1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa đến sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn thị xã Sông Công giai đoạn 2008 đến 2012

110 1K 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 110
Dung lượng 1,33 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÁI NGUYÊN NGUYỄN KHƯƠNG DUY ĐÁNH GIÁ ẢNH HƯỞNG CỦA QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HÓA ĐẾN SỬ DỤ

Trang 1

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÁI NGUYÊN

NGUYỄN KHƯƠNG DUY

ĐÁNH GIÁ ẢNH HƯỞNG CỦA QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HÓA ĐẾN SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN THỊ XÃ SÔNG CÔNG GIAI ĐOẠN 2008 - 2012

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP

Thái Nguyên, 2013

Trang 2

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÁI NGUYÊN

NGUYỄN KHƯƠNG DUY

ĐÁNH GIÁ ẢNH HƯỞNG CỦA QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HÓA ĐẾN SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN THỊ XÃ SÔNG CÔNG GIAI ĐOẠN 2008 - 2012

Chuyên ngành: Quản lý đất đai

Mã số : 60 85 01 03

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS ĐẶNG VĂN MINH

Thái Nguyên, 2013

Trang 3

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

LỜI CAM ĐOAN

- Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các

số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào

- Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện Luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong Luận văn đều đã được

chỉ rõ nguồn gốc

Tác giả luận văn

Nguyễn Khương Duy

Trang 4

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành Luận văn này, tôi

đã nhận được sự quan tâm giúp đỡ tận tình của nhiều tập thể và cá nhân Nhân dịp này tôi xin bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc đến:

Tập thể các thầy, cô giáo Khoa Tài nguyên và Môi trường, Khoa Sau Đại học - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành Luận văn

Tôi xin trân trọng cảm ơn thầy giáo PGS.TS Đặng Văn Minh người

đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Tôi xin trân trọng cám ơn lãnh đạo UBND thị xã Sông Công và tập thể phòng Tài nguyên và Môi trường thị xã Sông Công, chi cục Thống kê thị xã Sông Công đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong thời gian nghiên cứu và thực hiện đề tài

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên, ngày tháng 9 năm 2013

Tác giả luận văn

Nguyễn Khương Duy

Trang 5

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC CỤM, TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục đích, yêu cầu của đề tài 2

2.2 Yêu cầu 2

3 Ý nghĩa của đề tài 3

Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

1.1 Cơ sở khoa học của đề tài 4

1.1.1 Cơ sở pháp lý 4

1.1.1.1 Các văn bản của Trung ương 4

1.1.1.2 Các văn bản của tỉnh Thái Nguyên 4

1.1.2 Cơ sở lý luận và thực tiễn 5

1.1.2.1 Đô thị 5

1.1.2.2 Đô thị hóa 6

1.2 Đất đô thị và quản lý nhà nước về đất đai trong quá trình đô thị hóa 6

1.2.1 Quan điểm về đất đai đô thị 6

1.2.1.1 Phân loại đất đô thị 6

1.2.1.2 Đặc trưng cơ bản của đất đô thị 8

1.2.2 Sự cần thiết phải tăng cường vai trò quản lý của nhà nước đối với đất đai trong quá trình đô thị hóa .12

1.2.3 Kinh nghiệm quản lý đất đai của một số nước trên Thế giới và một số tỉnh, thành phố trong nước 15

1.2.3.1 Kinh nghiệm của Pháp 15

1.2.3.2 Kinh nghiệm của Mỹ 17

Trang 6

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

1.2.4 Kinh nghiệm quản lý đất đai của một thành phố trong quá

trình đô thị hóa 18

1.2.4.1 Kinh nghiệm của thành phố Hồ Chí Minh 18

1.2.4.2 Kinh nghiệm của thành phố Hải Phòng 19

1.2.5 Bài học rút ra cho Việt Nam và thị xã Sông Công về quản lý của Nhà nước đối với đất đai trong quá trình đô thị hóa 20

1.3 Thực tiễn đô thị hóa trên Thế giới và ở Việt Nam 22

1.3.1 Tình hình đô thị hóa trên Thế giới 22

1.3.2 Đô thị hóa ở một số nước trên thế giới 25

1.3.3 Tình hình đô thị hóa ở Việt Nam 28

1.3.4 Những nghiên cứu về đô thị hóa trên Thế giới và Việt Nam 29

Chương 2: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 31

2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 31

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 31

2.1.2 Phạm vi nghiên cứu 31

2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 31

2.3 Nội dung nghiên cứu 31

2.3.1 Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của thị xã Sông Công ảnh hưởng đến sử dụng đất 31

2.3.2 Thực trạng của quá trình đô thị hóa 32

2.3.3 Tác động của đô thị hóa đến sử dụng đất nông nghiệp và ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa đến biến động sử dụng đất nông nghiệp của thị xã Sông Công 32

2.3.4 Ảnh hưởng của đô thị hóa tới đời sống kinh tế hộ nông dân tại thị xã Sông Công 32

2.3.5 Dự báo xu thế đô thị hóa và sự biến động sử dụng đất nông nghiệp đến năm 2020 32

2.3.6 Định hướng và một số giải pháp cải thiện đời sống kinh tế của những hộ nông dân, tăng cường vai trò quản lý Nhà nước về đất đai trong quá trình đô thị hóa tại thị xã Sông Công 33

2.4 Phương pháp nghiên cứu 33

2.4.1 Phương pháp điều tra, thu thập số liệu sơ cấp 33

2.4.2 Phương pháp điều tra, thu thập số liệu thứ cấp 33

Trang 7

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

2.4.3 Phương pháp chuyên gia, chuyên khảo 34

2.4.4 Phương pháp xử lý số liệu 34

2.4.5 Phương pháp dự báo đô thị hóa cho tương lai 35

Chương 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 36

3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của địa bàn nghiên cứu 36

3.1.1 Điều kiện tự nhiên 36

3.1.1.1 Vị trí địa lý 36

3.1.1.2 Địa hình, địa mạo 37

3.1.1.3 Khí hậu 38

3.1.1.5 Tài nguyên thiên nhiên 38

3.1.1.6 Thực trạng môi trường 40

3.1.2 Thực trạng của quá trình đô thị hóa và ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa đến biến động sử dụng đất nông nghiệp của thị xã Sông Công 41

3.1.2.1 Dân số và nguồn nhân lực 41

3.1.2.2 Thực trạng phát triển kinh tế 43

3.1.2.3 Thực trạng phát triển đô thị và các khu dân cư nông thôn 46

3.1.3 Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội đến sự phát triển kinh tế – xã hội và đô thị hóa của thị xã Sông Công 47

3.1.3.1 Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên 47

3.1.3.2 Đánh giá chung về điều kiện kinh tế xã hội 47

3.2 Ảnh hưởng của quá trình đô thị hoá đến biến động diện tích đất nông nghiệp tại thị xã Sông Công 49

3.2.1 Thực trạng sự biến động mục đích sử dụng đất tại thị xã Sông Công 49

3.2.2 Thực trạng của công tác quản lý việc giao đất, thu hồi đất 51

3.2.3 Thực trạng tình hình chuyển mục đích sử dụng đất nông nghiệp tại thị xã Sông Công 52

3.2.4 Sự biến động về đất đai trong quá trình đô thị hóa tại thị xã Sông Công 53

3.3 Ảnh hưởng của đô thị hóa tới đời sống kinh tế hộ nông dân tại thị xã Sông Công 56

3.3.1 Ảnh hưởng của đô thị hóa tới đời sống kinh tế hộ nông dân được điều tra 56

3.3.1.1 Tình hình cơ bản của các hộ được điều tra 56

Trang 8

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

3.3.1.2 Tình hình biến động đất đai của các hộ điều tra 58

3.3.1.3 Tình hình sử dụng tiền bồi thường đất đai của các hộ điều tra 58

3.3.1.4 Tình hình chung về nghề nghiệp của hộ 60

3.3.1.5 Đánh giá sự ảnh hưởng của đô thị hóa tới đời sống kinh tế – xã hội của các hộ thông qua các câu hỏi định tính 61

3.4 Đánh giá chung tác động của đô thị hóa tới sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn thị xã Sông Công 63

3.4.1 Tác động tích cực 63

3.4.2 Tác động tiêu cực 64

3.5 Dự báo xu thế đô thị hóa và sự biến động sử dụng đất nông nghiệp đến năm 2020 tại thị xã Sông Công 66

3.5.1 Dự báo xu thế đô thị hóa của thị xã Sông Công 66

3.5.1.1 Dự báo tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế 66

3.5.1.2 Dự báo dân số, lao động và việc làm 67

3.5.1.3 Dự báo phát triển đô thị và các khu dân cư nông thôn 68

3.5.2 Dự báo nhu cầu sử dụng đất và sự biến động sử dụng đất nông nghiệp đến năm 2020 tại thị xã Sông Công 72

3.5.2.1 Tổng hợp và dự báo nhu cầu quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 72

3.5.2.2 Dự báo biến động mục đích sử dụng đất thị xã Sông Công đến năm 2015 và năm 2020 73

3.5.2.3 Dự báo diện tích đất nông nghiệp phải chuyển sang các mục đích phi nông nghiệp tại thị xã Sông Công đến năm 2020 78

3.5.2.4 Dự báo diện tích đất chưa sử dụng đến năm 2015 và năm 2020 79

3.6 Một số giải pháp cải thiện đời sống kinh tế của những hộ nông dân và tăng cường vai trò quản lý Nhà nước về đất đai trong quá trình đô thị hóa tại thị xã Sông Công 81

3.6.1 Những giải pháp chủ yếu nhằm hạn chế mất đất nông nghiệp và đảm bảo đời sống hộ nông dân bị mất đất nông nghiệp trong quá trình đô thị hoá tại thị xã Sông Công 81

3.6.1.1 Các giải pháp từ phía Nhà nước 81

Trang 9

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

3.6.1.2 Giải pháp đưa ra cho các hộ nông dân 83

3.6.2 Một số giải pháp cơ bản nhằm tăng cường vai trò quản lý của Nhà nước đối với đất đai trong quá trình đô thị hóa ở thị xã Sông Công 83

3.6.2.1 Nâng cao nhận thức pháp luật trong quan hệ quản lý sử dụng đất 83

3.6.2.2 Sửa đổi, bổ sung cơ chế chính sách đất đai phù hợp với quá trình đô thị hóa trong điều kiện nền kinh tế thị trường 84

3.6.2.3 Điều chỉnh những điểm bất hợp lý và quản lý chặt chẽ việc thực hiện quy hoạch sử dụng đất 85

3.6.2.4.Tăng cường chất lượng và hiệu quả hoạt động của bộ máy QLNN đối với đất đai 86

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 87

1.Kết luận 87

2 Kiến nghị 88

TÀI LIỆU THAM KHẢO 90

Trang 10

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

KCN : Khu công nghiệp

TN&MT : Tài nguyên và Môi trường

TTCN : Tiểu thủ công nghiệp

UBND : Uỷ ban Nhân dân

XHCN : Xã hội chủ nghĩa

Trang 11

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1: Tỷ lệ dân số đô thị các khu vực trên thế giới theo các giai đoạn 24

Bảng 3.2: Dân số trung bình phân theo giới tính và phân theo thành thị và nông thôn 42

Bảng 3.3: Sự biến động mục đích sử dụng đất giai đoạn 2008 -2012 50

Bảng 3.4: Kết quả thu hồi đất ở thị xã Sông Công giai đoạn 2008 -2012 52

Bảng 3.5: Kết quả chuyển mục đích sử dụng đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp 2011-2012 53

Bảng 3.6: Tình hình biến động đất đai của thị xã Sông Công từ năm 2008 đến năm 2012 55

