Đặc điểm sinh trưởng phát triển, năng suất, chất lượng của một số giống hoa lan Hồ Điệp trồng tại Thái Nguyên .... Xuất phát từ thực tế trên cũng như góp phần phát triển ngành nuôi trồng
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGUYỄN THỊ BÍCH NGỌC
ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG,
PHÁT TRIỂN VÀ BIỆN PHÁP KỸ THUẬT
SẢN XUẤT HOA LAN HỒ ĐIỆP TẠI THÁI NGUYÊN
Chuyên ngành: Khoa học cây trồng
Mã số: 60.62.01.10 LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
Người hướng dẫn: TS Nguyễn Thuý Hà
Thái Nguyên, 2013
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn đã được chỉ rõ nguồn gốc
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Bích Ngọc
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Nguyễn Thúy Hà đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài, cũng như trong quá trình hoàn chỉnh luận văn tốt nghiệp
Tôi xin chân thành cám ơn Ban giám đốc Trung tâm dạy nghề huyện Đồng Hỷ - Tỉnh Thái Nguyên, đã giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Cuối cùng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với các đồng chí cán bộ nơi tôi tiến hành thực hiện đề tài đã luôn động viên, giúp đỡ rất nhiều cả về tinh thần và vật chất cho tôi hoàn thành chương trình học tập và luận văn tốt nghiệp
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2013
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Bích Ngọc
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
MỞ ĐẦU 1
1 Đặt vấn đề 1
2 Mục đích của đề tài 3
3 Yêu cầu của đề tài 3
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Cơ sở khoa học của đề tài 4
1.1.1 Cơ sở lý luận của đề tài 4
1.1.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài 4
1.2 Sơ lược về cây hoa lan 4
1.2.1 Nguồn gốc, vị trí, phân loại và đặc điểm thực vật học của cây hoa lan lan 4
1.2.2 Yêu cầu về điều kiện môi trường sinh thái của cây hoa lan 12
1.3 Tình hình sản xuất hoa lan trên thế giới và Việt Nam 15
1.3.1 Tình hình sản xuất lan trên thế giới 15
1.3.2 Tình hình sản xuất lan ở Việt Nam 16
1.3.3 Tình hình sản xuất hoa tại Thái Nguyên 19
1.4 Các kết quả nghiên cứu liên quan đến đề tài 20
1.4.1 Các nghiên cứu về giống hoa lan Hồ Điệp trên Thế giới và ở Việt Nam 20
1.4.2 Các nghiên cứu về phân bón lá cho lan Hồ Điệp trên Thế giới và ở Việt Nam 21
1.4.3 Các nghiên cứu về giá thể trồng lan Hồ Điệp trên Thế giới và ở Việt Nam 23
Chương 2 VẬT LIỆU, NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25
2.1 Vật liệu nghiên cứu 25
2.1.1 Các giống hoa 25
Trang 52.1.2 Các loại giá thể 25
2.1.3 Các loại phân bón 25
2.2 Nội dung và phương pháp nghiên cứu 26
2.2.1 Nội dung nghiên cứu 26
2.2.2 Phương pháp nghiên cứu 26
2.3 Đặc điểm và thời gian nghiên cứu 28
2.3.1 Địa điểm 28
2.3.2.Thời gian 28
2.3.3.Các chỉ tiêu theo dõi 28
2.4 Phương pháp và xử lý số liệu 30
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 31
3.1 Đặc điểm sinh trưởng phát triển, năng suất, chất lượng của một số giống hoa lan Hồ Điệp trồng tại Thái Nguyên 31
3.2 Ảnh hưởng của phân bón lá đến hoa lan Hồ Điệp 42
3.3 Ảnh hưởng của giá thể đến lan Hồ Điệp giống Chấm trắng 50
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 60
1 Kết luận 60
2 Đề nghị 60
TÀI LIỆU THAM KHẢO 61
Trang 6D : Chiều dài
R : Chiều rộng TGXH : Thời gian xuất hiện TGST : Thời gian sinh trưởng
CD : Chiều dài
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1: Động thái ra lá của một số giống lan Hồ Điệp 31
Bảng 3.2: Diện tích lá của một số giống lan Hồ Điệp 33
Bảng 3.3: Đặc điểm hình thái và mầu sắc lá, thân, hoa của một số giống lan Hồ Điệp 34
Bảng 3.4: Động thái tăng trưởng đường kính thân của một số giống lan Hồ Điệp 34
Bảng 3.5a: Sự ra hoa và sinh trưởng phát triển hoa của một số giống lan Hồ Điệp 36
Bảng 3.5b: Sự ra hoa và chất lượng hoa của một số giống lan Hồ Điệp 37
Bảng 3.6a: Thành phần bệnh hại chủ yếu trên một số giống lan Hồ Điệp 39
Bảng 3.6b: Thành phần sâu bệnh hại chủ yếu trên một số giống lan Hồ Điệp 39
Bảng 3.7: Hiệu quả kinh tế của một số giống hoa lan Hồ Điệp 41
Bảng 3.8: Ảnh hưởng của phân bón lá đến động thái ra lá của cây lan Hồ Điệp giống Chấm trắng 42
Bảng 3.9 a: Ảnh hưởng của phân bón lá đến diện tích lá của cây lan Hồ Điệp giống Chấm trắng 43
Bảng 3.9b: Ảnh hưởng của phân bón lá đến động thái tăng trưởng dường kính thân của cây lan Hồ Điệp giống Chấm trắng 44
Bảng 3.10a: Ảnh hưởng của phân bón lá đến sự ra hoa và sinh trưởng phát triển hoa lan Hồ Điệp giống Chấm trắng 45
Bảng 3.10b: Ảnh hưởng của phân bón lá đến sự ra hoa và chất lượng hoa lan Hồ Điệp giống Chấm trắng 47
Bảng 3.11: Ảnh hưởng của phân bón lá đến diễn biến thành phần sâu bệnh hại chủ yếu trên cây hoa lan Hồ Điệp giống Chấm trắng 48
Bảng 3.12: Hiệu quả kinh tế của việc sử dụng phân bón lá cho hoa lan Hồ Điệp giống Chấm trắng 49
Bảng 3.13: Ảnh hưởng của giá thể đến động thái ra lá của cây hoa lan Hồ Điệp giống Chấm trắng 50
Bảng 3.14: Ảnh hưởng của giá thể đến diện tích lá của cây hoa lan Hồ Điệp giống Chấm trắng 52
Bảng 3.15: Ảnh hưởng của giá thể đến động thái tăng trưởng đường kính thân của cây hoa lan Hồ Điệp giống Chấm trắng 53
Bảng 3.16a: Ảnh hưởng của giá thể đến sự ra hoa và sinh trưởng phát triển hoa lan Hồ Điệp giống Chấm trắng 54
Bảng 3.16b: Ảnh hưởng của giá thể đến sự ra hoa và chất lượng hoa hoa lan Hồ Điệp giống Chấm trắng 56
Bảng 3.17: Ảnh hưởng của giá thể đến diễn biến thành phần sâu bệnh hại trên cây hoa lan Hồ Điệp giống Chấm trắng 57
Bảng 3.18: Hiệu quả kinh tế của việc sử dụng các loại giá thể trồng hoa lan Hồ Điệp giống Chấm trắng 58
Trang 8DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
Hình 3.1: Biểu đồ động thái ra lá của một số giốnglan Hồ Điệp 32 Hình 3.2: Biểu đồ động thái tăng trưởng đường kính thân của một số giống
lan Hồ Điệp 35 Hình 3.3: Biểu đồ sự ra hoa và chất lượng hoa của một số giống lan Hồ Điệp 38 Hình 3.4: Biểu đồ ảnh hưởng của phân bón lá đến động thái tăng trưởng
đường kính thân của cây lan Hồ Điệp giống Chấm trắng 44 Hình 3.5: Biểu đồ ảnh hưởng của phân bón lá đến sự ra hoa và sinh trưởng
phát triển hoa lan Hồ Điệp giống Chấm trắng 46 Hình 3.6: Biểu đồ ảnh hưởng của giá thể đến động thái ra lá của cây hoa lan
Hồ Điệp giống Chấm trắng 51 Hình 3.7: Biểu đồ ảnh hưởng của giá thể đến động thái tăng trưởng đường
kính thân của cây hoa lan Hồ Điệp giống Chấm trắng 53 Hình 3.8: Biểu đồ ảnh hưởng của giá thể đến sự ra hoa và sinh trưởng phát
triển hoa lan Hồ Điệp giống Chấm trắng 55 Hình 3.9: Biểu đồ ảnh hưởng của giá thể đến sự ra hoa và chất lượng hoa hoa
lan Hồ Điệp giống Chấm trắng 56
Trang 9một mặt hàng mang lại nguồn thu lớn cho ngành nông nghiệp
