Ngay khi thị trường mở phát triển, các quốc gia đã luôn mong có một nền kinh tế hoàn hảo, khiến cho các nhà hoạch định chính sách kinh tế luôn muốn đạt được cả ba mục tiêu: dòng vốn tự d
Trang 1MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 2
I LÝ THUYẾT VỀ BỘ BA BẤT KHẢ THI 3
i Khái niệm bộ ba bất khả thi 3
ii Giải thích rõ hơn về ba mục tiêu của bộ ba bất khả thi 5
iii Tại sao lại có bộ ba bất khả thi? 5
II SỰ ĐIỀU HÀNH BỘ BA BẤT KHẢ THI CỦA CÁC NỀN KINH TẾ TIÊU BIỂU TRÊN THẾ GIỚI 6
1 Nước Mỹ 6
ii Trung Quốc 7
iii Một số quốc gia thuộc Liên minh châu Âu (EU) 9
III VIỆT NAM VỚI BỘ BA BẤT KHẢ THI 10
1 Nền kinh tế Việt Nam giai đoạn 1990 đến năm 2008 10
ii Nền kinh tế Việt Nam từ năm 2009 đến nay 12
iii Bộ ba bất khả thi với lạm phát mục tiêu là đích đến 14
KẾT LUẬN 17
TÀI LIỆU THAM KHẢO 18
Trang 2LỜI MỞ ĐẦU
Môi trường quốc tế luôn tạo ra rất nhiều cơ hội cho bất kì một quốc gia nào Theo đó, sự xuất hiện và tồn tại của các quan hệ, các chính sách tài chính quốc tế là một tất yếu của phạm trù tài chính gắn liền với sự phát sinh phát triển của các hoạt động kinh tế chính trị của một nước
Ngay khi thị trường mở phát triển, các quốc gia đã luôn mong có một nền kinh tế hoàn hảo, khiến cho các nhà hoạch định chính sách kinh tế luôn muốn đạt được cả ba mục tiêu: dòng vốn tự do ra vào nền kinh tế, sử dụng chính sách tiền tệ để ổn định nền kinh tế và duy trì tỉ giá ổn định Tuy nhiên, không một quốc gia nào, kể cả những nước phát triển như Mỹ, Trung Quốc, Hàn Quốc,… lại có thể đạt được cả ba mục tiêu trên Vì vậy, một lý thuyết đã trở thành nền tảng cho nền kinh tế học vĩ mô của nền kinh tế mở đã được phát hiện ra bởi hai nhà kinh tế học Robert Mundell và Marcus Fleming vào những năm 1960 và giải thích sự thất bại
trong chính sách tài chính quốc tế được gọi “bộ ba bất khả thi” (impossible trinity).
Hiện nay, dựa vào lý thuyết bộ ba bất khả thi này, chính phủ các nước trên thế giới đã có những triết lý khá rõ ràng trong việc lựa chọn các mục tiêu chính sách của bộ ba bất khả thi như từng bước mở cửa tài chính nhưng không quên kiểm soát vốn, linh hoạt thay vì cố định tỷ giá và sử dụng công cụ chính sách tiền tệ bơm thắt nhịp nhàng làm đầy kho dự trữ ngoại hối của mình hay chưa? Còn Việt Nam điều hành như thế nào?
Chính vì vậy, chúng em đã chọn nghiên cứu đề tài: “lý thuyết bộ ba bất khả thi và sự điều hành bộ ba bất khả thi ở Việt Nam”.
Trong phạm vi cho phép của bài viết và do hiểu biết còn hạn chế nên bài viết này khó tránh khỏi những sai sót Vì vậy, chúng em rất mong nhận được sự
chỉ dẫn, sự giúp đỡ của Ths Hoàng Xuân Bình để chúng em có được những
nhận thức đúng đắn hơn
Chúng em xin chân thành cảm ơn!