Bảng 3.7: Một số thông tin cơ bản về các chủ hộ 57

Bảng 3.8: Tình hình biến động đất đai của hộ trước và sau khi thu hồi 58

Bảng 3.9: Tình hình sử dụng nguồn tiền bồi thường đất đai của hộ 59

Bảng 3.10: Tình hình nghề nghiệp của hộ trong quá trình đô thị hóa 60

Bảng 3.11: Ý kiến của các hộ điều tra về mức độ tác động của đô thị hóa 62

Bảng 3.12: Dự báo cơ cấu kinh tế giai đoạn 2011 - 2015 66

Bảng 3.13: Dự báo dân số, lao động thị xã Sông Công đến năm 2020 67

Bảng 3.14: Một số chỉ tiêu dự báo tổng hợp về thành thị 69

Bảng 3.15: Một số chỉ tiêu dự báo tổng hợp về nông thôn 71

Bảng 3.16: Dự báo biến động mục đích sử dụng đất thị xã Sông Công đến năm 2020 77

Bảng 3.17: Diện tích chuyển mục đích trong kỳ quy hoạch năm 2015 – 2020 thị xã Sông Công 79

Bảng 3.18: Diện tích chưa sử dụng đưa vào sử dụng trong kỳ quy hoạch đến năm 2015 và năm 2020 thị xã Sông Công 80

Trang 12

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

và năm 2020 tại thị xã Sông Công 74

Trang 13

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Đất đai là nguồn tài nguyên thiên nhiên vô cùng quý giá của mỗi quốc gia, là tư liệu sản xuất đặc biệt không gì có thể thay thế được đối với các ngành sản xuất nông lâm nghiệp, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là nền tảng cho sự sống của con người và nhiều sinh vật khác

Hiện nay, cùng với xu hướng phát triển của thế giới thì quá trình đô thị hoá đã và đang ảnh hưởng mạnh mẽ tới vấn đề sử dụng đất nói chung và

sử dụng đất nông nghiệp nói riêng Đô thị hoá là một quá trình tất yếu đối với mỗi quốc gia, đặc biệt đối với Việt Nam là nước đang trong giai đoạn đầu của công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Thời gian qua, tốc độ đô thị hoá của nước ta lên đến 25% Trong chiến lược phát triển

2001 - 2020, đến 2020 nước ta phấn đấu cơ bản là một nước công nghiệp hiện đại Như vậy, tốc độ đô thị hoá trong thời gian tới còn nhanh hơn nữa,

đô thị hoá đã, đang và sẽ mang lại những mặt tích cực, thúc đẩy kinh tế xã hội rõ rệt, đồng thời cũng nảy sinh những mặt tiêu cực như thu hẹp đất canh tác, gây ô nhiễm môi trường

Tại Việt Nam quá trình đô thị hoá cũng tuân theo quy luật của thế giới Năm 1990, cả nước mới có khoảng 500 đô thị lớn nhỏ, đến năm 2000

đã tăng lên 649 và năm 2004 là 656 đô thị Theo quy hoạch phát triển đến năm 2020 tỷ lệ dân số đô thị là khoảng 80 %

Sông Công là một thị xã đang trong quá trình công nghiệp hoá, đô thị hoá và hiện đại hoá với tốc độ nhanh chóng Quá trình đô thị hoá diễn ra trên bình diện rộng, đã làm biến đổi bộ mặt kinh tế, văn hoá, xã hội và kiến trúc của cả thị xã Từ năm 2000 đến nay, Sông Công đã triển khai gần 1000

dự án liên quan đến thu hồi đất, mỗi năm thu hồi khoảng 800 ha, trong đó

80 % là đất nông nghiệp, liên quan đến 178.205 hộ dân Dự báo đến năm

2020 thị xã tiếp tục triển khai nhiều dự án hạ tầng, khu đô thị sẽ thu hồi hàng nghìn hecta đất nông nghiệp, liên quan đến hàng trăm hộ dân sống trong thị xã Do vậy, vấn đề sử dụng đất nói chung và sử dụng đất nông

Trang 14

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

nghiệp nói riêng đang là vấn đề nóng bỏng, tác động sâu sắc tới sự phát triển của đất nước

Xuất phát từ thực tế trên, được sự đồng ý của Khoa Sau đại học, Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên và với sự hướng dẫn trực tiếp của

PGS.TS Đặng Văn Minh tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá ảnh

hưởng của quá trình đô thị hóa đến sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn thị xã Sông Công giai đoạn 2008 - 2012”

2 Mục đích, yêu cầu của đề tài

2.1 Mục đích

Đánh giá thực trạng của quá trình đô thị hóa trên địa bàn thị xã Sông Công

- Đánh giá ảnh hưởng của đô thị hóa tới sản xuất nông nghiệp

- Đánh giá ảnh hưởng của đô thị hóa tới kinh tế hộ nông dân mất đất nông nghiệp trên địa bàn thị xã Sông Công

- Đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất nói chung và sử dụng đất nông nghiệp nói riêng

- Đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao nhằm góp phần cải thiện đời sống kinh tế của những hộ nông dân bị mất đất trên địa bàn thị xã Sông Công đồng thời tăng cường công tác quản lý Nhà nước trong những năm tới nhằm xây dựng thị xã Sông Công có kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội, cố môi trường đô thị trong sạch góp phần đẩy mạnh công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước

2.2 Yêu cầu

- Đánh giá được điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội ảnh hưởng đến

sử dụng đất tại thị xã Sông Công

- Nêu lên được thực trạng của quá trình đô thị hóa và ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa đến biến động sử dụng đất nông nghiệp, phi nông nghiệp của thị xã Sông Công

Trang 15

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

- Đánh giá được ảnh hưởng của đô thị hóa tới đời sống kinh tế hộ nông dân tại thị xã Sông Công

- Đề ra được các giải pháp nâng cao đời sống kinh tế hộ nông dân, tăng cường vai trò quản lý Nhà nước về đất đai trong quá trình đô thị hóa

tại thị xã Sông Công

3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

- Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu: Là cơ hội cho bản thân củng cố kiến thức đã học, đồng thời tiếp cận nhiều hơn với thực tiễn về vấn đề đô thị hoá

- Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất: tìm ra những mặt hạn chế và tích cực của quả trình đô thị hoá ảnh huởng tới vấn đề sử dụng đất nông nghiệp,

từ đó đề xuất những giải pháp phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương góp phần phát triển đô thị một cách bền vững trong thời gian tới

Trang 16

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Cơ sở khoa học của đề tài

- Nghị định số 69/2009/NĐ-CP ngày 13 tháng 08 năm 2009 của Chính phủ quy định bổ sung về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư

- Nghị định số 72/2001/NĐ-CP ngày 05 tháng 10 năm 2001 của Chính phủ về phân loại đô thị và cấp quản lý đô thị

- Thông tư số 10/2008/TT-BXD ngày 22 tháng 04 năm 2008 của Bộ Xây dựng hướng dẫn về đánh giá, công nhận khu đô thị mới kiểu mẫu

- Thông tư số 14/2009/TT-BTNMT ngày 01 tháng 10 năm 2009 của

Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định chi tiết về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và trình tự, thủ tục thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất

- Nghị định số 42/2012/NĐ-CP ngày 11/05/2012 của Chính phủ về quản lý, sử dụng đất lúa

1.1.1.2 Các văn bản của tỉnh Thái Nguyên

Trang 17

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

- Quyết định số 930/2009/QĐ-UBND ngày 14 tháng 04 năm 2009 của UBND tỉnh Thái Nguyên về việc quy định một số nội dung cụ thể trong công tác quản lý Nhà nước về đất đai áp dụng trên địa bàn thị xã Sông Công

- Quyết định số 628/2010/QĐ-UBND ngày 08 tháng 04 năm 2010 của UBND tỉnh Thái Nguyên về việc ban hành quy định một số chính sách

cụ thể về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất áp dụng trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên

- Quyết định số 3466/QĐ-UBND ngày 28/12/2009 của UBND tỉnh Thái Nguyên về việc phê duyệt kế hoạch lập quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020, lập kế hoạch sử dụng đất 5 năm 2011 - 2015 các cấp tỉnh Thái Nguyên

- Quyết định số 2149/QĐ-UBND ngày 17/9/2010 của UBND tỉnh Thái Nguyên về việc phê duyệt điều chỉnh quy hoạch chung thị xã Sông Công, tỉnh Thái Nguyên đến năm 2020

- Nghị quyết số 05/NQ-CP ngày 13/01/2011 của Chính Phủ về việc giải thể các thị trấn Nông trường và điều chỉnh địa giới hành chính để thành lập các thị trấn: Bắc Sơn thuộc huyện Phổ Yên, Sông Cầu thuộc huyện Đồng Hỷ, Quân Chu thuộc huyện Đại Từ, thành lập phường Tích Lương thuộc thành phố Thái Nguyên và phường Bách Quang thuộc thị xã Sông Công, tỉnh Thái Nguyên

1.1.2 Cơ sở lý luận và thực tiễn

1.1.2.1 Đô thị

Ở Việt Nam, theo nghị định 72/2001/NĐ/CP ngày 05 tháng 10 năm

2001 của chính phủ, quyết định đô thị nước ta là các điểm dân cư có các tiêu chí, tiêu chuẩn sau

Thứ nhất: là trung tâm tổng hợp hay chuyên ngành, có vai trò thúc

đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của một vùng lãnh thổ nhất định

Thứ hai: đặc điểm dân cư được coi là đô thị khi có dân số tối thiểu từ

4000 người trở lên

Trang 18

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Thứ ba: tỷ lệ lao động phi nông nghiệp của nội thành, của nội thành,

nội thị từ 65% trở lên trong tổng số lao động nội thành, nội thị và là nơi có sản xuất và dịch vụ thương mại phát triển

Thứ tư: có cơ sở hạ tầng phục vụ các hoạt động của dân cư tối thiểu

phải đạt 70% mức tiêu chuẩn, quy chuẩn quy định đối với từng loại đô thị

Thứ năm: có mật độ dân số nội thành, nội thị phù hợp với quy mô,

tính chất và đặc điểm của từng đô thị, tối thiểu là 2000 người/Km2

trở lên [13]

1.1.2.2 Đô thị hóa

Các nhà khoa học thuộc nhiều bộ môn đã nghiên cứu quá trình ĐTH

và đưa ra không ít định nghĩa cùng với những định giá về quy mô, tầm quan trọng và dự báo tương lai của quá trình này

“Đô thị hóa (Urbanization) là quá trình tập trung dân số vào cáo đô thị và sự hình thành nhanh chóng các điểm dân cư đô thị do yêu cầu công nghiệp hóa Trong quá trình này có sự biến đổi về cơ cấu sản xuất, cơ cấu nghề nghiệp, cơ cấu tổ chức sinh hoạt xã hội, cơ cấu không gian và hình thái xây dựng từ dạng nông thôn sang thành thị” [9]

“Đô thị hóa là thay đổi trật tự sắp xếp một vùng nông thôn theo các điều kiện của thành phố Đây là một trong những biện pháp biến nông thôn thành những nơi làm việc hấp dẫn, có điều kiện áp dụng những tiến bộ của khoa học kĩ thuật, đáp ứng nhũng nhu cầu về nông sản phẩm cho xã hội, góp phần làm tăng GDP nhưng điều này còn phụ thuộc vào điều kiện kinh

tế của mỗi nước, mỗi vùng” [9]

Tóm lại, ĐTH là quá trình biến đổi và phân bố các lực lượng sản xuất trong nền kinh tế quốc dân, bố trí dân cư, hình thành, phát triển các hình thức và điều kiện sống theo kiểu đô thị đồng thời phát triển đô thị hiện

có theo chiều sâu trên cơ sở hiện đại hoá cơ sở vật chất kỹ thuật

1.2 Đất đô thị và quản lý nhà nước về đất đai trong quá trình đô thị hóa

1.2.1 Quan điểm về đất đai đô thị

1.2.1.1 Phân loại đất đô thị

Đất đô thị có thể phân thành hai loại:

Trang 19

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

- Đất đai thành phố: là đất nội thành, nội thị được sử dụng để xây dựng các khu đô thị, các khu công nghiệp, thương mại, dịch vụ và các công trình đô thị khác

