1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ẢNH HƯỞNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU ĐỐI VỚI SINH KẾ, CÁC NGUỒN LỰC KINH TẾ CỦA NGƯỜI DÂN Ở VÙNG TRUNG TRUNG BỘ ( Địa bàn nghiên cứu: Quảng Nam)

66 1K 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 66
Dung lượng 862,92 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Viện khoa học và công nghệ Việt Nam Viện Địa Lý Dự án Biến đổi khí hậu P1-08 Vie Đánh giá những tác động của biến đổi khí hậu đến điều kiện tự nhiên , môi trường và phát triển kinh t

Trang 1

Viện khoa học và công nghệ Việt Nam

Viện Địa Lý

Dự án Biến đổi khí hậu P1-08 Vie

Đánh giá những tác động của biến đổi khí hậu đến điều kiện

tự nhiên , môi trường và phát triển kinh tế xã hội ở Trung Trung bộ Việt Nam

Chuyên đề 9

ẢNH HƯỞNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU ĐỐI VỚI SINH KẾ, CÁC NGUỒN LỰC KINH TẾ CỦA NGƯỜI DÂN Ở VÙNG TRUNG TRUNG BỘ ( Địa bàn nghiên cứu:Quảng Nam)

Chủ nhiệm chuyên đề: TS Nguyễn Trọng Xuân

Tham gia: TS Nguyễn Can

TS Trần Thảo Nguyên CN.Trần Hoàng Sa Th.s Nguyễn thị Hải Yến

CN Lê Hạnh Liên

Hà nội, 2009- 2010

Trang 2

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU

CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CÁC VẤN

ĐỀ VỀ SINH KẾ

1 Khái niệm sinh kế và sinh kế bền vững

2 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu

CHƯƠNG II: CÁC NGUỒN LỰC CHO SINH KẾ - THỰC TRẠNG SINH KẾ CỦA DÂN CƯ QUẢNG NAM

1 Sinh kế, nguồn lực và các vấn đề sử dụng tài nguyên

1.1 Về nguồn nhân lực

1.2 Tác động của thị trường và hội nhập kinh tế đối với sản xuất và đời

sống của dân cư

1.3.Nguồn lực tài chính và vấn đề sinh kế của người dân

1.4 Tài nguyên và sinh kế

2.Thực trạng sinh kế của người dân Quảng nam

2.1 Sinh kế truyền thống của người dân Quảng Nam theo ngành

2.2 Sinh kế của người dân Quảng Nam nhìn từ góc độ vùng

2.3 Mối quan hệ giữa sinh kế truyền thống với các điều kiện tự nhiên

2.4 Sinh kế mang tính đặc trưng của các loại hộ

CHƯƠNG III: NHỮNG THAY ĐỔI SINH KẾ VÀ TÁC ĐỘNG CỦA BĐKH ĐẾN THAY ĐỔI SINH KẾ CỦA DÂN CƯ QUẢNG NAM

1.Thay đổi sinh kế dưới tác động của chính sách phát triển kinh tế

2 Thay đổi sinh kế dưới tác động của khoa học công nghệ

3 Thay đổi sinh kế dưới tác động của chính sách thị trường

4 Thay đổi sinh kế dưới tác động của BĐKH

4.1 Các yếu tố khí hậu tác động đến sinh kế

4.2 Tác động của BĐKH theo ngành

CHƯƠNG IV: NHẬN THỨC CỦA CHÍNH QUYỀN, CÁC TỔ CHỨC ĐOÀN THỂ QUẦN CHÚNG VÀ NGƯỜI DÂN VỀ BĐKH VÀ TÁC ĐỘNG CỦA NÓ ĐẾN SINH KẾ

1.Sự biến đối khí hậu vùng duyên hải Miền Trung và Quảng Nam

2 Nhận thức về BĐKH

2.1.Nhận thức về biến đổi khí hậu của chính quyền các cấp 2.2 Nhận thức về biến đổi khí hậu của các tổ chức đoàn thể 2.3.Nhận thức về biến đổi khí hậu của người dân

3 Nâng cao nhận thức và năng lực ứng phó nhằm giảm thiểu các tác động tiêu

cực của BĐKH

CHƯƠNG V: CÁCH ỨNG PHÓ CỦA CHÍNH QUYỀN VÀ CÁC TỔ CHỨC

ĐOÀN THỂ QUẦN CHÚNG VÀ NGƯỜI DÂN ĐỊA PHƯƠNG VỀ BĐKH VÀ

TÁC ĐỘNG CỦA NÓ TỚI SINH KẾ

1 Quan điểmứng phó với đổi khí hậu của địa phương

2 Cách ứng phó của chính quyền và người dân đã sử dụng khắc phục, hạn

chế những tác động xấu do biến động của thời tiết để ổn định đời sống, phát

Trang 3

MỞ ĐẦU

Nước ta đứng thứ 5 về khả năng dễ tổn thương do các tác động của tình trạng BĐKH và

đã được Liên Hợp Quốc chọn là quốc gia để tiến hành nghiên cứu điển hình về BĐKH

và phát triển con người Theo đó, đời sống của người dân ở các tỉnh nằm ven biển đang

có nguy cơ bị đe dọa nghiêm trọng bởi những thay đổi khí hậu toàn cầu

Vùng Trung Trung bộ với 5 tỉnh nằm tiếp giáp ven biển, là đối tượng chịu ảnh hưởng lớn của các quá trình thay đổi khí hậu BĐKH là sự biến động trạng thái trung bình của khí quyển toàn cầu hay khu vực theo thời gian từ vài thập kỷ đến hàng triệu năm Những biến đổi này được gây ra do quá trình động lực của trái đất, bức xạ mặt trời và chủ yếu là

do các hoạt động của con người làm phát sinh khí nhà kính (KNK), gây ra sự nóng lên toàn cầu, từ đó nước biển dâng sẽ làm mất phần lớn diện tích Nước mặn xâm nhập sâu vào nội địa Các hiện tượng thiên tai xảy ra với cường độ lớn và tần suất cao như bão, lũ lụt tàn phá khu vực Nhiệt độ và độ ẩm thay đổi thất thường có thể dẫn đến hạn hán, cháy rừng hoặc mưa với lượng lớn gây ngập lụt, phá hoại sản xuất ảnh hưởng tới sinh

kế Trong đó, những người nghèo sẽ phải hứng chịu các tác động đầu tiên và hủy hoại mạnh nhất

Thời gian gần đây, sự biến đổi khí hậu còn được thể hiện rõ rệt qua hai hiện tượng El Nino và La Nina dẫn đến sự hạn hán và mưa không theo quy luật, ảnh hưởng rõ nét đến quá trình sản xuất nông nghiệp, không chỉ vùng Trung Trung Bộ mà còn của cả Việt Nam

Trên thực tế, sinh kế của hàng triệu người ở vùng ven biển và vùng Trung Trung bộ sẽ

bị đảo lộn do nước biển dâng cao sẽ mất nhà, mất diện tích canh tác Vấn đề này và những hệ quả của nó đang khiến cho cuộc sống người nghèo và những người cận nghèo vùng biển, vùng đồng bằng tiếp giáp biển bị đe dọa Tuy là quốc gia tham gia Công ước quốc tế về vấn đề này rất sớm, nhưng tại Việt Nam vấn đề về BĐKH lần đầu tiên được đưa ra tại Quốc hội cách đây chưa lâu và nội dung BĐKH vẫn còn mờ nhạt, chìm đi trong muôn ngàn vấn đề quốc kế dân sinh khác Trước thực tế đó, Việt Nam sẽ cần phải xây dựng một kế họach mang tầm chiến lược dài hơn và cần một quyết tâm lớn để giải quyết mọi vấn đề, trong đó có vấn đề sinh kế cho người dân ở vùng chịu ảnh hưởng của BĐKH

Sinh kế là cách mưu sinh của một người hoặc một nhóm người phụ thuộc chặt chẽ vào nguồn lực, năng lực ra quyết định và những hoạt động kiếm sống nhằm đạt được những mục tiêu và ước nguyện của họ Tuy nhiên để mưu sinh, con người luôn phải chịu

áp lực về mọi phía, đó là các nguồn lực tự nhiên, kinh tế, xã hội, môi trường Trong các yếu tố tác động đến sinh kế : yếu tố khí hậu- môi trường có những tác động ngày càng mạnh Tình hình BĐKH đã ảnh hưởng lớn đến cuộc sống sinh kế của các cộng đồng dân cư, đặc biệt là cộng đồng dân cư nghèo

Biến đổi khí hậu sẽ làm tăng tần suất và cường độ bão, mưa lớn, nhiệt độ cao, hạn hán tăng hơn nhiều trong thập niên vừa qua Biến đổi khí hậu sẽ tác động trực tiếp đến sản xuất nông nghiệp, đến cơ sở nền tảng của sản xuất nông nghiệp là hệ thống hạ tầng kỹ thuật (như hệ thống thủy lợi), và hệ sinh thái nông nghiệp, đến các hoạt động kinh tế, từ đó ảnh hưởng trực tiếp đến sinh kế và sức khỏe của người dân

Trang 4

Để ứng phó với BĐKH và khắc phục hậu quả và ổn định cuộc sống cho người dân của các vùng thường xuyên bị ảnh hưởng của các vùng thiên tai, các vùng có nguy

cơ bị ảnh hưởng nghiêm trọng do biến đổi khí hậu gây ra, đòi hỏi có những nghiên cứu

cụ thể về ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đối với sinh kế, các nguồn lực kinh tế và quyền hạn của người dân ở vùng nghiên cứu, từ đó đề xuất các giải pháp cho người dân có thể thích ứng với những biến động của thiên tai và ổn định sinh kế , góp phần thực hiện công cuộc xóa đói giảm nghèo một cách thành công Nhiệm vụ này đối với vùng Trung Trung Bộ hết sức khó khăn , bởi đây là khu vực chịu tác động mạnh của các hiện tượng biến động thời tiết, khí hậu nặng nề nhất nước

Trung Trung Bộ là vùng chịu nhiều thiên tai nhất trên cả nước Nhiều dấu hiệu môi trường thay đổi ngày càng khắc nghiệt đã xảy ra, gây thiệt hại cả về người và của

Dù còn nhiều thách thức nhưng đến nay công tác thông tin, truyền thông nâng cao nhận thức cộng đồng nhằm ứng phó và thích nghi với sự BĐKH tiến tới tạo sinh kế bền vững cho cộng đồng dân cư trên địa bàn nghiên cứu còn rất nhiều bất cập Tác động của các hiện tượng thời tiết khí hậu cực đoan đến đời sống nói chung và sinh kế của người dân nói riêng là quá rõ ràng, nhưng không phải ai cũng nhận thức đúng về vấn đề biến đổi khí hậu, nguyên nhân và hậu quả của nó Vì vậy việc nghiên cứu ảnh hưởng của BĐKH đối với sinh kế của người dân Quảng Nam nói riêng và của vùng Trung Trung

Bộ, nâng cao nhận thức cho người dân về tác động của BĐKH đến sinh kế sẽ góp phần năng cao năng lực ứng phó nhằm giảm thiểu thấp nhất những tổn hại do tác động của BĐKH và đó là lý do chúng tôi thực hiện đề mục này

Đối với nghiên cứu này chúng tôi đặc biệt quan tâm đến sinh kế truyền thống của dân cư các vùng chụi sự tác động mạnh của BĐKH ở Quảng Nam, tìm ra được mối liên

hệ giữa sinh kế và BĐKH, thấy được tác động của BĐKH đến những thay đổi trong sinh

kế của người dân vùng Trung Trung bộ Việt Nam nói chung và Quảng Nam nói riêng

Những vấn đề mà chúng tôi muốn làm rõ trong báo cáo này là :

- Thực trạng sinh kế - sinh kế truyền thống của người dân vùng nghiên cứu?

- Tác động của BĐKH đối với sinh kế và sự biến đổi sinh kế của người dân ?

- Nhận thức về BĐKH , khả năng ứng phó với BĐKH của địa phương

Nghiên cứu của chúng tôi được triển khai trong giai đoạn 2010-2011 ở địa bàn tỉnh Quảng Nam

Quảng Nam là một tỉnh ven biển nằm trong vùng kinh tế trọng điểm miền Trung Việt Nam, Phía bắc giáp thành phố Đà Nẵng và tỉnh Thừa Thiên-Huế, phía nam giáp tỉnh Quảng Ngãi và tỉnh Kon Tum, phía đông giáp biển Đông, phía tây giáp tỉnh Sêkoong của nước CHDCND Lào Trung tâm hành chính của tỉnh là thành phố Tam Kỳ Quảng Nam nổi tiếng với hai di sản văn hóa thế giới là Hội An và Mỹ Sơn Trong những năm gần đây, cùng với các tỉnh miền trung, Quảng Nam thường xuyên chịu ảnh hưởng của bão và lũ lụt kéo dài Quảng Nam là một trong những địa phương chịu nhiều thiên tai tại Việt Nam Mặc dù chính quyền địa phương trong thời gian gần đây đã có nhận thức về mối quan hệ giữa các hiện tượng thời tiết cực đoan và biến đổi khí hậu, nhưng họ vẫn chưa có sự hiểu biết sâu sắc về các vấn đề này, đặc biệt là các tác động và tính dễ bị tổn thương do BĐKH đến sinh kế ở cấp độ cộng đồng, cũng như việc lồng ghép các biện pháp thích ứng BĐKH vào chiến lược và kế hoạch phát triển ở cấp tỉnh, huyện và cấp

xã Diện tích của Quảng Nam là 10.406,83 km2, dân số gần 1,5 triệu người, trong đó có

Trang 5

18% sống ở đô thị, 51% trong độ tuổi lao động Các dân tôc thiểu số ở Quảng Nam như

Cơ tu, Co, Giẻ - Triêng, Xê Đăng, chiếm 7,2% dân số toàn tỉnh Người dân địa phương khu vực này này thường xuyên chịu các thiên tai nghiêm trọng như bão và lũ lụt kéo dài, các hiện tượng đang ngày càng trở nên thường xuyên hơn với cường độ mạnh hơn do ảnh hưởng của BĐKH Vì thế những người dân ở đây dễ bị tổn thương hơn do tác động trực tiếp và gián tiếp của BĐKH

Hiện nay, hầu hết các đánh giá tác động của BĐKH ở cấp địa phương thường chỉ tập trung vào việc đánh giá tổn thất, trong khi đó các đánh giá về tính dễ bị tổn thương do BĐKH và khả năng thích ứng BĐKH nhằm tạo sinh kế bền vững vẫn còn hạn chế Vì lý

do này, báo cáo của chúng tôi muốn đề cập đến sâu vấn đề: Ảnh hưởng của BĐKH đến sinh kế và các nguồn lực kinh tế của vùng Trung Trung Bộ lấy Quảng Nam làm thí dụ

Trang 6

CHƯƠNG I

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CÁC VẤN ĐỀ VỀ SINH KẾ

1 Khái niệm sinh kế và sinh kế bền vững

1.1Khái niệm sinh kế:

Ý tưởng sinh kế được đề cập tới trong các tác phẩm nghiên cứu của R.Chamber những năm 1980 Về sau, khái niệm này xuất hiện nhiều hơn trong các nghiên cứu của F.Ellis, Barrett và Reardon, Morrison, Dorward Có nhiều cách tiếp cận và định nghĩa khác nhau về sinh kế, tuy nhiên có sự nhất trí rằng khái niệm sinh kế bao hàm nhiều yếu

tố có ảnh hưởng đến hoạt động sống của mỗi cá nhân hay hộ gia đình Về căn bản, các hoạt động sinh kế là do mỗi cá nhân hay nông hộ tự quyết định dựa vào năng lực và khả năng của họ, đồng thời chịu sự tác động của các thể chế, chính sách và những quan hệ xã hội mà cá nhân hoặc hộ gia đình đã thiết lập trong cộng đồng

Trong nhiều nghiên cứu của mình, F.Ellis cho rằng một sinh kế bao gồm những tài sản (tự nhiên, phương tiện vật chất, con người, tài chính và nguồn vốn xã hội), những hoạt động và cơ hội được tiếp cận đến các tài sản và hoạt động đó (đạt được thong qua các thể chế và quan hệ xã hội), mà theo đó các quyết định về sinh kế đều thuộc về mỗi

cá nhân hoặc mỗi nông hộ (Ellis, 2000)

Theo Ủy ban Phát triển Quốc tế (DFIA- Anh, 1998), sinh kế được hiểu là:

* Tập hợp tất cả các nguồn lực và khả năng mà con người có được, kết hợp với những quyết định và hoạt động mà họ thực thi nhằm để kiếm sống cũng như để đạt được các mục tiêu và ước nguyện của họ

* Các nguồn lực mà con người có được bao gồm: vốn con người; vốn vật chất; vốn

tự nhiên; vốn tài chính và vốn xã hội

1.2 Sinh kế bền vững

Theo R.Chamber (1989); R.Reardon, and J.E.Taylor, (1996), một sinh kế được xem là bền vững khi nó có thể đối phó và khôi phục được trước tác động của những áp lực và những cú sốc, duy trì hoặc tăng cường những năng lực lẫn tài sản của nó trong hiện tại và tương lai, trong khi không làm suy thoái nguồn tài nguyên thiên nhiên

Các chính sách để xác định sinh kế cho người dân theo hướng bền vững được xác định liên quan chặt chẽ đến bối cảnh kinh tế vĩ mô và tác động của các yếu tố bên ngoài Tiêu biểu cho các nghiên cứu này là Ellis (2004, 2005); Barrett and Reardon (2000) Các nghiên cứu này đã chỉ ra mối liên hệ giữa mức độ tăng trưởng kinh tế, cơ hội sinh kế và cải thiện đói nghèo của người dân Đồng thời nhấn mạnh vai trò của thể chế, chính sách cũng như các mối liên hệ và hỗ trợ xã hội đối với cải thiện sinh kế, xóa đói giảm nghèo

Sự bền vững trong các hoạt động sinh kế phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố như khả năng trang bị nguồn vốn, trình độ của lao động, các mối quan hệ trong cộng đồng, các chính sách phát triển… Tuy vậy, sự bền vững của tài nguyên thiên nhiên là yếu tố nền tảng trong việc quyết định một sinh kế có bền vững hay không

* Sinh kế của một cá nhân, một hộ gia đình, một cộng đồng được xem là bền vững khi cá nhân, hộ gia đình, cộng đồng đó có thể vượt qua những biến động trong cuộc sống

do thiên tai, dịch bệnh, hoặc khủng hoảng kinh tế gây ra

Trang 7

* Phát triển hơn nguồn tài sản hiện tại mà không làm ảnh hưởng đến nguồn tài nguyên thiên nhiên

Hiện nay, sinh kế bền vững đã và đang là mối quan tâm hàng đầu của các nhà nghiên cứu cũng như hoạch định chính sách phát triển của nhiều quốc gia trên thế giới Mục tiêu cao nhất của quá trình phát triển kinh tế ở các quốc gia là cải thiện được sinh

kế và nâng cao phúc lợi xã hội cho cộng đồng dân cư, đồng thời phải luôn đặt nó trong mối quan hệ với phát triển bền vững Các nghiên cứu về sinh kế hiện nay về cơ bản đã xây dựng khung phân tích sinh kế bền vững trên cơ sở các nguồn lực của hộ gia đình bao gồm nguồn lực vật chất, tự nhiên, tài chính, xã hội và nhân lực

Khung sinh kế là một công cụ được xây dựng nhằm xem xét những yếu tố khác nhau ảnh hưởng đến sinh kế của con người, đặc biệt là những yếu tố gây khó khăn hoặc tạo cơ hội trong sinh kế Đồng thời, khung sinh kế cũng nhằm mục đích tìm hiểu xem những yếu tố này liên quan với nhau như thế nào trong những bối cảnh cụ thể Tổ chức phát triển toàn cầu của Vương quốc Anh (DFID) đã đưa ra khung sinh kế bền vững như sau:

Hình 1: Sơ đồ khung sinh kế bền vững (DFID, 2001)

và khả năng tiếp cận

Cơ cấu

- Các cấp chính quyền

- Đơn vị

tư nhân

Quá trình hình thành

Luật lệ, chính sách, văn hóa, thể chế tổ chức…

Kết quả sinh

kế

- Tăng thu nhập

- Tăng sự ổn định

- Giảm rủi ro -Nâng cao an toàn lương thực

- Sử dụng bền vững hơn các nguồn lực tự nhiên

Cơ cấu và tiến trình thực hiện TÀI SẢN SINH KẾ

Trang 8

Sinh kế bền vững phải bao hàm nội hàm của sinh kế và phải đảm bảo được các yếu

tố bền vững, đó là bền vững về môi trường, bền vững về kinh tế, và bền vững về xã hội

và bền vững về thể chế

Sinh kế bền vững hiện nay được coi là mục tiêu của các quốc gia trên thế giới Vấn đề sinh kế luôn đi kèm với vấn đề môi trường và đói nghèo Mối tương tác

giữa ba yếu tố này được biểu thị bằng “ Chỉ thị P-E- L” Chỉ thị P-E-L xác định các yếu

tố hoặc biến số có thể xác định, định lượng được nhằm phản ánh sự tương tác giữa môi trường, đói nghèo và sinh kế

Biến đổi khí hậu sẽ là mối đe dọa tới toàn thể nhân loại Nhưng những người nghèo, lại là những người đang phải đối mặt với những thiệt hại sớm nhất và nghiêm trọng nhất về phát triển con người”

Dưới tác động của BĐKH, Sinh kế truyền thống bị phá vỡ, sinh kế mới chưa định hình

đã đẩy không ít nông dân vào diện nghèo đói do môi trường

1.2 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu:

Câu hỏi nghiên cứu:

Để tiếp cận và hiểu được các sinh kế của dân cư Quảng Nam, nhóm nghiên cứu đã đưa

ra các câu hỏi cụ thể để nắm bắt được sinh kế cơ bản của người dân tại từng địa bàn nghiên cứu: vùng đồng bằng ven biển, vùng trung du miền núi…

- Sinh kế cơ bản của người dân, các nguồn lực phát triển và quyền lực của người dân địa phương?

- Các biểu hiện bất thường về thời tiết, thiên tai (lụt bão, hạn hán, lở đất, triều dâng, trong những năm gần đây? Tác động của sự biển đổi đó đối với sinh kế, nguồn lực của người dân?

- Các giải pháp (cách ứng phó) của người dân trước những tác động của sự biến đổi trên trong thời gian qua?

- Một số kiến nghị mang tính giải pháp nhằm hạn chế tác động xấu của biến đổi khí hậu đối với sinh kế của người dân trong thời gian tới?

Phương pháp nghiên cứu

Căn cứ vào mục tiêu nghiên cứu đã nêu trên, đề tài sẽ sử dụng một số phương pháp chính là: Phương pháp nghiên cứu định tính, phương pháp nghiên cứu định lượng Kết hợp khảo sát thực tế với tranh thủ ý kiến của các chuyên gia, kết hợp nghiên cứu theo lĩnh vực với nghiên cứu liên ngành Sử dụng phương pháp trừu tượng hoá, phương pháp so sánh kết hợp phân tích thực trạng theo ngành nghề, đối tác, với thực trạng phát triển theo phạm vi địa giới hành chính (các huyện, tỉnh, vùng bảo tồn)

Phương pháp chỉ đạo, xuyên suốt trong nghiên cứu này là Phương pháp tiếp cận sinh kế bền vững

a) Phương pháp nghiên cứu định tính: là dạng nghiên cứu nhằm tìm hiểu sâu về đặc tính, tính chất, bản chất của đối tượng nghiên cứu Phương pháp nghiên cứu định tính thường nhằm tìm hiểu các suy nghĩ, tình cảm, các nguyên nhân của thái độ phản ứng… của con người trong các cách ứng xử của họ trong cuộc sống hàng ngày

Công cụ sử dụng chính trong nghiên cứu định tính thường dùng là Thảo luận nhóm và Phỏng vấn sâu

- Thảo luận nhóm theo chủ đề: Là cuộc thảo luận giữa một nhóm người (khoảng

Trang 9

từ 6 - 12 người), mọi người tham gia thảo luận đều có thể nêu ý kiến của mình một cách tự nhiên, không bị gò ép về một số các chủ đề hay mối quan tâm Tùy từng mục đích mà cuộc thảo luận nhóm có thể có các thành phần khác nhau, có thể người tham gia thảo luận đều là nam giới, hoặc đều là nữ giới; là người có mức thu nhập tương đương nhau như khá giả, hay nghèo trong cộng đồng…Một nhóm cũng có thể bao gồm cả nam lẫn nữ, có hoàn cảnh KT - XH khác nhau, ở các lứa tuổi khác nhau

Đối tượng tham gia thảo luận nhóm các cán bộ địa phương bao gồm: cán bộ UBND, các ngành kinh tế, trưởng thôn/bản, các đoàn thể như Hội Phụ nữ, Mặt trận Tổ quốc, Hội Cựu Chiến binh, đoàn thanh niên,…;

Thảo luận nhóm người dân, bao gồm những người dân phân theo mức sống hộ gia đình nghèo, trung bình, khá giả

Tại mỗi địa bàn khảo sát (cấp xã- thôn) tổ chức thành 3-4 nhóm thuộc hai đối tượng chính: Nhóm cán bộ và Nhóm người dân

- Phỏng vấn: trong đó người được hỏi tham gia trả lời các câu hỏi (có thể là cá nhân, có thể là một nhóm người) Các câu trả lời của người được phỏng vấn được ghi chép tương đối đầy đủ trong các phiếu điều tra đã được soạn sẵn

- Phỏng vấn sâu: Là phỏng vấn đi vào các khía cạnh chi tiết, cụ thể của một số chủ đề được lựa chọn để tìm hiểu sâu hơn các ý kiến, quan tâm,… của người được phỏng vấn Phỏng vấn sâu sẽ được thực hiện với các cán bộ địa phương, lãnh đạo cộng đồng

b) Phương pháp nghiên cứu định lượng:

Nghiên cứu định lượng cho biết mức độ tồn tại của đối tượng nghiên cứu, hướng đến tìm hiểu mức độ các phản ứng, thái độ của con người đối với vấn đề biến đổi khí hậu và sự tác động của nó đối với sinh kế trong những khung cảnh xã hội nhất định

Nó sẽ cho ta cái nhìn chung, bao quát về sự tác động của biến đổi khí hậu đối với sinh

kế theo hướng trả lời câu hỏi bao nhiêu, như thế nào

Công cụ sử dụng chính trong nghiên cứu định lượng thường dùng là: đ iều tra chọn mẫu bảng hỏi hộ gia đình và Bảng hỏi Cộng đồng; nghiên cứu thu thập tài liệu số liệu định lượng sẵn có;

Bảng hỏi gồm các hộ gia dung để phỏng vấn một thành viên trong hộ gia đình, là người khá hiểu biết về các hoạt động chính trong gia đình như việc làm, thu nhập,… Bảng hỏi Cộng đồng được sử dụng để phỏng vấn người lãnh đạo cộng đồng

Nghiên cứu tài liệu và thu thập thông tin sẵn có cũng là phương pháp hữu hiệu để thu thập các thông tin cho đánh giá dự án

Ngoài hai phương pháp nêu trên các phương pháp và công cụ khác hỗ trợ cho

việc phân tích đánh giá cũng được áp dụng như: Quan sát trực tiếp; Chụp ảnh hiện trạng; Nghiên cứu tình huống;

Trang 10

CHƯƠNG II NGUỒN LỰC CHO SINH KẾ-THỰC TRẠNG SINH KẾ CỦA DÂN CƯ QUẢNG NAM

1 Sinh kế, nguồn lực và các vấn đề sử dụng tài nguyên:

1.1 Về nguồn nhân lực

Nguồn nhân lực là nhân tố vô cùng quan trọng và đứng vị trí hàng đầu trong mối quan hệ với tài nguyên môi trường Vai trò của con người có ý nghĩa quyết định đến sự lành mạnh hay suy thoái của môi trường Phát triển bền vững chính là đảm bảo cho hệ

thống môi trường được hài hoà và an toàn.Con người cùng các hoạt động kinh tế được coi là nguyên nhân chính gây biến đổi khí hậu, nguồn nhân lực có tác động lớn đến sinh

kế của từng hộ gia đình, từng vùng , từng địa phương

Quảng Nam là địa phương có số dân đông nhất vùng Duyên hải Nam Trung Bộ ( gần 1.5 triệu người), số dân này lại trải trên diện tích lớn nhất vùng nên nói chung mật

độ dân số ở đây lại thấp nhất vùng ( 144người/ km2, trong khi mật độ của cả nước là 252 người, của duyên hải Nam Trung bộ là 218 người/ km2)

Bảng 1:Một số chỉ tiêu dân số của Quảng Nam so với cả nước và vùng

Trung Trung Bộ ( nghìn người)

Quảng Nam chủ yếu là dân cư nông thôn, tỷ trọng dân cư nông thôn chiếm khoảng 82.5% dân số của tỉnh, trong đó hơn 2/3 sống bằng nghề nông Mức thu nhập của người dân đang ngày càng được cải thiện, tỷ lệ nghèo giảm đáng kể, chất lượng cuộc sống đang dần được nâng lên Mặc dù vậy, mức nghèo đói và khả năng bất ổn sinh kế là rất cao do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó phải kể đến tác động của các diễn biến bất thường của thời tiết, tình hình bão lũ, tác động của BĐKH Đối tượng dễ bị tổ thương nhất là dân cư các vùng núi cao, các vùng ven biển , đồng bào dân tộc Các diễn biến thời tiết khí hậu từ xưa nay vẫn xảy ra, tuy nhiên mức độ khốc liệt ngày càng cao, tần suất ngày càng mau và điều này cần có sự nhận thức đúng nguyên nhân chủ yếu là

do con người cùng các hoạt động kinh tế của con người gây ra Sự phân bố dân cư , tình hình phát triển dân số từng địa bàn, trình độ nhận thức của người dân, của lực lượng lao động là các yếu tố tác động đến diễn biến thời tiết của vùng và của địa phương…

Nguồn lực con người ở Quảng Nam có một số đặc điểm đáng lưu ý sau:

Trang 11

- Ở các thành phố thị xã, dân cư tập trung đông, với mật độ cao hơn rất nhiều so với vùng miền núi, ven biển ( Tam kỳ : 1085người/ km2, Hội An 1382 người/km2 trong khi Nam Giang chỉ có 11 người/ km2, Tây giang chỉ có 18 người/km2)

