1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC CHỦ NGHĨA DUY VẬT NHÂN BẢN PHOIƠBẮC VÀ VAI TRÒ CỦA NÓ ĐỐI VỚI SỰ RA ĐỜI CỦA TRIẾT HỌC MÁC

12 908 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 272,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC CHỦ NGHĨA DUY VẬT NHÂN BẢN PHOIƠBẮC VÀ VAI TRÒ CỦA NÓ ĐỐI VỚI SỰ RA ĐỜI CỦA TRIẾT HỌC MÁC Phoiơbắc nhà duy vật chủ nghĩa kiệt xuất thời kỳ trước Mác, đại biểu nổi tiếng của triết học cổ điển Đức, nhà tư tưởng của giai cấp tư sản chủ nghĩa Đức. Phoiơbắc đã có công lớn trong việc phê phán chủ nghĩa duy tâm của Hêghen cũng như chủ nghĩa duy tâm và tôn giáo nói chung, khôi phục vị trí xứng đáng của triết học duy vật.

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM VIỆN ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC

TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC

ĐỀ TÀI:

CHỦ NGHĨA DUY VẬT NHÂN BẢN PHOIƠBẮC VÀ VAI TRÒ CỦA NÓ ĐỐI VỚI SỰ RA ĐỜI CỦA TRIẾT HỌC MÁC

TP HCM, Tháng 12/2012

Gảng viên phụ trách: TS Bùi Văn Mưa Học viên thực hiện: Nguyễn Thị Kim Tuyến STT: 79

Nhóm: 08

Trang 2

PHẦN MỞ ĐẦU

Phoiơbắc nhà duy vật chủ nghĩa kiệt xuất thời kỳ trước Mác, đại biểu nổi tiếng của triết học cổ điển Đức, nhà tư tưởng của giai cấp tư sản chủ nghĩa Đức Phoiơbắc

đã có công lớn trong việc phê phán chủ nghĩa duy tâm của Hêghen cũng như chủ nghĩa duy tâm và tôn giáo nói chung, khôi phục vị trí xứng đáng của triết học duy vật

Phoiơbắc đã chứng minh thế giới là vật chất, giới tự nhiên tồn tại không phụ thuộc vào ý thức con người, là cơ sở sinh sống của con người, tồn tại vận động nhờ những cơ sở bên trong nó

Triết học của Phoiơbắc mang tính chất nhân bản Nó chống lại nhị nguyên luận

về sự tách rời giữa tinh thần và thể xác, ông coi ý thức tinh thần cũng là một thuộc tính đặc biệt của vật chất có tổ chức cao là óc người Từ đó cho phép khẳng định mối quan hệ khăng khít giữa tồn tại và tư duy Ông không chỉ chống lại chủ nghĩa duy tâm, mà với triết học nhân bản của mình ông còn đấu tranh chống những quan điểm duy vật tầm thường quy các hiện tượng tâm lý bình thường về các quá trình lý hóa Ngoài ra ông còn đấu tranh chống các quan niệm tôn giáo chính thống của đạo Thiên chúa, đặt biệt quan niệm về Thượng đế

Tuy nhiên, triết học của Phoiơbắc không tránh khỏi những hạn chế, thể hiện qua một số đặc điểm sau: không triệt để chủ nghĩa duy vật, kiên quyết duy vật trong

tự nhiên, chung chung nhân đạo và ảo tưởng trong tình yêu

Mặc dù còn những hạn chế, triết học của Phoiơbắc vẫn có ý nghĩa to lớn trong lịch sử triết học Mác và trở thành một trong những nguồn gốc lý luận quan trọng của triết học Mác

Bài viết được tìm hiểu chủ yếu dựa trên tác phẩm “L Phoiơbắc và sự cáo chung của triết học cổ điển Đức” của Ăngghen (1886-1888), ngoài ra còn có sự tham khảo từ các sách báo, trang báo mạng…

Trang 3

PHẦN NỘI DUNG

VẬT NHÂN BẢN PHOIƠBẮC

Ông quan niệm, vật chất có trước, ý thức có sau, tồn tại vô cùng đa dạng, phong phú và tự nó; không gian thời gian và vận động là thuộc tính cố hữu, là phương thức tồn tại của vật chất – giới tự nhiên; không gian và thời gian tồn tại khách quan, không có vật chất tồn tại vận động bên ngoài không gian và thời gian Ông thừa nhận sự tồn tại khách quan của các quy luật tự nhiên, của quan hệ nhân quả; thừa nhận sự vận động và phát triển của giới tự nhiên diễn ra một cách khách quan và tất cả điều đó dẫn đến sự vận động và phát triển của thế giới tự nhiên và cuối cùng là con người xuất hiện Con người muốn hiểu giới tự nhiên phải xuất phát từ chính bản thân mình, thông qua cảm giác và tư duy của chính mình