- Khu quy hoạch phát triển đất đai thành phố: bao gồm diện tích đất nông nghiệp, đất khu vực dân cư nông thôn lân cận ngoại ô thành phố và các loại đất khác nằm trong quy hoạch dự kiến chuyển thành đất thành phố Theo quy định tại điều 1 nghị định số 91/NĐ-CP ngày 17/08/1994 của Chính phủ về việc “ban hành điều lệ quản lý quy hoạch đô thị”, đô thị bao gồm các thành phố, thị xã, thị trấn Theo quy định này, đất đô thị là diện tích đất nằm trong ranh giới hành chính của các thành phố, thị xã, thị trấn Nghị định số 88/NĐ - CP ngày 07/08/1994 của Chính phủ về quản lý

và sử dụng đất đô thị còn quy định: “Đất ngoại thành, ngoại thị đã có quy hoạch, được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt để phát triển đô thị cũng được quản lý như đất đô thị” Xét về góc độ kinh tế chính trị, đất

đô thị là loại đất chủ yếu được dùng để xây dựng và phát trỉên các công trình đô thị, đó là loại đất đã chứa những khoản đầu tư lớn trong quá trình khai thác đất đai thành thị, vì vậy có sức sản xuất cao, có giá trị sử dụng rất lớn Xu hướng phát triển và quy mô của đất đô thị liên quan chặt chẽ đến mối quan hệ giữa QHSX và LLSX, mà cốt lõi là chế độ sở hữu nói chung, trong đó có sở hữu đất đai được, quy định bởi chế độ kinh tế chính trị xã hội Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, đất đô thị là loại đất mang lại địa tô chênh lệch cao cho chủ sở hữu đất, trong khi phát triển đô thị là nhu cầu tất yếu của quá trình CNH - HĐH đất nước Khi nói về đất đô thị, C.Mác viết: “Thật ra người ta có thể tập trung một nền sản xuất lớn trên một khoảng không gian nhỏ so với sự phân tán của thủ công nghiệp, và chính đại công nghiệp đã làm như vậy” [2] và khi nền sản xuất đại công nghiệp đã đạt đến giới hạn của việc sử dụng chiều cao không gian thì “việc

mở rộng sản xuất cũng đòi hỏi mở rộng diện tích đất đai” [2] Đối với những đô thị như thị xã Sông Công, quá trình ĐTH diễn ra khá nhanh ở cả hai khu vực nhằm đáp ứng yêu cầu của sự phát triển Trong các khu vực đô thị cũ, quá trình ĐTH (sắp xếp và cải tạo đô thị) nhằm hiện đại hoá đô thị, trên cơ sở cải tạo hệ thống hạ tầng kỹ thuật (HTKT) đô thị kết hợp với phân

bố lại quỹ đất và bố trí hợp lý các công trình đô thị Đồng thời với việc nâng cấp, HĐH các khu đô thị cũ là quá trình xây dựng các khu đô thị mới,

Trang 20

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

quá trình này đòi hỏi chuyển một diện tích đất từ các loại đất khác thành đất đô thị để phát triển đô thị, đáp ứng yêu cầu CNH-HĐH Tuy nhiên quá trình ĐTH không phải là quá trình chuyển mục đích SDĐ của toàn bộ diện tích đất khác thành đất phi nông nghiệp, một phần diện tích đất nông nghiệp vẫn được giữ lại nhằm đảm bảo môi trường sinh thái cho đô thị và tạo ra không gian thẩm mỹ cho đô thị Như vậy QLNN đối với đất đai trong quá trình ĐTH, không chỉ đơn thuần là quản lý đất đô thị, mà còn bao gồm diện tích đất quy hoạch phát triển đô thị và diện tích đất nông nghiệp trong đô thị Tuy vậy đến thời điểm hiện nay, chưa có văn bản quy định nào đưa ra tiêu chuẩn về cơ cấu giữa đất nông nghiệp và đất phi nông nghiệp trong đô thị

1.2.1.2 Đặc trưng cơ bản của đất đô thị

Đã có nhiều ý kiến khác nhau của các chuyên gia kinh tế trong và ngoài nước về những đặc trưng của đất đô thị Ví dụ Bồ Tây (nhà kinh tế học Trung Quốc) cho rằng đặc trưng quan trọng của đất đô thị là sức chịu tải; tính tập trung giá trị; tính không thay thế về chức năng… hoặc có người cho rằng đặc trưng quan trọng của đất đô thị là diện tích đất phi nông nghiệp là chủ yếu… Tuy nhiên, sức chịu tải không phải là đặc tính riêng của đất đô thị, vì đất đồi núi, trung du… có sức chịu tải rất tốt, cao hơn cả đất đô thị Còn nếu nói đất đô thị là diện tích đát phi nông nghiệp là chủ yếu thì đó là phân loại đất, không phải đặc trưng của đất đô thị [7]

Ở nội dung này, chúng tôi xin đưa ra một số đặc trưng cơ bản của đất

đô thị như sau:

(1) Đất đô thị nước ta được hình thành trong quá trình phát triển của kinh tế hàng hoá mà vai trò chủ đạo là đầu tư của Nhà nước

ĐTH là quá trình phát triển mang tính tất yếu khách quan, xuất phát

từ nhu cầu phát triển của xã hội loài người và do con người chủ động tiến hành Tiền đề cho quá trình ĐTH là sự phát triển của sức sản xuất nông nghiệp Nông thôn phát triển không những đảm bảo cung cấp những nguyên liệu và nhu yếu phẩm cần thiết cho khu vực đô thị mà còn giải phóng sức lao động để cung cấp nhân lực cho đô thị, ngoài ra điều rất quan trọng là nông thôn còn cung cấp vốn, mặt bằng đất đai cho ĐTH Tác động

Trang 21

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

trở lại rất mạnh mẽ của ĐTH đối với khu vực nông thôn, tạo động lực kinh

tế thúc đẩy kinh tế nông nghiệp nông thôn phát triển Trong lịch sử phát triển của xã hội loài người, việc lựa chọn vị trí và xác định quy mô của từng đô thị phải căn cứ vào mục tiêu phát triển của khu vực Trên cơ sở định hướng phát triển của vùng hoặc của toàn bộ quốc gia, đảm bảo cho đô thị có được đầy đủ các yếu tố để phát triển Đồng thời hạn chế ở mức cao nhất những tác động bất lợi của quá trình ĐTH vào hoạt động của xã hội và

tự nhiên Vai trò này thuộc về Nhà nước với chức năng quản lý và điều hành toàn diện các hoạt động của xã hội Vì vậy đối với mọi Nhà nước, quản lý đất đai đô thị trong quá trình ĐTH là một chức năng rất quan trọng

Để xây dựng và phát triển một khu vực đô thị, Nhà nước phải tiến hành nghiên cứu, điều tra, khảo sát, làm sáng tỏ một số mục tiêu:

- Phải xác định rõ tính chất của đô thị là gì? Khu thương mại du lịch hay khu hành chính… Xây dụng khu đô thị đó sẽ giải quyết được những nội dung gì trong phát triển kinh tế xã hội; đảm bảo an ninh quốc phòng và

tổ chức quy hoạch lãnh thổ; hiệu quả kinh tế xã hội của nó?

- Vị trí của khu đô thị đó đặt ở đâu? Đây là một vấn đề rất quan trọng quyết định tương lai của đô thị Chúng ta đã có nhiều bài học kinh nghiệm trong lịch sử dựng nước và giữ nước của ông cha qua việc xây dựng kinh

đô ở các vị trí: Hoa Lư, Huế, Thăng Long… Đặc biệt trong quá trình phát triển đô thị trong giai đoạn xây dựng CNXH ở miền Bắc, nhiều khu vực được lựa chọn để xây dựng đô thị nhưng đã không thành công, gây lãng phí rất lớn về tài nguyên quốc gia và vốn đầu tư như: khu đô thị Xuân Hoà hay khu đô thị Xuân Mai vào thập niên 70 của thế kỷ XX

- Quy mô của đô thị là bao nhiêu? Quy mô của đô thị bao gồm quy

mô về đất đai và quy mô về dân số, ngoài ra quy mô của đô thị còn được xác định bằng tổng mức đầu tư vốn cho phát triển đô thị và giá trị kinh tế

mà đô thị đó đem lại Như vậy, quá trình xây dựng và phát triển đô thị đã chuyển một bộ phận diện tích đất đai từ nông nghiệp hoặc các đất khác thành đất đô thị, đây là một tất yếu khách quan của quá trình ĐTH do con người thực hiện mà Nhà nước giữ vai trò chủ đạo, quyết định

- Tổ chức quy hoạch tổng thể về không gian kiến trúc và mặt bằng

đô thị như thế nào để đáp ứng các yêu cầu của phát triển và sinh hoạt đô thị

Trang 22

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

hài hoà và có một cảnh quan kiến trúc đô thị đẹp, không phá vỡ hoặc gây tác động xấu tới cảnh quan thiên nhiên của các khu vực xung quanh, là một động lực để thúc đẩy các khu vực xung quanh đô thị phát triển Nội dung này phải do Nhà nước và phải được thực hiện bằng biện pháp chỉ đạo của Nhà nước trên cơ sở các quy định được luật hoá

- Nguồn vốn đầu tư cho đô thị và quy mô đầu tư cho hệ thống HTKT

đô thị ở mức độ nào? Chính khoản đầu tư này có vai trò quan trọng trong xác định mức độ hiện đại của đô thị, đồng thời có vị trí quan trọng để làm tăng giá trị của đất đô thị

Như vậy, bằng biện pháp tổ chức, quản lý và điều hành của Nhà nước nhằm khai thác sử dụng đất đô thị, đất đô thị đã hấp thu những khoản đầu tư rất lớn từ Nhà nước (bao gồm cả tài nguyên quốc gia), để trở thành tài nguyên vô cùng quý giá và có giá trị kinh tế cao Điều này chứng minh vì sao giá đất tại đô thị cao hơn giá đất tại các khu vực ven đô và các khu vực nông thôn, sự chênh lệch về giá đất này là do đầu tư của con người tạo ra

(2) Tính đặc biệt quan trọng của vị trí đất

Đất đô thị mang đầy đủ những tính chất cơ lý và những đặc trưng của đất đai tự nhiên: có tính chất bất động; không di chuyển được; mỗi mảnh đất đều có mỗi vị trí đặc trưng riêng về toạ độ địa lý, về độ cao tương đối và độ cao tuyệt đối, về hình dáng, kích thước từng cạnh và về quy mô, diện tích nhất định Đồng thời mỗi mảnh đất, mỗi khu đất lại có những mối quan hệ khăng khít với những khu đất bên cạnh nó như: các công trình xây dựng, hồ ao, sông suối, đồi núi, rừng cây,… Vì thế không thể có hai mảnh đất giống hệt nhau, đặc biệt thể hiện rõ hơn ở vị trí tương đối giữa một mảnh đất với các công trình đô thị xung quanh nó và giữa nó với những mảnh đất khác Đối với đất đô thị, vị trí mỗi mảnh đất có ý nghĩa cực kỳ quan trọng trong việc xác định giá trị của nó Ví dụ: vị trí đất khu trung tâm

đô thị gần với các công trình công cộng như quảng trường, công viên, siêu thị, các cơ quan hành chính hoặc công trình công cộng phúc lợi xã hội khác… và có một mặt hoặc nhiều mặt tiếp xúc với trục giao thong chính, sẽ

có điều kiện thuận lợi cho chủ sử dụng khai thác vào mục đích kinh doanh (các yếu tố tiện ích) hơn những mảnh đất ở vị trí khác Do vậy khi lựa chọn

