TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC SỰ TƯƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT GIỮA TRIẾT HỌC ẤN ĐỘ CỔ ĐẠI VÀ TRIẾT HỌC TRUNG QUỐC CỔ ĐẠI Đề tài này giúp cho học viên cao học hiểu rõ hơn về nền Triết học Phương Đông, chủ yếu là Triết học Ấn Độ cổ đại và Triết học Trung Quốc cổ đại. Chủ yếu là học viên đi sâu vào sự tương đồng và khác biệt giữa hai nền Triết học này để có sự hiểu biết đúng đắn và sâu sắc.
Trang 1PHÒNG QUẢN LÝ ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC
Lớp : Cao học Đêm 1 – K20 GVHD : TS Bùi Văn Mưa
Trang 2NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
……….
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 4
1 Lí do chọn đề tài 4
2 Mục tiêu nghiên cứu 4
3 Phương pháp nghiên cứu 5
4 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài 5
5 Cấu trúc nghiên cứu 5
Chương 1: Cơ Sở Lý Luận Về Triết Học Ấn Độ Cổ Đại Và Triết Học Trung Quốc Cổ Đại 6
1 Khái quát triết học Phương Đông cổ đại 6
2 Điều kiện ra đời, phát triển và nét đặc thù của Triết học Ấn Độ Cổ 7
3 Điều kiện ra đời, phát triển và nét đặc thù của Triết học Trung Quốc Cổ 14
Chương 2: Sự Tương Đồng Giữa Triết Học Ấn Độ Cổ Đại Và Triết Học Trung Quốc Cổ Đại 20
1 Nội dung triết học chủ yếu hướng về các vấn đề đạo đức, con người 20
2 Trong triết học có sự đan xen yếu tố Duy vật và duy tâm không rõ ràng 21
Chương 3: Sự Khác Biệt Giữa Triết Học Ấn Độ Cổ Đại Và Triết Học Trung Quốc Cổ Đại 23
1 Bản thể luận 23
2 Nhận thức luận 24
KẾT LUẬN 25
TÀI LIỆU THAM KHẢO 26
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Triết học là một hình thái ý thức xã hội, là học thuyết về những nguyên tắc chungcủa tồn tại và nhận thức, là thái độ con người đối với thế giới, là khoa học vềnhững qui luật chung nhất của tự nhiên, xã hội và tư duy Lịch sử Triết học đãtrãi qua biết bao thăng trầm, biến cố của lịch sử, có lúc phát triển đến đỉnh caonhư giai đoạn triết học của Arixtốt, Đêmôcrít và Platôn nhưng cũng có lúc biếnthành một môn của thần học theo chủ nghĩa kinh viện trong một xã hội tôn giáobao trùm mọi lĩnh vực vào thế kỷ thứ X – XV Sự phát triển của Triết học là sựphát triển song song giữa hai nền Triết học phương Tây và phương Đông Dođiều kiện địa lý tự nhiên, kinh tế - xã hội, văn hoá mà sự phát triển của hai nềnTriết học có sự khác nhau Nói đến triết học phương Đông phải kể đến Triết học
Ấn Độ cổ đại và Triết học Trung Quốc cổ đại Đây là hai trong số những chiếcnôi Triết học sớm nhất, lâu đời, phong phú và đã tạo nhiều dấu ấn đặc biệt chonền lịch sử Triết học Triết học Ấn Độ cổ đại và Triết học Trung Quốc cổ đại đều
có chung đặc điểm là phân tích các vấn đề xuất phát từ nhân sinh quan, tuy nhiên
do đặc điểm kinh tế - chính trị, xã hội khác nhau nên mỗi nền triết học này cũng
có những đặc trưng khác nhau Do đó nhóm 1 chọn đề tài: “Sự tương đồng vàkhác biệt giữa Triết học Ấn Độ cổ đại và Triết học Trung Quốc cổ đại” để phântích sâu hơn về các vấn đề như sự hình thành, phát triển và nét đặc thù cũng nhưnhững điểm tương đồng và khác biệt của hai nền Triết học này
2 Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài này đặt ra các mục tiêu cần nghiên cứu sau:
Sự tương đồng giữa triết học Ấn Độ cổ đại và Triết học Trung Quốc cổ đại
Sự khác nhau giữa triết học Ấn Độ cổ đại và Triết học Trung Quốc cổ đại
Trang 53 Phương pháp nghiên cứu
Đối với đề tài này, tôi đã lựa chọn các phương pháp nghiên cứu sau
a) Phương pháp luận theo chủ nghĩa duy vật biệnchứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử để nhìn nhận sự việc theo sự vận động vàphát triển của nó
b) Thu thập dữ liệu:
– Thu thập thông tin từ sách vở, bài giảng, giáo trình,báo, đài, internet
4 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Đề tài này giúp cho học viên cao học hiểu rõ hơn về nền Triết học Phương Đông,chủ yếu là Triết học Ấn Độ cổ đại và Triết học Trung Quốc cổ đại Chủ yếu làhọc viên đi sâu vào sự tương đồng và khác biệt giữa hai nền Triết học này để có
sự hiểu biết đúng đắn và sâu sắc Đồng thời, qua đó học viên nâng cao trình độ tưduy lí luận và vận dụng sáng tạo tư duy biện chứng vào lĩnh vực công tác chuyênmôn của chính mình
Với kiến thức, thời gian hạn chế, bài tiểu luận chỉ đi sâu vào phân tích Phật giáo(đại diện cho triết học Ấn Độ) và Nho – Đạo Giáo (Trung Quốc)
5 Cấu trúc nghiên cứu
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nghiên cứu gồm có 3 chương:
1 Cơ sở lí luận về triết học Ấn Độ cổ đại và triết học Trung Quốc cổ đại
2 Sự tương đồng giữa triết học Ấn Độ cổ đại và triết học Trung Quốc cổ đại
3 Sự khác biệt giữa triết học Ấn Độ cổ đại và triết học Trung Quốc cổ đại
Trang 6Chương 1: Cơ Sở Lí Luận Về Triết Học Ấn Độ Cổ Đại
Và Triết Học Trung Quốc Cổ Đại
1 Khái quát triết học Phương Đông cổ đại
Lịch sử triết học Phương Đông nổi bật với hai hệ thống triết học lớn là triết học
Ấn Độ và triết học Trung Quốc
Quá trình hình thành và phát triển của triết học Ấn Độ cổ đại trải qua hai thời kỳchính: Thời kỳ Vêđa (khoảng thế kỷ XV đến thể kỷ VIII TCN) và thời kỳ cổ điển(còn gọi là thời kỳ Bàlamôn – phật giáo, khoảng thế kỷ VI TCN đến thế kỷ VI).Một xu hướng khá đậm nét trong triết học ấn Độ cổ đại là quan tâm giải quyếtnhững vấn đề nhân sinh dưới góc độ tôn giáo với xu hướng "hướng nội", đitìm cái Đại ngã trong cái Tiểu ngã của một thực thể cá nhân Có thể nói: sự phảntỉnh nhân sinh là một nét trội và có ưu thế của nhiều học thuyết triết học ấn Độ
cổ, trung đại (trừ trường phái Lokàyata), và hầu hết các học thuyết triết học nàyđều biến đổi theo xu hướng từ vô thần đến hữu thần, từ ít nhiều duy vật đến duytâm hay nhị nguyên
Triết học Trung Quốc có mầm mống từ thần thoại thời Tam đại (Hạ, Thương,
Chu) Sự phát triển của triết học Trung Quốc cổ - trung đại là một quá trình đanxen, thâm nhập lẫn nhau giữa các trường phái (Âm dương gia, Nho gia, Đạo gia,Mặc gia và Pháp gia) Mối quan tâm hàng đầu của các nhà tư tưởng Trung Hoa
cổ đại là những vấn đề thuộc đời sống thực tiễn chính trị - đạo đức của xã hội.Tuy họ vẫn đứng trên quan điểm duy tâm để giải thích và đưa ra những biện phápgiải quyết các vấn đề xã hội, nhưng những tư tưởng của họ đã có tác dụng rấtlớn, trong việc xác lập một trật tự xã hội theo mô hình chế độ quân chủ phongkiến trung ương tập quyền theo những giá trị chuẩn mực chính trị - đạo đứcphong kiến phương Đông
Trang 7Bên cạnh những suy tư sâu sắc về các vấn đề xã hội, nền triết học Trung Hoa thời