- Quy mô hộ gia đình có xu hướng giảm dần, số lao động trong hộ giảm không đáng kể Tuy nhiên gần đây lại có hiện tượng tăng quy mô hộ, đặc biệt ở thành thị

- Những hộ thuộc nhóm thu nhập cao có số lao động bình quân cao hơn nhóm có thu nhập thấp

- Tỷ lệ biết chữ của dân số từ 10 tuổi trở lên đang tăng dần nhóm có thu nhập cao thì tỷ lệ biết chữ cũng cao hơn

- Cơ cấu lao động đã có sự thay đổi qua các năm: lao động nông lâm thủy hải sản giảm dần, lao động phi nông nghiệp ngày càng tăng

* Lao động:

Lực lượng lao động của Quảng Nam chiếm khoảng 52.4% trong tổng số dân của tỉnh Tốc độ tăng lực lượng lao động từ 2000-2007 trung bình năm là 2,3%, cao hơn nhiều so với tốc độ tăng dân số, đây là một lợi thế cho tỉnh trong quá trình công nghiệp hóa, tuy nhiên lợi thế này sẽ trở thành bất lợi khi nền kinh tế của Quảng Nam không đáp ứng được việc làm cho người lao động, số người thất nghiệp sẽ là vấn đề căng thẳng đối với địa phương

Quá trình CNH cùng với quá trình đô thị hóa đã tạo sự chuyển dịch cơ cấu kinh

tế, và kéo theo đó là quá trình chuyển dịch về cơ cấu dân số, lao động mà biểu hiện của

nó là tăng nhanh tỷ lệ lao động trong công nghiệp, thương mại - dịch vụ, giảm tỷ lệ lao động trong nông nghiệp, tăng dân số đô thị Các loại hình doanh nghiệp, kể cả doanh nghiệp có vốn nước ngoài phát triển nhanh cả về số lượng, quy mô, đã thu hút đông đảo lực lượng lao động chuyển dịch từ nông thôn đến làm việc

Bảng 2 : Biến động lao động trong các ngành kinh tế Quảng Nam ( nghìn người)

Lao động

Cơ cấu (%)

Lao động Cơ cấu

Nguồn: Tư liệu kinh tế xã hội 64 tỉnh thành phố Việt Nam- NXB thống kê 2009

Dân số Quảng Nam đang trong thời kỳ trẻ Hàng năm số người bước vào tuổi lao động nhiều hơn số người ra khỏi tuổi lao động; điều này tạo ra áp lực đối với công tác giải quyết việc làm cho người lao động ở cả thành thị và nông thôn, ảnh hưởng nhiều đến mục tiêu giảm tỷ lệ thất nghiệp của địa phương Mặt khác thị trường lao động ngày càng cần lao động có tay nghề và nghiệp vụ chuyên môn nhưng thực tế phần lớn lao động của tỉnh lại không có tay nghề, chuyên môn, chưa được đào tạo (91,1% lao động chưa qua đào tạo- trong đó khu vực nông lâm thủy sản tỷ lệ này cao hơn-98% )

Cơ cấu lao động từ 15 tuổi trở lên đã có sự thay đổi qua các năm: lao động nông nghiệp- lân nghiệp – thủy sản giảm đi nhiều nhất, lao động tự sản xuất kinh doanh, lao động dịch vụ , phi nông nghiệp cũng giảm , thay vào đó là sự tăng lên của lao động trong lĩnh vực công nghiệp, xây dựng, lao động làm công ăn lương

Trang 12

* Thực trạng mức sống, nghèo đói và bất bình đẳng:

Thu nhập của dân cư

Trong 10 năm trở lại đây, nền kinh tế của tỉnh có nhiều đổi thay, kinh tế nông nghiệp nông thôn chuyển dịch theo hướng tích cực, tốc độ tăng tổng sản phẩm trên địa bàn năm sau cao hơn năm trước, đặc biệt trong lĩnh vực dịch vụ, công nghiệp Đây là sự chuyển dịch cơ cấu đúng hướng, phù hợp với yêu cầu của tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Sự chuyển đổi cơ cấu ngành nghề của địa phương thể hiện thông qua sự thay đổi

số lượng và cơ cấu hộ ở cả khu vực thành thị và nông thôn , nhưng rõ nét nhất là ở khu vực nông thôn Nếu năm 1994 có 80% số hộ nông lâm thủy sản, thì đến năm 2006 chỉ còn 72,8% số hộ trong lĩnh vực này, và cùng với sự thay đổi này là mức sống của hộ gia đình cũng được nâng lên Tuy nhiên tốc độ chuyển dịch giữa các vùng rất khác nhau: cánh Bắc có tốc độ chuyển dịch nhanh nhất, tiếp đến là cánh Nam, còn các huyện miền núi có tốc độ chuyển dịch rất chậm, cá biệt có huyện không có hộ công nghiệp nào như huyện Nam Giang, nguyên nhân là do trình độ dân trí thấp, cơ sở hạ tầng yếu kém, điều kiện tự nhiên đất đai không thuận lợi

Các lĩnh vực xã hội cũng có bước phát triển khá và góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân Kết quả khảo sát qua các năm cho thấy: Thu nhập bình quân đang tăng dần qua các năm, mức thu nhập này không đều giữa khu vực thành thị và nông thôn và điều này tạo ra sự chênh lệch mức sống ở 2 khu vực nhưng sự chênh lệch cũng không nhiều Điều này phản ảnh được thực tế của địa phương nghèo: sự cách biệt

về mức sống, sinh hoạt giữa thành thị và nông thôn không nhiều (Chênh lêch khoảng 630.900đồng /427000đồng- 1,5 lần) Mức thu nhập này còn rất thấp so với nhiều khu vực trong nước và trong vùng

Bảng 3 : Thu nhập bình quân đầu người / tháng ( 1000 đồng/ người/ tháng)

Thu

nhập

Chênh lệch thu nhập(5/1)

Thu nhập Chênh lệch thu

Nguồn: Niên giám thống kê 2008- nhà xuất bản thống kê Hà Nội, 2009

Bảng 3: Cơ cấu thu nhập bình quân nhân khẩu theo nguồn thu ở Quảng Nam ( %) Nguồn thu 2002 2004 2006 2008 Tăng , giảm 2008/2002

Tiền công tiền lương 28.5 36.5 39.8 38.9 +11.3

Nông – Lâm – thủy sản 33.2 31.5 26.3 25.5 -6.9

CN-XD- Dịch vụ 22.0 18.4 19.5 18.0 +2.5

Các khoản thu khác 16.3 13.6 14.4 17.7 +1.9

Nguồn: Kết quả điều tra nông thôn nông nghiệp và thủy sản 2006- NGTK 2009

Theo kết quả khảo sát, người lao động có thu nhập hay nói cách khác là có nguồn sinh kế từ nông nghiệp-lâm nghiệp- thủy hải sản đang gặp rất nhiều khó khăn trong cuộc sống tỷ lệ đói nghèo của các hộ này cao, họ là những đối tượng dễ bị tổn thưởng dưới tác động của BĐKH, kinh tế…

Mức sống của dân cư còn tùy thuộc vào mức chi tiêu của hộ gia đình:

Trang 13

Chi tiêu của hộ gia đình:

Phân tích kết quả khảo sát mức sống hộ gia đình Quảng Nam cho thấy : trong khi mức chi tiêu chung của cả nước tăng lên đáng kể thì khu vực miền trung và riêng Quảng Nam mức chi tiêu mặc dù có tăng lên nhưng ở mức độ chậm hơn Mức chi tiêu này cũng thay đổi khác nhau ở thành thị và nông thôn, ở khu vực thành thị thường cao hơn gấp 1,3 lần so với khu vực nông thôn Khi so sánh mức chi tiêu của từng nhón thu nhập thì thấy nhóm 1 có mức chi tiêu chiếm 115.5% thu nhập và con số này giảm dần theo nhóm có thu nhập cao Nhóm cao nhất có mức chi tiêu chỉ chiếm 57.1% thu nhập,

và điều này cho thấy khả năng tích lũy của nhóm có thu nhập cao là lớn, trong khi nhóm 1,2 không có tích lũy, không đủ ăn, khả năng vượt nghèo là rất khó, đòi hỏi có sự chung tay giúp đỡ của cộng đồng, của các cấp, các ngành và các tổ chức nhằm tạo vốn, tạo việc, xóa đói, giảm nghèo

* Mức sống dân cư

Kết quả điều tra các hộ gia đình trên địa bàn Quảng Nam trong các đợt thực địa của dự án, các hộ được hỏi đa số đều cho rằng mức sống của hộ gia đình đều tăng lên ( 67,42% số phiếu hỏi), một số hộ cho rằng như cũ hoặc giảm đi ít nhiều Tùy theo mức

độ kinh tế hộ, việc đánh giá về sự thay đổi mức sống cũng khác nhau nhiều: 81% Hộ khá cho rằng mức sống tăng nhiều, trong khi đó chỉ có 46% hộ trung bình, và 17,7% hộ nghèo cho là tăng nhiều Điều này cũng dễ lý giải : đó là do các hộ nghèo là đối tượng dễ

bị tổn thương khi có những biến động kinh tế, khí hậu…

Bảng 4: Khảo sát mức sống hộ gia đình theo mức độ kinh tế của hộ ( 1989-2009)

Mức độ

đánh giá

Số lượng

Cơ cấu(%)

Số lượng

Cơ cấu(%)

Số lượng

Cơ cấu (%)

Số lượng

Cơ cấu (%)

Nguồn : Kết quả xử lý phiếu điều tra 11/2009- dự án BĐKH

Bảng 5:Thu nhập bình quân 12 tháng qua của hộ gia đình điều tra( nghìn đồng)

Trang 14

Các cuộc điều tra mức sống dân cư, điều tra hộ gia đình nông lâm thủy hải sản, điều tra đói nghèo ở Quảng nam vào các năm 2002-2004-2006 và gần đây là 2008 đã cung cấp nguồn dữ liệu rất phong phú cho việc phân tích mức sống dân cư nơi đây: cuộc sống đã được cải thiện ở phần lớn các hộ gia đình, tình trạng đói nghèo đã giảm đáng kể.Tuy nhiên tỷ lệ này còn quá cao so với cả nước

Bảng 6: Tỷ lệ hộ nghèo Quảng Nam và các khu vực trong nước(chuẩn mới-%)

Tỷ lệ (%)

Tổng số hộ Số hộ

nghèo

Tỷ lệ (%) Toàn tỉnh 333942 101160 30.29 353731 82206 23.24

Cũng theo bảng tổng hợp hộ nghèo: nhìn chung tỷ lệ hộ nghèo của Quảng Nam

là rất cao so với mức trung bình của cả nước Vậy nguyên nhân nào đã ảnh hưởng đến mức sống, sinh kế của dân cư và kéo theo đó là tỷ lệ nghèo Quảng Nam? Các nguyên nhân được thống kê tác động đến tình trạng đói nghèo của địa phương chủ yếu là các nguyên nhân sau:

Trang 15

vốn do nhiều năm bị thiên tai, thiếu lao động do ốm đau bệnh tật mà nguyên nhân do diễn biến thất thường của thời tiết, thiếu đất canh tác do ngập lụt, khô hạn…Biến đổi thời tiết tác động xấu đến sản xuất nông nghiệp, như mất mùa, giảm năng suất, dẫn đến tăng giá các sản phẩm thiết yếu, là yếu tố quan trọng nhất tác động đến các gia đình nghèo ở Quảng Nam nói riêng và khu vực Trung Trung Bộ nói chung

1.2 Tác động của thị trường và hội nhập kinh tế đến sản xuất và đời sống

Quy luật kinh tế thị trường có tác động làm cho kinh tế, xã hội cạnh tranh, phát triển Song mặt trái của nó cũng làm cho phân hóa giàu nghèo, các tiêu cực, tệ nạn xã hội diễn ra mạnh mẽ, ảnh hưởng tới đời sống, tư tưởng của các tầng lớp nhân dân Kinh tế thị trường hình thành nhiều hình thức sở hữu và nhiều thành phần kinh tế khác nhau như kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân (cá thể, tiểu chủ, tư bản tư nhân), kinh tế

tư bản nhà nước và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài

1.2.1.Với nông nghiệp – nông thôn và nông dân:

Ở Quảng Nam, lĩnh vực nông nghiệp là sinh kế chính của hơn 80% dân số Sản xuất nông nghiệp có ảnh hưởng trực tiếp đến hơn 2/3 hộ gia đình làm nông nghiệp, đặc biệt là số hộ thuộc diện nghèo và có nguy cơ tiềm ẩn tái nghèo Với vị trí quan trọng như vậy, nông nghiệp chính là chìa khoá của sự ổn định và phát triển đối với người dân Việt Nam nói chung và nông thôn nói riêng, trong đó có Quảng Nam

Gia nhập WTO tạo ra những tác động vô cùng lớn đối với ngành nông nghiệp Quảng Nam, thậm chí tạo nên những cú sốc lớn, những thay đổi căn bản và toàn diện trong cơ cấu nông nghiệp và tư duy sản xuất

Ở Quảng Nam, mô hình Hợp tác xã nông nghiệp (HTXNN) kiểu mới đã xác lập Quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn cộng với sân chơi WTO vừa mở càng đòi hỏi các HTXNN phát huy vai trò đầu tàu Một hướng đi mới cho kinh tế hợp tác trong thời gian tới, góp phần phá vỡ bế tắc trong định hướng, cơ chế quản lý và nội dung hoạt động của HTXNN trên địa bàn Quảng Nam trong cơ chế thị trường Gia nhập WTO, xu thế hội nhập buộc mô hình HTXNN kiểu mới Quảng Nam phải sớm đổi mới thêm một lần nữa để tự tin bước ra “sân chơi” mới Ngoài yêu cầu phải cải thiện kết cấu hạ tầng nông thôn để tăng liên kết nông thôn - thành thị, thu hút đầu tư công nghiệp

về nông thôn thì công tác quy hoạch, xây dựng phương án sản xuất kinh doanh của HTX, đổi mới các hoạt động dịch vụ của HTX (dịch vụ chế biến, tiêu thụ nông sản, giống

và các tiến bộ kỹ thuật, tín dụng ) phải được tính đến Các HTXNN phải hướng mạnh đến việc bảo quản, chế biến sau thu hoạch, đáp ứng nhu cầu thị trường nội địa và phục vụ xuất khẩu Thực tiễn phát triển HTXNN ở Quảng Nam cho thấy, mô hình của nó ra đời, tồn tại và phát triển không giống với các loại hình doanh nghiệp khác Mặt khác, phương thức tiến hành xây dựng và phát triển các HTXNN tác động rất mạnh mẽ tới sự ra đời, tồn tại và phát triển của HTX

Điều đáng nói nhất của nông nghiệp Quảng Nam khi vào WTO là thị trường sẽ mở rộng cho những mặt hàng xuất khẩu truyền thống Việt Nam là thành viên của WTO đồng nghĩa với việc Việt Nam sẽ tiếp tục thu hút được đầu tư nước ngoài mà Quảng Nam là địa phương có rất nhiều lợi thế Tuy vậy thách thức lớn nhất của nông nghiệp tỉnh nhà là có sức cạnh tranh thấp, chưa có có kinh nghiệm thực thi các điều khoản cam kết Gia nhập WTO đưa lại nhiều tác động tích cực đối với Việt Nam nói chung và vùng Trung Trung