Trang 23

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

một vị trí đất sử dụng vào một mục đích nào đó, người ta phải căn cứ vào các yếu tố có nhất mà vị thế đất đó đem lại có thoả mãn yêu cầu đặt ra hay không? Vị trí của đất là một trong những nhân tố quyết định giá trị kinh tế của đất đô thị Cơ sở quan trọng tạo ra chênh lệch về thu nhập giữa các thửa đất trong cùng một khu đất được đầu tư HTKT đô thị như nhaulà do vị trí của thửa đất mang lại Trên thực tế, những thửa đất có vị trí gần mặt trục đường giao thông chính, có vị trí tương đối gần các công trình đô thị mà người SDĐ phải giao dịch thường xuyên, gần các trung tâm thương mại, dịch vụ công cộng và du lịch, thường có giá trị cao hơn gấp nhiều lần những thửa đất sát ngay nó, nhưng không có cạnh nào tiếp giáp với mặt giao thông chính (có những vị trí chênh lệch hàng chục lần) Tính chất của

đô thị nói lên vai trò, nhiệm vụ của đô thị đối với các mặt kinh tế, văn hoá, chính trị, xã hội… của bản thân đô thị Mỗi một đô thị có một tính chất riêng và tính chất riêng này thường thay đổi theo từng thời kỳ, dĩ nhiên vai trò vị trí địa lý của đô thị là nhân tố quan trọng trong việc đề ra phương hướng, mục tiêu phát triển đô thị Tính chất của đô thị có ảnh hưởng lớn đến cơ cấu dân cư, quy mô dân số, quy mô diện tích đất đô thị, tổ chức lập quy hoạch đô thị và chiến lược phát triển của đô thị vấn đề này chỉ ra rằng ttrong phân bố cơ cấu sử dụng đất và tổ chức không gian kiến trúc của quy hoạch đô thị, cần có định hướng đúng về phân khu chức năng của từng khu vực đô thị, đồng thời phải chú ý đến mỹ quan và môi trường đô thị để làm tăng giá trị của đất đô thị hàm lượng chất xám, vốn đầu tư ban đầu dành cho hoạch định chính sách, bố trí cơ cấu SDĐ và tổ chức không gian kiến trúc đô thị, cùng với vốn đầu tư trực tiếp cho HTKT đô thị làm gia tăng giá trị của vị trí từng khu đất trong đô thị

(3) Sự tập trung các khoản đầu tƣ làm giá trị đất đô thị rất cao

Theo quan điểm lý luận Mác – Lênin, đất đai tự nhiên không có giá trị; đất đai tự nhiên là sản phẩm của thiên nhiên, không phải do lao động của con người sáng tạo ra, đất đai chỉ là đối tượng của lao động sản xuất, vì thế nên đất đai tự nhiên không phải là hàng hoá Tuy nhiên, kể từ khi loài người đã tiến hoá ở mức độ các bộ lạc, con người đã phải khoanh vùng ảnh hưởng để khai thác các vật phẩm tự nhiên phục vụ cho đời sống của họ tức

là con người đã có hành vi chiếm hữu đất đai và để bảo vệ, gìn giữ vùng ảnh hưởng đó, con người đã phải có những biện pháp, những hành vi cụ

Trang 24

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

thể, tức là lao động của con người đã dần được tích luỹ vào trong đất từ thế

hệ này đến thế hệ khác Xã hội loài người càng phát triển, những hành vi tạo lập, bảo vệ những vùng, khu vực có diện tích nhất định của trái đất để hình thành nên những quốc gia, vùng lãnh thổ độc lập, có đường biên giới đất liền, lãnh hải, không phận riêng rẽ, là những giá trị lao động vô cùng to lớn của con người được tích luỹ trong đất Chính vì vậy, đất đai trở thành tài sản vô giá của mỗi quốc gia, mỗi dân tộc Đất đai càng được khai thác

sử dụng lâu, bản thân giá trị của nó cũng được tăng thêm rất nhiều, không chỉ do tính chất sử dụng của nó mang lại, mà còn do giá trị của những lần đầu tư liên tiếp vào nó được tích luỹ trong nó Vì vậy, đất đô thị có có đặc trưng là tính tập trung giá trị của đất do những khoản đầu tư rất lớn vào nó, bao gồm: đầu tư cho công tác hoạch định chiến lược phát triển đô thị, đầu

tư cho công tác quy hoạch đô thị; đầu tư cho công tác xây dựng cơ sở HTKT đô thị, cho các công trình sản xuất, các công trình công cộng phúc lợi xã hội… và cả đầu tư cho việc quản lý, điều hành các hoạt động của đô thị, đảm bảo cho các sinh hoạt đô thị được diễn ra ổn định Đất đô thị có tính chất kế tục lâu bền, giá trị sử dụng và hiệu ích đầu tư của đất đô thị có tính lâu dài và tính tích luỹ trong điều kiện sử dụng và bảo vệ hợp lý, đất

đô thị có thể sử dụng nhiều lần, liên tục và được cải thiện không ngừng để nâng cao về giá trị Đây là đặc trưng cơ bản và quan trọng nhất để xác định tầm quan trọng cũng như giá trị và giá trị sử dụng của đất đô thị Ở nước ta hiện nay toàn bộ những chi phí đầu tư cho xây dựng và phát triển thuộc về Nhà nước Như vậy, giá đất đô thị cao hơn giá đất nông thôn, giá đất khu vực trung tâm nội thành, cao hơn giá đất vùng ngoại thành là do Nhà nước

đã đầu tư vào quá trình sản xuất tạo ra (tuy nhiên không phải là toàn bộ vì giá cả hàng hoá đất đai còn phụ thuộc vào quan hệ cung cầu) Vì vậy mức chênh lệch giữa giá đất trước khi ĐTH với giá đất sau khi đã được đầu tư, Nhà nước có quyền tham gia điều tiết để thu về cho ngân sách (đây chính là

địa tô chênh lệch II)

1.2.2 Sự cần thiết phải tăng cường vai trò quản lý của nhà nước đối với đất đai trong quá trình đô thị hóa

Do quá trình ĐTH, dân số đô thị tăng lên cùng với nhu cầu phát triển của các ngành các lĩnh vực phát triển kinh tế - xã hội; diện tích đất phải thu hồi, chuyển mục đích sử dụng để xây dựng đô thị tăng lên làm phát sinh

Trang 25

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

nhiều biến động phức tạp trong quan hệ sử dụng đất đô thị Nhà nước vừa thực hiện chức năng là đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai, vừa thực hiện chức năng quản lý Nhà nước như tất cả các Nhà nước khác trên thế giới, đồng thời với bản chất của Nhà nước XHCN, Nhà nước còn có nhiệm

vụ rất quan trọng là phục vụ và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân Do đó, quản lý Nhà nước về đất đai trong quá trình ĐTH không chỉ nhằm mục tiêu phát triển đô thị mà còn phải đảm bảo đáp ứng nhu cầu đời sống của dân cư đô thị mặt khác trong quá trình ĐTH, quan hệ đất đai có nhiều biến động mạnh về cả quyền chi phối, quyền quản lý và quyền sử dụng, do chức năng đặc biệt quan trọng của đô thị là chức năng về kinh tế tác động Vì vậy trong quá trình ĐTH vấ đề tăng cường vai trò quản lý Nhà nước về đất đai là xuất phát từ nhân tố khách quan do thực tiễn phát triển của đất nước đặt ra

ĐTH là quá trình tất yếu khách quan trong quá trình phát triển của mỗi quốc gia Nhân tố quan trọng và là động lực chủ yếu thúc đẩy quá trình ĐTH là trong quá trình CNH, người dân ở các vùng quê đổ ra thành phố để mong kiếm được cơ hội việc làm tốt hơn, thoát khỏi đói nghèo Làn sóng người nhập cư ồ ạt đã khiến các thành phố trở nên quá tải, gây ô nhiễm môi trường sống và làm cho việc xây dựng trong các đô thị trở nên lộn xộn, vô

tổ chức, gây ra những khó khăn bức xúc trong công tác quản lý của Nhà nước đối với đô thị [29]

Dân số đô thị là động lực chính thúc đẩy sự phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội của đô thị Ở nhiều nước trên thế giới (trong đó có Việt Nam) dân số là cơ sở để phân loại đô thị trong công tác quản lý và xác định quy

mô đất đai của đô thị Quy mô của đô thị được đanh giá qua số lượng dân

số đô thị chứ không phải qua diện tích đất đai đô thị Dân số đô thị là cơ sở

để xác định số lượng, diện tích nhà ở cần xây dựng, hệ thống cơ sở HTKT cho đô thị cũng như việc hoạch định các chính sách phát triển và kế hoạch đầu tư cho đô thị Tuy vậy, tỷ lệ gia tăng dân số đô thị ở các nước đang phát triển chưa phản ánh đúng tốc độ CNH, như trường hợp của các nước phát triển ở châu Âu hoặc ở Mỹ, Nhật Bản Ở các nước phát triển, tốc độ tăng trưởng dân số đô thị do nhập cư từ nông thôn vào là không lớn, còn ở các nước đang phát triển thì tỷ lệ này lại là chủ yếu, mà lý do chính là sức hấp dẫn từ sự chênh lệch mức sống giữa thành thị và nông thôn Ví dụ như

Trang 26

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

ở Trung Quốc, thu nhập quốc dân bình quân đầu người năm 1995 là 6.463 nhân dân tệ thì ở các thành phố lớn là 11.369 nhân dân tệ

So sánh tốc độ phát triển hiện nay của Mỹ và các nước phát triển khác trong nhóm G8, tốc độ tăng trưởng của Mỹ vẫn đứng đầu và khá ổn định Trong khi đó ở các nước phát triển khác, kể từ sau chiến tranh thế giới lần thứ 2 đến nay, tốc độ phát triển dân số giảm dần và có nguy cơ không đáp ứng được lao động cho nhu cầu sản xuất xã hội Theo dự báo đến năm 2050 dân số của Mỹ sẽ tăng lên đến khoảng 550 triệu trong khi dân số châu Âu là 360 triệu vào thời điểm đó

Ở nước ta, tình hình biến động dân số cũng không nằm ngoài quy luật chung của thế giới Theo số liệu thống kê, vào năm 1930 cả nước có 17,6 triệu dân, đến năm 1960 cả nước có 30,2 triệu dân, sau 25 năm dân số nước ta đã tăng gấp đôi: 60 triệu dân vào năm 1985 Theo số liệu tổng điều tra dân số năm 2005, dân số cả nước đã là hơn 83 triệu người Mức tăng trưởng dân số đô thị cũng có mức thay đổi đáng kể Nếu năm 1990 tỷ lệ tăng dân số đô thị là 2,8% thì năm 1998 con số này là 4,58% và năm 2005

đã đạt gần 5% theo báo cáo của bộ xây dựng vào năm 1986, dân số đô thị nước ta là 11,87 triệu người, đến năm 1999 dân số đô thị đã là 18 triệu người, đến năm 2005 là hơn 23 triệu người, nâng tỷ lệ ĐTH từ 19,3% lên 25% [9]

Để tránh tình trạng đất đai bị chuyển mục đích sử dụng trái phép, sử dụng không đúng quy hoạch, kế hoạch, nguồn tài nguyên đất đô thị bị lãng phí, cùng với nó là tình trạng đô thị được xây dựng lộn xộn và tình trạng đói nghèo ở đô thị… đòi hỏi tăng cường vai trò của Nhà nước trong hoạt động quản lý đối với đất đai trong quá trình ĐTH Khi quy mô của đô thị tăng lên, các nguồn lực tài chính cần thiết để xây dựng mới và duy trì hệ thống CSHT và dịch vụ đô thị là vô cùng lớn Yêu cầu các biện pháp chiến lược cũng như kế hoạch cụ thể để huy động có hiệu quả các nguồn lực, phải hết sức năng động và sáng tạo Điều đó đòi hỏi phải tăng cường vai trò quản lý của Nhà nước đối với đất đô thị, nhằm khai thác hợp lý, có hiệu quả nguồn lực đất đai đô thị với chức năng cung cấp vốn đầu tư cho sự phát triển của đô thị nếu Nhà nước buông lỏng quản lý đất đai, tập trung quá cao dân số ở các thành phố lớn và cực lớn (chủ yếu tạp trung ở các nước