Con người là sản phẩm tất yếu cao nhất của giới tự nhiên, sống dựa vào giới tự nhiên chịu ảnh hưởng bởi tự nhiên Con người dựa vào giới tự nhiên để được thõa mọi nhu cầu cần thiết như ăn, mặc, ở, sinh đẻ, Còn những cái đó đã ảnh hưởng đến tâm tư, tình cảm, đam mê, khát vọng, suy nghĩ, hiểu biết của mỗi người, làm cho người này không giống người kia

Con người của Phoiơbắc vừa mang tính cá nhân vừa mang tính cộng đồng và

nó tiềm tàng một năng lực sáng tạo với bản chất là yêu:

+ Bản tính cá nhân: Phoiơbắc là nhà tư tưởng của giai cấp tư sản nên không thể không bàn về tính cá nhân Mỗi con người là một cá thể sinh học đặc biệt có lý trí, có ý chí, có trái tim… của riêng mình để nhận thức Với bản tính cá nhân, mỗi người họ đều tiềm tàng một năng lực sáng tạo kỳ vĩ, chứ không phải xuất phát từ Thượng đế

+ Bản tính cộng đồng: Con người được sống, ràng buộc với con người Mỗi

cá nhân này ràng buộc với cá nhân khác, hạnh phúc của cá nhân chỉ có được khi hòa hợp với cộng đồng

+ Bản tính vừa cá nhân vừa cộng đồng : Là cơ sở của tính ích kỷ hợp lý-thống nhất tính ích kỷ cá nhân với tính ích kỷ cộng đồng xã hội Tính ích kỷ hợp lý đòi hỏi các quyền lợi riêng tư của mỗi cá nhân con người phải phù hợp hài hòa với

Trang 4

quyền lợi chung của cộng đồng xã hội Ông cho rằng tình yêu giữa con người với nhau vừa là phương tiện, vừa là mục đích của sụ hòa hợp xã hội, và hơn thế nữa nó còn là động lực tiến bộ xã hội

Khi đứng vững trên quan điểm duy vật về khả năng con người nhận thức được

và nhận thức ngày càng đầy đủ thế giới, Phoiơbắc cho rằng, giới tự nhiên và con người chứ không phải lý tính logich trừu tượng hay Thượng đế là khách thể của nhận thức Chủ thể nhận thức cũng không phải là lý tính lôgích trừu tượng mà là con người sống động, tồn tại trong thức tế có cảm giác và lý trí Cảm tính trực quan là nguồn gốc của tư duy lý luận, còn tư duy lý luận xủ lý tài liệu cảm tính để khám phá

ra chân lý Chân lý là sự phù hợp giữa tư tưởng trong chủ thể đối với đối tượng được

tư tưởng – khách thể Nhờ vào năng lực của cảm giác và lý trí mà con người có khả năng nhận thức đầy đủ giới tự nhiên, nhưng đó là một quá trình lâu dài, thông qua các cá nhân và các thế hệ khác nhau Nếu một người không thể nhận thức được thế giới thì tất cả các thế hệ nối tiếp có thể nhận thức được thế giới khách quan vô tận

Phoiơbắc cho rằng, tôn giáo là sản phẩm tất yếu của tâm lý và nhận thức của con người Tôn giáo không đơn giản là những ảo tưởng phi lý, hoang đường mà còn

là những mơ ước, khát vọng đời thường của con người Tôn giáo chỉ là sự tha hóa bản chất của con người Còn Thượng đế chỉ là sự tập hợp những giá trị, mơ ước khát vọng mà con người muốn có Vì vậy, giá trị, ước mơ, khát vọng của con người như thế nào thì Thượng đế như thế ấy Thượng đế là nhân cách cá nhân được thần thánh hóa Ông cho rằng, không phải Thượng đế sinh ra con người mà chính con người đã sinh ra Thượng đế