cổ còn cống hiến cho lịch sử triết học thế giới những tư tưởng sâu sắc về sự biếndịch của vũ trụ Những tư tưởng về Âm Dương, Ngũ hành tuy còn có những hạnchế nhất định, nhưng đó là những triết lý đặc sắc mang tính chất duy vật và biệnchứng của người Trung Hoa thời cổ, đã có ảnh hưởng to lớn tới thế giới quantriết học sau này không những của người Trung Hoa mà cả những nước chịu ảnhhưởng của nền triết học Trung Hoa
2 Điều kiện ra đời, phát triển và nét đặc thù của Triết học Ấn Độ Cổ
a) Điều kiện ra đời
Điều kiện tự nhiên: Ấn Độ cổ đại là một đất nước rộng lớn thuộc bán đảo
Nam Á có những yếu tố địa lý rất trái ngược nhau: Vừa có núi cao (bao gồm cảnước Pakixtan, Bănglađét và Nêpan ngày nay), lại có biển rộng; có sông ấn chảy
về phía Tây, lại có sông Hằng chảy về phía Đông; có đồng bằng phì nhiêu, lại có
sa mạc khô cằn; có tuyết rơi giá lạnh, lại có nắng cháy, nóng bức
Điều kiện kinh tế - xã hội: Xã hội Ấn Độ cổ đại ra đời sớm, có điều kiện và
dân cư rất đa dạng Ấn Độ cổ - trung đại được chia thành 4 thời kỳ: Thời kỳ vănminh sông Ấn, thời kỳ văn minh Vêđa, thời kỳ các vương triều độc lập và thời kỳcác vương triều lệ thuộc Từ trong nền văn minh sông Ấn của người bản địaĐraviđa xa xưa, nhà nước Ấn Độ cổ đã xuất hiện, đến thế kỷ XVII trước côngnguyên, thiên tai (lũ lụt trên sông Ấn…) đã làm cho nền văn minh này sụp đổ.Vào khoảng thế kỷ XV trước Công nguyên, các bộ lạc du mục Arya ở Trung Áxâm nhập vào Ấn Độ Họ định canh, định cư và tiến hành quá trình nô dịch, đồnghóa, hỗn chủng với các bộ lạc bản địa Đraviđa Kinh tế tiêu biểu nông nghiệp kếthợp với thủ công nghiệp mang tính tự cung, tự cấp, lấy gia đình, gia tộc củangười Arya làm cơ sở, đã tạo nền tảng vững chắc cho các công xã nông thôn rađời Trong mô hình của công xã nông thôn đã hình thành bốn đẳng cấp với sựphân biệt hết sức khắc nghiệt và dai dẳng; ruộng đất thuộc quyền sở hữu của nhà
Trang 8nước của các đế vương; nhà nước kết hợp với Tôn giáo thống trị nhân dân và bóclột nông nô công xã; tôn giáo bao trùm mọi mặt của đời sống xã hội; con ngườisống nặng về tâm linh tinh thần và khao khát được giải thoát Sự phân biệt vềđẳng cấp, chủng tộc, dòng dõi, tôn giáo, nghề nghiệp v.v… đã tạo ra những xungđột ngấm ngầm trong xã hội nhưng bị kìm giữ bởi sức mạnh tinh thần của nhànước – tôn giáo Xã hội phát triển một cách chậm chạp và nặng nề
Điều kiện về văn hóa: Văn hóa Ấn Độ được hình thành và phát triển trên cơ
sở điều kiện tự nhiên và hiện thực xã hội Người Ấn Độ cổ đại đã tích lũy đượcnhiều kiến thức về thiên văn, sáng tạo ra lịch pháp, giải thích được hiện tượngnhật thực, nguyệt thực Ở đây, toán học xuất hiện sớm: phát minh ra số thậpphân, tính được trị số π, biết về đại số, lượng giác, phép khai căn, giải phươngtrình bậc 2, 3 Về y học đã xuất hiện những danh y nổi tiếng, chữa bệnh bằngthuật châm cứu, bằng thuốc thảo mộc Chữ viết đã xuất hiện từ thời văn hóaHarappa; các bộ kinh Vêđa và sử thi sớm xuất hiện; Nghệ thuật tạo hình như kiếntrúc, điêu khắc được thể hiện trong các cung điện, đền chùa, tháp, lăng tẩm, trụđá…; sản sinh ra nhiều tôn giáo lớn như đạo Bàlamôn – Hinđu, đạo Phật, đạoJaina, đạo Xích,…