Trang 27

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

đang phát triển), vấn đề nhà ở sẽ không được giải quyết một cách đầy đủ Đặc biệt các khu nhà dành cho người lao động thường thiếu tổ chức, chắp

vá, hình thức nghèo nàn, điều kiện sống không đầy đủ, thiếu vệ sinh, môi trường sống đô thị bị ảnh hưởng nghiêm trọng Theo số liệu của Bộ kế hoạch và Đầu tư, vào thời điểm tháng 8 năm 2005 cả nước có 135 khu công nghiệp đã được phê duyệt thành lập, trong đó có 81 khu công nghiẹp đang được vận hành với tổng diện tích 17.705ha Theo quy hoạch được Chính phủ phê duyệt vào tháng 8/2005, đến năm 2015 và định hướng đến năm

2020 cả nước có khoảng 80.000ha đất dành cho các khu công nghiệp Vấn

đề đặt ra cho hoạt động quản lý Nhà nước là cùng với mở rộng diện tích các khu công nghiệp, diện tích đất đô thị sẽ tăng lên với tốc độ và quy mô rất lớn, đòi hỏi phải tăng cường vai trò quản lý của Nhà nước trên mọi lĩnh vực trong đó đặc biệt quan trọng là quản lý đất đai đô thị, đáp ứng yêu cầu của dân cư đô thị tăng lên rất nhanh trong quá trình CNH Đồng thời tình trạng đầu cơ đất nảy sinh đã làm cho giá đất tại các thành phố cao vọt (tạo

ra những cơn sốt đất giả tạo) gây thiệt hại rất lớn cho Nhà nước trong bồi thường GPMB Mật độ xây dựng trong các khu đô thị cao, các công trình kiến trúc cũng phải phát triển theo chiều cao, dẫn tới khủng hoảng về xây dựng trong đô thị, đô thị sẽ thiếu đất trống để trồng cây xanh và các công trình công cộng phúc lợi xã hội Ở hầu hết các nước trên thế giới, người ta

đã phải tiến hành cải tạo hàng loạt các đô thị với chi phí rất lớn như: Pari (Pháp), Băng Cốc (Thái Lan), Thượng Hải (Trung Quốc),… gây quá tải cho ngân sách Nhà nước [31] Ở nước ta, tình trạng này cũng khá phổ biến

ở hầu hết các thành phố lớn, đặc biệt là ở thành phố Hà Nội và thành phố

Hồ Chí minh, ảnh hưởng rất lớn tới việc đầu tư cho phát triển kinh tế xã hội của cả nước, buộc Chính phủ và chính quyền các thành phố phải có nhiều biện pháp mạnh để ngăn chặn

1.2.3 Kinh nghiệm quản lý đất đai của một số nước trên Thế giới

1.2.3.1 Kinh nghiệm của Pháp

Pháp là quốc gia phát triển thuộc hệ thống TBCN, tuy thể chế chính trị khác nhau nhưng ảnh hưởng của phương pháp tổ chức Quản lý Nhà nước trong lĩnh vực đất đai của Cộng hòa Pháp còn khá rõ đối với nước ta Vấn

đề này có thể lý giải vì Nhà nước Việt Nam hiện đang khai thác khá hiệu

Trang 28

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

quả những tài liệu quản lý đất đai do chế độ thực dân để lại, đồng thời ảnh hưởng của hệ thống quản lý đất đai thực dân còn khá rõ nét trong ý thức của một bộ phận công dân Việt Nam hiện nay Quản lý đất đai của Cộng hòa Pháp có một số đặc trưng là:

* Về chế độ sở hữu trong quan hệ đất đai: Luật pháp quy định quyền

sở hữu tài sản là bất khả xâm phạm và thiêng liêng, không ai có quyền buộc người khác phải nhường quyền sở hữu của mình Ở Pháp hiện còn tồn tại song hành hai hình thức sở hữu cơ bản: sở hữu tư nhân về đất đai và sở hữu Nhà nước (đối với đất đai và công trình xây dựng công cộng) Tài sản công cộng (bao gồm cả đất đai công cộng) có đặc điểm là không được mua và bán Trong trường hợp cần sử dụng đất cho các mục đích công cộng, Nhà nước có quyền yêu cầu chủ sở hữu đất đai tư nhân nhường quyền sở hữu thông qua chính sách bồi thường thiệt hại một cách công bằng [9]

* Về công tác quy hoạch đô thị: Do đa số đất đai thuộc sở hữu tư

nhân, vì vậy để phát triển đô thị, ở Pháp công tác quy hoạch đô thị được quan tâm từ rất sớm và được thực hiện rất nghiêm ngặt Ngay từ năm 1919,

ở Pháp đã ban hành Đạo luật về kế hoạch ĐTH cho các thành phố có từ 10.000 dân trở lên Năm 1973 và 1977, Nhà nước đã ban hành các Nghị định quy định các quy tắc về phát triển đô thị, là cơ sở để ra đời Bộ Luật về chính sách đô thị Đặc biệt vào năm 1992, ở Pháp đã có quy định về phân cấp quản lý, trong đó có sự xuất hiện của một tác nhân mới rất quan trọng trong công tác quản lý của Nhà nước về quy hoạch đó là cấp xã Cho đến nay, Luật Đô thị ở Pháp vẫn không ngừng phát triển, nó liên quan đến cả quyền sở hữu tư nhân và sự can thiệp ngày càng sâu sắc của Nhà nước, cũng như của các cộng đồng địa phương vào công tác quản lý đất đai, quản

lý quy hoạch đô thị [9] Nó mang ý nghĩa kinh tế rất lớn thông qua việc điều chỉnh mối quan hệ giữa các ngành khác nhau như bất động sản, xây dựng, quy hoạch lãnh thổ,…

* Về công tác Quản lý Nhà nước đối với đất đai: Mặc dù là quốc gia

duy trì chế độ sở hữu tư nhân về đất đai nhưng công tác Quản lý Nhà nước

về đất đai của Pháp được thực hiện rất chặt chẽ Điều đó được thể hiện qua việc xây dựng hệ thống hồ sơ địa chính Hệ thống hồ sơ địa chính rất phát triển, rất quy củ và khoa học, mang tính thời sự để quản lý tài nguyên đất

Trang 29

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

đai và thông tin lãnh thổ, trong đó thông tin về từng thửa đất được mô tả đầy đủ về vị trí, kích thước, thông tin về tài nguyên và lợi ích liên quan đến thửa đất, thực trạng pháp lý của thửa đất Hệ thống này cung cấp đầy đủ thông tin về hiện trạng sử dụng đất, phục vụ nhiệm vụ quy hoạch, quản lý

và sử dụng đất có hiệu quả, đáp ứng nhu cầu của cộng đồng, đảm bảo cung cấp thông tin cho hoạt động của ngân hàng và tạo cơ sở xây dựng hệ thống thuế đất và bất động sản công bằng

1.2.3.2 Kinh nghiệm của Mỹ

Nước Mỹ có diện tích tự nhiên xấp xỉ 9,3 triệu Km2, dân số hơn 300 triệu, đất đô thị chuyên dung chiếm 11,9% diện tích tự nhiên Là một quốc gia phát triển, Mỹ có một hệ thống Pháp luật về đất đai rất phát triển có khả năng điều chỉnh được các quan hệ xã hội đa dạng và phức tạp nhất Luật Đất đai của Mỹ quy định công nhận và khuyến khích quyền sở hữu tư nhân

về đất đai; các quyền này được Pháp luật bảo hộ rất chặt chẽ như là một quyền cơ bản của công dân Cho đến nay có thể thấy các quy định này đang phát huy rất có hiệu quả trong việc phát triển kinh tế đất nước, vì nó phát huy được hiệu quả đầu tư để nâng cao giá trị của đất đai và làm tăng đáng

kể hiệu quả sử dụng đất trong phạm vi toàn xã hội [9]

Tuy công nhận quyền sở hữu tư nhân, nhưng Luật Đất đai của Mỹ vẫn khẳng định vai trò ngày càng lớn và có vị trí quyết định của Nhà nước trong quản lý đất đai Các quy định của Nhà nước bao gồm: quyền quyết định về kế hoạch và quy hoạch sử dụng đất; quyền quy định về quy hoạch kiến trúc đô thị và công trình xây dựng; quyền quy định về mục đích sử dụng đất; quyền xử lý các tranh chấp về quyền sử dụng đất và quyền ban hành các quy định về tài chính đất; quyền thu hồi đất thuộc sở hữu tư nhân

để phục vụ cho các lợi ích công cộng trên cơ sở đền bù công bằng cho người bị thu hồi [9]… Về bản chất quyền sở hữu tư nhân về đất đai ở Mỹ cũng chỉ tương đương với quyền sử dụng đất ở Việt Nam

Như vậy có thể nói, hầu hết các quốc gia trên thế giới (dù quy định chế độ sở hữu đối với đất đai khác nhau), đều có xu hướng ngày càng tăng cường vai trò quản lý của Nhà nước đối với đất đai Xu thế này phù hợp với sự phát triển ngày càng đa dạng của các quan hệ kinh tế, chính trị theo

xu thế toàn cầu hóa hiện nay Mục tiêu của mỗi quốc gia là nhằm quản lý

Trang 30

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

chặt chẽ, hiệu quả tài nguyên trong nước, tăng cường khả năng cạnh tranh,

để phục vụ cao nhất cho quyền lợi quốc gia, đồng thời có những quy định phù hợp với xu thế mở cửa, tạo điều kiện để phát triển hợp tác đầu tư giữa các quốc gia thông qua các chế định pháp luật thông thường, cởi mở nhưng vẫn giữ được ổn định về an ninh kinh tế và an ninh quốc gia [9]

1.2.4 Kinh nghiệm quản lý đất đai của một thành phố trong quá trình đô thị hóa

1.2.4.1 Kinh nghiệm của thành phố Hồ Chí Minh

Là trọng điểm kinh tế số 1 của cả nước, thành phố Hồ Chí Minh có diện tích 2.095,2 Km2 với dân số 7,4 triệu người với 19 quận nội thành, 5 huyện ngoại thành, 254 phường, 5 thị trấn và 58 xã Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII đã đánh giá vị trí của Thành phố là: “Một trung tâm kinh tế lớn, trung tâm giao dịch quốc tế và du lịch của nước ta Thành phố Hồ Chí Minh có

vị trí chính trị quan trọng sau thủ đô Hà Nội” Là đô thị đặc biệt, vì vậy công tác QLNN về đất đai của Thành phố Hồ Chí Minh trong quá trình ĐTH có vai trò rất quan trọng trong việc ổn định và phát triển kinh tế của Thành phố Từ khi có Luật Đất đai năm 1987, Thành ủy, UBND Thành phố đã ban hành hàng trăm văn bản về công tác quản lý đất đai và quản lý quy hoạch nhằm thể chế hóa Chính sách Pháp luật Đất đai của Đảng và Nhà nước trên địa bàn Trong đó, đặc biệt là Thành phố đã ban hành Quyết định số 4755/QĐ-UB ngày 26 tháng 09 năm 1998 về khung giá các loại đất theo quy định của Nghị định số 87/NĐ-CP ngày 17 tháng 08 năm 1994 của Chính phủ Quyết định về khung giá đất theo Nghị định số 188/NĐ-CP ngày 16 tháng 11 năm 2004 của Chính phủ Về công tác quản lý quy hoạch đô thị, ngày 10 tháng 07 năm 1998 Thủ tướng Chính phủ

đã ban hành Quyết định số 123/QĐ-TTg phê duyệt điều chỉnh quy hoạch chung Thành phố Hồ Chí Minh