Trang 3I LÝ THUYẾT VỀ BỘ BA BẤT KHẢ THI
i Khái niệm bộ ba bất khả thi
Lý thuyết về bộ ba bất khả thi – The Impossible Trinity (hay còn được biết đến với một số tên gọi khác như Inconsistent Trinity, Triangle of Impossibility hoặc Unholy Trinity) là lý thuyết của một mô hình kinh tế học rất nổi tiếng: mô hình Mundell – Fleming do hai nhà kinh tế học Robert Mundell (1932) và Marcus Fleming (1911 – 1976) xây dựng và phát triển trong những năm 1960 Đến những năm 1980, khi nhiều quốc gia trên thế giới thất bại trong việc kiểm soát dòng vốn, đồng thời mâu thuẫn giữa việc neo giữ tỷ giá và chính sách tiền tệ độc lập ngày càng trở nên rõ ràng; thì mô hình này cùng với lý thuyết về bộ ba bất khả thi đã thực sự bước chân vào thực tiễn và trở thành nền tảng cho kinh tế học vĩ mô của nền kinh tế mở
Lý thuyết về bộ ba bất khả thi là một chính sách kinh tế quốc tế, lý thuyết này phát biểu rằng: Một quốc gia không thể đồng thời thực hiện cùng một lúc 03 mục tiêu sau trong chính sách kinh tế vĩ mô:
Ổn định tỷ giá
Tự do hóa dòng vốn (không có sự kiểm soát vốn) Chính sách tiền tệ độc lập
“Bạn không thể có đồng thời tất cả: một quốc gia chỉ có thể chọn tối đa 2 trong 3 Nó có thể chọn một chính sách ổn định tỷ giá nhưng phải hi sinh tự do hóa dòng vốn tức là tiếp tục kiếm soát vốn (giống như Trung Quốc ngày nay),
nó có thể chọn một chính sách tự do hóa dòng vốn nhưng vẫn tự chủ về tiền tệ, song phải để tỷ giá thả nổi (giống như Anh hoặc Canada), hoặc nó có thể chọn kiểm soát vốn và ổn định chính sách tiền tệ , nhưng phải thả nổi lãi suất để chống lạm phát hoặc suy thoái (giống như Achentina hoặc hầu hết Châu Âu)” –
trích lời đề tặng Robert Mundell - Paul Krugman, 1999
Trang 4Một kiểu khác của lý thuyết bộ ba bất khả thi cũng rất được chú ý: với một chính sách ổn định tỷ giá hoàn hảo và một tài khoản vốn mở (không bị kiểm soát) hoàn hảo, nhưng một quốc gia vẫn hoàn toàn không thể tự chủ chính sách tiền tệ Những ví dụ lặp lại trên thế giới cho thấy ở những nơi và thời điểm mà tài khoản vốn bắt đầu được tự do, thì cùng lúc xuất hiện một chính sách tỷ giá cứng nhắc hơn và sự tự chủ về chính sách tiền tệ cũng giảm đi
Song song với sự phát triển thương mại và dịch vụ trong thế giới hiện đại, việc kiểm soát vốn rất dễ bị lãng quên Hơn nữa, vấn đề kiểm soát vốn còn thể hiện không đúng thực tế những thay đổi của quốc gia Do vậy rất khó để một quốc gia có được hệ thống kiểm soát vốn thật sự hiệu quả Lý thuyết bộ ba bất
khả thi khẳng định rằng: trong điều kiện ngày nay, một quốc gia phải lựa chọn giữa việc giảm thiểu sự thay đổi tỷ giá hoặc điều hành một chính sách tiền tệ độc lập ổn định Nó không thể đồng thời có cả hai Thực tế đã cho thấy, chính
việc cố gắng theo đuổi bộ ba bất khả thi này là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến cuộc khủng hoảng Đông Á năm 1977
Trang 5ii Giải thích rõ hơn về ba mục tiêu của bộ ba bất khả thi