Hoa lan thực sự đã trở thành sản phẩm nông nghiệp có giá trị kinh tế cao, thúc đẩy ngành sản xuất kinh doanh phát triển mạnh mẽ Đặc biệt là các nước thuộc châu Á nhiệt đới như Thái Lan, Singapore, Malaysia, Indonesia… Trong đó, Thái Lan có kim ngạch xuất khẩu hoa lan cắt cành năm 1987 là 21 triệu USD, năm 1990 là 26 triệu USD, năm 1991 là 30 triệu USD Singapore thu lợi nhuận từ lan cắt cành mỗi năm 10 triệu USD Kim ngạch xuất khẩu hoa lan trên thế giới hàng năm đạt 1,8 tỷ USD (Phan Thúc Huân, 1989) [13] Hiện nay, nghiên cứu về khoa học ở nước ta chủ yếu tập trung nghiên cứu nhân nhanh các giống hoa lan nhiệt đới Kỹ thuật nuôi trồng trên quy mô công nghiệp hầu như còn ít, chưa có nhiều nghiên cứu về kỹ thuật trồng, chọn lọc loài lan rừng thích hợp với điều kiện khí hậu Thái Nguyên nói riêng và miền Bắc nói chung Để phát triển lâu dài bền vững thì các chủng loại lan rừng Việt Nam cần được nghiên cứu nhằm bảo tồn nguồn gen để phục vụ cho việc lai tạo lan trong tương lai, tạo ra những loài lan đặc hữu chỉ có ở Việt Nam Mặt khác, cần hoàn thiện nhanh chóng qui trình nuôi trồng lan công nghiệp nhằm đáp ứng thị trường trong nước cũng như dần hướng tới thị trường xuất khẩu (Nguyễn Thiện Tịch, 1996) [23]
Trang 10Ở nước ta có nhiều vùng trồng hoa qui mô lớn, nổi tiếng và giàu kinh nghiệm là Đà Lạt (Lâm Đồng), Vĩnh Tuy, Nhật Tân, Đông Anh, Ngọc Hà (Hà Nội), Mê Linh (Vĩnh Phúc), Đằng Hải (Hải Phòng), Gò Vấp (Thành phố Hồ Chí Minh), Sapa (Lào Cai), Nam Phong (Nam Định) Diện tích trồng hoa trên cả nước tính đến nay khoảng 4000 ha sau Ấn Độ, Trung Quốc và Thái Lan…Tuy nhiên, sản xuất hoa ở Việt Nam còn nhiều hạn chế do khí hậu ít thuận lợi, công nghệ sản xuất lạc hậu và thị trường nhỏ đặc biệt là thị trường xuất khẩu
Thái Nguyên cũng như các vùng khác chủ yếu sản xuất hoa dựa vào kinh nghiệm là chính Công nghệ sản xuất còn thiếu tính đồng bộ, diện tích trong nhà có mái che còn thấp nên chất lượng hoa cắt không cao, nhiều loại hoa chưa thể trồng trái vụ nên chưa đáp ứng được nhu cầu hoa cắt thường xuyên Bên cạnh đó, đầu tư cho KHKT chưa nhiều, chưa có các giống chủ lực và cơ
sở nhân giống đủ điều kiện phục vụ sản xuất hàng hoá, phần lớn vẫn phải nhập giống từ nước ngoài Vì vậy, sản xuất bị động, giá thành sản xuất cao Hơn nữa sản phẩm chưa có nhãn mác, thương hiệu, vì thế hoa chưa có thị trường xuất khẩu
Lan Hồ Điệp là một loài lan quý có giá trị thương mại cao, có khả năng thích ứng tốt với khí hậu miền Bắc - Việt Nam Để có cơ sở chắc chắn trước khi phát triển giống lan Hồ Điệp, tiến tới mở rộng vùng sản xuất và tạo thương hiệu riêng cho hoa lan của Thái Nguyên Vì vậy, việc nghiên cứu xác định giống tốt đạt chất lượng và kỹ thuật canh tác phù hợp là việc làm cần thiết và cấp bách
Xuất phát từ thực tế trên cũng như góp phần phát triển ngành nuôi trồng hoa lan ở Thái Nguyên, giúp cho người trồng lan có được quy trình, kỹ thuật chăm sóc lan nhằm phát triển ngành trồng hoa lan theo hướng công nghiệp,
chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: "Đáng giá khả năng sinh trưởng, phát triển và biện pháp kỹ thuật sản xuất hoa lan Hồ Điệp tại Thái Nguyên”
Trang 113 Yêu cầu của đề tài
+ Đánh giá khả năng sinh trưởng
+ Theo dõi tình hình sâu, bệnh hại
+ Đánh giá một số chỉ tiêu chất lượng hoa
Trang 12Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Cơ sở khoa học của đề tài
1.1.1 Cơ sở lý luận của đề tài
+ Kết quả nghiên cứu đề tài là dẫn liệu khoa học về khả năng sinh trưởng, ra hoa của các giống hoa lan Hồ Điệp trồng tại Thái nguyên
+ Kết quả nghiên cứu của đề tài là tài liệu tham khảo trong giảng dạy, nghiên cứu về hoa lan Hồ Điệp trồng tại Thái Nguyên
1.1.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài
Kết quả đề tài góp phần giải quyết yêu cầu thực tế sản xuất của các hộ nông dân, các doanh nghiệp trồng hoa lan để lựa chọn các biện pháp kỹ thuật tốt nhất trong việc nuôi trồng lan Hồ Điệp
Tạo tiền đề thúc đẩy nghề trồng hoa lan ở Thái Nguyên, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển kinh tế xã hội của tỉnh
1.2 Sơ lược về cây hoa lan
1.2.1 Nguồn gốc, vị trí, phân loại và đặc điểm thực vật học của cây hoa lan lan
1.2.1.1 Nguồn gốc lịch sử
Theo các tác giả Trần Hợp (1990) [11], Nguyễn Tiến Bân (1997) [2],
Võ Văn Chi - Dương Đức Tiến (1978) [3], Phạm Hoàng Hộ (2000) [9],
Nguyễn Văn Chương, Trịnh Văn Thịnh (1991) [4] cây lan Orchida thuộc họ phong lan Orchidaceae, bộ lan Orchidales, lớp một lá mầm Monoctyledoneae Cây lan được biết đến đầu tiên ở Phương Đông Hoa lan
được biết đến vào khoảng 2500 năm về trước (Thời đại của Đức Khổng Tử, 551- 479 trước công nguyên) Ở Phương Đông, lan được chú ý đến vì vẻ đẹp duyên dáng của lá, hương thơm tuyệt vời của hoa Khổng Tử đề cao lan là Vua của những loài cỏ cây có hương thơm
Trang 13Hoa lan thường mọc ở các vùng nhiệt đới, đã được các thuỷ thủ, các lái buôn, nhà truyền giáo mang về nên người châu Âu biết đến rất muộn, lan được chú ý trước hết để làm thuốc chữa bệnh Ở đây người ta đã tiến hành nghiên cứu rất công phu tỉ mỉ về lan Có thể nói Theophara stus là cha đẻ
ngành học về lan và ông cũng là người đầu tiên dùng từ Orchid để chỉ một
loài lan có củ tròn Sau đó Robut Bron (1773 - 1858) là người đầu tiên đã phân biệt rõ ràng giữa họ lan và các họ khác [10] Người đặt nền tảng hiện đại cho môn học về lan là John Lindley (1799 - 1865) Năm 1836 ông công bố, sắp
xếp các tông họ lan (A tabuler view of the tribes of orchidaler) Tên của họ lan
do ông đưa ra được dùng cho đến ngày nay [10]
Ở Việt Nam, dấu vết nghiên cứu về lan thời kỳ đầu không rõ rệt, có lẽ người đầu tiên có khảo sát về lan ở Việt Nam là Gioalas Noureiro - Nhà truyền giáo người Bồ Đào Nha, ông đã mô tả cây lan ở Việt Nam lần đầu tiên vào năm 1789 trong cuốn “Flora cochin chinensis”, gọi tên các cây lan trong cuộc hành trình đến nam phần Việt Nam là Aerides, Phaius và Sarcopodium
mà đã được Bentham và Hooker ghi lại trong cuốn “Genera planterum” (1862
- 1883) [9] Chỉ sau khi người Pháp đến Việt Nam mới có những công trình nghiên cứu được công bố đáng kể là F Gagnepain và A Gnillaumin mô tả 70 chi gồm 101 loài cho cả 3 nước Đông Dương trong bộ “Thực vật Đông Dương chí” do H Lecomte chủ biên, xuất bản năm 1932 - 1934 [15]
Theo tác giả Phạm Hoàng Hộ (1972), đã mô tả kèm hình vẽ 289 loài lan gặp ở Nam Việt Nam trong bộ “Cây cỏ Việt Nam” (quyển II )
Sau năm 1975 các nhà khảo cứu Việt Nam, Liên Xô, Tiệp Khắc bắt đầu tìm kiếm và nghiên cứu về những giống lan tại Việt Nam
Năm 1992, tác giả Gunnar Seidenfaden người Đan Mạch đã phát hành cuốn “Hoa Lan tại Đông dương” gồm 200 giống và 2000 loài, trong đó có khoảng 136 giống và 720 loài của Việt Nam
Đến năm 1993, tác giả Phạm Hoàng Hộ [9] cho rằng, ở Việt Nam có tới
755 loài lan
Trang 14Gần đây nhất tác giả Leonid Averyanov và các tác giả Nguyễn Tiến Hiệp, Phan Kế Lộc, Dương Đức Huyến đã lần lượt công bố trên tờ nguyệt san Orchids của Hội hoa lan Hoa Kỳ những khám phá mới lạ đã phát hiện thấy 4