Hệ thống hồ sơ địa chính của Thành phố cơ bản được xây dựng khá bài bản, toàn Thành phố đã được đo đạc và thành lập bản đồ địa chính chính quy và không chính quy ở các tỷ lệ 1/500 và 1/1000 Thành phố cũng đã xây dựng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất các giai đoạn và đã được Chính phủ phê duyệt Vào năm 2005, Thành phố đã công bố cơ bản hoàn thành công tác triển khai cấp GCNQSDĐ và quyền sở hữu nhà ở tại đô thị Trong giai đoạn sốt đất năm 2002, UBND Thành phố đã ban hành Chỉ thị số 08/CT-UB ngày 22 tháng 04 năm

2012 nhằm chấn chỉnh và tăng cường QLNN về đất đai trên địa bàn Hàng nghìn

Trang 31

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

vụ việc vi phạm Pháp luật của các tổ chức và cá nhân trên địa bàn Thành phố đã được xử lý Nhìn chung các văn bản của Thành ủy và UBND Thành phố đã góp phần ổn định công tác quản lý đất đai ở địa phương Từ khi Luật Đất đai 2003 có hiệu lực thi hành, Thành phố cũng đã ban hành nhiều văn bản để triển khai thực hiện Luật và các văn bản dưới Luật Tuy nhiên, cũng như tình hình chung của các tỉnh, thành phố trong cả nước, công tác Quản lý Nhà nước về đất đai, đô thị ở Thành phố cũng có rất nhiều bức xúc, phức tạp Thị trường bất động sản trong khu vực Thành phố có chiều hướng “trầm lắng” do nhiều yếu tố, trong đó chủ yếu là do yếu tố đầu cơ của một số tổ chức và cá nhân, đồng thời do hệ thống văn bản Pháp luật hiện hành chưa đồng bộ và chưa có khả năng đáp ứng được yếu cầu của tình hình thực tế xã hội hiện nay [9]

1.2.4.2 Kinh nghiệm của thành phố Hải Phòng

Là Thành phố cảng quan trọng của vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc, thành phố Hải Phòng có diện tích 1.507,57 Km2

và dân số là 1,9 triệu người với 5 quận, 1 thị xã và 8 huyện; 57 phường, 9 thị trấn, 152 xã Trong nhiều năm qua, QLNN về đất đai ở Thành phố có nhiều vấn đề phức tạp Đặc biệt, Hải Phòng là nơi có nhiều điểm nóng về khiếu kiện tranh chấp đất đai rất gay gắt Nguyên nhân cơ bản là do trong quá trình ĐTH, giá đất bị đẩy lên rất cao, trong khi Thành phố chưa có biện pháp kiên quyết để ngăn chặn kịp thời tình trạng vi phạm Pháp luật Đặc biệt tình trạng tự ý chuyển mục đích sử dụng đất khác thành đất ở, mua bán đất đai trái quy định của Pháp luật diễn ra khá phổ biến Hệ thống

hồ sơ địa chính không được lưu trữ đầy đủ và cập nhật thường xuyên Vì vậy, công tác QLNN về đất đai gặp rất nhiều khó khăn, đặc biệt là thiếu thông tin pháp lý về nguồn gốc sử dụng đất làm cơ sở để thực hiện giao đất, đền bù thiệt hại về đất và xử lý các vi phạm Pháp luật trong quản lý sử dụng đất Từ năm

1993 đến 2002, Thành phố đã ban hành 12 văn bản thể chế hóa các quy định của Luật và Nghị định của Chính phủ để triển khai công tác QLNN về đất đai trên địa bàn [9]

Công tác lập quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch phát triển đô thị được triển khai chậm do Thành phố chưa có sự đầu tư thỏa đáng Đến năm 2001, HĐND Thành phố đã ban hành Nghị quyết số 20/NQ-HĐND ngày 05 tháng 07 năm 2001 “Thông qua quy hoạch sử dụng đất thành phố Hải Phòng giai đoạn

2000 – 2010” Theo quy hoạch này đến năm 2010, diện tích đất chuyên dùng của

Trang 32

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Thành phố sẽ tăng 2.062 ha, chủ yếu lấy từ các loại đất nông nghiệp: 1.176 ha, đất lâm nghiệp: 528 ha… Cũng như một số tỉnh, thành phố phía Bắc, công tác QLNN về đất đai của Thành phố sau khi Luật Đất đai 2003 có hiệu lực cơ bản dần ổn định Tuy nhiên việc khai thác, sử dụng đất còn kém hiệu quả và việc triển khai thực hiện quy hoạch sử dụng đất còn chậm, do công tác bồi thường GPMB còn nhiều vướng mắc, thị trường bất động sản khá trầm lắng Từ năm

2003 đến nay, công tác triển khai cấp GCNQSDĐ còn chậm, cả về cấp GCNQSDĐ ở và cấp GCNQSDĐ cho các đơn vị sử dụng đất, đây là một nược điểm lớn của QLNN về đất đai ở thành phố Hải Phòng [9]

1.2.5 Bài học rút ra cho Việt Nam và thị xã Sông Công về quản lý của Nhà nước đối với đất đai trong quá trình đô thị hóa

Từ việc nghiên cứu tình hình quản lý đất đai ở một số nước trên thế giới và một số tỉnh thành trong nước, bài học kinh nghiệm rút ra cho công tác QLNN về đất đai ở nước ta nói chung và thị xã Sông Công nói riêng là: (1) Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật phải được nghiến cứu sâu sắc, khoa học và được ban hành đồng bộ, kịp thời, mang tính ổn định, đồng thời các quy định pháp luật dù có điều chỉnh nhưng vẫn phải đảm bảo tính

kế thừa

(2) Phải xây dựng được hệ thống dữ liệu thông tin đất đai thống nhất, đồng bộ trên cơ sở công nghệ tin học, điện tử hiện đại từ Trung uơng đến địa phương Muốn đạt được điều đó cần phải đầu tư đồng bộ để có được hệ thống hồ sơ địa chính cơ sở (hồ sơ gốc) có độ tin cậy cao ở tất cả các địa phương trong cả nước Thống nhất phương pháp phân loại, quản lý hồ sơ đất đai và công khai thông tin từ Trung ương đến địa phương Thực tế cho thấy hệ thống hồ sơ địa chính được lưu trữ ở nước ta rất kém, chắp vá, không đáp ứng được yêu cầu quản lý Việc triển khai lập hồ sơ địa chính ở các địa phương khác nhau đã không được tiến hành vào cùng một thời điểm như chỉ đạo của Trung ương, số liệu tổng hợp của tất cả các cấp có độ chính xác thấp Các thông tin về đất (như thay đổi về loại đất, diện tích, chủ

sử dụng đất và giá cả của đất trong cùng thời điểm…) không được cập nhật thường xuyên, đầu đủ, vì vậy Nhà nước không thể quản lý đất đai một cách chặt chẽ

Trang 33

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

(3) Cần phải xác định việc đăng ký quyền về tài sản không chỉ là lợi ích của người dân mà đó chính là lợi ích của cả Nhà nước Để làm tốt việc này cần phải có những biện pháp mạnh để tạo ra sự thay đổi về mặt nhận thức của cả bộ máy quản lý và đội ngũ công chức Nhà nước Dân giàu thì nước mạnh, có tạo thuận lợi để các tổ chức và cá nhân được đăng ký quyền về tài sản (sở hữu bất động sản trong đó có quyền sử dụng đất) thì người dân mới có đầy đủ cơ sở pháp lý để đẩy mạnh việc khai thác giá trị của tài sản cho phát triển kinh tế Nhà nước có nguồn thu ngân sách từ các chủ thể sử dụng đất trên cơ sở nắm chắc được nguồn tài nguyên đất

Vì vậy, việc tiếp tục đổi mới quan hệ sở hữu đất đai gắn với việc quy định cụ thể hơn các quyền của người sử dụng đất chính là chìa khóa để thực hiện việc công khai dân chủ quan hệ đất đai trong xã hội Đây cũng

là giải pháp chống tham nhũng hiệu quả nhất

(4) Xu thế chung của tất cả các quốc gia trên thế giới là ngày càng tăng cường quyền lực của Nhà nước trong quan hệ đất đai nhằm tăng cường sức cạnh tranh

Xã hội càng phát triển, tính cạnh tranh càng gay gắt, để đảm bảo thế mạnh trong cạnh tranh, công tác quản lý của Nhà nước phải mạnh và có hiệu lực cao Tuy nhiên tăng cường quyền lực của Nhà nước không có nghĩa là hạn chế quyền của các chủ thể sử dụng đất Quyền lực Nhà nước phải mạnh, để đảm bảo cho mọi chủ thể được hoạt động đúng khuôn khổ Pháp luật quy định và mọi chủ thể đều được tự do phát triển Với các nước

có công tác quản lý đất đai tốt, có hiệu quả sử dụng đất cao, hầu như các vi phạm Pháp luật trong quản lý sử dụng đất đều bị xử lý rất nghiêm khắc và rất triệt để Đây chính là bài học quan trọng nhất: kỷ cương Pháp luật có nghiêm minh thì xã hội mới ổn định và phát triển được

Xu thế phát triển chung hiện nay của mọi quốc gia trên thế giới dù được tổ chức dưới hình thái kinh tế chính trị khác nhau, các nhà nước đều tập trung ngày càng toàn diện và sâu sắc hơn vai trò quản lý của Nhà nước đối với nền kinh tế Dù là phát triển theo mô hình kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa hay kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa như ở Việt Nam, các quốc gia có xu thế mở cửa hội nhập trong một thể chế kinh tế chung Phát triển kinh tế cùng với củng cố và tăng cường an ninh quốc gia

Trang 34

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

trong các quan hệ song phương, đa phương giữa các quốc gia, trong điều kiện toàn cầu hóa của nền kinh tế thế giới, đòi hỏi mỗi quốc gia phải tìm ra được con đường phát triển riêng Quá trình ĐTH là một tất yếu khách quan đối với các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam Để đạt được mục tiêu đến năm 2020 nước ta trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại như Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ X đề ra Đồng thời phát triển đô thị theo hướng bền vững, đòi hỏi Nhà nước phải chủ động điều chỉnh được quá trình ĐTH theo định hướng đúng và có hiệu quả Vì vậy tăng cường vai trò quản lý của Nhà nước đối với đất đai, một nhân tố không thể thiếu trong quá trình ĐTH cũng là một tất yếu khách quan và là yêu cầu quan trọng

1.3 Thực tiễn đô thị hóa trên Thế giới và ở Việt Nam

Tiến trình ĐTH gắn bó chặt chẽ với sự phát triển của lịch sử nhân loại Quá trình này mới là sản phẩm của nền văn minh, vừa là động lực của những bước tiến kì diệu mà nhân loại đã đạt được trong mấy thiên niên kỷ qua

Đối với Việt Nam, một nước nông nghiệp truyền thống với thực tế ĐTH thấp và chậm trong lịch sử đang bước vào thời kỳ mới của nền kinh tế thị trường, thời kỳ CNH – HĐH, việc nghiên cứu tìm hiểu diễn biến của quá trình ĐTH trên thế giới càng có ý nghĩa to lớn cả về mặt nhận thức, lý luận cũng như giá trị thực tiễn

1.3.1 Tình hình đô thị hóa trên Thế giới

Theo các nhà sử học, lịch sử loài người đã chứng kiến hai cuộc cách mạng đô thị

Cuộc cách mạng đô thị lần thứ nhất diễn ra từ 8.000 năm trước Công

Nguyên, vào thời kỳ đồ đá mới, khi lần đầu tiên trên thế giới xuất hiện một khu định cư kiểu đô thị Đó là “thành phố” Jenricho, nằm ở phía bắc biển Chết, thuộc vùng đất Israel ngày nay, với dân số khoảng 600 người - một thị trấn nhỏ, hết sức nghèo nàn so với tiêu chuẩn hiện nay

Cuộc cách mạng đô thị lần thứ hai bắt đầu từ giữa thế kỷ XVIII ở

châu Âu và sau đó lan sang Bắc Mỹ Là hệ quả tất yếu của quá trình CNH

Trang 35

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

tư bản chủ nghĩa, từ thời điểm này quá trình ĐTH đã trở thành một hiện tượng nổi bật trong lịch sử phát triển của nhân loại