Trong chính sách tài chính quốc tế, bộ ba bất khả thi bắt nguồn từ thực tế
là các nhà hoạch định chính sách kinh tế của các quốc gia trên thế giới luôn luôn muốn đạt được cùng lúc cả 3 mục tiêu:
Duy trì tỷ giá ổn định: Tỷ giá linh hoạt, thả nổi có thể khiến nền
kinh tế biến động lớn bởi các hoạt động đầu cơ Hơn nữa, tỷ giá cố định giúp các
hộ gia đình và doanh nghiệp tham gia vào nền kinh tế thế giới và lập kế hoạch tương lai dễ dàng hơn
Sử dụng chính sách tiền tệ độc lập để ổn định nền kinh tế: Ngân
hàng trung ương có thể tăng cung tiền và giảm lãi suất khi nền kinh tế suy thoái
và giảm tăng trưởng tiền tệ, tăng lãi suất khi nền kinh tế quá nóng
Dòng vốn tự do ra vào nền kinh tế: Việc này cho phép công dân
của nước đó đa dạng hóa tài sản bằng cách đầu tư ra nước ngoài Nó cũng khuyến khích các nhà đầu tư nước ngoài đem theo các nguồn lực, kinh nghiệm, chuyên môn để đầu tư vào nước đó
Tuy nhiên, việc cùng lúc đạt được cả 3 mục tiêu trên là bất khả thi Nếu nhà hoạch định chính sách kinh tế của một quốc gia chọn 2 mục tiêu thì sẽ buộc phải từ bỏ mục tiêu còn lại
iii Tại sao lại có bộ ba bất khả thi?
Trong nền kinh tế mở cửa với thế giới bên ngoài, ba yếu tố gồm: dòng vốn chảy vào và chảy ra, tỷ giá hối đoái và lạm phát luôn có mối liên hệ mật thiết với nhau
Khi dòng vốn ra – vào (tài khoản vốn) được tự do, tức là không hề có sự
kiểm soát nào đối với sự lưu chuyển dòng vốn từ trong nước ra nước ngoài cũng
như từ nước ngoài vào trong nước, nếu muốn giữ tỷ giá hối đoái ổn định thì
NHTW buộc phải tung đồng nội tệ để mua đồng ngoại tệ trong trường hợp dòng
Trang 6tiền đi vào quá nhiều và ngược lại, một lượng ngoại tệ dự trữ sẽ phải bán bớt ra
để thu về đồng nội tệ khi dòng vốn đảo chiều
Trong bối cảnh như vậy, tính độc lập của chính sách tiền tệ, hay nói cách
khác, việc điều hành chính sách tiền tệ vì mục tiêu lạm phát sẽ không thể đảm
bảo được vì cung tiền không phải dựa vào diễn biến giá cả trong nền kinh tế mà
là do tỷ giá hay dòng tiền ra – vào quyết định Ngược lại, nếu NHTW muốn điều hành chính sách tiền tệ độc lập vì mục tiêu lạm phát thì sẽ buộc phải từ bỏ mục tiêu cố định tỷ giá khi tài khoản vốn đã được tự do
II SỰ ĐIỀU HÀNH BỘ BA BẤT KHẢ THI CỦA CÁC NỀN KINH TẾ TIÊU BIỂU TRÊN THẾ GIỚI
Theo như lý thuyết đã xây dựng ở phần I, việc theo đuổi cả ba mục tiêu của chính sách kinh tế vĩ mô là điều không thể Vì vậy trên thực tế, các quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới trong quá trình hoạch định chính sách kinh tế đã bắt buộc phải từ bỏ một trong ba mục tiêu trên để lựa chọn một con đường phát triển phù hợp nhất cho mình Để làm rõ sự khác biệt trong những sự lựa chọn này, chúng tôi sẽ phân tích về chọn lựa của Mỹ, Trung Quốc và phần lớn các quốc gia trong liên minh EU trong bộ ba bất khả thi này
1 Nước Mỹ