loài lan ở Việt Nam chưa được biết đến đó là Paphio pledilum helenae, Renamthera citrina, Paphiopedilum hiepii và Vanda bidupensis
1.2.1.2 Vị trí phân bố
Cây hoa lan mọc ở khắp mọi nơi trên thế giới, từ miền gió tuyết đến sa mạc nóng bỏng khô cằn, từ miền núi cao rừng thẳm đến đồng cỏ của miền bình nguyên và ngay cả các vùng sình lầy cũng có lan Đa số lan mọc tập trung ở các rừng cây nhiệt đới, ở các nước Châu Á như Thái Lan, Lào, Cam
Pu Chia, Việt Nam có Dendrobium, Vanda, Phalaenopsis, Archinis, Renanthera, ở Châu Nam Mỹ như Costarica, Venezuela, Colombia có các giống Cattleya, Odontoglosum, Miltonia
Theo Briger (1971), vùng trung sinh Bắc bán cầu có 75 chi và 900 loài, vùng trung sinh Nam bán cầu có 40 chi và 500 loài, Châu Âu có 120 loài, Bắc
Mỹ có 170 loài Họ lan (Orchidaceac) thuộc vào một loài hoa đông đảo với
khoảng chừng 750 chi và 30.000 loài nguyên thủy và khoảng một triệu loài
lan; loài hoa có số lượng lớn đứng thứ 2 sau họ cúc (Asteraceac)
Theo Presley (1981) thì vùng Châu Á nhiệt đới có 250 chi và 6.800 loài
trong đó chi Dendrobium có 1.400 loài, chi Coelogyne có 200 loài, chi Phalaenopsis có 35 loài, chi Vanda có 60 loài, vùng châu Mỹ nhiệt đới có 306 chi và 8.266 loài, chi Cattleya có 60 loài, chi Epidendrum có 500 loài, chi Odontoglossum có 200 loài Vùng Châu Mỹ nhiệt đới có 306 chi và 8.266
loài Trên thế giới có một số nước tập trung nhiều loài hoa như Colombia có 1.300 loài và Tân Ghinê có 1.450 loài, (Phan Thúc Huân, 1989) [13]
Khảo sát sơ bộ ở Việt Nam, chi Dendrobium có khoảng 89 loài, Paphiopedilum có 25 loài, Aerides có 5 loài, chi Cymbidium có 20 loài, chi Phalaenopsis có 7- 8 loài
Trang 151.2.1.3 Phân loại hoa lan
Theo các tác giả Trần Hợp (1990) [11], Nguyễn Tiến Bân (1997) [2], Vô Văn Chi - Dương Đức Tiến 1978 [3], Phạm Hoàng Hộ (1992) [9], Nguyễn Văn Chương, Trịnh Văn Thịnh (1991) [4] và Koopowitz (1986) [34], cây hoa
lan thuộc họ lan (Orchidaceae), ở trong lớp đơn tử diệp, lớp 1 lá mầm (Monocotyledoneae), thuộc ngành ngọc lan - thực vật hạt kín Magnolio phyta, phân lớp hành Lilidae, bộ lan Orchidales
Theo tác giả Takhtajan (1980), họ lan bao gồm cả họ Apostasicideae và
họ Cypripedicideae chia thành 3 họ phụ gồm:
1 Orchidadeae
2 Cypripedicideae
3 Apostasicideae
Trong đó họ phụ lan (Orchidadeae) là phức tạp nhất, có nhiều giống
nhiều loại nhất, hai họ phụ kia mỗi loại chỉ có một tông, (Phan Thúc Huân, 1989) [13]
Gần đây, do phân tích hoa đầy đủ hơn và đi sâu vào đặc tính di truyền, các nhà khoa học đã chia họ lan thành 6 họ phụ:
Trang 16nhà Tuy nhiên, việc phân loại cây trồng hết sức phức tạp, cho đến nay chưa
có khoá phân loại cho các đơn vị dưới loài, trong khi đó việc phân loại cho các đơn vị dưới loài hết sức quan trọng, nhất là trong công tác chọn giống cây trồng (Nguyễn Nghĩa Thìn, 1997) [19], đối với họ lan cũng gặp những khó khăn này
1.2.1.4 Đặc điểm thực vật của cây hoa lan
Thân cây họ lan: cây lan sống ở những nơi hoang dã, ở các địa điểm rất
khác nhau, điều kiện môi trường rất khác nhau như các sườn núi cao giá lạnh, trên cây cao gió thốc hoặc ẩm ướt tối tăm ven suối trong rừng rậm , cấu trúc
loài lan cũng đa dạng để thích nghi Thân các loài lan có 2 kiểu tiêu biểu nhất là:
Lan đa thân: Các chi lan Kiếm (Cymbidium), lan Hài
(Paphiopedilum), lan Vũ nữ (Oncidium), Cát lan (Cattleya), lan Hoàng thảo (Dendrobium) thuộc vào kiểu lan đa thân
Thông thường, phần của cây lan nhìn thấy được chỉ có lá, hoa và cuống Chúng được mọc nên từ một đoạn phình to, giống như củ hành nên người ta gọi là giả hành
Giả hành có thể nhỏ như lan Kiếm hoặc khá to như lan Bầu rượu
(Catlanthe), ngắn hình thoi như lan Hoàng thảo vẩy rồng, nhưng có loài khá
dài như lan Hoàng thảo phi điệp (dài tới 1m)
Việc tách bụi của lan đa thân là việc cắt thân rễ (căn hành), cắt ở vị trí nào ta cần tính toán sao cho mỗi bụi đều có đủ sức để phát triển mạnh, thường nên để mỗi có khoảng 3 giả hành
Lan đơn thân: Các chi lan Vanda, Hồ điệp, Phượng vĩ, Ngọc điểm (Rhychostylis) thuộc kiểu lan đơn thân Thân các loài lan đơn thân luôn mọc
cao nên phía ngọn, phát triển theo chiều thẳng đứng Sự phát triển chỉ ngừng khi đỉnh ngọn bị thương tổn, chồi bên sẽ xé rách bọc lá để mọc thành thân nhánh và cũng vươn cao nên phía đỉnh
Khi thân các loài lan đơn thân vươn cao dễ bị đổ nghiêng ngả, có loài rễ
Trang 17gió (rễ khí) mọc theo thân bám chặt vào các cành cây hay bất cứ vật nào chúng gặp phải để giữ cho cây luôn được thẳng đứng
Rễ lan: đa số rễ của các loài lan có lớp mô xốp bao quanh rễ thật Rễ của
phong lan có lớp mô xốp màu trắng ngà với nhiều công dụng khác nhau: bảo vệ nguồn dẫn nước bên trong của rễ; hút nước và các muối khoáng bám trên mặt rễ
và hấp thụ cả hơi nước trong không khí ẩm Chúng còn có khả năng bám chặt vào các vật mà chúng tiếp xúc Ruột rễ của các loài lan là một sợi rất chắc và khá dai như sợi cước, chính vì thế rễ lan bảo đảm được cho cây lan có thể bám trên ngọn cây cao, ở các sườn non chót vót không bị gió mạnh cuốn đi
Miền chóp của rễ có chứa chất màu lục nên rễ cũng làm một phần chức năng quang hợp cho cây
Các sợi rễ không bấu víu vào các vật xung quanh nên chúng có thể hút sương sớm chiều và làm chức năng quang hợp Rễ có hình trụ nhưng khi bám vào các vật cứng rễ bị bẹp đi trên vết bám
Nói chung rễ của các loài lan dù phát triển thành nhánh cấp I, cấp II, có khi cấp III nhưng không có rễ tóc nhỏ li ti như của các loài thực vật khác Nếu tính về diện tích bề mặt của cả bộ rễ một cây lan thì quá nhỏ so với bề mặt rễ của các loài thực vật khác
Lá lan: lá của họ lan có hình dáng và kích thước rất khác nhau Có loài
lan lá rụng vào mùa khô hanh để giảm bớt sự thoát hơi nước Đa số lá của các loài lan đều bền vững nhiều năm liền Người ta thường đếm số lá trên ngọn lan Đai châu để xác định tuổi vì mỗi năm trung bình cây lan chỉ mọc thêm được một đến hai lá
Lá của nhiều loại lan rất dai, dày dặn, rất chắc có thể trữ được nước và các chất dinh dưỡng Lá của các loài lan mọc ở 2 phía của thân cây
Lá của lan kiếm mọc trên cây thường dày và cứng hơn mọc dưới đất vì chúng phải lưu trữ nước và dinh dưỡng
Lá và rễ của loài lan đơn thân thường mọc vuông góc với nhau ở cùng một đốt trên thân như lan Vanda, Bò cạp, Phượng vĩ Tuy vậy lá của lan Đai châu lại mọc từ kẽ lá
Trang 18Hoa lan: hoa của tất cả các loài trong họ lan dù rất khác nhau về kích
thước màu sắc và hình dáng nhưng chúng được cấu tạo theo cùng một khuôn mẫu: Hoa lan có 7 bộ phận gồm: 3 cánh đài bên ngoài, 3 cánh hoa và trụ của bông hoa Đoạn cuống tiếp giáp bông hoa, lá bầu hoa có 3 tâm bì chính là 3 ô của quả lan chứa đầy các hạt nhỏ li ti gọi là tiểu noãn
Cánh đài: bộ phận bên ngoài của hoa là 3 cánh đài, bảo vệ hoa khi còn là