Ngày nay các nhà khoa học còn nói đến cuộc cách mạng đô thị lần thứ ba, đang diễn ra trong các nước thuộc thế giới thứ 3, nơi mà hiện tại tỷ

lệ dân số đô thị chiếm khoảng 30% trong tổng dân số Cuộc cách mạng đô thị lần thứ 3 dường như là sự lặp lại cuộc cách mạng đô thị lần thứ hai, song nó có những nét độc đáo của những điều kiện không gian và thời gian mới

Như vậy, theo thời gian, có thể hình dung ĐTH trên thế giới là một quá trình lịch sử xuyên suốt ba cuộc cách mạng đô thị này Những hiện tượng nổi bật của quá trình ĐTH là: dòng di cư mạnh mẽ từ nông thôn vào thành thị khiến cho tỷ lệ dân đô thị tăng nhanh, số lượng các đô thị ngày một nhiều, các đô thị lớn lên, phình to ra, đời sống xã hội dần mang tính đô thị hơn là nông thôn

Đô thị hoá là hiện tượng mang tính toàn cầu và diễn ra với tốc độ ngày một tăng, đặc biệt là ở các quốc gia kém phát triển Theo các chuyên gia nghiên cứu về ĐTH thì trong tiến trình ĐTH từ nửa sau thế kỷ XX có chung một đặc điểm là: ở giai đoạn đầu, tỷ lệ dân số đô thị trên tổng dân số thấp và tốc độ phát triển dân số đô thị nhanh, nhanh hơn rất nhiều so với các quốc gia phát triển

Trong cùng một khoảng thời gian 50 năm từ 1950 – 2000, tỷ lệ dân

số đô thị toàn thế giới từ 29,7% lên đến 47,4%, khu vực kém phát triển từ 17,8% lên đến 40,5% trong khi khu vực phát triển là từ 54,99% đến 76,1% Hiện tại tỷ lệ ĐTH ở châu Á là 35%, châu Âu 75%, châu Phi 45%, Bắc Mỹ 90% và 80% ở Mỹ La Tinh Theo báo cáo của Liên hợp quốc, trong 1/4 thế kỷ tới, việc tăng dân số hầu như sẽ chỉ diễn ra ở các thành phố

mà phần lớn thuộc các nước kém phát triển Đến năm 2030, hơn 60% dân

số thế giới sống ở các đô thị [10]

Trang 36

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Bảng 1.1: Tỷ lệ dân số đô thị các khu vực trên thế giới theo các giai đoạn

(Nguồn: World Urbanzation prospect: 1996, New York 1997)

Theo “dân số và tiến trình đô thị hoá động thái phát triển và triển vọng” của phó tiến sĩ Trần Cao Sơn, số lượng các tụ điểm được coi là lớn nhất các thành phố có số dân 10 triệu trở lên cũng tăng lên nhanh chóng Năm 1950 chỉ có New York (Mỹ) đạt mức độ này nhưng 20 năm sau (1970) có thêm Tokyo (Nhật Bản) và Thượng Hải (Trung Quốc), con số này còn tăng lên 13 thành phố vào năm 1990 [10]

Tiến trình phát triển đô thị đã góp phần to lớn vào sự nghiệp HĐH Song sự bùng nổ đô thị quá tải đã tạo ra hàng loạt vấn đề gay cấn đối với cuộc sống con người, tạo ra sự thiếu cân bằng trong phân bố dân cư và vùng lao động theo vùng lãnh thổ, khả năng cung ứng lương thực, thực phẩm ven đô tiêu hao nhiên liệu, năng lượng… Nếu trong năm 1990, bình quân diện tích đất canh tác trên đầu người ở mức 0,27 ha thì con số này dự báo sẽ tụt xuống 0,17 ha vào năm 2025 Chiến lược chung của vấn đề đô thị hiện nay là:

CNH Hạn chế việc di cư từ nông thôn ra thành thị trong đó yêu cầu nhất thiết phải nâng cao mức sống nông thôn

Trang 37

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

- Khi tập trung quá tải cùng với việc hạn chế nhập cư vào các tụ điểm lớn thì đồng thời phải tạo nên sự cân bằng hài hoà dân số đô thị, khuyến khích các đô thị vừa và nhỏ, tăng cường đầu tư hệ thống dịch vụ,

xây dựng CSHT, có cơ sở xã hội thoả đáng…

1.3.2 Đô thị hóa ở một số nước trên thế giới

* Hà lan

Hà Lan là một quốc gia phát triển Theo Joana Wilber, để khắc phục những tác động tiêu cực của quá trình ĐTH, năm 1994, các nhà hoạch định cuộc sống thuộc bộ Tài nguyên và Môi trường đã đưa ra “chính sách hiệp ước” Theo chính sách này các khu vực nông thôn vẫn giữ nguyên là nông thôn đồng thời cũng quy hoạch phát triển đô thị làm các khu dân cư, trung tâm tài chính và thương mại Chính sách này cũng đưa ra những nguy hại đối với việc ĐTH các khu vườn ven thành phố [1]

Ngay từ sau chiến tranh thế giới thứ nhất, Amsterdam đã bắt đầu tiến trình ĐTH và nhanh chóng trở thành một thành phố có tầm ảnh hưởng lớn đến kinh tế, chính trị của Hà Lan Tuy mật độ dân số hiện nay ở thành phố

có những nơi đạt trên 20.000 người/Km2

nhưng xung quanh thành phố vẫn tồn tại khoảng 600 khu vườn Diện tích vườn của Amsterdam chiếm đến

300 ha trong tổng số diện tích 21.907 ha của thành phố [10]

Những người nông dân ở thành phố Amsterdam đã thành lập tổ chức gọi là “hội những người nông dân đô thị” và “hiệp hội những người làm vườn ở Amsterdam” Các hiệp hội đại diện cho tầng lớp nông dân thương lượng với Chính phủ trong việc duy trì sự tồn tại của các khu vườn trong quá trình ĐTH Hiệp hội những người làm vườn đã đưa ra lý luận về sự đa chức ngành của các khu vườn Các khu vườn được sử dụng để sản xuất lương thực, thực phẩm đáp ứng nhu cầu của toàn thành phố, đồng thời còn thực hiện nhiều chức năng khác nhau để bình đẳng hoá các nhóm lợi ích như: cung cấp cho thị dân một không gian mới, giáo dục cho trẻ em về

Trang 38

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

thiên nhiên và môi trường; làm gia tăng số lượng loài động vật, côn trùng

và cây cỏ; duy trì “không gian xanh” cho thành phố, làm trong sạch khí hậu thành phố Vào năm 1995, khoảng 170 nông dân đã tổ chức “Diễn đàn đối thoại của nông dân vùng đất xám” Họ đã đưa ra những phân tích của mình

về triển vọng kinh tế dài hạn của vùng đất này nếu tiếp tục sản xuất nông nghiệp và thay đổi phương pháp sử dụng đất Họ đã đối thoại trực tiếp với Chính phủ và các tổ chức môi trường nhằm giữ vững và phát triển sản xuất

nông nghiệp

* Trung Quốc

Trung Quốc là nước có tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh và mạnh Nếu vào năm 1949, Trung Quốc có 136 thành phố với số dân khoảng 54 triệu người, chiếm khoảng 10,6% dân số cả nước thì đến năm 2005, dân số

đô thị nước này đã đạt tới 600 triệu người sống ở trên 700 thành phố, tỷ lệ bằng 37% Có những dự đoán cho rằng đến năm 2050, tỷ lệ ĐTH sẽ đạt 75% Tính trung bình mỗi năm có 12 triệu người sống ở nông thôn vào sống ở

đô thị [1]

Như vậy là một lượng lớn nhân công đã di chuyển khỏi vòng nông thôn lạc hậu và hiệu quả kém sang thành phố - nơi có trình độ tiên tiến hơn, năng suất cao hơn, hiệu quả cao hơn Không những bản thân người lao động có mức sống khá hơn mà gia đình họ cũng đỡ gặp khó khăn trong sản xuất nông nghiệp, có thể trang trải các khoản ăn mặc, học hành, thiết bị sản xuất, tình trạng đói nghèo ở nông thôn được giảm bớt Tuy nhiên, mặt trái của vấn đề di chuyển nhân công từ nông thôn ra thành phố là rất rõ rệt, trở thành mâu thuẫn chủ yếu của quá trình ĐTH ở Trung Quốc Nhiều hậu quả kinh tế - xã hội nghiêm trọng đang thách đố các giải pháp và khả năng quản

lý của nhà nước như thiếu nhà ở cho ngườ nghèo, sự phân hoá xã hội, việc sinh đẻ không thể kiểm soát, trật tự trị an kém, môi trường ô nhiễm kết cấu

hạ tầng thiếu thốn,…

Trang 39

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Mặt khác, trước đây Trung Quốc đã có một thời kỳ công nghiệp hương trấn phân bố quá phân tán, xây dựng các thành phố nhỏ và thị trấn một cách bừa bãi, thiếu quy hoạch làm lãng phí nguồn lực của nông thôn, gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng và làm mất đi đặc điểm, ưu thế của nông thôn

Để đối phó với tình hình trên, nhà nước Trung Quốc đã coi trọng tiếp tục giữ cững nguyên tắc phát triển hài hoà, tiên tiến, tránh tình trạng mở rộng ào ạt các đô thị lớn, làn sóng nhân công lưu động tràn vào thành phố quá lớn, làm xáo trộn hoạt động kinh tế Tư tưởng chiến lược ĐTH của Trung Quốc nay là: khai thác tiềm lực các thành phố lớn, mở rộng và xây dựng các thành phố loại vừa, phát triển có lựa chọn và thích hợp các thành phố nhỏ và thị trấn [1]

Đối với quá trình ĐTH nông thôn, Trung Quốc chủ trương tiếp tục xây dựng xí nghiệp hương trấn theo hướng khắc phục dần tình trạng thô sơ phân tán trong phân công lao động giữa công nghiệp và nông nghiệp, thực hiện khẩu hiệu “ly điền bất ly hương”, “ly hương bất ly điền”, dần dần tiến tới phân công lao động theo chiều sâu [1] Nhà nước cũng chủ trương phải

có chính sách giảm bớt bạn đồng hành của việc phát triển các đô thị nhỏ,

đó là sự tụt hậu về văn hoá giáo dục, trình độ quản lý, ô nhiễm môi trường, lấn chiếm nhiều đất canh tác

Tóm lại, kinh nghiệm ở một số nước cho thấy ĐTH không được bó hẹp trong phạm vi đô thị mà phải bao gồm cả địa bàn nông thôn Chúng ta còn phải phát triển mạng lưới đô thị hợp lý, xây dựng các đô thị có quy mô vừa phải, gắn kết với hệ thống đô thị vệ tinh Ngay từ bây giờ, chúng ta phải gắn ĐTH với quá trình CNH - HĐH đất nước Khi làm quy hoạch phát triển một thành phố cụ thể cần có kế hoạch xây dựng đồng bộ về nhà ở, kết cấu hạ tầng, hệ thống dịch vụ, hệ thống xử lý nước thải…

Trang 40

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

1.3.3 Tình hình đô thị hóa ở Việt Nam

* Thời kỳ từ năm 1975 đến trước đổi mới

Trong giai đoạn này, quá trình ĐTH hầu như không có biến động, phản ánh nền kinh tế còn trì trệ

* Thời kỳ từ sau đổi mới

Dưới tác động của công cụ đổi mới, cải tổ nền kinh tế theo định hướng thị trường thì cơ cấu kinh tế, cơ cấu xã hội, cơ cấu lao động, nghề nghiệp cũng như khuôn mẫu của đời sống đô thị đã và đang diễn ra những biến đổi quan trọng