Không thể phủ nhận rằng, Mỹ là một nền kinh tế lớn, với chính quyền trung ương mạnh có khả năng tái phân bổ nguồn lực giữa các khu vực khi cần, một ngôn ngữ chung và truyền thống chung, tạo điều kiện thuận lợi cho phép người lao động di chuyển tự do giữa các khu vực Nước Mỹ, giống với Anh và Canada, đã chọn chính sách tự do hóa dòng vốn, đồng thời sử dụng chính sách tiền tệ để ổn định nền kinh tế và chấp nhận thả nổi đồng tiền của mình, đồng dollar Trên thực tế, việc nước Mỹ theo đuổi chính sách tỷ giá thả nổi cũng mới chỉ diễn ra gần đây Trong lịch sử, từ sau Chiến tranh Thế giới thứ hai đã từng tồn tại hệ thống Bretton Woods cho phép Tây Âu và Nhật Bản có được tỷ giá cố
Trang 7định so với dollar Mỹ cho đến tận những năm đầu của thập niên 70 Sau đó, hiệp ước Bretton Woods sụp đổ và các nền kinh tế hàng đầu: Nhật Bản, Đức và dĩ nhiên là Mỹ đã duy trì hệ thống thả nổi tỷ giá (Free Float) cho đến ngày nay
Chế độ tỷ giá thả nổi hay còn gọi là chế độ tỷ giá linh hoạt là một chế độ trong đó giá trị của một đồng tiền được phép dao động trên thị trường ngoại hối Đồng tiền sử dụng chế độ tỷ giá thả nổi được gọi là một đồng tiền thả nổi Tỷ giá thả nổi là một lựa chọn chế độ tỷ giá hoàn toàn trái ngược so với tỷ giá hối đoái
cố định Và việc quốc gia phát triển từ bỏ chính sách theo đuổi tỷ giá cố định cũng có lý do của nó Mặc dù việc thực hiện chế độ tỷ giá hối đoái thả nổi sẽ hạn chế khả năng của chính phủ trong vận hành một chính sách tiền tệ nội địa độc lập nhằm duy trì ổn định kinh tế trong nước, nhưng nhìn chung, các nhà kinh tế đều cho rằng, trong phần lớn trường hợp, chế độ tỷ giá thả nổi tốt hơn chế độ tỷ giá cố định bởi vì tỷ giá thả nổi nhạy với thị trường ngoại hối Điều này cho phép làm dịu tác động của các cú sốc và chu kỳ kinh doanh nước ngoài
Với chính sách của đất nước mình, mọi người Mỹ đều có thể dễ dàng đầu
tư ra nước ngoài Đơn giản nhất là gửi tiền cho 1 quỹ đầu tư tương hỗ quốc tế và người nước ngoài có thể dễ dàng mua chứng khoán, trái phiếu tại Mỹ Mặt khác, Cục dự trữ liên bang FED cũng sử dụng chính sách tiền tệ để góp phần tạo việc làm và ổn định giá cả Tuy nhiên, trên thực tế, song song với tỷ giá thả nổi là những bất ổn không nhỏ trên trị trường ngoại hối cũng như của cả nền kinh tế như: gánh nặng nợ nần, những nguy cơ đè nặng của các tái sản bong bóng…
ii Trung Quốc
Trái ngược với Mỹ, Trung Quốc lại có một cách lựa chọn khác: Ngân hàng trung ương nước này thực hiện chính sách tiền tệ và duy trì kiểm soát chặt chẽ đối với giá trị trao đổi của đồng nhân dân tệ Nhưng để hoàn thành hai mục tiêu này, Trung Quốc phải hạn chế dòng vốn quốc tế, bao gồm cả việc hạn chế công dân Trung Quốc chuyển tài sản ra nước ngoài Nếu không có những hạn
Trang 8chế đó, tiền sẽ chu chuyển ra và vào đất nước, khiến lãi suất trong nước bằng với mức lãi suất do các ngân hàng trung ương nước ngoài thiết lập
