TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC ĐỀ TÀI 11: VAI TRÒ CỦA CHỦ NGHĨA DUY VẬT NHÂN BẢN PHOIƠBẮC ĐỐI VỚI SỰ RA ĐỜI CỦA TRIẾT HỌC MÁC L.Phoiơbắc – người đại biểu cuối cùng của một trào lưu triết học đặc sắc, người đã viết chương cuối hùng tráng trên cơ sở của chủ nghĩa duy vật và vô thần để kết thúc bản giao hưởng “triết học cổ điển Đức”.
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH PHÒNG QUẢN LÝ ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC
TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
VẬT NHÂN BẢN PHOIƠBẮC ĐỐI VỚI SỰ RA
ĐỜI CỦA TRIẾT HỌC MÁC
Giáo viên hướng dẫn : TS BÙI VĂN MƯA Người thực hiện : NGUYỄN THỊ THANH TÚY
Lớp : Cao học kinh tế – K22 – Ngày4
STT : 78
TP.Hồ Chí Minh, ngày 16 tháng 12 năm 2012
Trang 2MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG I: PHOIƠBẮC VÀ CHỦ NGHĨA DUY VẬT NHÂN BẢN 2
1.1 Giới thiệu về Luvít Phoiơbắc 2
1.2 Chủ nghĩa duy vật nhân bản của L.Phoiơbắc 3
1.3 Những nguyên lý nhân bản trong chủ nghĩa duy vật nhân bản 3
1.4 Những quan niệm của chủ nghĩa duy vật nhân bản 4
1.4.1 Quan niệm về con người và giới tự nhiên 4
1.4.2 Quan niệm về nhận thức – tồn tại và tư duy 5
1.4.3 Quan niệm về tôn giáo 7
1.4.4 Quan niệm về đạo đức 8
CHƯƠNG II: VAI TRÒ CỦA CHỦ NGHĨA DUY VẬT NHÂN BẢN CỦA PHOIƠBẮC ĐỐI VỚI SỰ RA ĐỜI CỦA TRIẾT HỌC MÁC 10
2.1 Đánh giá về chủ nghĩa duy vật nhân bản của Phoiơbắc 10
2.2 Vai trò của chủ nghĩa duy vật nhân bản đối với sự ra đời của triết học Mác 13
KẾT LUẬN 14
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU
--L.Phoiơbắc – người đại biểu cuối cùng của một trào lưu triết học đặc sắc, người đã viết chương cuối hùng tráng trên cơ sở của chủ nghĩa duy vật và vô thần để kết thúc bản giao hưởng “triết học cổ điển Đức” Cuộc đời và sự nghiệp của nhà duy vật tiêu biểu này gắn liền với một giai đoạn, một cột mốc hết sức quan trọng trong lịch sử phát triển của khoa học và triết học phương Tây Đó là thời kỳ của những cuộc cách mạng tư sản Tây Âu, đánh dấu giai đoạn phát triển đầu tiên của chủ nghĩa tư bản; thời kỳ của những phát minh vạch thời đại trong khoa học tự nhiên cận đại và cuộc cách mạng trong triết học do Mác và Ăng-ghen thực hiện với “ sự cáo chung” của triết học cổ điển Đức và sự ra đời của triết học mácxít Với tư cách là một nhà triết học, L.Phoiơbắc đã thật sự có công lao to lớn và quan trọng trong việc khôi phục và phát triển chủ nghĩa duy vật theo chiều hướng tiến bộ, “đưa một cách không úp mở chủ nghĩa duy vật trở lại ngôi vua”, đồng thời giải phóng các nhà triết học đương thời khỏi chủ nghĩa duy tâm của Hêghen, trong đó có cả Mác và Ăng-ghen Đó là lý do mà chúng ta cần tìm hiểu “ Vai trò của chủ nghĩa duy vật nhân bản Phoiơbắc đối với sự ra đời của triết học Mác”
Trang 4CHƯƠNG I: PHOIƠBẮC VÀ CHỦ NGHĨA DUY VẬT NHÂN BẢN 1.1 Giới thiệu về Luvít Phoiơbắc
Lútvích Phoiơbắc (1804-1872) sinh ra trong một gia đình luật sư nổi tiếng ở Đức Ông là đại biểu cuối cùng của triết học cổ điển Đức - người đã đem đến sự kết thúc đầy ý nghĩa cho nền triết học phương Tây cổ điển nói chung và triết học cổ điển Đức nói chung trên cơ sở của chủ nghĩa duy vật và vô thần
