giá trị lịch sử lâu dài và có ý nghĩa đến tận ngày nay

Cả hai trường phái Nho gia và Pháp gia đều là những tư tưởng trị quốc thời Trung Quốc cổ đại và có ảnh hưởng rất lớn đối với văn hóa, tư tưởng các dân tộc trên thế giới đặc biệt là các quốc gia Phương Đông Và Việt Nam cũng chịu sự ảnh hưởng rất lớn từ các tư tưởng của hai trường phái này Ví như tư tưởng về nhân, lễ, nghĩa của Nho gia, tư tưởng về cách trị quốc của nhà cầm quyền trường phái Pháp gia

• Đề cập đến tố chất của nhà cầm quyền: Cả hai trường phái pháp gia

và nho gia đều đề cập đến tố chất của nhà cầm quyền

Cả hai trường phái đều đề cập đến tố chất của nhà cầm quyền, coi nhà cầm quyền( vua) coi nhà cầm quyền là những người quyết định vận mệnh và tương lai của đất nước mặc dù mỗi trường phái đều có quan niệm về tố chất của nhà cầm quyền khác nhau

• Nhìn nhận Cấu trúc xã hội cùng những bất bình đẳng như một thực tế

đã định và cho phép chúng quyết định điều cá nhân nên làm Cái giá phải trả để có sự hòa hợp xã hội là cá nhân thuận theo xã hội

• Mỗi một tư tưởng ra đời và phát triển nhằm đưa ra những phương cách giải quyết cho những vấn đề thực tiễn chính trị - đạo đức - xã hội mà thời đại lúc bấy giờ đã đặt ra và phục vụ cho một giai tầng nhất định

• Khổng Tử với tư tưởng Tòng Chu Tuy nhiên, lại muốn thay đổi để phù hợp hơn trong xã hội hiện tại, coi 03 hướng chủ đạo là Thực túc + Binh cường + Dân tín

• Hàn Phi Tử lại đề cao về pháp trị, xu hướng để trở thành quốc gia phong kiến chuyên chế do vua là người đứng đầu

Ngày đăng: 19/11/2014, 01:44

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w