Trung Quốc đã minh chứng cho tính đúng đắn của sự lựa chọn này một cách đầy thuyết phục: Trong hơn 20 năm trở lại đây, Trung Quốc luôn duy trì được tốc độ tăng trưởng GDP cao (khoảng 10%/năm), vượt qua Nhật Bản để trở thành nền kinh tế đứng thứ hai thế giới sau Mỹ và thậm chí theo thẩm định của Ngân hàng Thế giới (WB) và nhiều định chế tài chính quốc tế khác, từ đây đến năm 2025, Trung Quốc có thể sẽ giành luôn cả vị trí cường quốc kinh tế số một của Mỹ Một phần nguyên nhân của sự tăng trưởng vượt bậc này là do có bàn tay chính phủ nắm chắc công cụ tiền tệ, kiểm soát các ngân hàng, nên có thể quản lý được lượng cung tiền trong xã hội, dẹp bỏ các nợ xấu sang một bên Do vậy, mặc dù trong bối cảnh nền kinh tế thế giới đang lâm vào tình trạng suy thoái, hạn chế đầu tư ở nhiều quốc gia thì ở đầu tư Trung Quốc vẫn không bị giảm sút
Tuy nhiên sự lựa chọn chính sách kinh tế vĩ mô như vậy không chỉ đem lại
sự tăng trưởng thần kì mà nó còn khiến cho đất nước này phải đối mặt với những nguy cơ không nhỏ: Nền kinh tế Trung Quốc ngày càng phát triển, người dân Trung Quốc đang trở nên giàu có hơn và đang lập những kỷ mới về gửi tiết kiệm, trong bối cảnh những tài sản tiết kiệm này không dễ dàng gì đầu tư ra nước ngoài được (do tài khoản vốn của Trung Quốc vẫn bị kiểm soát chặt) Bởi vậy, như là một hậu quả tất yếu, lượng vốn nội địa khổng lồ này đã biến thành các khoản đầu tư làm tăng năng lực sản xuất trong nước đến mức quá lớn so với cầu nội địa, gây ra tình trạng thặng dư trong cán cân thương mại, dẫn đến sự bùng phát của thị trường bất động sản – nguy cơ xảy ra bong bóng bất động sản Mặt khác, phần lớn nhất trong khối lượng dự trữ ngoại hối tăng lên là từ FDI chứ không phải từ thặng dư thương mại Do đó, đồng nhân dân tệ đã bị đặt dưới
áp lực tăng giá và quá trình này có tính tự duy trì, đặc biệt kể từ khi cơ chế cố định tỷ giá NDT/USD được chuyển sang cơ chế cho phép tăng giá đồng nhân
Trang 9dân tệ từ từ so với đồng đôla từ năm 2005 Mặc dù vậy, Ngân hàng nhà nước Trung Quốc vẫn tiếp tục can thiệp mạnh vào tỷ giá của đồng nhân dân tệ, tạo ra những phản ứng trái chiều trong quan hệ thương mại của Trung Quốc với các nước khác (điển hình là sự ma sát về thương mại với Mỹ)
iii Một số quốc gia thuộc Liên minh châu Âu (EU)
Sự xuất hiện của khu vực đồng tiền chung châu Âu là minh chứng rõ ràng nhất cho sự lựa chọn cuối cùng trong bộ ba bất khả thi này: Vì tất cả các quốc gia thành viên đều sử dụng đồng Euro cho nên quan hệ tỷ giá hối đoái giữa các quốc gia này là cực kì ổn định (có thể nói đây là hình thái cao nhất của chính sách cố định tỷ giá); cũng vì cùng sử dụng một đồng tiền, dòng vốn luân chuyển giữa các quốc gia thành viên hầu như không gặp bất cứ một trở ngại nào và để đạt được những mục tiêu trên, lẽ tất yếu, cái giá phải trả là: sự tồn tại của Ngân hàng Trung ương Châu Âu (ECB) đã làm cho các quốc gia này hoàn toàn không
có khả năng có được một chính sách tiển tệ độc lập Tổng kết lại, bộ ba bất khả thi xuất hiện trong các quốc gia thuộc EU là cố định tỷ giá, dòng vốn tự do và không có một chính sách tiền tệ độc lập