Bộ và Quảng nam nói riêng Trước hết là tạo khuôn khổ pháp lí ổn định, lâu dài, minh bạch công khai, có thể dự báo trước những rủi ro trong thương mại nông sản cho các nhà

Trang 16

sản xuất Mặt khác, điều đó sẽ giúp các nhà sản xuất có điều kiện thâm nhập vào thị trường nông sản rộng lớn của cộng đồng thương mại quốc tế, tạo cơ hội cho nông dân thay đổi tư duy làm ăn theo lối hiện đại Cuối cùng, vào WTO sẽ tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng cho các nhà sản xuất cũng như các địa phương tham gia thị trường nông sản trong tỉnh, trong vùng và rộng hơn là trong nước và quốc tế, qua đó thúc đẩy sản xuất, góp phần tăng trưởng kinh tế, xoá đói giảm nghèo

* Giải pháp cho sinh kế nông nghiệp Quảng Nam:

Nông nghiệp Quảng Nam và vùng Trung Trung Bộ còn tồn tại nhiều hạn chế trước ngưỡng cửa cuộc chơi WTO, đòi hỏi các cấp có thẩm quyền của địa phương có nhiều biện pháp khắc phục bằng “các công cụ phù hợp với tinh thần WTO” Một số giải pháp gợi ý như: - Tạo ra việc làm phi nông nghiệp ở vùng nông thôn;

- Cung cấp nhiều thông tin hơn về tiếp cận thị trường, thông tin về tiêu chuẩn sản phẩm xuất khẩu để khắc phục tình trạng nông dân thiếu thông tin dẫn đến không có định hướng sản xuất chiến lược;

- Tăng cường đầu tư vào nghiên cứu nông nghiệp cũng như quảng bá kết quả đối với các nhà sản xuất nông nghiệp;

- Cải thiện việc cung cấp dịch vụ ngân hàng ở nông thôn để khắc phục tình trạng nghèo vốn, thiếu khả năng tín dụng ở nông thôn gây khó khăn cho đầu tư và chuyên sâu trong sản xuất;

- Phát triển hệ thống an sinh xã hội để bảo hiểm cho nông dân khi thời tiết có diễn biến thất thường, mất mùa hoặc thu nhập kém;

- Thúc đẩy khả năng cạnh tranh của công nghiệp phục vụ nông nghiệp để căn bản cải thiện năng lực của nông nghiệp Địa phương; nâng cao tay nghề của người lao động và trình độ quản lí các cơ sở nông nghiệp

Nhìn từ góc độ truyền thông, phải nhận thức rằng cần thiết phải phát triển truyền thông khuyến nông với mục đích tạo lập, chia sẻ mọi thông tin phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn xuất phát từ nhu cầu của nông dân, nếu làm tốt công tác truyền thông khuyến nông, người nông dân sẽ chủ động hơn, gắn bó hơn với khoa học kĩ thuật, hiểu rộng toàn diện hơn về biến đổi khí hậu, tác động của nó tới quá trình sản xuất, bảo quản, chế biến, thị trường tiêu thụ nông sản theo chuẩn WTO Người dân sẽ có điều kiện làm quen với nhiều tri thức mới, do đó trình độ mọi mặt của họ sẽ được nâng lên

Tuy xuất phát từ những góc nhìn khác nhau, cho thấy việc Việt Nam tham gia WTO là một sự kiện lớn và mới mẻ đối với ngành nông nghiệp Dù điều này có đặt ra nhiều khó khăn lớn đòi hỏi nông nghiệp Quảng Nam phải có những thay đổi và đột phá thì

đó vẫn là một sự thay đổi cần thiết theo chiều hướng tích cực, vì sự phát triển và hội nhập chung với các nền kinh tế khác trên thế giới

1.2.2 Với công nghiệp – Dịch vụ:

Với quan điểm: tăng cường phát huy nội lực, tranh thủ ngoại lực, phát huy tối đa những lợi thế, tiềm năng sẵn có để phát triển kinh tế - xã hội, ngành thương mại - du lịch Quảng Nam trong những năm qua, cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, ngành thương mại - du lịch đã đạt được những thành tựu rất đáng ghi nhận

Với 07 khu công nghiệp tập trung, 15 cụm công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp và 61 làng nghề truyền thống, giải quyết trên 70.000 lao động tại địa phương, công nghiệp Quảng Nam đã khẳng định là ngành kinh tế chủ lực trong phát triển kinh tế- xã hội của

Trang 17

tỉnh, góp phàn đáng kể trong việc giải quyết công ăn việc làm cho người lao động, tạo sinh

kế cho một bộ phận dân cư của địa phương

Phát triển du lịch là hướng chiến lược quan trọng trong đường lối phát triển kinh tế

- xã hội, góp phần thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; du lịch là ngành kinh

tế tổng hợp có tính liên ngành, liên vùng và xã hội hóa cao Quán triệt tinh thần đó, Quảng Nam xác định: xây dựng du lịch thành ngành kinh tế quan trọng trong cơ cấu kinh tế của tỉnh, phát triển loại hình du lịch sinh thái kết hợp với nghỉ dưỡng; du lịch danh lam thắng cảnh kết hợp với du lịch văn hoá; chú trọng đa dạng hóa các loại hình du lịch, tạo ra những sản phẩm du lịch có chất lượng cao, hấp dẫn và đặc trưng của tỉnh

Một thực tế là hiệu quả hoạt động thương mại - du lịch còn hạn chế, chưa tương xứng với tiềm năng, thế mạnh của tỉnh Để thương mại - du lịch trở thành đòn bẩy thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tạo nguồn lực mới cho Quảng Nam bước vào thời kỳ hội nhập, ngành thương mại - du lịch tỉnh nhà cần có phương hướng và những bước đi phù hợp, tạo thế và lực mới

Việc Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) là cơ hội tốt tạo điều kiện cho tất cả các địa phương trong đó có Quảng Nam phát triển thị trường hàng hóa và dịch vụ, mở rộng thị trường xuất khẩu ra quy mô toàn cầu, tăng cường cải cách, đổi mới kinh tế - xã hội, từ đó tiếp tục tăng cường thu hút đầu tư và kỹ thuật của nước ngoài, nâng cao tính hiệu quả và sức cạnh tranh Nhưng gia nhập WTO, chúng ta đối đầu hàng loạt

thách thức Thứ nhất, cạnh tranh sẽ diễn ra gay gắt hơn, với nhiều đối thủ hơn, trên bình diện rộng hơn, sâu hơn Thứ hai, trên thế giới và mỗi quốc gia sự “phân phối” lợi ích là

không đồng đều Một bộ phận dân cư được hưởng lợi ít hơn, thậm chí bị tác động tiêu cực của toàn cầu hóa, nguy cơ phá sản một bộ phận doanh nghiệp và nguy cơ thất nghiệp sẽ

tăng lên, phân hóa giàu nghèo sẽ mạnh hơn Thứ ba, hội nhập kinh tế quốc tế trong một

thế giới toàn cầu hóa, tính phụ thuộc lẫn nhau sẽ tăng lên Sự biến động trên thị trường các

nước sẽ tác động mạnh mẽ đến thị trường trong nước Thứ tư, hội nhập kinh tế quốc tế đặt

ra những vấn đề mới trong việc bảo vệ môi trường, bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn bản sắc văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc

1.3.Nguồn lực tài chính và vấn đề sinh kế của người dân:

1.3.1 Nguồn thu cơ bản cho ngân sách của địa phương

Ngân sách của địa phương được xác định bởi các nguồn: nguồn tích lũy trong dân

và doanh nghiệp, nguồn hỗ trợ từ ngân sách Trung ương, nguồn tín dụng cho vay ưu đãi

và cho vay thương mại, nguồn ODA và nguồn thu hút từ tỉnh ngoài Ngoài ra, nguồn đóng góp lao động công ích của dân, đóng góp của các chủ đầu tư, các cơ quan đoàn thể

Bảng 8: Cơ cấu nguồn thu ngân sách từ kinh tế địa phương(%)

Thuế TTCN, TN và DV ngoài QD 22,9 21,0 25,8 29,1 45,1

Thuế SD đất NN+ thuế thu nhập 0,8 1,2 1,4 2.0 2.0

Thu KT địa phương khác 66,6 57,9 57,7 57,8 43,9

Nguồn: NGTK Quảng Nam 2004, 2008

Ở Quảng Nam tỷ lệ thu từ nguồn trợ cấp TW vẫn là chủ yếu và hiện đang có xu

hướng ngày càng tăng (chiếm khoảng trên 40% tổng thu) Những năm qua, mặc dù kinh tế của tỉnh tăng trưởng đáng kể, xong do xuát phát điểm của nền kinh tế nhỏ bé, cơ sở hạ

Trang 18

tầng cũng rất yếu kém, điều kiện khí hậu khắc nghiệt, …nguồn lực trong dân lại không cao nên tỷ lệ thu ngân sách trên địa bàn từ ngân sách địa phương chiếm tỷ trọng thấp

Xét nguồn thu ngân sách từ địa phương : cơ cấu nguồn thu ngân sách địa phương

trong những năm qua luôn thấp hơn thu trợ cấp từ trung ương Điều này cho thấy năng lực kinh tế của tỉnh Quảng Nam còn rất yếu, vẫn còn phụ thuộc vào bên ngoài nhiều

Đối với nguồn thu ngân sách ở cấp huyện : chủ yếu thu từ nguồn trợ cấp ngân sách

Tỉnh và thu bổ sung thực hiện có mục tiêu hàng năm.Ở đây có một sự chênh lệch khá lớn

về nguồn thu ngân sách giữa các huyện trong tỉnh Ở các huyện đồng bằng ven biển như Tam Kỳ, Quế Sơn, Hội An là những địa bàn có nhiều lợi thế trong phát triển kinh tế biển, du lịch nên nguồn thu ngân sách cũng phong phú và đạt hiệu quả cao hơn Ngân sách Nhà nước cho các huyện này cao gấp 15-20 lần so với các huyện miền núi Với các huyện miền núi, nguồn thu ngân sách cũng còn quá ít, trong khi đó nhu cầu đầu tư cơ sở

hạ tầng và các công trình phúc lợi xã hội công cộng khác lại rất lớn, nên đây cũng là một trở ngại cho sinh kế của dân cư vùng núi

1.3.2 Nhu cầu đầu tư và thực trạng thực hiện đầu tư cho phát triển bền vững

a Nhu cầu đầu tư

*Nhu cầu đầu tư cho XĐGN

Hiện tại, số hộ nghèo ở tỉnh chiếm tỷ lệ rất cao ( 23,24%) Các huyện miền núi là những địa bàn có tỷ lệ hộ nghèo cao nhất, có nơi tỷ lệ hộ nghèo chiếm tới trên 50% như Nam Trà My (63,8%); Tây Giang (57,98%); Nam Giang (55,8%); Bắc Trà My (51,47%)…vì vậy nhu cầu đầu tư cho xóa đói giảm nghèo luôn được đặt lên hàng đầu

*Nhu cầu đầu tư cho phát triển kinh tế

Vùng kinh tế miền Trung tuy yếu kém hơn về hạ tầng và nhân lực nhưng lại có tiềm năng lớn về cảng biển trung chuyển; phát triển du lịch nghỉ dưỡng và di sản thế giới (khu vực Trung Bộ chiếm 6/7 di sản thế giới tại Việt Nam) … Đây sẽ là một lợi thế rất lớn để tỉnh Quảng Nam phát huy hết lợi thế của mình nhằm phát triển kinh tế hướng tới mục tiêu xoá đói giảm nghèo, cải thiện và nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân

Để làm được việc này, thì việc gọi vốn đầu tư cho phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Quảng Nam vẫn là rất lớn

Lĩnh vực được coi là kinh tế mũi nhọn: gồm công nghiệp chế biến nông- lâm- hải sản, công nghiệp may mặc xuất khẩu, công nghiệp thực phẩm; ngành dịch vụ -du lịch…

b Thực trạng thực hiện đầu tư cho phát triển bền vững

Bằng nhiều nguồn vốn khác nhau như nguồn vốn từ ngân sách tỉnh, TW và các nguồn vốn khác đã góp phần tích cực vào sự phát triển kinh tế xã hội, môi trường, cải thiện sinh kế của người dân trên địa bàn tỉnh nói chung, các huyện nói riêng đã góp phần tạo đà cho nền kinh tế của tỉnh tăng trưởng và nó đã tác động lớn đến các hoạt động sinh

kế của người dân, góp phần ổn định cuộc sống của của người dân trong tỉnh

Bảng 9 : Tỷ lệ vốn đầu tư so với GDP 2000- 2008 (%)

Năm Vốn đầu tư

(triệu đồng)

GDP giá thực tế (triệu đồng)

Trang 19

Doanh nghiệp Nhà nước vẫn giữ vai trò quan trọng, nguồn vốn khu vực Nhà nước vẫn chiếm tỷ lệ lớn so với tổng lượng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội và đang có xu hướng tăng lên (50%- 60%) Việc thu hút các nguồn vốn đầu tư nước ngoài là một trong những mục tiêu quan trọng góp phần đáng kể trong nguồn thu ngân sách của tỉnh Hiện tại, các dự án trong khu kinh tế đã tạo ra hơn 200.000 cơ hội việc làm cho các hộ dân phía Đông Quảng Nam, làm giảm nhanh tỷ lệ hộ nghèo trên địa bàn

Bảng 10: Cơ cấu vốn đầu tư thùc hiÖn theo thµnh phÇn kinh tÕ (gi¸ t tÕ %)

Năm Tæng

Khu vực Nhà nước

Khu vực ngoài Nhà nước

Khu vực cóVĐT nước ngoài

mạnh so với mục tiêu chuyển đổi cơ cấu kinh tế của tỉnh Nhất là chưa cải thiện nhiều vấn

đề sinh kế và gia tăng thu nhập cho phần lớn lực lượng lao động của tỉnh hiện nay vẫn tham gia chủ yếu vào hoạt động nông, lâm, thủy sản Đến năm 2008, tỷ trọng đầu tư ngành nông, lâm, ngư chỉ chiếm 4,8% so với 8 năm trước đây chiếm 13,0% tổng vốn đầu

tư Như vậy, có thể thấy đầu tư cho nông nghiệp của tỉnh còn ít sẽ làm hạn chế khả năng chuyển đổi cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp, đời sống của một bộ phận người dân chậm được cải thiện

Bảng 11: Cơ cấu vốn đầu tư xã hội theo ngành (%)

2 Công nghiệp- Xay dựng 38,3 27,0 38,5 48,3

Nguồn: Tính toán theo số liệu thống kê của tỉnh Quảng Nam

1.3.3 Một số dự báo về nguồn vốn đầu tư cho phát triển kinh tế xã hội tỉnh Quảng Nam đến năm 2015

Để đáp ứng được các mục tiêu đã đề ra là :

- Tăng trưởng kinh tế tính theo tổng sản phẩm nội địa (GDP) đạt bình quân năm khoảng khoảng 12-12,5% thời kỳ 2010 - 2015 GDP bình quân đầu người (theo giá thực tế) đến 2015 đạt khoảng 1.374-1.480USD/người

- Nâng mức huy động ngân sách trong GDP ổn định khoảng 23 - 25% cho đến năm

2015 Tỷ lệ đầu tư xã hội trong GDP khoảng 34-35% thời kỳ 2006-2015 và thực hiện tốt các mục tiêu khác về xã hội và môi trường

Nhu cầu vốn đầu tư trong giai đoạn 2005-2015 sẽ khoảng 125 tỷ đồng, ở năm

2015 sẽ khoảng 80-85 nghìn tỷ đồng, trong đó lĩnh vực công nghiệp+ xây dựng chiếm 47,4%; dịch vụ 43,8%, còn lại là nông nghiệp Thu hút nguồn ODA và FDI có khả năng tăng hơn trước; đây cũng là nguồn lực đáng kể trong thời gian tới.(Nguồn ODA có thể thu hút khoảng 160-180 triệu USD thời kỳ 2010-2015.)