Quá trình ĐTH đã có những chuyển biến nhanh hơn, đặc biệt trong những năm gần đây tình hình CNH đang diễn ra mạnh mẽ Tốc độ ĐTH ở Việt Nam đang diễn ra khá nhanh: 18,5% (năm 1989), 20,5% (năm 1997), 23,65% (năm 1999) và 25% (năm 2004) [8] Về số lượng đô thị, năm 1990,

cả nước mới có khoảng 500 đô thị lớn nhỏ, đến năm 2000 đã có 703 đô thị, trong đó: 2 đô thị có quy mô dân số trên 3 triệu người, 15 đô thị quy mô dân số từ 25 vạn đến 3 triệu người, 74 đô thị có quy mô dân số từ 5 vạn đến

25 vạn người và các đô thị còn lại có quy mô dân số dưới 5 vạn người [3] Tuy vậy ĐTH ở Việt Nam còn ở mức thấp so với khu vực và trên thế giới ĐTH cũng làm nảy sinh nhữnh mặt tiêu cực sau:

- Việc mở rộng không gian đô thị đang có nguy cơ làm giảm diện tích đất nông nghiệp Theo Hội Nông dân Việt Nam, trong quá trình xây dựng các khu công nghiệp, khu đô thị, CSHT, mỗi năm Việt Nam có gần

200 nghìn ha đất nông nghiệp bị chuyển đổi mục đích sử dụng, tương ứng mỗi hộ có khoảng 1,5 lao động mất việc làm [3]

- Dân số đô thị tăng nhanh đã làm hệ thống hạ tầng kỹ thuật đô thị bị quá tải, đặc biệt là tình trạng yếu kém của hệ thống cấp nước, thoát nước, thu gom và xử lý chất thải rắn…

Ngày đăng: 18/11/2014, 22:37

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bassand, Michel (chủ biên) (2001), Đô thị hóa, khủng hoảng sinh thái và phát triển bền vững, Nxb Trẻ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đô thị hóa, khủng hoảng sinh thái và "phát triển bền vững
Tác giả: Bassand, Michel (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Trẻ
Năm: 2001
2. Đỗ Trọng Bá (1994), Vấn đề sở hữu trong thời kỳ quá độ ở Việt Nam, Luận án phó tiến sĩ kinh tế, Viện C.Mác – Lênin – Hồ Chí Minh, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề sở hữu trong thời kỳ quá độ ở Việt Nam
Tác giả: Đỗ Trọng Bá
Năm: 1994
3. Bộ Xây dựng (1995), Đô thị Việt Nam tập 1, Nxb Xây dựng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đô thị Việt Nam tập 1
Tác giả: Bộ Xây dựng
Nhà XB: Nxb Xây dựng
Năm: 1995
4. Bộ Xây dựng (1999), Định hướng phát triển cấp nước đô thị đến năm 2020, Nxb Xây dựng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Định hướng phát triển cấp nước đô thị đến năm 2020
Tác giả: Bộ Xây dựng
Nhà XB: Nxb Xây dựng
Năm: 1999
5. Chi cục Thống kê thị xã Sông Công (2010), Báo cáo phục vụ xây dựng Văn kiện Đại hội Đảng bộ thị xã Sông Công lần thứ V (nhiệm kỳ 2011-2015), Sông Công Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo phục vụ xây dựng Văn "kiện Đại hội Đảng bộ thị xã Sông Công lần thứ V (nhiệm kỳ 2011-2015)
Tác giả: Chi cục Thống kê thị xã Sông Công
Năm: 2010
6. Chi cục Thống kê thị xã Sông Công, Niên giám thống kê thị xã Sông Công năm 2012, Sông Công Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê thị xã Sông Công "năm 2012
7. Phạm Ngọc Côn (1999), Kinh tế học đô thị, Nxb Khoa học – Kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế học đô thị
Tác giả: Phạm Ngọc Côn
Nhà XB: Nxb Khoa học – Kỹ thuật
Năm: 1999
8. Nguyễn Đình Cự (1997), Giáo trình dân số và phát triển, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Giáo trình dân số và phát triển
Tác giả: Nguyễn Đình Cự
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1997
9. Đỗ Thị Lan (2009), Ảnh hưởng của đô thị hoá đến biến động hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp và kinh tế hộ nông dân mất đất nông nghiệp trên địa bàn thành phố Thái Nguyên, Nxb Đại học Thái Nguyên, Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ảnh hưởng của đô thị hoá đến biến động hiện trạng sử "dụng đất nông nghiệp và kinh tế hộ nông dân mất đất nông nghiệp trên địa "bàn thành phố Thái Nguyên
Tác giả: Đỗ Thị Lan
Nhà XB: Nxb Đại học Thái Nguyên
Năm: 2009
10. Trịnh Duy Luân (1996), Tìm hiểu môn xã hội học đô thị, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu môn xã hội học đô thị
Tác giả: Trịnh Duy Luân
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 1996
11. Luật Đất đai, Quốc hội ban hành ngày 10 tháng 12 năm 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Đất đai
12. Luật Quy hoạch đô thị, Quốc hội ban hành ngày 17 tháng 06 năm 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Quy hoạch đô thị
13. Nghị định số 72/2001/NĐ-CP về phân loại đô thị và cấp quản lý đô thị, Chính phủ ban hành ngày 05 tháng 10 năm 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 72/2001/NĐ-CP về phân loại đô thị và cấp quản lý đô thị
14. Nghị định số 188/2004/NĐ-CP về phương pháp xác định giá đất và khung giá các loại đất, Chính phủ ban hành ngày 16 tháng 11 năm 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 188/2004/NĐ-CP về phương pháp xác định giá đất và khung "giá các loại đất
15. Nghị định số 197/2004/NĐ-CP về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất, Chính phủ ban hành ngày 03 tháng 12 năm 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 197/2004/NĐ-CP về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà "nước thu hồi đất
16. Nghị định số 08/2005/NĐ-CP về quy hoạch xây dựng, Chính phủ ban hành ngày 24 tháng 01 năm 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 08/2005/NĐ-CP về quy hoạch xây dựng
17. Nghị quyết Đại hội Đại biểu Đảng bộ thị xã Sông Công lần thứ V nhiệm kỳ 2010 – 2015, Thị ủy Sông Công ban hành ngày 11 tháng 08 năm 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết Đại hội Đại biểu Đảng bộ thị xã Sông Công lần thứ V nhiệm kỳ "2010 – 2015
18. Phòng TN&MT thị xã Sông Công (2006), Báo cáo công tác quản lý Tài nguyên và Môi trường năm 2008, Sông Công Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo công tác quản lý Tài "nguyên và Môi trường năm 2008
Tác giả: Phòng TN&MT thị xã Sông Công
Năm: 2006
19. Phòng TN&MT thị xã Sông Công (2007), Báo cáo công tác quản lý Tài nguyên và Môi trường năm 2009, Sông Công Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo công tác quản lý Tài "nguyên và Môi trường năm 2009
Tác giả: Phòng TN&MT thị xã Sông Công
Năm: 2007
20. Phòng TN&MT thị xã Sông Công (2008), Báo cáo công tác quản lý Tài nguyên và Môi trường năm 2010, Sông Công Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo công tác quản lý Tài "nguyên và Môi trường năm 2010
Tác giả: Phòng TN&MT thị xã Sông Công
Năm: 2008

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1: Tỷ lệ dân số đô thị các khu vực trên thế giới theo các giai đoạn  Đơn vị tính: % - Đánh giá ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa đến sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn thị xã Sông Công giai đoạn 2008 đến 2012
Bảng 1.1 Tỷ lệ dân số đô thị các khu vực trên thế giới theo các giai đoạn Đơn vị tính: % (Trang 36)
Bảng 3.1: Số liệu tổng hợp thổ nhưỡng thị xã Sông Công - Đánh giá ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa đến sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn thị xã Sông Công giai đoạn 2008 đến 2012
Bảng 3.1 Số liệu tổng hợp thổ nhưỡng thị xã Sông Công (Trang 51)
Bảng 3.2: Dân số trung bình phân theo giới tính và phân theo thành thị  và nông thôn - Đánh giá ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa đến sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn thị xã Sông Công giai đoạn 2008 đến 2012
Bảng 3.2 Dân số trung bình phân theo giới tính và phân theo thành thị và nông thôn (Trang 54)
Hình 3.1: Biểu đồ cơ cấu kinh tế - Đánh giá ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa đến sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn thị xã Sông Công giai đoạn 2008 đến 2012
Hình 3.1 Biểu đồ cơ cấu kinh tế (Trang 58)
Bảng 3.3: Sự biến động mục đích sử dụng đất giai đoạn 2008 -2012 - Đánh giá ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa đến sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn thị xã Sông Công giai đoạn 2008 đến 2012
Bảng 3.3 Sự biến động mục đích sử dụng đất giai đoạn 2008 -2012 (Trang 62)
Bảng 3.4: Kết quả thu hồi đất ở thị xã Sông Công giai đoạn 2008 -2012 - Đánh giá ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa đến sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn thị xã Sông Công giai đoạn 2008 đến 2012
Bảng 3.4 Kết quả thu hồi đất ở thị xã Sông Công giai đoạn 2008 -2012 (Trang 64)
Bảng 3.5: Kết quả chuyển mục đích sử dụng đất nông nghiệp sang  đất phi nông nghiệp 2011-2012 - Đánh giá ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa đến sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn thị xã Sông Công giai đoạn 2008 đến 2012
Bảng 3.5 Kết quả chuyển mục đích sử dụng đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp 2011-2012 (Trang 65)
Hình 3.2: Tình hình biến động một số loại đất từ năm 2008 đến năm  2012 tại thị xã Sông Công - Đánh giá ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa đến sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn thị xã Sông Công giai đoạn 2008 đến 2012
Hình 3.2 Tình hình biến động một số loại đất từ năm 2008 đến năm 2012 tại thị xã Sông Công (Trang 66)
Bảng 3.6: Tình hình biến động đất đai của thị xã Sông Công  từ năm 2008 đến năm 2012 - Đánh giá ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa đến sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn thị xã Sông Công giai đoạn 2008 đến 2012
Bảng 3.6 Tình hình biến động đất đai của thị xã Sông Công từ năm 2008 đến năm 2012 (Trang 67)
Bảng 3.8: Tình hình biến động đất đai của hộ trước và sau khi thu hồi - Đánh giá ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa đến sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn thị xã Sông Công giai đoạn 2008 đến 2012
Bảng 3.8 Tình hình biến động đất đai của hộ trước và sau khi thu hồi (Trang 70)
Bảng 3.9: Tình hình sử dụng nguồn tiền bồi thường đất đai của hộ - Đánh giá ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa đến sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn thị xã Sông Công giai đoạn 2008 đến 2012
Bảng 3.9 Tình hình sử dụng nguồn tiền bồi thường đất đai của hộ (Trang 71)
Bảng 3.10: Tình hình nghề nghiệp của hộ trong quá trình đô thị hóa - Đánh giá ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa đến sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn thị xã Sông Công giai đoạn 2008 đến 2012
Bảng 3.10 Tình hình nghề nghiệp của hộ trong quá trình đô thị hóa (Trang 72)
Bảng 3.11: Ý kiến của các hộ điều tra về mức độ tác động của đô thị hóa - Đánh giá ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa đến sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn thị xã Sông Công giai đoạn 2008 đến 2012
Bảng 3.11 Ý kiến của các hộ điều tra về mức độ tác động của đô thị hóa (Trang 74)
Bảng 3.14: Một số chỉ tiêu dự báo tổng hợp về thành thị - Đánh giá ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa đến sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn thị xã Sông Công giai đoạn 2008 đến 2012
Bảng 3.14 Một số chỉ tiêu dự báo tổng hợp về thành thị (Trang 81)
Bảng 3.15: Một số chỉ tiêu dự báo tổng hợp về nông thôn - Đánh giá ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa đến sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn thị xã Sông Công giai đoạn 2008 đến 2012
Bảng 3.15 Một số chỉ tiêu dự báo tổng hợp về nông thôn (Trang 83)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w