b) Các đặc điểm Triết học Ấn Độ cổ đại
Triết học Ấn Độ cổ đại là loại hình Triết học tôn giáo Tôn giáo và Triết họcxen kẽ vào nhau Trong Tôn giáo có màu sắc Triết học, trong Triết học có màusắc Tôn giáo Tuy nhiên Tôn giáo của Ấn Độ có xu hướng “hướng nội” đi sâutìm hiểu sức mạnh của đời sống tâm linh, tinh thần, không phải “hướng ngoại”như các tôn giáo phương Tây tìm kiếm sức mạnh nơi thượng đế
Hầu hết các hệ thống Triết học Ấn Độ đều tập trung giải quyết vấn đề nhânbản, đó là vấn đề nhân sinh quan và con đường giải thoát
Cuộc đấu tranh giữa Chủ nghĩa duy vật và Chủ nghĩa duy tâm xung quanhcác vấn đề: Bản nguyên vũ trụ + Con người, linh hồn, đạo đức
Trang 9c) Quá trình hình thành và phát triển của Triết học
Ấn Độ cổ đại
Người ta phân chia quá trình thành 2 thời kỳ chính
Thời kỳ thứ nhất: Thời kỳ Vêđa khoảng thế kỷ XV TCN đến thế kỷ VIII
TCN Trong thời kỳ này con người quan niệm về thế giới, về đời sống bằng cácbiểu tượng huyền thoại, đa thần Những quan niệm đó được thể hiện trong các tácphẩm chủ yếu là kinh Veđa và Upanishad
o Kinh Vêđa có nghĩa là hiểu biết, tri thức cao cả, thiêng liêng, nó cũng
được dùng với nghĩa là “Kinh thánh”
o Kinh Upanishad là những kinh sách bình chú tôn giáo - triết học, gồm
200 bài kinh giải thích ý nghĩa triết lý sâu xa của những tư tưởng thần thoại, tôngiáo Vêđa Nó thể hiện một tinh thần mới là giải phóng ý thức khỏi sự ràng buộccủa nghi lễ và bàn đến những vấn đề có ý nghĩa triết học thực sự
Thời kỳ thứ hai: Thời kỳ cổ điển (hay Bà la môn và Phật giáo): Thế kỷ thứVII TCN đến thế kỷ VI SCN Đây là thời kỳ nền kinh tế, xã hội nô lệ Ấn Độ đãphát triển cao, nhưng vẫn bị bóp nghẹt bởi tính chất kiên cố của tổ chức công xãnông thôn, cùng sự thống trị của nhà nước quân chủ chuyên chế trung ương tậpquyền và sự khắc nghiệt của chế độ đẳng cấp Trong lĩnh vực tinh thần, thế giớiquan duy tâm, tôn giáo được coi là hệ tư tưởng chính thống, thống trị trong đờisống tinh thần xã hội Các trào lưu triết học thời kỳ này với khuynh hướng đadạng, đại diện cho các tầng lớp xã hội khác nhau, vừa mang tính chất triết học,vừa mang đậm màu sắc tôn giáo
Trong thời kỳ này, cuộc đấu tranh giữa các trường phái triết học, nhất là cuộc đấutranh giữa chủ nghĩa duy vật, vô thần chống chủ nghĩa duy tâm, tôn giáo lên đếnđỉnh cao, đặc biệt là việc phủ nhận uy thế của kinh Vêđa Từ đó đã hình thànhcách phân chia có tính chất truyền thống tất cả các trường phái triết học thành haiphái chính:
Trang 10o Hệ thống chính thống bảo vệ cho chế độ đẳng cấp xã hội thừa nhận uy
thế của kinh Vêđa (có 6 trường phái): 1) Samkhya, 2) Nyaya, 3) Vaisêsika, 4)Mimamsa, 5) Yoga và 6) Védanta
o Phái triết học không chính thống (Nastika) bác bỏ uy thế tối cao của
kinh Vêđa, đạo Bàlamôn gồm 3 trường phái chính là: 1) Các trường phái triết học
vô thần, duy vật trong phong trào mới đòi tự do tư tưởng ở Đông Ấn và trườngphái triết học duy vật tiêu biểu Lokàyata hay chủ nghĩa duy vật khoái lạcCharvaka; 2) Phật giáo và 3) Đạo Jaina
d) Nội dung cơ bản Triết học Ấn Độ cổ đại
Tư tưởng Triết học cơ bản của Phật giáo nguyên thủy chủ yếu bàn về Thế giớiquan và Nhân sinh quan
Thế giới quan: (Quan niệm về thế giới: tự nhiên và xã hội).