Trang 20

Bảng 12: Nhu cầu vốn đầu tư (Đơn vị tính: Tỷ đồng) Thời kỳ

1.4 TÀI NGUYÊN VÀ SINH KẾ:

1.4.1 Tài nguyên đất

Tài nguyên đất của Quảng Nam được phân làm 10 nhóm :

Nhóm đất phù sa ven sông chiếm 5,01% tổng diện tích tự nhiên Phân bố chủ yếu

ở vùng hạ lưu các con sông Đây là đất quan trọng nhất cho phát triển cây lương thực, cây thực phẩm và cây công nghiệp ngắn ngày

Nhóm đất đỏ vàng chiếm 76,23% tổng diện tích đất tự nhiên Phân bố ở hầu hết ở

các huyện trong tỉnh nhưng tâp trung nhiều ở vùng Trung du, miền núi và rải rác các gò đồi ở vùng đồng bằng, thuận lợi cho trồng rừng, cây công nghiệp và cây ăn quả dài ngày

Nhóm đất mặn, đất phèn và đất cát ven biển chiếm 4,47% diện tích tự nhiên Phân

bố chủ yếu ở khu vực ven biển các huyện Điện Bàn, Hội An, Duy Xuyên, Thăng Bình, Tam Kỳ và Núi Thành, hiện đang được khai thác cho mục đích nuôi trồng thủy sản và phát triển du lịch biển Ngoài ra còn có các nhóm đất đen, đất dốc tụ và đất mòn trơ xói đa phân bố chủ yếu ở khu vực Trung du và miền núi

1.4.2 Tài nguyên nước

Tài nguyên nước ngầm chủ yếu khai thác ở tầng nông phục vụ cho nhu cầu sinh

hoạt và sản xuất của các ngành kinh tế Phương thức sử dụng nước ngầm thường không tuân theo quy định: không nắm được đặc điểm địa chất thủy văn, không đảm bảo các yêu cầu về vệ sinh nên phần lớn các giếng có chất lượng chưa đảm bảo tiêu chuẩn nước sinh hoạt

Sự giảm sút diện tích rừng đầu nguồn cộng với việc khai thác, sử dụng nước ngầm vào mục đích sinh hoạt và cấp nước cho các ngành kinh tế một cách tự phát, thiếu quy hoạch như hiện nay đã làm tăng nguy cơ cạn kiệt và ô nhiễm các tầng nước ngầm, gây sụt lún đất ở một số nơi, tạo điều kiện cho sự xâm nhập mặn vào sâu trong đất liền

Tài nguyên nước mặt ở Quảng Nam phân bố chủ yếu trên hệ thống sông Thu Bồn

– Vu Gia, Tam kỳ cùng với mạng lưới sông, suối dày đặc và hệ thống ao hồ phân bố đều khắp các huyện trong tỉnh đã cung cấp phần lớn lượng nước cho sản xuất nông nghiệp, công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp và sinh hoạt của người dân

Trên địa bàn tỉnh có 24 hồ chứa,chiếm khoảng 50% năng lực tưới của hệ thống thủy lợi Đây là một trong những nguồn nước chính cho sản xuất và sinh hoạt, đồng thời còn được khai thác sử dụng vào mục đích thủy điện, nuôi trồng thủy sản và góp phần điều tiết nước vào mùa mưa lũ

Trang 21

Tuy nhiên, do lượng mưa hàng năm phân bố không đều về mặt không gian và thời gian nên hàng năm thường gây ra hiện tượng hạn hán vào mùa khô và lũ lụt vào mùa mưa

1.4.3 Tài nguyên rừng

Quảng Nam có nguồn tài nguyên rừng phong phú chiếm 51,87% diện tích tự nhiên toàn tỉnh Rừng Quảng Nam có tiềm năng kinh tế lớn, tính đa dạng sinh học cao, có vai trò đặc biệt quan trọng về phòng hộ đầu nguồn, điều hòa khí hậu, cung cấp nguồn nước cho sản xuất và đời sống, là mái nhà chung bảo vệ cho vùng thượng lưu cũng như vùng đồng bằng ven biển

Sinh kế truyền thống của người dân vùng núi chịu ảnh hưởng rất lớn từ rừng, họ khai thác từ rừng các loại sản vật phục vụ nhu cầu thiết yếu hàng ngày, một số ít có thể được dùng để trao đổi hàng hóa Trong những năm qua, hiện tượng du canh, du cư của các dân tộc miền núi kéo theo nạn khai thác rừng bừa bãi, đốt nương làm rẫy đã làm thiệt hại không ít đến tài nguyên rừng Việc rừng bị tàn phá dẫn đến diện tích đất cằn tăng lên (do không được cây rừng che phủ nên bị rửa trôi xói mòn)

Gần đây nhờ một số chính sách và các chương trình bảo vệ và phát triển rừng nên diện tích có rừng che phủ tăng lên đáng kể, nhưng chất lượng rừng thì tiếp tục bị suy giảm Điều này không chỉ tác động xấu đến sinh kế của người dân sống phụ thuộc vào rừng do sự giảm sút các nguồn thu nhập từ rừng ở khu vực trung du, miền núi mà còn làm tăng độ rủi ro cho hàng vạn cư dân sống ở khu vực đồng bằng và ven biển nơi hạ nguồn của hệ thống sông Thu Bồn – Vu Gia

1.4.4.Tài nguyên biển

Quảng Nam có 125 km đường bờ biến, có nhiều bãi biển cát trắng mịn, rộng, sạch

và đẹp, hiện tại đang kêu gọi thu hút đầu tư về du lịch, khách sạn và nghỉ dưỡng Ngư trường Quảng Nam rộng lớn với hơn 40.000 km2, hai vùng cửa sông là cửa Đại và An Hòa với rất nhiều loại hải sản có giá trị kinh tế cao

Với nguồn lợi thủy hải sản phong phú, cảnh quan sinh thái đẹp thuận lợi cho phát triển các ngành du lịch biển, khai thác, chế biến và nuôi trồng thủy sản xuất khẩu Hoạt động thủy sản ven biển của tỉnh trong những năm qua có những đóng góp quan trọng trong chương trình xóa đói giảm nghèo, cải thiện sinh kế cho dân nghèo, làm thay đổi bộ mặt nông thôn vùng ven biển

Tuy nhiên, vùng biển và ven biển Quảng Nam đang vấp phải những khó khăn và thách thức lớn trong quá trình khai thác và sử dụng tài nguyên biển như: Trình độ dân trí còn thấp, cơ hội tạo việc làm còn ít, khai thác quá mức và sử dụng chưa hợp lý các nguồn tài nguyên biển khiến cho hệ sinh thái rạn san hô, thảm cỏ biển, thảm thực vật ngập mặn

và vùng đất ngập nước ngày càng thu hẹp về diện tích, suy giảm tính đa dạng sinh học Các hoạt động sản xuất và dân sinh của cộng đồng dân cư ven biển, các tác động của hoạt động khai thác cát, ti tan hay việc quy hoạch phát triển các khu đô thị, khu – cụm công nghiệp gần bờ gây ô nhiễm đất, nước biển và ảnh hưởng tiêu cực đến phát triển lâu dài và bền vững

1.4.5 Tài nguyên khoáng sản:

Tài nguyên khoáng sản tỉnh Quảng Nam tương đối phong phú và đa dạng, trong đó

có một số loại có trữ lượng lớn có khả năng khai thác công nghiệp như: than đá ở Nông Sơn, Ngọc Kinh An Điềm ( trữ lượng khoảng 10 triệu tấn), vàng gốc và sa khoáng ở Bồng Miêu, Trà Dương, Nam Trà My, Bắc Trà My, cát trắng công nghiệp và vật liệu xây dựng

Trang 22

có trữ lượng tương đối lớn ở khu vực Bắc và Đông Bắc của tỉnh Ngoài ra, trên địa bàn Quảng Nam có nhiều mỏ nước khoáng, nước ngọt chất lượng tốt, các loại khoáng sản quý như uranium và nguyên liệu làm xi măng như đá vôi, granit, ti tan, cao lanh

1.4.6 Tài nguyên du lịch tự nhiên và nhân văn

- Tài nguyên du lịch tự nhiên: Hiện tỉnh có 2 khu rừng nguyên sinh, 60 địa điểm

với nhiều phong cảnh hữu tình: có nhiều hồ nước, sông, suối có cảnh quan hấp dẫn, có

125 km bờ biển với nhiều bãi tắm đẹp, có các cù lao trên biển, trên sông và nhiều điểm du lịch sinh thái tạo nên những tuyến du lịch độc đáo, phong phú, thu hút khác du lịch

- Tài nguyên du lich nhân văn: Quảng Nam là tỉnh có tiềm năng lớn về phát triển

du lịch Trên địa bàn tỉnh có 2 di sản văn hóa thế giới là khu đền tháp Mỹ Sơn và đô thị cổ Hội An; trên 20 công trình văn hóa khác và có khoảng 200 di tích lịch sử có giá trị phục

vụ phát triển du lịch

Quảng Nam cũng nổi tiếng với những làng nghề truyền thống và tập quán dân gian được lưu truyền từ nhiều thế kỷ Mặt khác, hai cuộc kháng chiến chống Mỹ và Pháp vĩ đại cũng để lại những di tích lịch sử cách mạng quan trọng như: Địa đạo Kỳ Anh, di tích Núi Thành, Nước Oa, Phước Trà, Trường An, Thượng Đức…

2.Thực trạng sinh kế của người dân Quảng nam

2.1 Sinh kế truyền thống của người dân Quảng Nam theo ngành

2.1.1 Sinh kế bằng sản xuất nông nghiệp.

- Quảng Nam chủ yếu vẫn là tỉnh thuần nông

- Phần đông dân số sống ở nông thôn ( 85%)

- Dân cư Quảng Nam chủ yếu là dân cư nông thôn, sinh kế phần lớn dựa vào sản xuất nông nghiệp, nhất là hoạt động trồng trọt

Gần đây, Quảng Nam có chủ trương chuyển hướng chiến lược phát triển kinh tế, theo hướng ưu tiên phát triển du lịch, dịch vụ, công nghiệp có công nghệ cao và sạch ở vùng ven biển, nhằm tạo ra sự phát triển nhanh và bền vững vùng ven biển; phát triển kinh tế-xã hội đi đôi với bảo vệ môi trường

Ở Quảng Nam diện tích đất lâm nghiệp chiếm thế mạnh (51,8%), song tỷ trọng hộ lâm nghiệp lại rất thấp (0.38%) Nguyên nhân của tình trạng này là do đời sống hộ làm rừng chưa được cải thiện

Sinh kế của người dân có liên quan đến mức thu nhập của họ trong một năm Đối với các huyện trung du, miền núi thì thu nhập chính của các hộ gia đình vẫn là sản xuất nông nghiệp, trong đó gồm cả trồng trọt và chăn nuôi (Bắc Trà My: 38,7%; Đại Lộc: 73,7%; Quế Sơn: 49,1%) Với các huyện đồng bằng ven biển thì thu nhập từ nông nghiệp chỉ mang tính chất phụ thêm hoặc chỉ là của một số nhỏ bộ phận người dân nên tỷ trọng của nguồn thu nhập này chiếm dưới 10% so với tổng mức thu nhập của họ (Hội An: 6,0%; Núi Thành: 8,9%) Có một sự chênh lệch lớn về thu nhập từ sản xuất nông nghiệp giữa các huyện đồng bằng ven biển và các huyện trung du, miền núi: Thu nhập của các huyện trung

du, miền núi cao hơn nhiều so với các huyện đồng bằng ven biển, ví dụ như của Quế Sơn cao gấp 5,5 lần so với Núi Thành; Đại Lộc cao gấp 8,2 lần so với Núi Thành và gấp 12,2 lần so với Hội An

Thu nhập từ sản xuất nông nghiệp thường là thấp hơn nhiều so với thu nhập từ các ngành nghề phi nông nghiệp Chính vì vậy, những hộ có thu nhập chính từ sản xuất nông nghiệp là thường là những hộ nghèo

Trang 23

Bảng13: Cơ cấu thu nhập bình quân 12 tháng từ sản xuất nông nghiệp của các

hộ gia đình và theo mức độ kinh tế hộ (%)

Các nguồn thu Bắc Trà My Đại Lộc Hội An Núi Thành Quế Sơn

Lãi từ tiền gửi tiết kiệm/đầu tư sản

Nguồn: Tổng hợp phiếu điều tra của dự án(Bảng 9)

2.1.2 Sinh kế bằng đánh bắt và nuôi trồng thủy hải sản.( NTTS)

Một trong những thế mạnh của các địa phương ven biển là đánh bắt và nuôi trồng thủy hải sản Việc phát triển ngành thủy hải sản đã có tác động tích cực tới sự chuyển đổi

cơ cấu kinh tế các huyện ven biển nói riêng, điển hình là các xã ven biển của Núi Thành, Hội An, Tam Kỳ, Điện Bàn, Duy Xuyên và Thăng Bình Hoạt động thuỷ sản ven biển đã thực sự góp phần làm thay đổi bộ mặt nông thôn ven biển, góp phần đáng kể vào chương trình xoá đói giảm nghèo, nhiều hộ gia đình nông thôn ven biển đã trở nên giàu có

Giá trị sản xuất ngành thuỷ sản tăng lên rất nhanh chóng Năm 2008 gấp 5,6 lần so với năm 1997 Diện tích mặt nước nuôi trồng thủy hải sản tăng 1.016 ha ở giai đoạn 2004-2008 Tuy nhiên, do bị ảnh hưởng thiên tai trong những năm gần đây , giá trị sán xuất của ngành bị ảnh hưởng mạnh…

Thu nhập từ khai thác, nuôi trồng thủy hải sản chiếm tỷ trọng tương đối lớn đặc biệt

ở Huyện Núi Thành, thu nhập bình quân một năm của cả hộ gia đình từ thuỷ hải sản chiếm 39,1% Huyện Hội An chiếm 22,5% tổng thu

Nếu phân theo ngư trường đánh bắt thì có 21,3% đánh bắt nội địa, 78,7% khai thác biển Số lượng tàu thuyền được phân bổ nhiều nhất ở các huyện thị sau:

Bảng 14: Số lượng tàu thuyền đánh bắt thủy sản cơ giới Đơn vị

Huyện Núi Thành 1.112 28.996 1.467 43.561 355 14.565

Nguồn : Kết quả tổng điều tra nông thôn, nông nghiệp và thủy sản năm 2006

Trang 24

Trong 4 lĩnh vực của ngành thủy sản tỉnh: đánh bắt, nuôi trồng, chế biến, dịch vụ, thế mạnh số 1 là đánh bắt thủy hải sản Nghề đánh cá xa bờ phát triển, mang đến nguồn lợi kinh tế lớn, đời sống của đại bộ phận ngư dân được cải thiện Mặc dù ở Quảng Nam , diện tích dành cho nuôi trồng thủy sản không nhiều, nhưng hiện nay, ngành đang định hướng không phát triển theo chiều rộng mà phát triển theo chiều sâu, thông qua việc nâng cao năng suất, sử dụng những vùng đất cát nuôi tôm, nuôi lồng trên biển, nuôi nâng cấp tôm hùm… Nghề nuôi trồng thủy sản đã phát triển rộng khắp từ miền núi đến đồng bằng, ven biển, tạo được việc làm và nguồn thu nhập cho hàng ngàn hộ dân

Ở 2 lĩnh vực chế biến và dịch vụ, mặc dù có những bước phát triển nhất định, nhưng nhìn chung còn yếu, sự phát triển chưa tương xứng với tiềm năng Để ngành thủy sản phát triển bền vững và tương xứng với tiềm năng thì còn rất nhiều việc cần phải giải quyết mà trước hết là những vấn đề khó khăn trước mắt của người dân nuôi trồng thủy hải sản nhỏ Người dân NTTS nhỏ của Quảng Nam gặp một số vấn đề và khó khăn như sau:

- Nguồn vốn/sự tiếp cận tài chính

- Tiếp cận với khoa học công nghệ

- Tiếp cận thị trường và thông tin thị trường

- Thiên tai, dịch bệnh như: thời tiết thay đổi, hạn hán, lũ lụt…

- Thiếu các hướng dẫn thích hợp cho trang trại tiêu chuẩn, hoạt động và quản lý

- Vị trí, khu vực xa xôi không có cơ sở hạ tầng cơ bản/công cộng

- Cạnh tranh với những người NTTS lớn

- Các chính sách không nhất quán (môi trường, liên quan đến NTTS )

- Không tham gia vào các chứng nhận, không thể tiếp cận những thị trường và đảm bảo giá cả thị trường tốt

- Lợi nhuận chênh lệch

- Lợi ích cá nhân với lợi ích nhóm

Để giải quyết những khó khăn này cần có sự ràng buộc giữa tất cả các biên liên quan như người dân, cộng đồng làng xã, cán bộ khuyến ngư, các viện nghiên cứu và các cơ quan của chính phủ…

2.1.3 Sinh kế bằng sản xuất lâm nghiệp (khai thác, trồng và bảo vệ rừng)

Một thế mạnh của tỉnh Quảng Nam là đất lâm nghiệp, chiếm khoảng trên 50% tổng diện tích đất tự nhiên, với độ che phủ 42,5%, đứng thứ 8 so với các tỉnh trong toàn quốc Diện tích rừng trồng được phân bố nhiều ở các huyện như Quế Sơn, Hiệp Đức, Tiên Phước, Đông Giang, Nông Sơn, Núi Thành, Tây Giang Các hoạt động lâm nghiệp thường là sinh kế của các dân cư vùng trung du và miền núi của tỉnh, điều đó đã cải thiện một phần cuộc sống của người dân, tuy nhiên việc khai thác không hợp lý đang đặt ra nhiều vấn đề về tài nguyên, thiên tai, môi trường và có ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của người dân

Hiện nay, tỷ trọng hộ lâm nghiệp của tỉnh còn quá nhỏ, trong 8 huyện miền núi thì mới chỉ có khoảng hơn 200 hộ lâm nghiệp, bình quân một huyện mới có gần 30 hộ Đời sống hộ làm rừng chưa được cải thiện Thu nhập/1 năm của một hộ hiện tại từ sản xuất lâm nghiệp (khai thác lâm sản) còn chiếm tỷ trọng rất nhỏ (Núi Thành: 16,9%; Quế Sơn:

1,9%; Hội An: 3,3%-nguồn : Tổng điều tra, bảng 1) Vấn đề đặt ra là cần có chính sách

khuyến khích để người làm rừng đủ sống và tiến tới làm giàu bằng nghề rừng

Trang 25

2.1.4 Sinh kế qua các hoạt động phi nông nghiệp (công nghiệp, buôn bán, kinh doanh, dịch vụ- du lịch)

Trong chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông thôn, vai trò của phát triển kinh tế phi nông nghiệp

ở nông thôn bao gồm công nghiệp và dịch vụ là rất quan trọng Khu vực kinh tế phi nông

là cầu nối giữa nông nghiệp hàng hóa (thường đứng trong sự mâu thuẫn giữa tăng năng suất và giảm giá) và sinh kế tạo ra trong công nghiệp và dịch vụ đô thị Hơn một nửa thu nhập ở nông thôn là từ phi nông nghiệp nên nó là cái thang để từ không có việc làm đến

có việc làm thường xuyên trong kinh tế nông thôn

Bên cạnh những tiềm năng trong phát triển lĩnh vực nông, lâm, thuỷ sản thì Quảng Nam cũng là một trong những tỉnh có nhiều tiềm năng trong phát triển công nghiệp, du lịch, dịch vụ…tạo sinh kế, tăng thu nhập đáng kể cho người dân địa phương

Công nghiệp:

Tỉnh Quảng Nam đã hình thành và phát triển một số ngành công nghiệp mũi nhọn, tạo ra những sản phẩm chủ lực như chế biến nông lâm hải sản, giày da, may mặc xuất khẩu, lắp ráp ôtô, vật liệu xây dựng, điện, điện tử Ưu tiên phát triển ngành công nghệ thông tin trong khu KTM Chu lai Tập trung lấp đầy các khu công nghiệp hiện có, hoàn thành xây dựng hạ tầng và lấp đầy các cụm công nghiệp nhỏ, phấn đấu đạt mỗi huyện thị

từ một đến hai cụm Khôi phục, phát triển làng nghề tiểu thủ công nghiệp ở nông thôn,

ưu tiên cho các dự án công nghiệp đầu tư vào địa bàn nông thôn, miền núi

Là một trong những tỉnh có nguồn tài nguyên khoáng sản, phi khoáng sản tương đối phong phú và đa dạng, mang lại hiệu quả kinh tế cao Ngoài ra trên địa bàn còn có nhiều

mỏ nước khoáng, nước ngọt chất lượng tốt, các loại khoáng sản quý như uranium và nguyên liệu làm xi măng như đá vôi; các khoáng sản khác như đá granit, titan, cao lanh với các loại nguyên liệu phục vụ xây dựng, làm sành, sứ,thủy tinh…

- Là một trong những tỉnh có rất nhiều làng nghề Các làng nghề ở đây đang rất được quan tâm khôi phục và phát triển, đã xuất hiện nhiều nghề mới, làng nghề mới với quy mô và hính thức tổ chức đa dạng, phong phú … Các làng nghề đã góp phần không nhỏ trong giải quyết việc làm, nâng cao đời sống của người lao động và đóng góp cho sự tăng trưởng kinh tế của tỉnh

Dịch vụ :

Quảng Nam còn là một trong những tỉnh có tiềm năng lớn về phát triển du lịch Hiện ngành du lịch là ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh Với hai di sản văn hoá thế giới là khu đền tháp Mỹ Sơn và đô thị cổ Hội An; trên 20 công trình văn hoá khác, có khoảng

200 di tích lịch sử Về tự nhiên, tỉnh có hai khu rừng nguyên sinh, 60 địa điểm với nhiều phong cảnh đẹp như Hồ Phú Ninh (huyện Phú Ninh), Thuận Tình (Hội An)…, bờ biển đẹp có thế mạnh phát triển du lịch và các đảo du lịch Hiện tại và trong tương lai, Quảng Nam là một điểm du lịch hấp dẫn, đóng vai trò rất quan trọng trong việc phát triển du lịch không chỉ của vùng kinh tế trọng điểm miền Trung mà còn của cả nước

Với những tiềm năng này, Quảng Nam có nhiều lợi thế trong phát triển các ngành công nghiệp, dịch vụ- du lịch và đây là một trong những sinh kế của phần lớn người dân ở vùng ven biển, ở các trung tâm thị trấn, thị tứ của tỉnh

Tuy công nghiệp, dịch vụ- du lịch chiếm tỷ trọng cao nhưng tỷ lệ lao động toàn tỉnh làm trong lĩnh vực này hiện mới chỉ chiếm 37,6% (năm 2008) trong cơ cấu lao động Sự phát triển của các ngành công nghiệp, dịch vụ- du lịch đã đem lại hiệu quả kinh tế cao, cải thiện nhiều cuộc sống của người dân nhưng mặt trái của nó hiện đang rất được tỉnh quan

Trang 26

tâm đó là việc khai thác các nguồn tài nguyên không hợp lý, các vấn đề ô nhiễm môi trường cũng như sự suy thoái các nguồn tài nguyên thiên nhiên và điều này cũng góp phần làm trầm trọng thêm các vấn đề do BĐKH của địa phương …

Trong quá trình hội nhập và phát triển, nông dân vẫn là thành phần được thụ hưởng

ít nhất thành quả của 20 năm đổi mới, của sự chuyển đổi qua kinh tế thị trường, và gặp nhiều khó khăn nhất trong làm ăn, mặc dù sự năng động của nông dân là điều ai cũng biết Những chính sách hỗ trợ để nông dân có thể sống được với thị trường, làm chủ và khai thác được thị trường - như quy hoạch đất đai và cơ sở hạ tầng cho nông nghiệp và nông thôn, chuyển giao công nghệ, thông tin thị trường, cung cấp tín dụng, hệ thống cung ứng vật tư, chính sách và hệ thống thu mua, tiêu thụ, chế biến nông sản có lợi nhất cho nông dân là điều chúng ta cần đặc biệt quan tâm

2.2.Sinh kế của người dân Quảng Nam theo vùng:

- Địa hình Quảng Nam chia thành các vùng sinh thái khác nhau và mỗi vùng người dân lại có sinh kế khác nhau để phù hợp với điều kiện tự nhiên- tập quán, điều kiện kinh tế xã hội của địa phương Nhìn chung người dân trong tỉnh sống chủ yếu vẫn

là dựa vào nông nghiệp Đây là một trong những sinh kế cơ bản đối với cả người dân đồng bằng, ven biển tới các dân tộc miền núi của tỉnh Quảng Nam

2.2.1 Vùng đồng bằng và vùng ven biển:

Quảng Nam chiều dài bờ biển khoảng 125 km, trải trên 6 huyện và 15 xã ven biển, nơi tập trung khoảng 10 vạn dân, đa số là cộng đồng ngư dân- sống chủ yếu bằng nghề khai thác hải sản, nuôi trồng thủy sản và các hoạt động hậu cần khác phục vụ khai thác và nuôi trồng thủy sản Sinh kế chính của dân cư nơi đây dựa vào việc đánh bắt và nuôi trồng thủy sản và trồng cây lương thực, cây hoa màu

Vùng ven biển này lâu nay vẫn được xem là rất giàu tiềm năng phát triển du lịch, công nghiệp, nhưng cũng "giàu" bão lũ Ngoài thị xã Hội An và huyện Điện Bàn đang được phát huy tiềm năng, đời sống người dân tương đối ổn định, khấm khá, còn lại dải ven biển gồm 15 xã thuộc các huyện Núi Thành, Tam Kỳ, Thăng Bình, Duy Xuyên vẫn là

"vùng trũng" với kinh tế nghèo nàn lạc hậu, dân trí hạn chế, cơ sở hạ tầng yếu kém, khi bão lũ đến thường chia cắt, cô lập địa bàn, không thể triển khai sơ tán dân và tài sản kịp thời

Vùng đông dải ven biển Quảng Nam chỉ toàn cồn cát trắng , diện tích hơn 35.000ha thuộc các huyện Núi Thành, Tam Kỳ, Thăng Bình, Quế Sơn, Duy Xuyên, Hội An, Điện Bàn Hàng vạn gia đình nông dân vùng cát tuy giờ đã thoát cảnh đói , nhưng vẫn chưa thể hết nghèo, phát triển làm giàu bền vững Một thực tế cho thấy nếu so sánh lợi thế với miền núi, ngoài điều kiện giao thông thuận lợi thì tiềm lực, tiềm năng đều thua kém” Chính vì thế sinh kế của người dân vùng cát ven biển này còn nhiều khó khăn

Cây lúa được Nhà nước chú trọng đầu tư SX, nên vùng cát đã ổn định an ninh lương thực, song do đất cát nghèo dinh dưỡng, nên không thể thâm canh lúa làm giàu Còn lại các loại cây trồng cạn (đậu, rau, cây có củ các loại) thì vẫn phụ thuộc nước trời và nguồn nước nhỉ trong lòng cát, thường bị ngập úng vào mùa mưa do không có hệ thống tiêu thoát lũ lại bị dãy cồn cát dọc biển ngăn nước lại, nên sản xuất và đời sống bấp bênh

Nghề nuôi tôm sú nước lợ mươi năm trước bùng phát, người dân vùng cát phá cả rừng dương liễu phòng hộ ven biển, khoét luôn đê ngăn mặn, lấn sông Trường Giang để nuôi tôm Kết quả một số hộ giàu lên, rồi sau đó hàng ngàn hộ dân lâm cảnh nợ nần chồng chất Nhiều xã vùng cát Núi Thành gần như dân cả xã trở thành con nợ bởi đổ xô làm tôm

Trang 27

Cây điều ghép cao sản được kỳ vọng sẽ vực dậy vùng cát, nhưng rồi cả ngàn ha bị dân phá bỏ vì điều rớt giá thê thảm, điển hình là “huyện thí điểm” Thăng Bình bị tổn hại nặng nề

Cây ớt Hàn quốc được trồng ở Quảng Nam nhiều năm nay và cũng từng được coi là cây xóa đói và tạo nguồn sinh kế mới cho người dân đặc biệt ở các xã Điện Quang, Điện Trung, Điện Phong ( huyện Điện Bàn), xã Duy Châu huyện Duy Xuyên tuy nhiên người dân lai thường xuyên rơi vào hoàn cảnh khi ớt “được giá, mất mùa” “ được mùa mất giá” Nguyên nhân chính là do thời tiết quá khắc nghiệt, dịch bệnh bùng phát khiến cho cây trồng này sinh trưởng và phát triển kém dẫn đến năng suất thấp Nhiều nông dân cho biết, mặc dù giá tăng lên gấp đôi nhưng do sản lượng giảm theo tỷ lệ nghịch nên tổng giá trị thu

về cũng chỉ đủ bù lại tiền làm đất, mua hạt giống, phân bón, thuốc trừ sâu, nước tưới và trả công thu hoạch, lặt cuộn Thậm chí, không ít hộ mất luôn cả vốn đầu tư

Đối với việc đánh bắt xa bờ: Quảng Nam là tỉnh nghèo, tỷ lệ nghèo đói cao, vì vậy

việc đánh bắt xa bờ là điều mà ngư dân mong ước, tuy nhiên không mấy người dân đủ tiền

tỉ đóng tàu lớn xa bờ, trong khi chương trình nhà nước đầu tư tàu xa bờ giao dân làm chủ