Phoiơbắc cho rằng, tôn giáo và niềm tin vào Thượng đế đã chia cắt thế giới cùng con người thành thế giới trần tục và thế giới thiên đường, tôn giáo làm tha hóa con người để dễ dàng thống trị nó Tôn giáo không chỉ kiềm hãm mà còn tước đi con người tính năng động sáng tạo, sự tự do và năng lực độc lập phán xét Ông đòi hỏi phải lựa chọn: hoặc là tôn giáo - tín ngưỡng - thượng đế, hoặc là khoa học nhân bản – tình yêu – con người

Trang 5

Phoiơbắc phê phán mạnh mẽ tôn giáo, đặc biệt là Cơ đốc giáo Ông phê phán

mạnh mẽ tôn giáo; nhưng càng phê phán ông càng nhận thức được nếu thiếu tôn giáo thì con người sẽ khó sống, bởi con người cần có niềm tin để an ủi mình trước cuộc đời bất hạnh Vì vậy ông đã ra sức “xây dựng tôn giáo mới – tôn giáo tình yêu vĩnh cửu phổ quát giữa con người Trong tôn giáo đó, tình yêu vừa là cơ sở, vừa là cứu cánh của con người để con người thật sự sống đúng như bản tính của mình nhằm biến trần gian thành thiên đàng trên mặt đất”

Trang 6

CHƯƠNG 2: NHỮNG GIÁ TRỊ VÀ HẠN CHẾ CỦA CHỦ NGHĨA DUY

VẬT NHÂN BẢN CỦA PHOIƠBẮC

1.1 Khôi phục và phát triển chủ nghĩa duy vật thời kỳ cận đại.

Phoiơbắc đã khôi phục chủ nghĩa duy vật thế kỷ XVIII trong hoàn cảnh chủ nghĩa duy tâm thống trị đời sống tinh thần ở Phương Tây, và phát triển chủ nghĩa duy vật thêm một bước Ông đã trình bày sáng rõ nhiều quan điểm duy vật; ông biết đặt con người vào đúng tâm điểm phân tích triết học Tư tưởng duy vật của Phoiơbắc có ảnh hưởng lớn đến thế giới quan triết học Mác và Ăngghen lúc bấy giờ

Triết học Phoiơbắc là triết học nhân bản, vì thế vấn đề con người luôn được ông đề cao trong triết học của mình Triết học Phoiơbắc đầy quan điểm về đạo đức

thể hiện rõ nhân bản dành cho con người, vì con người

Phoiơbắc khẳng định con người là sự kết tinh toàn bộ giá trị người, mà những giá trị người đó được tích luỹ trong quá trình vươn đến tự do, và được thể hiện trong

tư tưởng của các vĩ nhân lý trí (triết gia) Bản chất con người là tổng thể những khát vọng, nhu cầu và cả khả năng tưởng tượng của anh ta

Phoiơbắc đề cao tính cá thể của con người, nhấn mạnh sự năng động và sáng tạo, lợi ích, nhu cầu của con người, thể hiện nguyện vọng của giai cấp tư sản tiến bộ muốn giải phóng con người khỏi mọi quan hệ phong kiến bảo thủ ở Đức

Triết học Phoiơbắc phê phán mạnh mẽ chủ nghĩa duy tâm và Cơ đốc giáo, đặc biệt là quan niệm về Thượng đế Ông chủ trương xóa bỏ sự tách rời giữa tinh thần và thể xác do triết học duy tâm và triết học nhị nguyên tạo ra Trái với các quan niệm tôn giáo và thần học cho rằng Thượng đế tạo ra con người, ông khẳng định chính con người tạo ra Thượng đế Phoiơbắc cho rằng, Hêghen đã thêu dệt nên cả một huyền thoại về lý trí, duy lý hoá niềm tin vào Thượng đế thậm chí xem lịch sử tôn giáo là lịch sử vận động của ý thức phản tỉnh Ngược lại, Phoiơbắc đưa bản chất tôn giáo về bản chất con người, loại Thượng đế ra khỏi đối tượng nghiên cứu của triết học, đưa hình ảnh đó về đúng vị trí của nó - thần học

Trang 7

2.1 Chủ nghĩa duy vật của Phoiơbắc còn mang nặng tính siêu hình.

Trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa duy tâm của Hêghen, Phoiơbắc đã không biết kế thừa hạt nhân hợp lý của triết học Hêghen là phép biện chứng

