TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC ĐỀ TÀI NHỮNG ĐIỂM TƢƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT GIỮA TRIẾT HỌC NHO GIA VÀ TRIẾT HỌC PHÁP GIA Ở TRUNG QUỐC THỜI CỔ ĐẠI Triết học Trung Quốc cổ đại là một chiếc nôi lớn của nền văn minh nhân loại mà khi nghiên cứu về Triết học ta không thể bỏ qua. Đất nƣớc Trung Quốc tự hào có một bề dày lịch sử khá trừu tƣợng và đậm bản sắc dân tộc.
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM VIỆN ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC
TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
ĐỀ TÀI NHỮNG ĐIỂM TƯƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT
GIỮA TRIẾT HỌC NHO GIA VÀ TRIẾT HỌC PHÁP GIA
Ở TRUNG QUỐC THỜI CỔ ĐẠI
GVHD: TS Bùi Văn Mưa
HỌC VIÊN: Nguyễn Thị Vân Tiên
STT: 69
NHÓM 7
LỚP: NGÀY 4 K22
TP HCM, tháng 12 năm 2012
Trang 2LỜI NHẬN XÉT
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU
Triết học Trung Quốc cổ đại là một chiếc nôi lớn của nền văn minh nhân loại
mà khi nghiên cứu về Triết học ta không thể bỏ qua Đất nước Trung Quốc tự hào có một bề dày lịch sử khá trừu tượng và đậm bản sắc dân tộc Trong bề dày lịch sử của hệ thống triết học Trung Quốc cổ đại ấy, đã có nhiều trường phái triết học nổi lên mà một
số ít những tư tưởng vẫn còn tồn tại đến bây giờ, trong đó nổi bật lên hai trường phái
mà được cho là có ảnh hưởng sâu sắc nhất đến xã hội Trung Quốc thời bấy giờ, đó chính là Nho gia và Pháp gia Nếu như Nho gia là hệ tư tưởng chính thống của giai cấp thống trị Trung Hoa suốt hơn hai ngàn năm của xã hội phong kiến thì Pháp gia là tiếng nói đại diện cho tầng lớp quý tộc mới, đấu tranh kiên quyết chống lại tàn dư của chế độ công xã gia trưởng truyền thống và tư tưởng bảo thủ, mê tín tôn giáo đương thời.Cả hai trường phái triết học tuy có mâu thuẫn nhau về những quan điểm luận nhưng vì đều được sinh ra trong thời đại phong kiến, nhất là thời buổi loạn lạc, nên nếu được đem ra xem xét một cách kỹ lưỡng thì cả hai trường phái đều cùng chung một mục đích là muốn dẹp yên xã hội đang trong tình trạng rối ren, mong muốn thiên
hạ thái bình
Nhằm đào sâu hơn nữa những tiếng nói chung và những mâu thuẫn của hai trường phái Triết học này, tôi thực hiện đề tài “Những điểm tương đồng và khác biệt của Nho gia và Pháp gia”, đây không phải là một bài toán so sánh tranh cãi trường phái của ai hay của ai dở, mà qua đó nó giúp ta có thể hiểu rõ hơn những giá trị mà hai trường phái triết học này mang lại, từ đó có thể rút ra được những ưu điểm của mỗi trường phái để có thể đóng góp vào việc xây dựng những ý tưởng để xây dựng đất nước Việt Nam sau này
Trang 4CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1 Triết học Nho gia thời Trung Quốc cổ đại
1.1.1 Hoàn cảnh ra đời và phát triển
Nho gia xuất hiện vào khoảng thế kỷ VI TCN dưới thời Xuân Thu do Khổng
Tử sáng lập Khổng Tử sinh (551 TCN - 471 TCN) sống trong thời kỳ loạn lạc có biến động lớn Là một triết nhân thái độ của Khổng Tử hết sức phức tạp, ông vừa hoài cổ, vừa muốn đổi mới Rồi dần dần ông hình thành tư tưởng lấy nhân nghĩa làm nòng cốt
để giữ vững sự tồn tại chung và khai sáng hệ thống tư tưởng lớn nhất thời Tiên Tần là học phái Nho giáo tạo ảnh hưởng sâu sắc tới xã hội Trung Quốc
Tuy Khổng Tử là người sáng lập ra học thuyết Nhân Nghĩa Nho gia nhưng không được các quân vương thời Xuân Thu coi trọng mà phải do các hậu học như Tử Cống, Tử Tư, Mạnh Tử, Tuân tử truyền bá rộng về sau Trải qua nhiều nỗ lực của giai cấp thống trị và các sĩ đại phu triều Hán, Khổng tử và tư tưởng Nho gia của ông mới trở thành tư tưởng chính thống Đổng Trọng Thư đời Hán hấp thụ nhân cách hoàn thiện và học thuyết nhân chính của Khổng Tử, phụ hội thêm Công Dương Xuân Thu