đã không đem lại hiệu quả nếu không muốn nói là phá sản do cung cách triển khai lòng vòng, tiêu cực Vì vậy việc đầu tư đánh bắt xa bờ của đại đa số các hộ vùng ven biển Quảng Nam là bất khả thi , chỉ có việc đánh bắt gần bờ mới đang nuôi sống các gia đình gần biển, nhưng đó cũng khó thành sinh kế lâu dài do ngư trường cạn kiệt, nhiều rủi ro bởi

các diễn biến thất thường của khí hậu

Vùng ven biển, là nơi tập trung đông dân cư và phần lớn cơ sở hạ tầng của địa phương Tuy nhiên, cộng đồng sinh sống tại những khu vực này lại đang gặp rất nhiều khó khăn trong việc tìm kiếm kế sinh nhai Nguyên nhân dẫn đến những khó khăn trên chủ yếu do việc khai thác quá mức làm cạn kiệt nguồn lợi ven bờ Phát triển một sinh kế bền vững tại các địa phương này, bổ sung dẫn tới thay thế việc khai thác nguồn lợi ven biển Trong bối cảnh đó, du lịch sinh thái cộng đồng (DLSTCĐ) với các tiêu chí về bảo tồn tài nguyên, đa dạng sinh học, văn hoá và sự tham gia tích cực của cộng đồng, được xem là sinh kế phù hợp, có thể hỗ trợ đắc lực cho cộng đồng dân cư ven biển Quảng Nam Có thể thấy hoạt động tham quan, du lịch, nghiên cứu diễn ra khá thường xuyên tại Quảng Nam trong thời gian qua, đã biến nơi này trở nên sinh động và náo nhiệt hơn Đời sống của cư dân được cải thiện đáng kể nhờ vào các hoạt động dịch vụ

2.2.2 Vùng Trung du- miền núi bao gồm Vùng miền núi phía Bắc (Đông Giang,

Tây Giang, Nam Giang, Tây Đại Lộc) và vùng trung du miền núi phía Nam (Phước Sơn, Bắc Trà My, Nam Trà Mi, Hiệp Đức, Tiên Phước, Quế Sơn) Hoạt động kinh tế ở đây mạnh về các hướng sau:

- Phát triển kinh tế trang trại và chăn nuôi, phát triển kinh tế lâm nghiệp trở thành nguồn thu chính của đồng bào dân tộc ít người

- Phát triển loại hình du lịch vùng sông núi hoang dã cũng là hướng mới cho sinh

kế của dân cư vùng núi, tuy nhiên thực tế người dân ở đây chưa biết khai thác thế mạnh này để phục vụ cuộc sống của mình

- Phát triển các loại giống cây công nghiệp, cây ăn quả, cây dược liệu có hiệu quả kinh tế cao vào sản xuất đại trà, tiếp tục phát triển lúa nước ở những vùng có điều kiện

là hướng đi mà nhiều địa phương vùng trung du miền núi Quảng Nam đã lựa chọn , nhưng không phải tất cả đã thành công

Trang 28

Với độ cao trung bình 100m, vùng trung du thuộc miền Tây các huyện Thăng Bình, Duy Xuyên, Đại Lộc, Quế Sơn Nhân dân có truyền thống trồng lúa, màu, cây công nghiệp, chăn nuôi, trồng rừng, khai thác khoáng sản nhỏ, phi khoáng phục vụ cho phát triển vật liệu xây dựng

Vùng miền núi gồm 08 huyện phía Tây của tỉnh, là vùng núi cao, đầu nguồn các

lưu vực sông, nơi cư trú của đồng bào các dân tộc ít người Nhân dân sống chủ yếu bằng sản xuất nông lâm nghiệp với phương thức canh tác lạc hậu Thế mạnh của vùng là rừng, cây công nghiệp dài ngày và chăn nuôi đại gia súc Vùng có các khu rừng đặc sản như sâm Trà Linh, quế Trà My, Phước Sơn, có những khu vực đất đai thuận lợi cho phát triển cây cao su (Hiệp Đức), tiêu (Tiên Phước) và các cây công nghiệp dài ngày khác tạo điều kiện để hình thành các vùng nguyên liệu cho công nghiệp chế biến nông lâm sản, thực phẩm

Việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế là biểu hiện của sự chuyển dịch sinh kế của dân

cư Quảng Nam: Hiện nay dân số nông thôn và dân cư nông nghiệp vẫn chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu dân cư của tỉnh, tuy nhiên tổng sản phẩm do ngành nông nghiệp lại chiếm tỷ trọng thấp nhất Điều này chứng tỏ sinh kế của dân cư nông nghiệp còn rất khó khăn

Bảng15: Chuyển dịch cơ cấu GDP của Quảng Nam 2000-2008 (theo giá thực tế)

Tổng Nông lâm thủy hải sản Công nghiệp- xây dựng Dịch vụ

Nguồn: NGTK tỉnh Quảng Nam 2008- NXBTK 2009-cục thống kê Quảng Nam

Bảng 16:Chuyển dịch lao động của Quảng Nam giai đoạn 2000-2008 (nghìn người)

Năm Tổng % Nông – lâm

Nguồn: NGTK tỉnh Quảng Nam 2008- NXBTK 2009-cục thống kê Quảng Nam

Việc định hướng phát triển ngành và lãnh thổ ở Quảng Nam sẽ góp phần tạo thế mạnh của từng vùng, từng miền, góp phần ổn định sản xuất của địa phương, đảm bảo an sinh xã hội, nâng cao đời sống dân cư:

2.3 Mối quan hệ giữa sinh kế truyền thống với các điều kiện tự nhiên.

Mối quan hệ giữa các sinh kế truyền thống với các điều kiện tự nhiên là mối quan

hệ hai chiều, có tác động qua lại với nhau

2.3.1 Tác động của các yếu tố môi trường tự nhiên đến sinh kế

Để kiếm kế sinh nhai người dân sống cuộc sống tự cung tự cấp thường phụ thuộc nhiều và trực tiếp vào các điều kiện tự nhiên Tác động của các yếu tố tự nhiên đến sinh

kế có thể xem xét ở cả 2 mặt:

Trang 29

- Mặt tốt: Môi trường tự nhiên cung cấp nguyên liệu và không gian cho sản xuất xã

hội Con người sống trên Trái đất cần có không khí để hít thở, nước và thực phẩm để nuôi dưỡng cơ thể, đất đai để xây dựng nhà của, trồng cây, chăn nuôi và tiến hành các hoạt động sản xuất…Môi trường tự nhiên gắn liền với sự tồn tại của con người và là cơ

sở để con người sống và phát triển

- Mặt xấu: Môi trường tự nhiên cung cấp tài nguyên cần thiết cho con người duy trì

sự sống Tuy nhiên, cũng phải nói rằng môi trường tự nhiên cũng là nơi gây ra nhiều thảm họa cho con người (thiên tai), và các thảm họa này sẽ tăng lên nếu con người gia tăng các hoạt động mang tính tàn phá môi trường, gây mất cân bằng tự nhiên Đặc điểm

vị trí, địa hình, khí hậu Quảng Nam đã tạo nên hai mùa rõ rệt trong năm, đó là mùa khô

từ tháng 1 đến tháng 8 thường bị thiếu nước gây ra hạn hán và mùa mưa từ tháng 9 đến tháng 12 thường thừa nước gây lũ lụt Thiên tai trên địa bàn tỉnh Quảng Nam diễn ra đa dạng, hết sức phức tạp và khốc liệt, chủ yếu do ảnh hưởng của bão, áp thấp nhiệt đới, gió mùa Đông Bắc, tố lốc, giông sét, lũ quét, sạt lở đất tại nhiều địa phương Trong thời gian từ1997-2008, trên địa bàn tỉnh đã có 17 cơn bão, áp thấp nhiệt đới ảnh hưởng đến Quảng Nam, 44 trận lũ, trên 55 cơn lốc và giông sét đó gây ảnh hưởng lớn đối với các hoạt động sinh kế cũng như cuộc sống của người dân do các thiệt hại về cơ sở hạ tầng, về hiệu quả sản xuất kinh tế

Trong số các cơn bão đổ bộ vào Quảng Nam, điển hình là những cơn bão với tần suất rất mạnh đã tạo ra những trận lũ lớn gây thiệt hại nghiêm trọng đến sản xuất và đời sống người dân trong tỉnh Như cơn bão số 6 Xangsane( 2006) ước tính tổng thiệt hại là 1.900 tỷ đồng Gần đây nhất là những thiệt hại do bão số 9 trong năm 2009 ,ước tính tổng thiệt hại về nông nghiệp 4 tỷ 425 triệu đồng (trong đó, lúa 3,6 tỷ; sắn 825 triệu); về lâm nghiệp 2,7 tỷ đồng; thủy lợi 1,2 tỷ đồng; giao thông 1 tỷ đồng

Về mùa khô, thời tiết nắng nóng kéo dài, nhiệt độ tăng cao và lượng mưa thấp đã xảy ra hạn hán ở nhiều vùng trong tỉnh, đặc biệt là các khu vực trung du, miền núi và vùng cát ven biển Các năm 1998, 2001, 2003 và 2004 là những năm hạn nặng nhất trong

10 năm qua, phạm vi ảnh hưởng của hạn hán diễn ra trên cả miền núi, đồng bằng và ven biển làm cho nhiều đập dâng, hồ chứa nhỏ bị khô cạn,các sông bị suy kiệt dẫn đến nguồn nước ngầm bị giảm sút, xâm nhập mặn gia tăng và thâm nhập sâu vào nội đồng từ 20-40km Nắng nóng còn làm tố, lốc xuất hiện ở nhiều nơi như Đại Lộc, Thăng Bình, Hiệp Đức… gây hậu quả đáng kể đến người và tài sản của nhân dân

Như vậy có thể thấy, bên cạnh những mặt tích cực trong việc tạo ra các tiềm năng cho phát triển kinh tế xã hội thì vị trí nằm cạnh biển cùng với các điều kiện khí hậu đặc trưng đã gây ra nhiều khó khăn trong hoạt động sinh kế các địa phương ven biển nói chung, tỉnh Quảng Nam nói riêng

2.3.2 Tác động do các hoạt động sinh kế của con người đến môi trường tự nhiên

- Tích cực: Con người bằng các hoạt động sản xuất của mình đã cải tạo môi

trường tự nhiên thông qua việc cải tạo đất, nguồn nước, trồng cây xanh, trồng rừng, bảo vệ các loài động thực vật quí hiếm Tuy nhiên , vì lợi nhuận , vì sinh kế phần lớn hoạt động của con người điều mang lại tác động tiêu cực cho môi trường tự nhiên

- Tiêu cực:

+ Chặt phá rừng, chuyển đất rừng thành đất nông nghiệp làm mất đi nhiều loại động, thực vật quý hiếm, tăng xói mòn đất, thay đổi khả năng điều hoà nước và biến đổi khí hậu v.v

Trang 30

+ Gây ô nhiễm môi trường do các loại chất thải sinh hoạt và công nghiệp

+ Các hoạt động của con người đã ngăn cản chu trình tuần hoàn nước, ví dụ đắp đập, xây nhà máy thuỷ điện, phá rừng đầu nguồn v.v Việc này có thể gây ra úng ngập hoặc khô hạn nhiều khu vực, thay đổi điều kiện sống bình thường của các sinh vật nước

+ Gây mất cân bằng sinh thái thông qua việc: Săn bắn quá mức, đánh bắt quá mức; săn bắt các loài động vật quý hiếm như có thể dẫn đến sự tuyệt chủng nhiều loại động vật quý hiếm

Cụ thể trong từng lĩnh vực sản xuất, sự tác động này là rất khác nhau:

- Với các hoạt động sản xuất nông nghiệp

Sản xuất nông nghiệp là một trong những sinh kế phổ biến của người dân tỉnh Quảng Nam Trong quá trình sản xuất, người dân thực hiện một số các biện pháp chưa phù hợp trong canh tác đất đai và chăm sóc cây trồng, vật nuôi làm ảnh hưởng đến điều kiện tự nhiên và các nguồn tài nguyên thiên nhiên

+ Các biện pháp canh tác không hợp lý là nguyên nhân khiến tăng quá trình xói mòn rửa trôi và tài nguyên đất bị thoái hoá Hiện nay, đất xói mòn trơ sỏi đá ở Nam Trung Bộ

có 46.628ha chiếm 1,07% tổng diện tích đất tự nhiên của vùng thì hai tỉnh Quảng Nam-

Đà Nẵng chiếm 11,7% (5.438ha),

+ Việc sử dụng thuốc trừ sâu, diệt cỏ, các chất bảo vệ thực vật quá ngưỡng cho phép, quy trình dùng không đúng quy cách là nguyên nhân làm cho tài nguyên nước của vùng bị suy giảm, gây ô nhiễm nguồn nước do quá trình xói mòn rửa trôi đất và cuốn trôi phân bón trên đất canh tác vào nguồn nước

+ Việc sử dụng nước tưới trong sản xuất nông nghiệp làm suy giảm lưu lượng nước mặt và trữ lượng nước ngầm Đặc biệt nhu cầu nước tưới tăng cao trong mùa kiệt gây mất cân bằng sinh thái nghiêm trọng Đối với nước mặt, nhu cầu nước tưới ở thượng nguồn sẽ

có ảnh hưởng đáng kể đến lưu lượng nước đổ về hạ lưu, từ đó làm giảm khả năng tự làm sạch của các dòng sông và làm gia tăng độ xâm nhập mặn Việc xây dựng các hồ chứa còn làm thay đổi lưu lượng và dòng chảy các con sông gây ra tình trạng xói lở bờ…

- Đối với khai thác và nuôi trồng thuỷ hải sản

Kinh tế thuỷ sản là một bộ phận cấu thành kinh tế nông-lâm- ngư nghiệp và là một trong những ngành kinh tế mũi nhọn của các địa phương ven biển Khai thác và nuôi trồng thuỷ hải sản thực tế đã làm tăng thu nhập và cải thiện nhiều cuộc sống của người dân vùng ven biển, mà Quảng Nam là một ví dụ Trên địa bàn tỉnh đã có rất nhiều hộ gia đình ven biển giàu lên từ khai thác và nuôi trồng thuỷ hải sản Nhưng mặt trái của nó hiện đang là vấn đề rất được quan tâm như :

+ Làm diện tích rừng ngập mặn bị suy giảm gây suy thoái môi trường, làm mất nơi sinh cư của các loài sinh thái trong đó có tôm, cá

+ Gây ô nhiễm môi trường nước sông, nước biển do các chất thải từ cuộc sống sinh hoạt của ngư dân trên tàu (vùng Cảm An, Hội An) và ô nhiễm dầu, mỡ của các phương tiện sinh kế

+ Vấn đề xâm nhập mặn đã có tác động lớn đến nguồn nước ngầm gây ra tình trạng thiếu nước ngọt cho sản xuất và sinh hoạt, nhất là vào mùa khô