nụ Đây là nét độc đáo của hoa lan Đại đa số hoa lan có 3 cánh đài hoàn toàn giống nhau Hoa lan Vanda có 3 cánh đài to và đẹp hơn cánh hoa, ngược lại ở một số loài lan như lan Hài có 2 cánh kém phát triển và dính liền vào nhau
Cánh hoa: cánh hoa là bộ phận quan trọng nhất để tạo ra vẻ đẹp quyến rũ
của hoa lan Hai cánh hoa trên giống nhau hoàn toàn về màu sắc và kích thước Một số loài hoa lan có 3 cánh đài và 2 cánh hoa trên có màu sắc và kích thước gần giống nhau nên đã làm cho nhiều người hiểu nhầm loài hoa này có
5 cánh hoa Một số loài lan đặc biệt như lan hài có 2 cánh hoa dài ra thành hình dải, có khi chúc xuống, có khi lướt sóng thành đường viền nhăn nheo kỳ lạ Cánh hoa phía dưới có màu sắc, hình dạng rất đặc sắc khác hẳn với 2 cánh hoa trên được gọi là cánh môi hay lưỡi Cánh môi của hoa quyết định phần lớn giá trị thẩm mỹ của hoa Thiên nhiên đã cho lưỡi hoa vẻ đẹp về màu sắc và kiểu dáng mà con người khó hình dung được Cánh môi thường lớn lộng lẫy với nhiều màu sắc rực rỡ, hình dáng có thể đơn giản nhưng kỳ lạ, có thùy, rìa, tua, sóng
Trụ hoa: giữa bông hoa có một cái trụ Trụ hoa có chứa cả nhụy hoa và
nhị hoa, có loài lan hài có 2 nhị Đầu trụ là một nắp chứa phấn hoa Khác với các loài hoa khác, hạt phấn hoa được kết với nhau bằng một chất sáp tạo thành những viên gọi là phấn khối Do đặc tính phấn hoa lan nên ở một số nước như Hàn Quốc người ta cho trồng hoa lan trong bệnh viện và cho mang hoa lan vào thăm bệnh nhân Số lượng phấn khối có thể là 2, 4, 6, 8 tùy loài hoa Cát lan và Laelia rất giống nhau về tất cả các mặt nhưng khác nhau về số
Trang 19phấn khối Cát lan có 4 phấn khối còn Laelia có 8 Phía dưới nắp là một điểm trũng bóng, nếu lấy đầu que diêm chấm vào điểm đó ta sẽ thấy có một chất nhầy và dính Đây chính là đầu nhụy nơi tiếp nhận phấn
Bầu hoa: khi phấn khối rơi vào đầu nhụy tạo ra sự thụ phấn Hoa sẽ héo
đi nhanh chóng, bầu hoa phình rộng ra thành quả lan Trong mỗi quả có rất nhiều hạt (hàng vạn, hàng triệu tùy loại) Sau vài tháng hoặc lâu hơn, quả lan
sẽ chín và nứt dọc theo 3 khe của 3 ô Các hạt lan có thể bị gió cuốn đi rất xa Hạt lan không chứa chất dinh dưỡng như những loài thực vật khác nên chúng không thể mọc thành cây lan con được nhưng chúng vẫn sinh sôi nảy nở và phát triển vì chúng có những hạt đã gặp được loài nấm cộng sinh hỗ trợ các chất dinh dưỡng để cây lan con lớn dần tới khi bộ rễ phát triển để có thể tự nuôi sống
Họ lan được xếp vào đỉnh cao của mức độ tiến hóa trong các họ cây có hoa Kết luận này dựa vào sự hoàn chỉnh của cấu trúc hoa lan tạo cho sự thụ phấn bằng côn trùng được thuận lợi nhất Nếu thụ phấn chỉ do phấn của bông hoa rơi trên đầu nhụy của chính bông hoa đó thì loài hoa này nhanh chóng bị thoái hóa hơn Phấn của hoa lan được kết dính nên không dễ dàng rơi xuống đầu nhụy dù gió có lay mạnh bông hoa
Khi hoa còn là nụ, nụ có thể là nghiêng hay dựng đứng ở các vị trí khác nhau Nhưng khi hoa nở cuống sẽ uốn cong có khi tới 1800
làm cho môi hoa lằm ngang, tạo thành nơi đậu cho côn trùng, có khi là cái bẫy giữ côn trùng Màu sắc rực rỡ, hương thơm quyến rũ hấp dẫn các loài côn trùng đến hút mật
và mang phấn khối của hoa này đến đầu nhụy của hoa kia Hiện tượng này làm giảm sự thoái hóa của họ lan nhưng đồng thời hình thành nên loài lan lai tự nhiên
Ví dụ như lan Cẩm báo là loại lan lai tự nhiên của lan Hồ điệp và lan Vanda
Quả lan: quả lan thuộc loại quả nang, nở ra theo 3 - 6 đường nứt dọc
Có dạng từ quả cải dài đến dạng hình trụ ngắn, phình ở giữa Khi chín, quả nở
ra và mảnh vỏ còn dính lại với nhau ở phía đỉnh và phía gốc ở một số loài khi
Trang 20quả chín nứt theo 1 - 2 khía dọc, thậm chí không nứt ra mà hạt chỉ ra khỏi vỏ khi vỏ này bị mục nát [2]
Hạt lan: hạt lan rất nhiều, nhỏ li ti Hạt chỉ cấu tạo bởi một khối chưa phân
hoá, trên một mạng lưới nhỏ, xốp, chứa đầy không khí, sau 2 - 18 tháng hạt mới chín Phần lớn hạt thường chết vì khó gặp nấm cộng sinh cần thiết để nảy mầm do
đó hạt nhiều, nhẹ có thể theo gió bay phát tán rất rộng nhưng hạt nảy mầm thành cây rất hiếm Chỉ trong những khu rừng già ẩm ướt vùng nhiệt đới mới đủ điều kiện cho hạt lan nảy mầm Khối lượng toàn bộ hạt trong 1 quả chỉ bằng 1/10 - 1/000 mg, trong đó không khí chiếm xấp xỉ 76 - 96% thể tích hạt
1.2.2 Yêu cầu về điều kiện môi trường sinh thái của cây hoa lan
1.2.2.1 Yêu cầu về nhiệt độ
Nếu như ẩm độ quyết định sự xuất hiện của các loài lan thì nhiệt độ quyết định sự phân bố các loài lan ấy trên thế giới Căn cứ vào điều kiện địa
lý, người ta chia lan làm 3 nhóm khác nhau:
Lan vùng lạnh: phân bố từ vĩ tuyến 28 - 400, các loại lan này không cần nuôi dưỡng trong nhà kính
Lan vùng nóng: phân bồ từ vĩ tuyến 12 - 150, nhiệt độ trung bình từ 24 -
Căn cứ vào nhu cầu nhiệt độ của lan, người ta chia làm 3 nhóm:
Nhóm lan ưa nóng: bao gồm những loài lan chịu nhiệt độ ban ngày
không dưới 210C, ban đêm không dưới 18,50C Những loại lan này thường có nguốn gốc ở vùng nhiệt đới
Nhóm lan ưa nhiệt độ trung bình: bao gồm những loài lan chịu nhiệt độ
ban ngày không dưới 14,50C, ban đêm không dưới 13,50
C
Nhóm lan ưa lạnh: bao gồm những loài lan chịu nhiệt độ ban ngày
không quá 140C, ban đêm không quá 130C Chúng thường xuất xứ ở vùng hàn đới, ôn đới và các khu vực núi cao vùng nhiệt đới
Trang 21Nhiệt độ ảnh hưởng đến hoạt động quang hợp và hô hấp của cây Ở điều kiện nhiệt độ tối thích, hoạt động quang hợp và hô hấp của lan diễn ra thuận lợi, cây sinh trưởng, phát triển bình thường Ví dụ lan Hồ điệp, nhiệt độ lý tưởng vào ban ngày là 22 - 250C, vào ban đêm 180
C (Soebijanto; Widiastoety,
- D; Suwanda 1988 [39]) Nhiệt độ cũng ảnh hưởng đến sự ra hoa của một số
loài lan ở loài Paphiopedilum insigne và Dendrobium nobile chỉ ra hoa khi
nhiệt độ hạ xuống 130C hoặc thấp hơn Nếu nhiệt độ cao nó chỉ sinh trưởng sinh dưỡng Lan Hồ điệp chỉ ra hoa khi nhiệt độ ban đêm giảm xuống dưới
210C (http://www.chiosan.vn [40])
1.2.2.2 Yêu cầu về ánh sáng
Ánh sáng là điều kiện rất cần thiết cho sự sinh trưởng và phát triển thông qua quá trình quang hợp và hô hấp Nhu cầu về ánh sáng của các loài lan là rất khác nhau Vanda lá tròn, Arachinis, Renanthera yêu cầu 100% ánh sáng
tự nhiên, tức là khoảng 40000 lux Dendrobium yêu cầu 70% ánh sáng tự
nhiên, khoảng 15000 - 30000 lux Trong khi đó lan Hồ điệp (Phalaenopsis)
nhu cầu chỉ là 30% ánh sáng tự nhiên, khoảng 5000 - 14000 lux (Nguyễn Xuân Trường 2001 [27]) Cường độ quang hợp gia tăng cùng với cường độ ánh sáng Tuy nhiên, khi cường độ ánh sáng vượt quá một trị số giới hạn nào
đó thì cường độ quang hợp không tăng lên nữa và có thể giảm do quá trình quang hô hấp Vì vậy, cần thiết kế vườn lan và hệ thống lưới che sao cho phù hợp với từng loài lan cụ thể Dựa vào nhu cầu ánh sáng của từng loài lan mà người ta chia ra làm 3 nhóm:
Nhóm lan ưa ánh sáng mạnh: Cần ánh sáng nhiều 100% ánh sáng trực
tiếp như các loài Vanda, Renanthera, Cattleya