L.Phoiơbắc bắt đầu học tập và nghiên cứu triết học với tư cách là học trò của Hêghen Ông thuộc phái Hêghen trẻ Trong những năm đầu trong sự nghiệp của mình, L.Phoiơbắc trở thành nhà triết học duy tâm thông qua nhũng bài giảng và hệ thống triết học tư biện của Hêghen Về sau tư tưởng cải cách triết học ở ông được hình thành (1929), khi ông vừa hòan thành luận án tiến sĩ và bắt đầu giảng môn logic học và siêu hình học tại Erlangen
Tám năm sau khi Hêghen mất, Phoiơbắc công bố tác phẩm “ Góp phần phê phán triết học Hêghen”, ông trở thành người phê phán Hêghen và xây dựng hệ thống triết học duy vật của mình Vấn đề cải cách triết học của ông được đề cập ở hầu hết các
tác phẩm sau đó, nhưng nổi bật nhất là trong ba tác phẩm kế tiếp nhau: gồm “Bản chất
của Cơ đốc giáo” (1841), “ Sơ thảo luận cương về cải cách triết học” (1842), “ Những nguyên lý cơ bản của triết học về tương lai” (1843).
Nhìn chung, L.Phoiơbắc là một trong những nhà triết học duy vật vĩ đại thời kỳ trước Mác, là người đã có công lao vĩ đại trong cuộc đấu tranh chống lại chủ nghĩa duy tâm và thần học, góp phần khôi phục lại địa vị xứng đáng cho chủ nghĩa duy vật trước Mác Triết học của ông là một trong những tiền đề lý luận trực tiếp của triết học Mác Tuy nhiên, do một số tư tưởng vô thần chống lại giáo hội của ông, ông đã bị nhà nước Phổ giam lỏng ở một làng quê ở biên giới phía Đông nước Đức, tiếp giáp với biên giới
Ba Lan từ lúc khoảng 32 tuổi đến cuối đời
1.2 Chủ nghĩa duy vật nhân bản của L.Phoiơbắc
Triết học duy vật của L.Phoiơbắc là sự kế tục và phát triển tư tưởng triết học của các nhà duy vật thế kỉ XVII-XVIII ở Tây Âu Song, sự khác nhau giữa tư tưởng triết
Trang 5học của ông với các bậc tiền bối là ở chỗ, ông đã nhìn thấy được tính chất sinh động, muôn màu, muôn vẻ và đa dạng của thế giới vật chất – giới tự nhiên Và cũng là lần đầu tiên, con người – với tư cách là tư tưởng triết học thứ ba và cũng là cuối cùng trong triết học L.Phoiơbắc được nhắc đến với tư cách là một bộ phận, một sản phẩm của quá trình tiến hóa của giới tự nhiên Con người bằng giác quan của mình đã nhận thức được thế giới đó Đây là nét đặc trưng cơ bản nhất để phân biệt nhà triết học duy vật L.Phoiơbắc với tất cả những nhà duy vật trước đó
Nhìn chung, vấn đề trung tâm trong triết học của L.Phoiơbắc là vấn đề con người và về cơ bản ông giải quyết trên tinh thần duy vật Triết học của Phoiơbắc từ đó
mà mang đậm “tính nhân bản”, được coi là chủ nghĩa duy vật nhân bản - tức là triết học phải lấy con người làm đối tượng nghiên cứu chủ yếu L.Phoiơbắc đã viết: “Triết học mới biến con người, kể cả giới tự nhiên với tư cách nền tảng của con người thành
đối tượng duy nhất, phổ biến, cao nhất của triết học và do vậy, nó cũng biến nhân bản học, kể cả sinh lý học, thành khoa học phổ biến”
1.3 Những nguyên lý nhân bản trong chủ nghĩa duy vật nhân bản
Tính nhân bản trong triết học của L.Phoiơbắc trước hết được thể hiện ở những nguyên lý nhân bản và tòan bộ triết học của ông đã dựa trên những nguyên lý này:
Nguyên lý nhân bản thứ nhất, triết học trước hết phải gắn kết bền chặt với khoa học tự nhiên, đặc biệt là các bộ môn của sinh vật học, như cổ sinh học, sinh lý học; các môn địa lý học, địa chất học… vì đó là những khoa học cho ta cơ sở để hiểu biết đúng đắn về tự nhiên, về con người Theo L.Phoiơbắc, sự kết hợp giữa triết học và khoa học
tự nhiên là sự kết hợp bền vững hơn, sâu sắc hơn và có lợi hơn là sự kết hợp gượng ép đang tồn tại giữa triết học và thần học Bằng sự kết hợp này, triết học nhân bản mới có thể bảo đảm được tính khoa học, tính chân thật, giản dị và trong sáng của mình
Nguyên lý nhân bản thứ hai nói về nguồn gốc tự nhiên của con người L.Phoiơbắc khẳng định, con người có nguồn gốc từ tự nhiên, là sản phẩm của một quá trình tiến hóa lâu dài của thế giới vật chất – điều mà các nhà duy vật trước ông chưa mấy ai nói đến Với nguyên lý nhân bản này, ông đã chốt lại quan điểm duy vật của
Trang 6mình về con người, chỉ rõ mối quan hệ chặt chẽ, sự gắn bó giữa con người và phần thế giới còn lại L.Phoiơbắc đã vạch ra sai lầm nghiêm trọng của chủ nghĩa duy tâm cũng như của tôn giáo bằng sự khẳng định “ tư duy chỉ có thể xuất hiện từ cõi tự nhiên” Theo ông, tư duy vốn là thuộc tính cơ bản của con người đã bị chủ nghĩa duy tâm và tôn giáo tách ra khỏi con người để rồi biến nó thành một sức mạnh siêu nhiên, sáng tạo
ra thế giới con người, thống trị cả tự nhiên lẫn con người
Nguyên lý nhân bản thứ ba và cũng là nguyên lý quan trọng nhất của triết học L.Phoiơbắc: con người là trung tâm và cùng với giới tự nhiên, con người cũng là đối tượng nghiên cứu chủ yếu của chủ nghĩa duy vật Theo ông, con người là một sinh vật
có hình thể vật chất ở trong không gian, thời gian và chỉ có như vậy, con người mới có năng lực quan sát và suy nghĩ, nghĩa là có khả năng nhận thức thế giới Con người có đầy đủ các giác quan để nhận thức thế giới xung quanh mình
1.4 Những quan niệm của chủ nghĩa duy vật nhân bản
1.4.1 Quan niệm về con người và giới tự nhiên
Trong hệ thống Hêghen, tự nhiên chỉ là “sự tha hóa” của ý niệm tuyệt đối; ý niệm
là yếu tố có trước, còn tự nhiên là yếu tố phái sinh, yếu tố phái sinh này sở dĩ tồn tại được chỉ là do sự hạ mình xuống của ý niệm Nhưng đến với L.Phoiơbắc trong tác phẩm “Bản chất của đạo cơ đốc”, ta tìm thấy một luồng tư tưởng mới Ông cho rằng tự nhiên tồn tại độc lập đối với mọi triết học Nó là cơ sở trên đó con người chúng ta– bản thân con người cũng là sản phẩm của tự nhiên - đã sinh trưởng Ngoài tự nhiên và con người ra, không còn có gì nữa, và những tạo vật cao siêu do trí tưởng tượng tôn giáo của chúng ta nặn ra, chỉ là những phản ánh hư ảo của chính thực thể của chúng ta thôi
L.Phoiơbắc nhấn mạnh: vật chất không do ai sáng tạo ra, nó tồn tại vĩnh viễn và vô hạn Thế giới tự nhiên, thế giới vật chất có trước ý thức; ý thức có sau vật chất, chỉ là một thuộc tính của một dạng vật chất có tổ chức đặc biệt là bộ óc con người Thế giới tự nhiên đương đại là kết quả tiến hóa theo quy luật vốn có của nó Theo ông phải tìm nguyên nhân của thế giới tự nhiên ở chính trong thế giới tự nhiên, thông qua những hình thức tồn tại của vật chất là không gian – thời gian và quá trình vận động để tồn tại của vật chất