- Các hoạt động sản xuất lâm nghiệp

Rừng Quảng Nam có tiềm năng kinh tế lớn, tính đa dạng sinh học cao, có vai trò đặc biệt quan trọng về phòng hộ đầu nguồn, điều hoà khí hậu, cung cấp nguồn nước cho sản xuất và đời sống Tuy nhiên, trong vài năm trở lại đây diện tích rừng bị thiệt hại do phá

Trang 31

rừng và cháy rừng vẫn đang tăng lên (năm 2006, tổng diện tích rừng bị thiệt hại là 59ha ,năm 2007 : 60ha, năm 2008: 74ha) Hiện nay, Quảng Nam là tỉnh đứng thứ hai sau tỉnh Khánh Hoà trong vùng Duyên hải Miền Trung có diện tích rừng bị chặt phá lớn (Khánh Hòa: 90ha; Quảng Nam: 42ha)

Bảng 17: Tình hình rừng bị thiệt hại qua các năm (ha)

Năm Diện tích rừng bị cháy Diện tích rừng bị chặt phá

Nguồn: NGTK Quảng Nam 2008

Nguyên nhân của tình trạng trên có nhiều, trong đó quan trọng hơn là do các hoạt động sinh kế của người dân như đốt rừng làm nương rẫy do không có đất canh tác; khai thác và buôn bán gỗ trái phép (đây là vấn đề đang có diễn biến khá phức tạp trên địa bàn tỉnh) Ở các huyện miền núi, tình trạng du canh du cư, nạn phá rừng vẫn tiếp diễn làm cho độ che phủ của rừng bị giảm đáng kể Các hoạt động gián tiếp là việc xây dựng các tuyến đường giao thông, cơ sở hạ tầng dân sinh, hạ tầng sản xuất… cũng làm cho diện tích rừng bị giảm đi Mặt khác, khi độ che phủ của rừng giảm, làm giảm khả năng chống

đỡ của tán rừng đối với mưa có cường độ lớn, tiểu vùng khí hậu bị thay đổi, giảm lượng nước thấm xuống đất, tăng dòng chảy mặt Đó là một trong những tác nhân gây ra lũ lụt, hạn kiệt và các tai biến môi trường.Vào mùa khô, tình trạng thiếu nước ở khu vực nghiên cứu diễn ra trên diện rộng, không những chỉ thiếu nước cho sản xuất mà còn thiếu nước

cả trong sinh hoạt

- Các hoạt động phi nông nghiệp (công nghiệp- dịch vụ- du lịch)

Sự chuyển đổi cơ cấu kinh tế với ngành công nghiệp- dịch vụ là mũi nhọn đã kéo theo sự hình thành và tập trung nhiều cơ sở công nghiệp, trung tâm, cụm và khu công nghiệp của các ngành khác nhau, các khu đô thị, du lịch trên thị trấn, thị xã ven sông, ven biển sẽ là những nguyên nhân gây nhiều tác động xấu tới điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên và môi trường khu vực nghiên cứu

- Còn nhiều các cơ sở công nghiệp, khu cụm công nghiệp chưa được đánh giá tác động môi trường trong quá trình xây dựng cũng như chưa có hệ thống xử lý các nguồn thải trong quá trình sản xuất gây ô nhiễm môi trường không khí, đất và nước Nổi bật nhất

là các ngành công nghiệp chế biến thực phẩm như thuỷ sản, tinh bột sắn, hiện tại có hệ thống xử lý chất thải nhưng chưa đạt yêu cầu (theo đánh giá của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Quảng Nam)

- Hoạt động khai thác thủy điện, chế biến khoáng sản và làng nghề truyền thống ở

các huyện miền núi là các loại hình công nghiệp chính Tình hình khai thác khoáng sản trái phép hiện tập trung chủ yếu là khai thác vàng ở các huyện miền núi như: Bắc Trà My, Nam Trà My, Phước Sơn, Thăng Bình, Đông Giang, Tây Giang và Nam Giang; khai thác pensfat tại huyện Đại Lộc; khai thác cát, sỏi lòng sông chủ yếu ở sông Thu Bồn thuộc khu vực Điện Bàn, Duy Xuyên, Đại Lộc; Quế Sơn; Tiên Phước và sông Tam Kỳ… …ngoài việc làm giảm độ che phủ của rừng còn gây xói mòn, kèm theo đó là các khoáng chất rửa trôi theo nước mưa chảy tràn xuống sông suối

Theo thống kê chưa đầy đủ, hiện trên đầu nguồn của hệ thống sông Vu Gia - Thu Bồn có 110 dự án thuỷ điện lớn và nhỏ đã và đang được triển khai; trong đó, có 8 nhà máy thuỷ điện bậc thang thuộc loại lớn nhất trong khu vực trên hệ sông lớn này Hiện có

Trang 32

6 nhà mỏy đang hoạt động sau khi triệt hạ hơn 2.000 hộc ta rừng nguyờn sinh Cần thiết phải phỏt triển thủy điện, nhưng khụng phải càng nhiều nhà mỏy thủy điện trờn một tỉnh như con số 58 ở Quảng Nam là càng nhiều lợi Con người khụng thể chỉ hưởng lợi từ thiờn nhiờn mà khụng phải trả giỏ

- Cỏc hoạt động sản xuất Nụng -cụng nghiệp- xõy dựng, dịch vụ- du lịch cũng gõy ảnh hưởng khụng nhỏ đối với chất lượng nước ngầm, làm suy giảm nguồn nước cấp, gõy sụt lỳn ở một số nơi, tạo điều kiện cho sự xõm nhập mặn vào sõu trong đất liền Đồng thời chất thải từ cỏc hoạt động này đú thải vào mụi trường nước, đất và làm biến đổi chất lượng cỏc nguồn nước ngầm phục vụ sinh hoạt

2.4 Sinh kế mang tớnh đặc trưng của cỏc loại hộ

Sinh kế của người dõn Quảng Nam cú sự khỏc nhau và mang những đặc trưng riờng giữa cỏc vựng trong tỉnh, giữa thành thị và nụng thụn

- Sinh kế theo mức độ kinh tế của cỏc hộ

Dựa vào cỏc phiếu điều tra ở 138 hộ gia đỡnh, mức độ phõn hoỏ được chia theo: hộ khỏ, hộ trung bỡnh và hộ nghốo

- Đối với cỏc hộ khỏ: Khai thỏc, nuụi trồng thủy sản chiếm tỷ trọng lớn nhất trong

cơ cấu cỏc nguồn thu (24,6%), sau đú là lương/tiền cụng; buụn bỏn/kinh doanh dịch vụ Thu nhập từ sản xuất nụng nghiệp chiếm tỷ trọng rất nhỏ (2,2% so với tổng nguồn thu) Mức độ chờnh lệch về thu nhập giữa cỏc ngành nghề phi nụng nghiệp thấp hơn nhiều so với hộ trung bỡnh và hộ nghốo

- Đối với cỏc hộ trung bỡnh: Cỏc ngành nghề đem lại nguồn thu chớnh là lương, tiền

cụng; khai thỏc và nuụi trồng thuỷ hải sản, kinh doanh dịch vụ

- Ngược lại đối với cỏc hộ nghốo, do thiếu vốn sản xuất, thiếu kiến thức và kinh

nghiệm làm ăn, thiếu cụng cụ sản xuất nờn người dõn chủ yếu sống dựa vào lương, tiền cụng (chiếm 45% so với tổng nguồn thu); sau đú là nguồn thu nhập từ sản xuất nụng nghiệp, trong đú trồng trọt là chủ yếu Một điểm đặc biệt đối với cỏc hộ nghốo là nguồn thu nhập từ hỗ trợ của Nhà nước/cỏ nhõn/tổ chức rất cao, gấp gần 3 lần so với cỏc hộ khỏ

và gấp 2 lần so với cỏc hộ thu nhập mức trung bỡnh

Biểu đồ : Sự khác nhau về sinh kế theo mức độ kinh tế hộ (%)

Trang 33

Theo đánh giá của các hộ được điều tra, có tới 68,75% các hộ khá cho rằng mức sống của họ tăng lên nhiều trong khoảng mười năm trở lại đây, của các hộ trung bình đa

số là tăng lên ít (46,43%), còn đối với các hộ nghèo thì có tăng ít hoặc không thay đổi

Bảng18: Mức sống của các hộ gia đình theo mức độ kinh tế trong 10 năm gần đây

Nguồn: Tổng hợp phiếu điều tracủa dự ánbiến đổi khí hậuP1-08Vie (Bảng 12)

- Sinh kế theo quy mô và cơ cấu lao động

Nếu xem xét các sinh kế theo quy mô lao động ta thấy: lao động trong lĩnh vực nông, lâm, thuỷ sản vẫn là chủ yếu, chiếm tới trên 60% so với tổng số lao động của tỉnh

Sự chuyển đổi cơ cấu mùa vụ (chuyển từ sản xuất 3 vụ lúa sang 2 vụ lúa), việc cơ giới hoá nông nghiệp và áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất đã giải phóng một lực lượng lớn lao động nông nghiệp Việc hình thành khu kinh tế Chu Lai, khu công nghiệp Điện Nam- Điện Ngọc và các cụm công nghiệp ở địa phương đã thu hút một lực lượng lớn lao động nông nghiệp ở nông thôn Chính vì thế, mà lao động nông, lâm, thuỷ sản đang có xu hướng giảm về tỷ trọng tuy còn chậm

Bảng 19: Cơ cấu lao động theo ngành kinh tế tỉnh Quảng Nam (%)

thuỷ sản

Công nghiệp và xây dựng

Nguồn: NGTK Quảng Nam 2008.Tư liệu KTXH 63 tỉnh, thành phố Việt Nam 2009

Một điểm cần lưu ý đó là mức thu nhập của hộ còn liên quan đến từng ngành nghề sinh kế Thu nhập sẽ cao hơn nhiều nếu hộ có nhiều số lao động làm việc trong các lĩnh vực phi nông nghiệp và thu nhập sẽ thấp hơn nếu lao động trong hộ làm trong lĩnh vực nông nghiệp

- Một vấn đề cũng rất được quan tâm đó là trình độ học vấn tác động đến sinh kế của người dân Hiện nay ở Quảng Nam, chất lượng lao động đã có cải thiện nhưng vẫn còn rất nhiều hạn chế Theo kết quả tổng điều tra năm 2006, toàn tỉnh mới chỉ có 9,9% lao động qua đào tạo (năm 2001 là 5,9%), nếu xét riêng lực lượng lao động trẻ (từ 30 tuổi trở xuống) thì chỉ có 14,1% lao động trẻ đó qua đào tạo Đặc biệt ở khu vực miền núi có tới 94,2% số lao động chưa qua đào tạo; 1,4% lao động có trình độ sơ cấp- CNKT; 4,5% lao động có trình độ chuyên môn từ trung cấp trở lên (chủ yếu tập trung ở các hoạt động quản

lý Nhà nước; giáo dục- đào tạo; y tế…) Khi trình độ sản xuất cao thì thu nhập của các hộ gia đình càng cao, ngược lại trình độ sản xuất thấp thì thu nhập của hộ gia đình trong một năm thấp

Ngày đăng: 18/11/2014, 17:48

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1: Sơ đồ khung sinh kế bền vững (DFID, 2001) - ẢNH HƯỞNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU ĐỐI VỚI SINH KẾ, CÁC NGUỒN LỰC KINH TẾ CỦA NGƯỜI DÂN Ở VÙNG TRUNG TRUNG BỘ ( Địa bàn nghiên cứu: Quảng Nam)
Hình 1 Sơ đồ khung sinh kế bền vững (DFID, 2001) (Trang 7)
Bảng 6: Tỷ lệ hộ nghèo Quảng Nam  và các khu vực trong nước(chuẩn mới-%) - ẢNH HƯỞNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU ĐỐI VỚI SINH KẾ, CÁC NGUỒN LỰC KINH TẾ CỦA NGƯỜI DÂN Ở VÙNG TRUNG TRUNG BỘ ( Địa bàn nghiên cứu: Quảng Nam)
Bảng 6 Tỷ lệ hộ nghèo Quảng Nam và các khu vực trong nước(chuẩn mới-%) (Trang 14)
Bảng 12: Nhu cầu vốn đầu tư (Đơn vị tính: Tỷ đồng)   Thời kỳ - ẢNH HƯỞNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU ĐỐI VỚI SINH KẾ, CÁC NGUỒN LỰC KINH TẾ CỦA NGƯỜI DÂN Ở VÙNG TRUNG TRUNG BỘ ( Địa bàn nghiên cứu: Quảng Nam)
Bảng 12 Nhu cầu vốn đầu tư (Đơn vị tính: Tỷ đồng) Thời kỳ (Trang 20)
Bảng 17: Tình hình rừng bị thiệt hại qua các năm (ha) - ẢNH HƯỞNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU ĐỐI VỚI SINH KẾ, CÁC NGUỒN LỰC KINH TẾ CỦA NGƯỜI DÂN Ở VÙNG TRUNG TRUNG BỘ ( Địa bàn nghiên cứu: Quảng Nam)
Bảng 17 Tình hình rừng bị thiệt hại qua các năm (ha) (Trang 31)
Bảng 19: Cơ cấu lao động theo ngành kinh tế tỉnh Quảng Nam (%) - ẢNH HƯỞNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU ĐỐI VỚI SINH KẾ, CÁC NGUỒN LỰC KINH TẾ CỦA NGƯỜI DÂN Ở VÙNG TRUNG TRUNG BỘ ( Địa bàn nghiên cứu: Quảng Nam)
Bảng 19 Cơ cấu lao động theo ngành kinh tế tỉnh Quảng Nam (%) (Trang 33)
Bảng 21 : Diện tích ngập các vùng ven biển Trung Trung Bộ  ứng với các kịch bản nước biển dâng: - ẢNH HƯỞNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU ĐỐI VỚI SINH KẾ, CÁC NGUỒN LỰC KINH TẾ CỦA NGƯỜI DÂN Ở VÙNG TRUNG TRUNG BỘ ( Địa bàn nghiên cứu: Quảng Nam)
Bảng 21 Diện tích ngập các vùng ven biển Trung Trung Bộ ứng với các kịch bản nước biển dâng: (Trang 40)
Bảng 22: Khảo sát mức sống hộ gia đình của 132 hộ theo mức độ kinh tế của hộ  giai đoạn 1989-2009 - ẢNH HƯỞNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU ĐỐI VỚI SINH KẾ, CÁC NGUỒN LỰC KINH TẾ CỦA NGƯỜI DÂN Ở VÙNG TRUNG TRUNG BỘ ( Địa bàn nghiên cứu: Quảng Nam)
Bảng 22 Khảo sát mức sống hộ gia đình của 132 hộ theo mức độ kinh tế của hộ giai đoạn 1989-2009 (Trang 49)
Bảng 23: Các sự kiện ảnh hưởng nhiều nhất đến cuộc sống của dân cư các hộ điều  tra ở Quảng Nam trong 10 năm gần đây - ẢNH HƯỞNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU ĐỐI VỚI SINH KẾ, CÁC NGUỒN LỰC KINH TẾ CỦA NGƯỜI DÂN Ở VÙNG TRUNG TRUNG BỘ ( Địa bàn nghiên cứu: Quảng Nam)
Bảng 23 Các sự kiện ảnh hưởng nhiều nhất đến cuộc sống của dân cư các hộ điều tra ở Quảng Nam trong 10 năm gần đây (Trang 50)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w