Nhóm lan ưa ánh sáng yếu: bao gồm các loài có nhu cầu ánh sáng khoảng
30 - 40% như Phalaenopsis, Paphiopedilum
Nhóm lan ưa ánh sáng trung bình: bao gồm các loài có nhu cầu ánh sáng khoảng 50 - 80% như các loài Dendrobium, Cymbidium
Ánh sáng ảnh hưởng đến khả năng phân hoá mầm hoa và ra hoa của một
Trang 22số loài lan Hầu hết các loài thuộc chi Cattleya, Dendrobium nếu thiếu ánh
sáng cây không ra hoa
1.2.2.3 Yêu cầu về độ ẩm
Ẩm độ là một trong những yếu tố ảnh hưởng rất lớn đến sự sinh trưởng,
và phát triển của các loài lan Đa số các loài lan ưa ẩm, việc chọn địa điểm thích hợp cho vườn lan sẽ giúp cho cây lan sinh trưởng và phát triển tốt, đồng thời giảm được rất nhiều công chăm sóc Khi trồng lan chúng ta cần lưu ý 3 loại độ ẩm sau:
Ẩm độ của vùng: là ẩm độ của một vùng sinh thái nhất định do điều
kiện địa lý, địa hình nói chung quy định Ví dụ ẩm độ của vùng có kênh rạch, sông suối cao hơn ẩm độ ở vùng trống, nhiều gió, ẩm độ ở vùng đồi trọc thấp hơn ẩm độ của vùng trồng cây ăn quả, rừng
Ẩm độ vườn: là độ ẩm của chính vườn lan, độ ẩm này có thể cải tạo
được theo ý muốn như đào ao, xây bể làm mương rạch, trồng cây, làm giàn che, tưới nước
Ẩm độ trong chậu: là độ ẩm cục bộ do cấu tạo của giá thể, thể tích
chậu, số lần tưới quy định ẩm độ này hoàn toàn phụ thuộc vào kỹ thuật của người trồng lan
Trong thực tế ẩm độ của vùng cao thì tốt hơn ẩm độ cục bộ trong chậu cao, do đó cần lưu ý hạn chế tưới nước trong mùa mưa và thời tiết có mưa phùn, mưa giầm khi ẩm độ không khí cao
1.2.2.4 Yêu cầu về độ thông gió
Thích thoáng sợ gió đó là một đặc điểm khi nói về hoa lan (Nguyễn Định
1998 [8]) Không khí cũng là một món ăn của cây lan Khi trồng ở các thành phố thì các giàn lan thiếu gió vì bị các nhà cao tầng che khuất trừ các giàn lan ở trên sân thượng Lượng không khí di chuyển làm mát cây lan, không có gió sẽ làm cho giàn lan bị hầm hơi, làm nóng cây lan Cho nên giàn lan nào thiếu gió thì cây lan đó không tốt, nhưng giàn lan nào có nhiều gió quá làm thoát nhiều
Trang 23hơi nước, cây lan cũng không tốt Trường hợp này phải che bớt gió Điều này cũng giải thích được là tại sao khi sống trong rừng không bao giờ chúng
ta tìm thấy được lan sống ở dưới thấp (trừ địa lan ở xứ lạnh) Lan thường sống cheo leo trên các vách đá, hoặc bám chót vót trên các ngọn cây cao Độ thoáng gió là một trong những đặc tính quan trọng về sinh thái của cây lan (Phan Thúc Huân, 1989 [13])
1.3 Tình hình sản xuất hoa lan trên thế giới và Việt Nam
1.3.1 Tình hình sản xuất lan trên thế giới
Loddiges 1812 là người đầu tiên trên thế giới thiết lập vườn lan thương mại Trong những thập kỷ gần đây, cùng với phương tiện giao thông phát triển mạnh mẽ, các thành tựu khoa học kỹ thuật và sự phát triển về công nghệ sinh học được ứng dụng rộng rãi Do vậy, việc xuất khẩu hoa lan ngày càng tăng với qui mô rất lớn Nhiều nước đã trở thành cường quốc xuất khẩu hoa như Thái Lan, Đài Loan…Hoa lan đã và đang là nguồn lợi lớn của các nước Đông Nam Á và thế giới (Phan Thúc Huân, 1989 [13] (Delforge, P.1995) [32] Hiện nay, Thái Lan là nước đứng đầu thế giới về xuất khẩu hoa lan, có
18 phòng nuôi cấy invitro hoa lan thương mại hoạt động ở Băng Cốc và các vùng phụ cận (Đồng Văn Khiêm, 1995) [15]
Nhờ khả năng thực hiện công nghệ mới trong nuôi cấy mô và lai tạo, với giá lao động thấp, khí hậu tốt, giao thông tốt cho phép Thái Lan sản xuất quanh năm và xuất đi 50 nước trên thế giới Năm 1993, Thái Lan cung cấp 70,7% cho thị trường Anh, 81,4% cho hà Lan về lan cắt cành, 64 triệu cành cho ý và 5 triệu cành cho Nhật (Ngô Quang Vũ, 2002) [28]
Đài Loan: Có khí hậu ấm áp, mưa nhiều gần giống với khí hậu Việt
Nam nên có thể sản xuất hoa tươi quanh năm Đài Loan chú trọng đầu tư
nhiều vào nuôi trồng Phalaenopsis và chọn tạo nhiều giống mới, hiện nay đã
tạo ra được một số giống lan quí có khả năng cắt hoa và trồng trong chậu (Segerback, LB,1983) [38]
Trang 24Singapore: Nghề trồng hoa lan xuất khẩu trên qui mô lớn bắt đầu từ năm
1987 Nhà nước đã thấy rõ tiềm năng xuất khẩu loại hoa này trên thị trường thế giới nên đã mở rộng trang trại nuôi trồng hoa lan Năm 1992 xuất khẩu hơn 18 triệu USD, năm 1993 xuất 3,8 triệu cành đến châu Âu và một lượng khá lớn đến thị trường Nhật (Ngô Quang Vũ, 2002) [28]
Malaysia: Với sự quan tâm của chính phủ và sự phát triển nhanh chóng
của nghề trồng hoa, đến nay đã có đủ khả năng cạnh tranh với thế giới và chiếm thị phần đáng kể ở châu Á Công nghiệp lan cắt cành tăng khoảng 7 triệu USD năm 1988 và 20 triệu USD năm 1994, thị trường xuất khẩu chủ yếu Singgapo, Nhật, úc, Đài Loan, Hồng Công và Hàn Quốc (Ngô Quang Vũ, 2002) [28]
Ấn Độ: Để phục vụ việc xuất khẩu hoa, Ấn Độ đã đưa tiến bộ kỹ thuật
cấy mô vào nghề trồng hoa lan để sản xuất mỗi năm 10 triệu cây lan các loại Mặt khác Ấn Độ được xem là một nước có nhiều giống lan nguyên thuỷ khoảng 140 giống với hơn 1.300 loài, mặc dù bị khai thác triệt để trước đây, nhưng tới nay Nhà nước đã hình thành các khu bảo tồn bảo vệ các loài lan quý để phục vụ cho ngành trồng lan thương mại rất tốt
Hà Lan: Đã đầu tư 20 triệu USD vào Ấn Độ để lắp đặt các thiết bị máy
móc … tạo điều kiện cho việc xuất khẩu hoa
Nhật Bản: Đã đầu tư 6,6 triệu USD cho Thái Lan để mở rộng cơ sở sản
xuất với công suất 10 triệu cây hoa lan mỗi năm và hiện nay, Nhật cũng là khách hàng lớn nhất của Singgapo với khả năng tiêu thụ 60% số cây lan của nước này (Phan Thúc Huân, 1989) [13]
Sản xuất hoa của thế giới sẽ tiếp tục phát triển mạnh ở các nước châu Á, châu Phi và châu Mỹ La Tinh Hiện nay một số loại hoa đang được ưa chuộng trên thị trường thế giới đặc biệt ở Nhật, Đức, Pháp, Mỹ…là hoa hồng, cẩm chướng, hoa lan, lay ơn, cúc, đồng tiền, loa kèn…
1.3.2 Tình hình sản xuất lan ở Việt Nam
Việt Nam nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm quanh năm
Trang 25cho nên chủng loại lan rừng rất phong phú, theo thống kê có khoảng 1.000 chủng loại và nhiều loài lan lai du nhập vào nhưng thống kê chưa đầy đủ
Nhìn chung sản xuất lan ở Việt Nam mới chỉ phát triển mạnh mẽ ở các tỉnh phía Nam, đặc biệt là ở Đà Lạt và thành phố Hồ Chí Minh Tháng 8/2004 Lâm Đồng đã thành lập Hiệp hội hoa lan với tên gọi giao dịch là Dalat orchid Association với mục đích là tập hợp những người yêu mến và có kinh nghiệm trồng lan tiến tới phát triển nhân rộng, sản xuất theo hướng hàng hoá Năm
2010 sản lượng hoa của Đà Lạt đạt 1,5 tỷ cành
Thành phố Hồ Chí Minh với khí hậu ấm áp quanh năm, là trung tâm văn hoá kinh tế, chính trị, khoa học kỹ thuật của miền Nam có một tiềm năng lớn
về nuôi trồng và kinh doanh hoa lan Vào năm 1986, lần đầu tiên một quy
trình nhân giống, nuôi trồng lan Dendrobium cấy mô từ lan con đến nở hoa
đã được hãng Hàng không Sân bay Tân Sơn Nhất kết hợp với vườn lan T78 thử nghiệm thành công (Chí Thiện, 2004) [21]