Trang 7Theo L.Phoiơbắc, con người là một bộ phận của thế giới tự nhiên, gắn liền với tự nhiên Mối quan hệ đó bắt nguồn từ con người là một sinh vật có hình thể vật chất trong không gian và thời gian, vì vậy con người có khả năng quan sát, có suy nghĩ Bằng cảm giác và tư duy của mình mà con người nhận thức được thế giới tự nhiên; con người dựa vào giới tự nhiên để thỏa mãn mọi nhu cầu; giới tự nhiên lại có tác động ảnh hưởng đến mọi tâm tư, tình cảm, hiểu biết của con người Do vậy, con người thống nhất với giới tự nhiên: con người – sản phẩm tất yếu cao nhất của giới tự nhiên, là quá trình tiến hóa lâu dài của giới tự nhiên; và giới tự nhiên – cơ thể vô cơ của con người
1.4.2 Quan niệm về nhận thức – tồn tại và tư duy
Trong thế giới có muôn ngàn hiện tượng, nhưng chung quy chúng chỉ phân thành hai loại, một là những hiện tượng vật chất (tồn tại, tự nhiên), hai là những hiện tượng tinh thần (ý thức, tư duy) Do đó vấn đề về mối quan hệ giữa vật chất và ý thức, giữa tồn tại và tư duy là vấn đề cơ bản của triết học Giải quyết vấn đề này là cơ sở và điểm xuất phát để giải quyết các vấn đề khác của triết học Vấn đề này gồm hai mặt: Thứ nhất, đó là việc xác định xem “ cái nào có trước, tinh thần hay tự nhiên”,
“cái nào quyết định cái nào Khởi nguồn từ những ý nghĩ sơ khai, mông muội, từ thời
xa xưa, “khi con người hoàn toàn chưa biết gì về cấu tạo thân thể của họ và chưa biết giải thích những điều thấy trong mơ, họ đã đi đến chỗ quan niệm rằng tư duy và cảm giác của họ không phải là hoạt động của chính thân thể họ mà là hoạt động của một linh hồn đặc biệt nào đó cư trú trong thân thể và rời bỏ thân thể họ khi họ chết, ngay từ thuở đó, họ đã phải suy nghĩ về quan hệ giữa linh hồn ấy với thế giới bên ngoài” Đến thời trung cổ Cơ Đốc giáo, câu hỏi về vấn đề giữa tư duy và tồn tại được đặt ra ngày càng gay gắt và mới thật sự bộc lộ hết ý nghĩa Các nhà triết học đã chia thành hai trường phái chính: chủ nghĩa duy tâm – Hêghen và chủ nghĩa duy vật Với tư cách là nhà triết học duy tâm khách quan, Hêghen cho rằng “ý niệm tuyệt đối” là cái có trước vật chất, tồn tại vĩnh viễn không phụ thuộc vào con người, tạo ra hiện thực khách quan Giới tự nhiên chỉ là sự tồn tại khác của “ý niệm tuyệt đối” Tính đa dạng của thực tiễn được ông xem như là kết quả tác động và sáng tạo của ý niệm tuyệt đối Ngược lại, L.Phoiơbắc với tiến trình hướng đến chủ nghĩa duy vật đã chỉ ra rằng: ý niệm tuyệt đối
Trang 8trước khi có thế giới, nó chỉ là tàn dư hư ảo của lòng tin vào một đấng sáng tạo siêu phàm; rằng thế giới vật chất, cảm thấy được bằng giác quan, thế giới mà bản thân chúng ta cũng thuộc vào đấy, là hiện thực duy nhất; rằng ý thức, cũng như tư duy của chúng ta, dù có vẻ siêu cảm giác như thế nào đi chăng nữa, cũng chỉ là sản vật của một khí quan vật chất, nhục thể, tức là bộ óc Vật chất không phải là sản phẩm của tinh thần, mà chỉ có bản thân tinh thần mới là sản phẩm tối cao của vật chất