Phoiơbắc chưa khắc phục được hạn chế của duy vật siêu hình,coi vật chất như

là một cái gì thuần nhất Tuy thừa nhận vật chất vận động nhưng chưa lý giải được nguồn gốc, động lực, hình thức của vận động Trọng tâm phân tích của Phoiơbắc là làm sáng tỏ tính khách quan của tự nhiên, chứ không phải tính biến đổi, tính quy luật, tính tất yếu khách quan và tính lịch sử của nó

Xác định vấn đề con người giữ vị trí trung tâm của triết học, Phoiơbắc trở thành đại biểu tiêu biểu của chủ nghĩa duy vật nhân bản Đây là mặt tiến bộ so với các nhà triết học trước đây Tuy nhiên, ông đã không thấy được phương diện xã hội của con người Ông không coi trọng một thực tế là mỗi người tuy là cá thể nhưng lại sinh ra trong một hoàn cảnh xã hội nhất định, thuộc một giai cấp hay một tầng lớp xã hội, một dân tộc và một thời đại lịch sử nhất định Con người mà ông quan niệm là con người bị tách khỏi điều kiện kinh tế - xã hội và lịch sử Như vậy, ông hiểu con người một cách trừu tượng, phi lịch sử, không thấy được con người là sản phẩm của

xã hội, của lịch sử và càng không thấy được con người là chủ thể của hoạt động Trong quan niệm về nhận thức, Phoiơbắc cho rằng thực tiễn là hoạt động bản năng mang tính thấp hèn, do đó nó cần dược loại ra khỏi nhận thức, trục xuất ra khỏi

hệ thống triết học, bản thân ông cũng không hiểu chính hoạt động khoa học cũng là hoạt động thực tiễn, không thấy vai trò của thực tiễn đối với hoạt động nhận thức và đối với đời sống xã hội

hiểu về các hiện tượng xã hội

Trong quan niệm về nhận thức, Phoiơbắc cho rằng thực tiễn là hoạt động bản năng mang tính thấp hèn, do đó nó cần dược loại ra khỏi nhận thức, trục xuất ra khỏi

hệ thống triết học, bản thân ông cũng không hiểu chính hoạt động khoa học cũng là hoạt động thực tiễn Ông coi nhận thức là một quá trình tĩnh lại thụ động của chủ thể tiếp nhận hình ảnh của khách thể mà không phải là quá trình mang tính thực tiễn năng động, sáng tạo thế giới của con người – chủ thể nhận thức Ông không chỉ không thấy được vai trò của thực tiễn đối với nhận thức mà ông cũng không thấy

Trang 8

được vai trò to lớn của thực tiễn đối với sự hoàn thiện con người, rằng chỉ có lao động sản xuất con người mới tạo ra cho mình các phương tiện sống, hoàn thiện bản năng Và cũng trong quá trình sản xuất đó, con người khám phá ra sức mạnh tự nhiên, chuyển nó thành lực lượng lao động xã hội, tạo nên nội dung của lịch sử thế giới Vì không thấy trong thực tiễn động lực thúc đẩy xã hội nên ông cố tìm nó trong tình yêu Do không xuất phát từ quan điểm thực tiễn mà trong lĩnh vực xã hội, Phoiơbắc cũng như mọi nhà tư tưởng trước Mác đều sa vào chủ nghĩa duy tâm, quá

đề cao sức mạnh tinh thần, trước hết là giáo dục, đạo đức, pháp luật… mà không thấy được vai trò của nền sản xuất vật chất đối với sự tồn tại và phát triển của xã hội Chủ nghĩa duy tâm của Phoiơbắc còn thể hiện rõ trong quan niệm của ông vể tôn giáo Ông coi mối quan hệ thuần túy giữa người với người là tôn giáo Trong khái niệm tôn giáo mới đó, ông coi bản tính con người là tình yêu, tôn giáo cũng là một tình yêu Do vậy, thay thế cho một tôn giáo sùng một vị Thượng đế siêu nhiên cần xây dựng một tôn giáo mới phù hợp với tình yêu của con người Ông cho rằng cần phải biến tình yêu thương của con người thành quan hệ chi phối mọi quan hệ xã hội khác, thành lý tưởng xã hội Trong điều kiện của xã hội tư sản Đức thời đó, với

sự phân chia giai cấp thì chủ nghĩa nhân đạo về tình yêu thương con người trở thành chủ nghĩa nhân đạo trừu tượng, duy tâm Ngoài ra ông còn duy tâm khi coi lòng mong muốn hạnh phúc là bẩm sinh của con người, do đó, nó phải là cơ sở của mọi đạo đức