Theo số liệu điều tra bước đầu tính đến năm 1986 trong Thành phố có khoảng 15 gia đình có vườn lan với số lượng từ 1.000 - 7.000 chậu Đến năm
1987 ở Thành phố Hồ Chí Minh đã có vườn Quốc doanh và tư nhân: vườn lan T78, vườn lan Hàng không dân dụng Kể từ năm 1980, năm nào thành phố cũng tổ chức hội Hoa xuân Hội Hoa xuân là nơi hội tụ những tác phẩm hoa cảnh đặc sắc, độc đáo nhất của các chủ vườn Qua các hội Hoa xuân, nhận thấy sản phẩm hoa lan ngày càng phong phú đa dạng chứng tỏ kỹ thuật nuôi trồng nâng cao, các nhà vườn ngày càng tiếp cận với công nghệ tiên tiến như mái che, giàn tưới phun tự động… Năm 2010 Thành phố Hồ Chí Minh dự kiến trồng 200 ha hoa
Ở Hà Nội, mười năm gần đây, khi đời sống người dân Thủ đô nâng cao, nhu cầu thưởng thức hoa lan tăng, nhiều khi cung không đủ cầu, phong trào nuôi trồng lan tự phát lan rộng cả đến các vùng phụ cận khiến các nhà khoa học phải vào cuộc, đi sâu nghiên cứu và sản xuất, kinh doanh hoa lan
Trang 26Tại Viện sinh học Nông nghiệp thuộc Trường Đại học Nông nghiệp I Hà Nội đã cho ra đời hàng vạn cây giống hoa lan có giá trị kinh tế như: Hồ điệp
(Phalaenopsis), Cát lan (Cattleya), lan Thái (Dendrobium)… Ngoài ra, Viện còn
làm cố vấn kỹ thuật, chuyển giao quy trình nuôi trồng một số giống lan có hiệu quả kinh tế ở các tỉnh như Hải Phòng, Bắc Giang, Phú Thọ, Lạng Sơn…
Tại Trung tâm kỹ thuật Rau - Hoa - Quả Hà Nội 2 năm trở lại đây, phòng nuôi cấy mô hoạt động cho ra đời mỗi năm hàng vạn cây lan Hồ Điệp giống
và hàng vạn cây giống lan khác Đặc biệt đã thành công trong việc nhân giống lan Hài và lan Kiếm (Hoàng vũ, Bạch ngọc…)
Tại Trung tâm kỹ thuật Rau - Hoa - Quả Thường Tín Hà Tây, tiền thân
là Liên doanh hoa JAVECO được thành lập 1997, năm 2000, phía Nhật đã chuyển giao để lại toàn bộ cơ sở vật chất kỹ thuật có phòng nuôi cấy mô, 2 nhà kính nuôi trồng lan, 30 nhà ống vinyl và một số thiết bị khác…cùng với một số quy trình nuôi trồng hoa lan cho phía Việt Nam Hàng năm trung tâm cũng sản xuất hàng vạn cây con giống và xử lý cho ra hoa Hồ Điệp hàng nghìn cây
Hiện nay, Sở Khoa học công nghệ và môi trường của tất cả các tỉnh, thành phố phía Bắc đều có phòng nuôi cấy mô tế bào, chức năng chính là để phục vụ cho nghiên cứu khoa học, một phần phục vụ sản xuất giống cung cấp cho thị trường trong đó có sản phẩm là hoa lan Ví dụ, Hải Phòng xây dựng khu nông nghiệp công nghệ cao (xã Mỹ Đức, huyện An Lão) với mục tiêu cụ thể: sản xuất 300.000 cây giống hoa lan bằng công nghệ của Viện Công nghệ sinh học Trường Đại học Nông nghiệp và của Hiệp hội hoa lan Thái Lan (Xây dựng khu nông - lâm nghiệp công nghệ cao tại trung tâm phát triển lâm nghiệp Hải phòng (2003) [7] Tóm lại: Ngành sản xuất hoa lan ở các tỉnh, thành phố phía Nam phát triển mạnh hơn ở miền Bắc, sản phẩm bước đầu đã có xuất khẩu (chủ yếu là hoa lan cắt cành) Miền Bắc cũng đang khởi sắc, các nghiên cứu về lĩnh vực trồng hoa khá phong phú, đa dạng bước đầu đã áp dụng vào sản xuất
Trang 271.3.3 Tình hình sản xuất hoa tại Thái Nguyên
Thái Nguyên là tỉnh miền núi thuộc vùng Trung du - Miền núi Bắc bộ, phía Nam giáp Thủ đô Hà Nội, Phía bắc giáp Bắc Kạn, phía đông giáp các tỉnh Lạng Sơn, Bắc Giang, phía tây giáp các tỉnh Tuyên Quang, Phú Thọ Diện tích tự nhiên toàn tỉnh là 3526,2 km2
dân số trung bình đến 31/12/2009
là 1.127.430 nghìn người Thái Nguyên có 1 thành phố là Thái Nguyên, 1 thị
xã là Sông Công, 7 huyện là: Định Hoá, Phú Lương, Võ Nhai, Đại Từ, Đồng
Hỷ, Phú Bình, Phổ Yên Thái Nguyên là một trong những trung tâm kinh tế, văn hóa, giáo dục y tế của Việt Nam nói chung, của vùng trung du miền Đông Bắc nói riêng Đây là một trong những vùng chè nổi tiếng của cả nước, một trung tâm công nghiệp gang thép của phía bắc, cửa ngõ giao lưu kinh tế - xã hội giữa trung du miền núi với đồng bằng Bắc Bộ Thái Nguyên là nơi tụ hội các nên văn hoá dân tộc, đầu mối của các hoạt động văn hoá, giáo dục của vùng núi phía Bắc rộng lớn còn có lợi thế để phát triển nông nghiệp Cơ cấu cây trồng cũng được chuyển dịch theo hướng sản xuất hàng hoá, từ năm 2005- 2010 xu hướng đầu tư của nhân dân đã tập trung vào một số cây trồng
có giá trị kinh tế cao Trong đó, cây hoa là một trong những điển hình, Từ định hướng của tỉnh và những lợi thế có sẵn ở địa phương nhiều hộ nông dân, trang trại, địa phương đã thực hiện xoá đói giảm nghèo làm giàu nhờ áp dụng TBKH và công nghệ, xu thế này đang ngày càng được mở rộng
Nghề trồng hoa ở Thái Nguyên mới được khai thác và phát triển bởi vậy nghề trồng hoa nơi đây còn rất non trẻ, nhưng tốc độ phát triển rất nhanh Như hoa lily, hoa hồng, hoa cúc, hoa đào, hoa lan do lợi nhuận từ nghề trồng hoa đem lại cao, nên diện tích hoa các loại ngày một tăng nhanh và cây hoa đã trở thành cây chủ lực cho sự phát triển kinh tế nông nghiệp của Thái Nguyên Sản xuất hoa ở Thái Nguyên chủ yếu dựa vào kinh nghiệm truyền thống
và áp dụng phương pháp nhân giống hoa cổ truyền, dễ làm, quen với kinh nghiệm của nông dân, chi phí thấp Do đó trong sản xuất, phương pháp trồng
Trang 28hoa truyền thống là chủ yếu và chiếm ưu thế
Hiện nay, khoa học kỹ thuật ngày càng phát triển, đội ngũ cán bộ nông nghiệp được đào tạo cơ bản, người dân đã mạnh dạn sử dụng cây con giống bằng phương pháp nuôi cấy mô tế bào tạo cây giống khoẻ, sạch bệnh cùng với những trang thiết bị hiện đại phục vụ cho sản xuất trồng hoa Đây là một lợi thế làm tiền đề cho ngành sản xuất hoa lan phát triển
Bên cạnh đó việc thu hái lan rừng, trao đổi và thuần dưỡng lan ở Thái Nguyên ngày càng đẩy mạnh Nhiều loài lan mới được phát hiện, nhiều loài lan phù hợp được nuôi trồng rộng rãi hơn Hiểu biết về lan nhập nội cũng như hiểu biết về lan rừng trong người dân ngày càng cần được nâng cao về nhiều mặt: phân loại, phân bố, sinh thái cũng như điều kiện nuôi trồng thích hợp để tiến tới mục đích duy trì sự phát triển ổn định lâu dài của nghề trồng lan
1.4 Các kết quả nghiên cứu liên quan đến đề tài
1.4.1 Các nghiên cứu về giống hoa lan Hồ Điệp trên Thế giới và ở Việt Nam
1.4.1.1 Các nghiên cứu về giống hoa lan trên Thế giới
Cây lan Orchida thuộc họ phong lan Orchidaceae, bộ lan Orchidales, lớp một lá mầm Monoctyledoneae Cây lan được biết đến đầu tiên ở Phương
Đông Hoa lan được biết đến vào khoảng 2500 năm về trước (Thời đại của Đức Khổng Tử, 551- 479 trước công nguyên) Ở Phương Đông, lan được chú ý đến vì vẻ đẹp duyên dáng của lá, hương thơm tuyệt vời của hoa Khổng Tử đề cao lan là Vua của những loài cỏ cây có hương thơm
Hoa lan thường mọc ở các vùng nhiệt đới, đã được các thuỷ thủ, các lái buôn, nhà truyền giáo mang về nên người châu Âu biết đến rất muộn, lan được chú ý trước hết để làm thuốc chữa bệnh Ở đây người ta đã tiến hành nghiên cứu rất công phu tỉ mỉ về lan Có thể nói Theophara stus là cha đẻ
ngành học về lan và ông cũng là người đầu tiên dùng từ Orchid để chỉ một