Phật giáo đưa ra các luận điểm: Vô tạo giả, vô ngã, vô thường, nhân duyên
Vô tạo giả:
- Nghĩa là không có ai sáng tạo ra thế giới, bởi vì mọi vật đều có nhân, có quả,không có nguyên nhân đầu tiên (Phật giáo không thừa nhận đấng sáng tạo)
- Mọi vật trong vũ trụ, kể cả con người là tự có theo luật nhân quả Chúng biếnđổi vô cùng vô tận
Vô ngã: Phật giáo cho rằng thế giới (vạn vật và con người) được cấu tạo
từ các yếu tố vật chất (sắc) và tinh thần (danh) Sắc và danh chỉ hội tụ nhau trongmột thời gian ngắn rồi lại chuyển sang trạng thái khác, sinh sinh, hóa hóa, tanhợp, hợp tan Do đó vạn vật chỉ là dòng biến hóa hư ảo vô cùng, không có gì làthường định Phật giáo quan niệm: sự tồn tại của một con người ở trên đời chỉ làngắn ngủi bởi vì các yếu tố tạo nên con người chỉ nhóm lại trong chốc lát rồi lạichuyển hóa thành cái khác
Vô thường: Quan niệm thế giới này không có cái gì là thường định (ổn
định), vĩnh hằng, đứng im một chỗ mà mọi vật đều thường xuyên biến đổi theomột chu trình: Sinh, Trụ, Dị, Diệt Sinh là sinh ra; Trụ là tồn tại, phát triển trongmột thời gian; Dị là biến đổi; Diệt là tiêu vong, là mất
GVHD: TS Bùi Văn Mưa 10 SVTH: Lý Lệ Châu
Trang 11Nhân duyên: Nhân là nguyên nhân, duyên là điều kiện Tất cả các sự vật,
hiện tượng trong thế giới này xuất hiện đều có nguyên nhân và điều kiện Duyên
là điều kiện giúp cho nhân trở thành quả, quả lại do duyên mà thành nhân khác,nhân khác lại do duyên mà thành quả mới Cứ như thế không có nguyên nhânđầu tiên và không có kết quả cuối cùng
Nhân sinh quan (quan điểm về cuộc sống)
1) Thuyết luân hồi, nghiệp báo
Luân hồi: Bánh xe quay tròn Khi người ta chết thì chết về thể xác, còn linh
hồn bất tử, còn sống đầu thai sang kiếp khác
Nghiệp báo: là cái do hành động của ta gây ra, trong cuộc đời hiện hữu của
mỗi người đều phải gánh chịu hậu quả của những hành vi do kiếp trước gây ra.Đạo Phật cho rằng một người tu nhân, tích đức ở kiếp này, đời này thì đời sauthiện báo, còn đời này ác thì đời sau ác báo: Thiện giả Thiện báo; Ác giả
Ác báo Cuộc đời con người trong vòng số kiếp kiếp này là quả của kiếp trước vàlại là nhân của kiếp sau
Đạo Phật đã đặt con người lên một vị trí hết sức quan trọng và cao quý Hạnhphúc của con người là do con người xây đắp nên Con người thấm nhuần giáo lýPhật, con người vị tha, từ bi, hỉ, xả sẽ kiến lập một xã hội hoà bình, an lạc, côngbằng, mọi người sống vì lợi ích của nhau, của tập thể
Trái lại, con người ích kỷ chỉ biết mình, hại người, con người sống tàn bạo, độc
ác thì cái gì trong tay con người cũng sẽ trở thành khí cụ sát hại và xã hội củanhững con người ấy là xã hội của địa ngục, xã hội áp bức bóc lột
Tứ diệu đế hay còn gọi là tứ chân đế hay tứ thánh đế là đạo lý căn bản của ThanhVăn Thừa, đồng thời cũng là cơ sở của các thuyết khác trong giáo lý Phật Tứ đếgồm có: Khổ đế, Tập đế, Diệt đế, Đạo đế
Trang 12Khổ đế: Trong tứ đế, Phật đưa ra đầu tiên vấn đề khổ, rồi giảng cho ta
thấy vì sao mà khổ, phương pháp diệt khổ và con đường đi đến diệt khổ Theo
cách phân tích khác, Phật chia cái khổ ra làm 8 loại:
1, Sinh khổ: Đã có sinh là có khổ vì đã sinh nhất định có diệt, bị luật vô thường chi phối nên khổ
2, Lão khổ: Người ta mong muốn trẻ mãi nhưng cái già theo thời gian vẫn cứ đến Cái già vào mắt thì mắt bị mờ đi, cái già vào lỗ tai thì tai bị điếc, vào da, xương tủy thì da nhăn nheo, xương tủy mệt mỏi Cái già tiến đến đâu thì suy yếu đến ấy làm cho người ta phiền não.