PHOIƠBẮC ĐỐI VỚI SỰ RA ĐỜI CỦA TRIẾT HỌC MÁC

Trang 9

Sự ra đời của triết học Mác là tổng hợp biện chứng của toàn bộ quá trình phát triển của tư tưởng triết học của nhân loại Nó là hình thức phát triển cao nhất của chủ nghĩa duy vật và của phép biện chứng Đó là kết quả của sự phát triển của triết học duy vật trong cuộc đấu tranh với chủ nghĩa duy tâm, đồng thời cũng là kết quả của sự phát triển của phép biện chứng trong cuộc đấu tranh với phép siêu hình, trong lịch sử triết học Trong đó tiền đề lý luận trực tiếp cho sự ra đời của triết học Mác là triết học

cổ điển Đức mà tiêu biểu là triết học Hêghen và triết học Phoiơbắc Mác và Ăngghen

đã từng là những người theo học triết học Hêghen và nghiên cứu triết học Phoiơbắc, qua đó hai ông đã nhận thấy triết học Phoiơbắc tuy còn mang nặng quan niệm siêu hình nhưng nội dung lại thấm nhuần quan điểm duy vật Mác và Ăngghen đã kế thừa chủ nghĩa duy vật của Phoiơbắc, khắc phục tính siêu hình và những hạn chế lịch sử khác của nó để xây dựng nên lí luận mới của chủ nghĩa duy vật Từ đó tạo ra cơ sở

để hai ông xây dựng nên học thuyết triết học mới, trong đó chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng thống nhất một cách hữu cơ

PHẦN KẾT LUẬN

Xuất phát từ giới tự nhiên vật chất, Phoiơbắc tìm hiểu các vấn đề về con người

và xây dựng nên chủ nghĩa duy vật nhân bản Ông coi con người là đối tượng nghiên

Trang 10

cứu của triết học Ông đối lập chủ nghĩa duy vật nhân bản của mình với triết học duy tâm biện chứng của Hêghen trên cả hai bình diện là bản thể luận và nhận thức luận, đồng thời đòi vứt bỏ chủ nghĩa duy tâm và cả phép biện chứng của Hêghen…Chủ nghĩa duy vật nhân bản của Phoiơbắc góp một phần không nhỏ trong nền triết học C.mác và Ăngghen đã đánh giá cao chủ nghĩa duy vật của Phoiơbắc, nhưng đồng thời cũng phê phán tư duy siêu hình, duy tâm về lịch sử của ông Chính C.mác

và Ăngghen đã nhận thức một cách chính xác những thành tựu và hạn chế của triết học Phoiơbắc , và dựa trên hệ thống triết học này để xây dựng thế giới quan duy vật biện chứng của mình

Trang 11

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] TS Bùi Văn Mưa (chủ biên), Triết học, phần I, Đại cương về lịch sử Triết học (dùng cho học viên cao & nghiên cứu sinh không thuộc chuyên ngành triết học), Trường Đại học Kinh tế Tp.HCM, 2011

[2] Ph.Ăngghen, Lút vích phoiơbắc và sự cáo chung của triết học cổ điển Đức, 1888

[3] Hệ tư tưởng Đức, Nxb Sự thật, 1977

a TS Nguyễn Huy Hoàng, Quan điểm của L.Phoiơbắc về văn hóa và con người, Tạp chí Triết học số 5 (180) năm 2006

http://www.vientriethoc.com.vn/?

vientriet=articles_deltails&id=543&cat=48&pcat=

b Phó giáo sư – TS Đặng Hữu Toàn, “hệ tư tưởng Đức” – tác phẩm đánh dấu sự ra đời một thế giới quan mới, một quan niệm duy vật về lịch sử, Tạp chí Triết học số 1 (176) năm 2006

http://www.vientriethoc.com.vn/?

vientriet=articles_deltails&id=766&cat=48&pcat=

c TS Lê Công Sự, Đánh giá của C.Mác và ph.Ăngghen về vấn đề con

người trong triết học L.Phoiơbắc qua “hệ tư tưởng Đức”, Tạp chí Triết học số 11 (186) năm 2006 http://www.vientriethoc.com.vn/?

vientriet=articles_deltails&id=364&cat=48&pcat= [4] Giáo trình triết học,Nxb Sự thật, 2004

Ngày đăng: 18/11/2014, 18:01

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w