loài lan có củ tròn Sau đó Robut Bron (1773 - 1858) là người đầu tiên đã phân biệt rõ ràng giữa họ lan và các họ khác [10] Người đặt nền tảng hiện đại
Trang 29cho môn học về lan là John Lindley (1799 - 1865) Năm 1836 ông công bố, sắp
xếp các tông họ lan (A tabuler view of the tribes of orchidaler) Tên của họ lan
do ông đưa ra được dùng cho đến ngày nay [10]
1.4.1.2 Các nghiên cứu về giống hoa lan ở Việt Nam
Ở Việt Nam, dấu vết nghiên cứu về lan thời kỳ đầu không rõ rệt, có lẽ người đầu tiên có khảo sát về lan ở Việt Nam là Gioalas Noureiro - Nhà truyền giáo người Bồ Đào Nha, ông đã mô tả cây lan ở Việt Nam lần đầu tiên vào năm 1789 trong cuốn “Flora cochin chinensis”, gọi tên các cây lan trong cuộc hành trình đến nam phần Việt Nam là Aerides, Phaius và Sarcopodium
mà đã được Bentham và Hooker ghi lại trong cuốn “Genera planterum” (1862
- 1883) [9] Chỉ sau khi người Pháp đến Việt Nam mới có những công trình nghiên cứu được công bố đáng kể là F Gagnepain và A Gnillaumin mô tả 70 chi gồm 101 loài cho cả 3 nước Đông Dương trong bộ “Thực vật Đông Dương chí” do H Lecomte chủ biên, xuất bản năm 1932 - 1934 [15]
Theo tác giả Phạm Hoàng Hộ (1972), đã mô tả kèm hình vẽ 289 loài lan gặp ở Nam Việt Nam trong bộ “Cây cỏ Việt Nam” (quyển II )
Sau năm 1975 các nhà khảo cứu Việt Nam, Liên Xô, Tiệp Khắc bắt đầu tìm kiếm và nghiên cứu về những giống lan tại Việt Nam
Đến năm 1993, tác giả Phạm Hoàng Hộ [9] cho rằng, ở Việt Nam có tới
755 loài lan
Gần đây nhất tác giả Leonid Averyanov và các tác giả Nguyễn Tiến Hiệp, Phan Kế Lộc, Dương Đức Huyến đã lần lượt công bố trên tờ nguyệt san Orchids của Hội hoa lan Hoa Kỳ những khám phá mới lạ đã phát hiện thấy 4
loài lan ở Việt Nam chưa được biết đến đó là Paphio pledilum helenae, Renamthera citrina, Paphiopedilum hiepii và Vanda bidupensis
1.4.2 Các nghiên cứu về phân bón lá cho lan Hồ Điệp trên Thế giới và ở Việt Nam
Theo các tác giả Ajchara - Boonrote (1987) [29]; Richard - HW (1985)
Trang 30[37]; Soebijanto và CS (1988) [39], dinh dưỡng đối với lan hết sức quan trọng, nó không đòi hỏi số lượng lớn nhưng phải đầy đủ các thành phần dinh dưỡng Tuy nhiên còn tuỳ thuộc vào từng thời kỳ sinh trưởng của cây lan mà nhu cầu dinh dưỡng khác nhau
Vai trò của các nguyên tố đối với cây lan:
Nhóm 1: gồm các nguyên tố cacbon (C), Hyđrô (H), Oxy (O) những
nguyên tố này thường có sẵn trong không khí và nước mà cây sử dụng trong quá trình quang hợp
Nhóm 2: các nguyên tố đa lượng:
N, P, K vai trò của nitơ (N): là một trong 3 nguyên tố cần thiết cho cây lan, giúp cho sự tăng trưởng của lá, làm cho cây xanh tốt, mặt khác N còn giúp cho quá trình điều hoà P, nếu thiếu N lá nhỏ hơi vàng, mầm yếu ít hoa
Vai trò của P: là nguyên tố quan trọng thứ hai sau N, dùng kết hợp với N
giúp cho cây nẩy mầm khoẻ, ra hoa nhanh, ra rễ nhiều P còn giúp cho quá trình thụ phấn dễ dàng hơn, đậu quả nhiều, quả mập, hạt chắc tỷ lệ nẩy mầm cao Nếu tỷ lệ P quá lớn kích thích cho sự ra hoa sớm lá ngắn, cứng
Vai trò của K: giúp cho cây hấp thụ N một cách dễ dàng giúp cho sự
phát triển của chồi mới, K còn giúp cho sự vận chuyển nước và chất dinh dưỡng trong cây K giúp cho cây cứng, thúc đẩy sự ra hoa, hoa có mầu sắc tươi hơn, cây đề kháng với bệnh tốt hơn Nếu thiếu K cây cằn cỗi, khô đầu lá đậu quả ít hạt lép, tỷ lệ nẩy mầm thấp, khả năng chịu hạn kém
Nhóm 3: bao gồm các nhân tố Ca, Mg, S
Vai trò của Ca: là nhân tố cần thiết để tạo lập vách tế bào, giúp cho tế
bào hoạt động một cách điều hoà trong việc tạo lớp prôtêin, giúp cây hấp thụ nhiều đạm bộ rễ phát triển khoẻ Nếu cây hấp thụ quá nhiều Ca, cây không hấp thụ được Fe nhưng lại hấp thụ nhiều N dẫn đến cây có mầu xanh khác thường, thiếu Ca rễ lan chậm phát triển, lá nhỏ
Vai trò của Mg: là một trong những nguyên tố tạo nên diệp lục, giúp cây
phát triển cân đối, hài hoà Phân bón có nhiều Mg, lá lan to xanh nhưng quá nhiều
Trang 31mầu sắc lá lại nhạt đi, ngọn lá sẽ bị héo, thiếu Mg thì biểu hiện ngay ở rễ, rễ phát triển rất tốt, nhưng thân lá lại không phát triển, tỷ lệ rễ, thân, lá không cân đối
Vai trò của S: là nguyên tố không kém phần quan trọng là thành phần
của nguyên sinh chất trong tế bào Thiếu S cây cằn cỗi, lá vàng, mép lá đen kích thước lá nhỏ
Các nguyên tố vi lượng: bao gồm Fe, Cu, Zn, Mn, Bo, Mo Cây lan cần các nguyên tố vi lượng với lượng rất nhỏ nhưng không thể thiếu được Thường chúng có sẵn trong nước tưới, trong phân bón, nhưng cũng cần bổ sung thêm các nguyên tố này miễn sao không gây độc cho cây
1.4.3 Các nghiên cứu về giá thể trồng lan Hồ Điệp trên Thế giới và ở Việt Nam
Các giá thể trồng lan Hồ Điệp trên Thế giới và ở Việt Nam thường dùng các loại giá thể như sơ dừa, rong biển, vỏ cây, dớn, than củi, vỏ sò, rêu giá thể trồng lan Hồ Điệp phải tơi xốp, thoáng khí, đồng thời phải có khả năng giữ nước, với những giá thể khác nhau phải có cách trồng và chăm sóc khác nhau đặc biệt là chế độ tưới nước, với những giá thể kém giữ nước phải tưới thường xuyên hơn
Than củi: Dùng để giữ ẩm, là một giá thể tốt vì không chứa mầm bệnh, không mục nát và có khả năng giữ nước, hấp thụ dinh dưỡng tốt Phù hợp với
rất nhiều loại lan như Cattleya, Rhychostylis, Oncidium…
Gạch nung: trồng lan rất tốt nhưng phải nung già, ngăn rêu mọc, luôn tạo
độ thoáng thích hợp cho bề mặt rễ bám, nhược điểm là nặng chỉ phù hợp
trồng chậu thích hợp với nhiều loài lan thuộc chi Cymbidium…
Rêu: có dạng sợi, dai, thoáng xốp giữ ẩm rất tốt, hấp thụ dinh dưỡng tốt rất phù hợp với nhiều loài lan khác nhau, nhất là lan Hồ điệp, nhưng giá thành rất cao, đây cũng là nguyên nhân làm tăng giá thành sản phẩm
Xơ dừa: là giá thể rẻ tiền, dễ kiếm Tuy nhiên cũng có nhược điểm thoát nước nhanh, chóng mục, vì vậy dễ bị sâu bệnh Đối với giá thể này cần phải thường xuyên phun thuốc phòng trừ sâu bệnh
Rễ bèo tây (lục bình): giữ ẩm tốt, dễ kiếm, rẻ tiền, trong rễ bèo có chứa một phần dinh dưỡng Chính vì vậy, từ xa xưa con người đã dùng để bó bầu
Trang 32cành chiết nhanh ra rễ, nhưng chóng mục, dễ bị sâu bệnh vì vậy cũng phải thường xuyên phun phòng trừ sâu bệnh
Mút xốp: dễ kiếm, giữ nước rất nhanh nhưng thoát cũng nhanh vì vậy khi sử dụng giá thể này cần chú ý đến chế độ tưới nước, phân
Trang 33Chương 2 VẬT LIỆU, NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Vật liệu nghiên cứu
2.1.1 Các giống hoa
Các giống hoa lan Hồ Điệp thực hiện trong thí nghiệm gồm: 5 giống
- Giống Chấm trắng giống hoa trung bình, đặc điểm mầu hoa trắng chấm đen, đường kính hoa 5 - 9 cm, có 10 - 15 bông hoa/cành
- Giống V31 giống hoa to, mầu hoa cánh sen, đường kính hoa 10 - 15cm,
Các loại phân bón qua lá dùng trong thí nghiệm gồm: Scotts 20:20:20,
Scotts 30:10:10, Scotts 10:10:30, Vitamin B1
* Phân bón Scotts là loại phân hỗn hợp NPK của hãng Scotts nguồn gốc
từ Trung Quốc đang được người trồng hoa lan sử dụng phổ biến