Thứ hai, đó là việc xét về khả năng nhận thức của con người, hay đúng hơn là vấn đề tính đồng nhất giữa tư duy và tồn tại Hêghen khẳng định: “ Trong thế giới hiện thực, cái mà chúng ta nhận thức được chính là nội dung mang tính chất ý thức, chính là những gì mà nhờ đó thế giới thành ra sự thực hiện dần dần ý niệm tuyệt đối” I.Cantơ thì cho rằng: con người chỉ nhận thức được “ hiện tượng”, còn “ vật tự nó” thuộc về
“siêu nghiệm”, tuyệt đối không biết được, không phải là đối tượng nhận thức Xa rời những tư tưởng ấy, L.Phoiơbắc hướng đến việc phát triển lý luận nhận thức duy vật, đồng thời kiên quyết chống lại thuyết không thể biết của I.Cantơ Ông cho rằng, chủ thể của nhận thức không phải là lý tính logic trừu tượng mà là con người cụ thể, con người có khả năng nhận thức giới tự nhiên Một người thì không thể nhận thức được hòan tòan thế giới tự nhiên, nhưng tòan bộ lòai người thông qua các thế hệ thì có thể nhận thức được
Quá trình nhận thức theo L.Phoiơbắc gồm hai giai đoạn: nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính Cảm tính trực quan là nguồn gốc của tư duy lý luận; còn tư duy lý luận xử lý tài liệu cảm tính, gắn kết những tri thức rời rạc do cảm tính đem lại để khám phá ra chân lý Chân lý là sự phù hợp giữa tư tưởng trong chủ thể với đối tượng được
tư tưởng – khách thể Nhờ vào năng lực của cảm giác và lý trí mà con người có khả năng nhận thức đầy đủ giới tự nhiên Cảm giác là điểm khởi đầu của nhận thức, là kết quả của sự tác động của thế giới khách quan lên giác quan của con người Cảm giác mang tính chủ quan, nhưng cơ sở và nguyên nhân của nó lại mang tính khách quan
1.4.3 Quan niệm về tôn giáo
Để xây dựng học thuyết về tôn giáo, trước hết, L.Phoiơbắc đã tiến hành phê phán tôn giáo và chủ nghĩa duy tâm của Hêghen nói riêng và chủ nghĩa duy tâm nói chung dựa trên
Trang 9khái niệm “tha hóa” Nếu như Hêghen nói về sự tha hoá của ý niệm tuyệt đối thì Phoiơbắc nói về sự tha hoá của bản chất con người vào Thượng đế Ông lập luận rằng bản chất tự nhiên của con người là muốn hướng tới cái chân, cái thiện nghĩa là hướng tới cái gì đẹp nhất trong một hình tượng đẹp nhất về con người, nhưng trong thực tế những cái đó con người không đạt được nên đã gửi gắm tất cả ước muốn của mình vào hình tượng Thượng
đế Từ đó, ông cho rằng không có tình cảm tôn giáo bẩm sinh, chính tôn giáo là sản phẩm sáng tạo của con người, tôn giáo là một phương thức thỏa mãn nhu cầu hư vô của con người Chính con người đã sáng tạo ra thượng đế Thượng đế chỉ là con người “tha hóa” với những phẩm chất tốt đẹp nhất Vì vậy, ông phủ nhận hết mọi tôn giáo có thần, có thượng đế
Trong học thuyết về tôn giáo của mình, L.Phoiơbắc cũng nói nhiều về tình yêu giữa người và người Mối quan hệ thân thiết, tình yêu thương giữa người và người, thậm chí cả tình yêu nam – nữ, đã được L.Phoiơbắc tôn phong thành một tôn giáo mới – tôn giáo tình yêu: “Theo học thuyết của Phoiơbắc, tôn giáo là thể hiện mối quan hệ yêu thương giữa người với người; mối quan hệ này, cho đến nay, vẫn đi tìm chân lý của nó ở sự phản ánh huyền ảo của hiện thực - ở sự trung gian của một ông thần hay nhiều ông thần, tức là những hình ảnh huyền ảo của các thuộc tính của con người – nhưng ngày nay đã tìm thấy chân lý ấy, một cách trực tiếp không cần có trung gian, trong tình yêu giữa “Tôi” và