3, Bệnh khổ: Trong cuộc sống, thân thể thường ốm đau, nhất là khi già yếu, thân thể suy nhược, bệnh tật dễ hoành hành làm cho người ta đau khổ.
4, Tử khổ: Là cái khổ khi người ta chết.
5, Ái biệt ly khổ: nỗi khổ khi phải chia ly.
6, Sở cầu bất đắc khổ: Người ta thường chạy theo những điều mình ưa thích, mong cầu hết cái này đến cái khác Khi chưa cầu được thì phiền não, khi cầu được rồi thì phải lo giữ nó, nếu nó mất đi thì lại luyến tiếc.
7, Oán tăng hội khổ: những điều mình chán ghét thì nó cứ tiến đến bên mình.
8, Ngũ uẩn khổ: sự hội tụ và xung đột của ngũ uẩn – sắc, thụ, tưởng, hành, thức.
Tập đế: Tập đế còn gọi là nhân đế, là những nguyên nhân tạo thành sự
khổ, gồm ba nguyên nhân chính (tham, sân, si) còn gọi là tam độc, là nguồn gốccủa mọi sự khổ Nhân đế được diễn giải trong thuyết thập nhị nhân duyên để thấy
được nguồn gốc của sự vật trong thế gian gồm: 1 Vô minh 2 Hành 3 Thức 4.
Danh - sắc 5 Lục nhập 6 Xúc 7 Thụ 8 Ái 9 Thủ 10 Hữu 11 Sinh 12 Lão - tử
Diệt đế: Diệt đế là lý luận về khả năng tiêu diệt được nỗi khổ nơi cuộc
sống thế gian để đạt tới cảnh giới Niết Bàn
Niết Bàn có bốn đặc điểm: Thường - Lạc - Ngã - Tịnh
Thường là thường còn, không biến đổi.
GVHD: TS Bùi Văn Mưa 12 SVTH: Lý Lệ Châu
Trang 13Lạc là an lạc, giải thoát hết phiền não, thâm tâm tự tại.
Ngã là chân ngã, chân thực, thường còn.
Tịnh là thanh tịnh, trong sạch không còn ô nhiễm.
Niết Bàn là sự chấm dứt mọi phiền não được thực hiện không phải ở một nơi nàokhác, một cõi nào khác mà thực hiện ngay trong cõi thế gian này, nhờ sự tu hànhnghiêm túc mang lại cho ta mọi trạng thái tinh thần đặc biệt: Trạng thái an lạc,siêu thoát, tịnh diệt
Đạo đế: Đạo đế là con đường hướng dẫn cho chúng sinh đạt được đến quả
giải thoát, ra khỏi luân hồi sinh tử Nội dung cơ bản thể hiện trong thuyết Bátchính đạo, gồm có:
1 Chính ngữ: là tu nghiệp thanh tịnh, không phát ra lời nói sai trái.
2 Chính nghiệp: hành động chân chính, mang lại lợi ích cho mọi người.
3 Chính mệnh: sống bằng nghề nghiệp chân chính.
4 Chính tinh tấn: tiến tới trên con đường đạo, không đi vào các đường tà.
5 Chính niệm: tâm trí luôn luôn nghĩ đến những điều hay lẽ phải.
6 Chính định: giữ tâm vắng lặng, tập trung vào một điều chính đáng.
7 Chính kiến: tư duy con người phải có ý biến lấy tiêu biểu là các vị Phật.
8 Chính tư duy: sau khi có niệm khởi, con người sẽ tư duy, suy nghĩ một cách chân chính, làm chủ được dòng tư duy.
Để đi qua tám con đường trên thì không ngoài ba nguyên tắc: giới, định, tuệ haycòn gọi là tam học Các nguyên tắc này có sự liên hệ mật thiết bổ sung cho nhau
1 Giới học: dùng để khắc phục tham gồm chính ngữ, chính nghiệp, chính mệnh.
2 Định học: dùng để khắc phục sân gồm chính tinh tấn, chính niệm, chính định.
3 Tuệ học: dùng để khắc phục si gồm chính kiến, chính tư duy.