* Vitamin B1:
- Thành phần: P205 2,0%,Fe = 0,1%, Chelated Iron = 0,1%, Vitamin B1
= 0,1%, Alpha Naphthalene Acetic Acid = 0,04%
Trang 34- Công dụng:
+ Ra rễ mạnh, tạo bộ rễ tốt với nhiều rễ mập mạp, hút được nhiều dinh dưỡng + Nảy nhiều chồi, chồi mập, bộ lá xanh tốt, quang hợp mạnh, tích
lũy nhiều chất dinh dưỡng để hình thành nhiều mầm hoa
+ Có phát hoa dài, trên có nhiều hoa to, mầu sắc đẹp, lâu tàn
+ Giúp cây tăng khả năng đề kháng, chống lại sâu bệnh
2.2 Nội dung và phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Nội dung nghiên cứu
- Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng phát triển và năng suất, chất lượng của một số giống hoa lan Hồ Điệp tại Thái Nguyên
- Nghiên cứu ảnh hưởng của một số phân bón lá đến sinh trưởng phát triển
và năng suất, chất lượng của hoa lan Hồ Điệp Chấm trắng trồng tại Thái Nguyên
- Nghiên cứu ảnh hưởng của giá thể đến sinh trưởng phát triển và năng suất, chất lượng của hoa lan Hồ Điệp Chấm trắng trồng tại Thái Nguyên
2.2.2 Phương pháp nghiên cứu
* Thí nghiệm 1: Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng phát triển và năng
suất, chất lượng của một số giống hoa lan Hồ Điệp tại Thái Nguyên
Thí nghiệm được bố trí trong nhà lưới theo khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh với 5 công thức, 3 lần nhắc lại
Công thức 1 (CT1): Giống Chấm trắng (Đ/C) Công thức 2 (CT2): Giống V31
Công thức 3 (CT3): Giống V3 Công thức 4 (CT4): Giống Mười giờ Công thức 5 (CT5): Giống Hoàng hậu
Trang 35Sơ đồ bố trí thí nghiệm:
Thí nghiệm 2: Nghiên cứu ảnh hưởng của một số phân bón lá đến sinh
trưởng phát triển và năng suất, chất lượng của hoa lan Hồ Điệp Chấm trắng trồng tại Thái nguyên
Thí nghiệm được bố trí trong nhà lưới theo khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh với 4 công thức, 3 lần nhắc lại
Trang 36* Thí nghiệm 3: Nghiên cứu ảnh hưởng của giá thể đến sinh trưởng phát triển
và năng suất, chất lượng của hoa lan Hồ Điệp Chấm trắng trồng tại Thái nguyên
Thí nghiệm được bố trí trong nhà lưới theo khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh với 4 công thức, 3 lần nhắc lại
- Thí nghiệm gồm 4 công thức:
+ Công thức 1 (CT1): Rêu Chile (Đối chứng)
+ Công thức 2 (CT2): Rêu Chile + Cây đay(1:1)
+ Công thức 3 (CT3): Rêu Chile + Cây dớn(1:1)
+ Công thức 4 (CT4): Rêu Chile + Cây dớn + Cây day(1:1:1)
Thời gian thực hiện thí nghiệm: Từ ngày 15/05/2012 đến 15/08/2013
2.3.3.Các chỉ tiêu theo dõi
- Chiều dài lá (DL): đo từ cuống lá đến ngọn lá (cm)
DL trung bình = Tổng chiều dài lá (cm)
Tổng số lá (lá)
Trang 37- Chiều rộng lá (RL): đo ở chỗ lá có chiều rộng lớn nhất (cm)
RL trung bình = Tổng chiều rộng lá (cm)
Tổng số lá (lá)
- Số lá/cây (lá): đánh dấu lá trên cùng sau mỗi lần đếm, số lá của mỗi
kỳ theo dõi bằng số lá của lần đếm trước + số lá mới ra thêm
- Diện tích (dm2/lá): được tính theo hệ số K (k = 0,75)
Slá = D x R x 0,75
Ký hiệu: D - Chiều dài lá
R - Chiều rộng lá 0,75 là hệ số
- Màu sắc lá: xanh vàng, xanh đậm, xanh nhạt
- Động thái tăng đường kính thân (cm): dùng thước Palme đo ở nơi to nhất của cây
Đường kính thân TB (cm/thân) = Tổng đường kính thân (cm)
Số thân theo dõi (thân)
- Thời gian xuất hiện ngồng hoa: được tính từ sau khi trồng đến lúc mầm hoa đầu tiên xuất hiện
- Thời gian sinh trưởng ngồng hoa: tính từ khi xuất hiện mầm hoa đến kết thúc chiều dài (ngày)
- Đường kính ngồng hoa (cm)
ĐKNH TB (cm) =
Tổng đường kính các ngồng (cm) Tổng số ngồng hoa theo dõi (ngồng)
- Thời gian xuất hiện nụ hoa: từ khi xuất hiện mầm hoa đến khi xuất hiện
nụ (ngày)
- Thời gian sinh trưởng nụ (ngày): từ khi xuất hiện nụ đến nụ đầu tiên nở hoa
- Thời gian hoa nở (ngày): từ khi hoa đầu tiên trên cành bắt đầu nở đến
Trang 38khi hoa cuối cùng tàn
- Số cành hoa/cây (cành)
Số cành hoa/cây (cành) = Tổng số cành hoa (cành)
Tổng số cây theo dõi (cây)
- Số bông/cành (bông)
Số bông/cành (bông) = Tổng số bông (bông)
Tổng số cành hoa theo dõi (cành)
- Độ bền của hoa cắt cắm bình (ngày) theo dõi 10 hoa/10 cành có hoa nở cùng thời điểm đem cắt cắm vào bình, để ở điều kiện trong phòng rồi tính độ bền 10 hoa đó từ khi bắt đầu nở đến khi 10 hoa đó tàn
- Độ bền của hoa trên đồng ruộng (độ bền tự nhiên) (ngày) đánh dấu và theo dõi 10 hoa/10 cành có hoa nở cùng thời điểm ở trên ruộng, rồi tính độ bền 10 hoa đó từ khi bắt đầu nở đến khi 10 hoa đó tàn
- Tỷ lệ số cây ra hoa
Tỷ lệ cây có hoa (%) = Tổng số cây ra hoa (hoa)
Tổng số cây theo dõi (cây)
- Sâu bệnh hại: Được xác định thông qua tần suất xuất hiện trong quá trình điều tra theo phương pháp 5 điểm chéo góc, mỗi điểm 1m2
- Hiệu quả kinh tế:
Lợi nhuận thu được (1000 đồng) = Tổng thu nhập - Tổng chi phí
2.4 Phương pháp và xử lý số liệu
Số liệu thu được, được xử lý bằng phần mềm IRRISTAT
Trang 39Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1 Đặc điểm sinh trưởng phát triển, năng suất, chất lượng của một số giống hoa lan Hồ Điệp trồng tại Thái Nguyên
Lá là bộ máy quang hợp chủ yếu của cây với cấu trúc đặc biệt của mình,
lá có thể sử dụng nguồn năng lượng ánh sáng mặt trời để quang hợp cùng với quá trình hô hấp để biến quang năng thành hóa năng tạo ra các chất hữu cơ và vận chuyển đi khắp cơ thể giúp cây sinh trưởng, phát triển Cây có bộ lá phát triển tốt và đầy đủ sẽ có khả năng quang hợp tốt, tích lũy nhiều vật chất và tạo tiền đề cho năng suất cao Số lá được quyết định bởi đặc tính di truyền của giống, nó quyết định thời gian sinh trưởng, chiều cao cây Các giống khác nhau có số lá khác nhau
Bảng 3.1: Động thái ra lá của một số giống lan Hồ Điệp
Trang 40V3 Mười giờ Hoàng hậu
Hình 3.1: Biểu đồ động thái ra lá của một số giốnglan Hồ Điệp
Các giống lan Hồ Điệp tham gia thí nghiệm có động thái ra lá khác nhau Kết quả thí nghiệm ở bảng 3.1 cho thấy sau 1 tháng theo dõi số lá dao động
từ 1,23 đến 2,08 lá/cây Giống Chấm trắng là giống có số lá nhiều nhất là 2,08
lá, sau đó đến giống Hoàng hậu là 2,06 lá, giống Mười giờ là 2,05 lá, giống V3 là 2,00 lá, cuối cùng là giống V31 là 1,90 lá Sau theo dõi 2 tháng số lá dao động từ 2,40 đến 3,20 lá/cây Giống có số lá cao nhất là giống Mười giờ là 3,22 lá, tiếp đến là giống Hoàng hậu là 3,20 lá, Giống Chấm trắng là 3,18 lá, giống V3 là 2,56 lá, cuối cùng giống V31 là 2,40 lá Sau theo dõi 3 tháng giống Chấm trắng có số lá cao nhất là 4,25 lá, giống Mười giờ là 4,01 lá, giống V3 là 3,40 lá, giống Hoàng hậu là 3,77 lá, cuối cùng là giống V31 là 3,25 lá/cây
Nhận xét: Từ kết quả bảng 3.1 động thái ra lá của 5 giống lan Hồ Điệp đều tăng theo các lần theo dõi, sau 4 tháng theo dõi các giống lan Hồ Điệp có số lá/cây từ 3,25 đến 4,25 lá/cây, trong đó giống có số lá cao nhất là giống Chấm trắng (đối chứng), các giống lan Hồ Điệp trồng tại Thái Nguyên đều có khả năng sinh trưởng phát triển với điều kiện trồng trọt và khí hậu tại địa phương