Áp dụng các chính sách vĩ mô như trên, Liên minh châu Âu đã phát triển
một thị trường chung thông qua hệ thống luật pháp tiêu chuẩn áp dụng cho tất cả các nước thành viên, đảm bảo sự lưu thông tự do của con người, hàng hóa, dịch
vụ và vốn Nguồn vốn cũng như nhân lực được tự do di chuyển đã tăng cường
sức mạnh về kinh tế chung cho toàn khu vực: Liên minh châu Âu chiếm 30%
(18,4 tỉ đô la Mỹ năm 2008) GDP danh nghĩa và khoảng 22% (15,2 tỉ đô la Mỹ năm 2008) GDP sức mua tương đương của thế giới
Tuy nhiên, mất đi một chính sách tiền tệ độc lập đồng nghĩa với việc các quốc gia thuộc khu vực đồng tiền chung châu Âu đã tự làm mất đi một tấm khiên bảo vệ vững chắc của nền kinh tế nước nhà trước những biến động của kinh tế thế giới Kết quả là một cuộc khủng hoảng nợ dây chuyền đã xảy ra, bắt nguồn tại Hy Lạp (11/2009) và sau đó không ngừng lan rộng ra các nước trong
Trang 10khu vực, bất chấp mọi nỗ lực dập tắt khủng hoảng của EU Khủng hoảng nợ xảy ra ở một loạt các quốc gia thuộc EU đã kéo theo sự sụt giảm giá trị của đồng Euro, đồng Euro đang bị giới đầu tư bán tháo để chuyển vốn sang thị trường vàng và đồng USD Thậm chí, giới đầu tư còn lo ngại rằng, sức nặng của những khoản thâm hụt ngân sách lớn có thể buộc một số quốc gia yếu trong Eurozone
cơ cấu lại nợ, làm số trái phiếu mà họ đang nắm giữ mất đi phần lớn giá trị Nếu xảy ra, điều đó sẽ là một đòn giáng nặng vào các định chế tài chính ở châu Âu,
và có thể tạo ra những đợt “sóng thần” tấn công toàn bộ hệ thống tài chính thế giới
III VIỆT NAM VỚI BỘ BA BẤT KHẢ THI
Qua các phần trên, chúng ta đã thấy được rõ mỗi quốc gia lại có các chính
sách khác nhau để điều hành nền kinh tế của mình dưới tác động của Bộ ba bất khả thi Với Việt Nam, trước những đặc thù về kiện kinh tế trong nước và sự tác
động của thị trường Quốc tế trên con đường hội nhập, chính phủ cũng đã có những chính sách, những sự lựa chọn riêng cho mình
1 Nền kinh tế Việt Nam giai đoạn 1990 đến năm 2008
Diễn biến thị trường tiền tệ từ những năm 1990 trở lại đây cho thấy, vào những thời điểm tỷ giá biến động, thị trường tiền tệ có sự dịch chuyển vốn từ tiền gửi VND sang tiền gửi ngoại tệ Năm 1997, nền kinh tế bị tác động bởi khủng khoảng tài chính của khu vực Đông Á, khi đó Việt Nam buộc phải phá giá VND để hạn chế những tác động tiêu cực của cuộc khủng hoảng đến nền kinh tế Việt Nam Đồng thời, để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, lãi suất VND có
xu hướng giảm, cộng thêm lãi suất trên thị trường quốc tế có xu hướng tăng nên xảy ra hiện tượng chuyển dịch từ VND sang USD, tỷ lệ tiền gửi USD/tổng tiền gửi tăng từ mức 33% năm 1997 lên mức 36,6% năm 2000 và 41% năm 2001 Ngược lại, các khoản vay bằng ngoại tệ/trên tổng dư nợ lại có xu hướng giảm từ mức 31,3% năm 1997, xuống mức 25,4% năm 1998 và 21% năm 2001