“Anh” Chính vì thế mà theo L.Phoiơbắc thì cuối cùng tình yêu nam nữ là một trong những hình thức cao nhất, nếu không phải là hình thức cao nhất của việc thực hành tôn giáo mới của ông”
Tóm lại, dù phê phán kịch liệt tôn giáo, nhưng thực tế L.Phoiơbắc chỉ phê phán Cơ Đốc giáo, còn trong tư tưởng của ông tôn giáo vẫn thể hiện cơ bản nhất bản chất tình cảm yêu thương chân thực của con người Về điều này, Ph.Ăngghen nhận xét: “Phoiơbắc hòan tòan không muốn xóa bỏ tôn giáo, ông muốn hoàn thiện tôn giáo Bản thân triết học cũng phải hòa vào tôn giáo”
1.4.4 Quan niệm về đạo đức
Về đạo đức học, L.Phoiơbắc đã chỉ rõ, nguồn gốc hay điều kiện đầu tiên của đạo đức là cảm giác: “ Tiếng nói của cảm giác là mệnh lệnh tuyệt đối đầu tiên” Lòng khao
Trang 10khát hạnh phúc là cơ sở cho mọi hành vi của con người, nhưng hành vi đó như thế nào thì lại phụ thuộc vào cảm giác của họ Nhờ có cảm giác, con người nhận biết được tốt , xấu, hạnh phúc và bất hạnh, vui sướng và đau khổ, vinh và nhục….từ đó mà quyết định hành vi của mình Hơn nữa, L.Phoiơbắc còn khẳng định, ở đâu không có cảm giác thì ở
đó không có đạo đức
L.Phoiơbắc đã xây dựng đạo đức học của mình dựa trên hai quy tắc cơ bản: một
là, để đạt đến hạnh phúc, con người phải biết hạn chế những nhu cầu của mình một cách hợp lý; và hai là, phải có tình yêu trong mối quan hệ giữa người và người
Quy tắc thứ nhất, theo L.Phoiơbắc, con người luôn có khát vọng vươn tới hạnh phúc, song lòng khát khao hạnh phúc của mỗi người lúc nào cũng bị hạn chế bởi hậu quả tự nhiên và hậu quả xã hội của hành vi của người đó Hậu quả tự nhiên lý giải, ở mỗi con người đều có những giới hạn nhất định về mặt sức lực, về tài năng và trí tuệ,
và như L.Phoiơbắc đã viết, “ sau trác táng thì đến chán chường, sau thói quen chơi bời quá độ thì bệnh tật” Những điều này hòan tòan là những yếu tố thuần túy tự nhiên, sinh học quy định Hậu quả xã hội giải thích thêm, con người sống trong xã hội có rất nhiều mối quan hệ với những người khác, mà tất cả mọi người ai cũng có lòng khát khao đạt đến hạnh phúc Bởi vậy , nếu một người vì để đạt đến hạnh phúc cho riêng mình đã không tôn trọng hay làm xúc phạm đến hạnh phúc của người khác, thì lập tức
họ sẽ bị người khác phản kháng lại, thậm chí hạnh phúc của họ còn bị phá hoại Từ đó, L.Phoiơbắc đã rút ra kết luận hết sức sâu sắc rằng, nếu chúng ta muốn thỏa mãn lòng mong muốn hạnh phúc của bản thân thì cần phải biết đánh giá đúng hậu quả của hành
vi mình làm, đồng thời cũng phải biết tôn trọng những người khác cũng có quyền bình đẳng như chúng ta trong việc mưu cầu hạnh phúc Đó mới là con người có đạo đức
Quy tắc thứ hai trong đạo đức học của L.Phoiơbắc là đạo đức phải dựa trên cơ
sở của tình yêu giữa người và người L.Phoiơbắc coi tình yêu như bản chất con người, như mục đích của cuộc sống, thậm chí ông còn quy tình yêu thành lực lượng quyết định sự tiến bộ của xã hội nói chung, của đạo đức nói riêng Mặc dù L.Phoiơbắc đặc biệt đề cao tính cá thể của con người, ông cho rằng “tính cá thể là bao hàm tòan bộ con người”, tính cá thể là đặc tính dùng để phân biệt người này với những người khác Thế