áp dụng âm dương bổ sung thay đổi lý luận trở thành học thuyết thiên nhân hợp nhất cùng với học thuyết chính trị của Tuân Tử, khoác tấm áo thần học cho Nho học
Từ đời Hán đến đời Thanh, Nho gia chủ yếu dùng hình thức kinh truyện để lưu truyền Đường Thái Tông sau khi hoàn thành toàn diện thống nhất quốc gia hiệu đính lại năm kinh Nho gia là Dịch, Thi, Thư, Tà tuyên, Lễ ký thành bộ Ngũ kinh chính nghĩa gần như tổng kết toàn diện kinh học từ đời Hán đến đó Ngũ kinh chính nghĩa trở thành sách giáo khoa dùng cho thi cử đời Đường Khổng học càng được giai cấp thống trị tín nhiệm Khi lịch sử của Trung Quốc tiến vào thời kỳ phát đạt - thời kỳ nhà Tống, vị hoàng đế khai quốc là Tống Thái Tổ Triệu Khuông Dẫn lập tức chủ trì nghi
lễ long trọng tế tự Khổng Tử để biểu dương lòng thiếu đễ, vua còn thân chủ trì khoa thi tiến sĩ mà nội dung hoàn toàn theo Nho học Đối với Nho học mới bột hưng ở thời Tống, chúng ta thường gọi đó là Lý học
Nho giáo ngày càng được lưu truyền rộng rãi và tạo ảnh hưởng sâu sắc trong xã hội văn hoá Trung Quốc Nhưn g cũn g do tính phục cổ bảo thủ của nó mà Nho giáo
đã tạo ra tình trạng trì trệ kéo dài của xã hội Trung Quốc, làm cho Trung Quốc không bắt kịp trào lưu văn minh của thế giới
Trang 51.1.2 Những luận điểm cơ bản
Thứ nhất, Nho gia coi những quan hệ chính trị - đạo đức là những quan hệ nền tảng của xã hội, trong đó quan trọng nhất là quan hệ vua - tôi, cha - con, chồng - vợ (gọi là Tam cương) Nếu xếp theo tôn ty trật tự, trên dưới thì vua ở vị trí cao nhất, còn nếu xếp theo chiều ngang của quan hệ thì vua - cha - chồng xếp ở hàng làm chủ Điều này phản ánh tư tưởng chính trị quân quyền và phụ quyền của Nho gia
Thứ hai, xuất hiện trong bối cảnh lịch sử quá độ sang xã hội phong kiến, một
xã hội đầy những biến động loạn lạc và chiến tranh nên lý tưởng của Nho gia là xây dựng một "xã hội đại đồng" Đó là một xã hội có trật tự trên - dưới, có vua sáng - tôi hiền, cha từ - con thảo, trong ấm - ngoài êm trên cơ sở địa vị và thân phận của mỗi thành viên từ vua chúa, quan lại đến thứ dân Có thể nói đó là lý tưởng của tầng lớp quý tộc cũ cũng như của giai cấp địa chủ phong kiến đang lên
Thứ ba, Nho gia lấy giáo dục làm phương thức chủ yếu để đạt tới xã hội lý tưởng "đại đồng" Do không coi trọng cơ sở kinh tế và kỹ thuật của xã hội nên nền giáo dục của Nho gia chủ yếu hướng vào việc rèn luyện đạo đức con người Trong bảng giá trị đạo đức của Nho gia thì chuẩn mực gốc là "Nhân" Những chuẩn mực khác như Lễ, Nghĩa, Trí, Tín, Trung, Hiếu.v v đều là những biểu hiện cụ thể của Nhân
Thứ tư, Nho gia quan tâm đến vấn đề bản tính con người Việc giải quyết những vấn đề chính trị -xã hội đòi hỏi Nho gia cũng như nhiều học thuyết khác của Trung Hoa thời cổ phải đặt ra và giải quyết vấn đề bản tính con người Trong học thuyết Nho gia không có sự thống nhất quan điểm về vấn đề này, nhưng nổi bật là quan điểm của Mạnh Tử Theo ông, "bản tính con người vốn là thiện" (Nhân chi sơ, tính bản thiện) Thiện là tổng hợp những đức tính vốn có của con người từ khi mới sinh ra như: Nhân, Nghĩa, Lễ v.v
1.2 Triết học Pháp gia thời Trung Quốc cổ đại
1.2.1 Hoàn cảnh ra đời và phát triển
Cùng với Nho gia, Pháp gia là trường phái triết học có ảnh hưởng lớn đến sự nghiệp thống nhất về tư tưởng chính trị trong xã hội Trung Hoa cổ đại Mặc dù tư tưởng này chỉ nổi lên trong một thời gian ngắn nhưng vẫn có giá trị lịch sử lâu dài và
có ý nghĩa đến tận ngày nay
Trang 6Những tư tưởng Pháp gia đầu tiên được xem là xuất hiện vào thời Xuân Thu,
do Quản Trọng là người nước Tề, sống ở thế kỷ VI trước Công Nguyên (TCN) đề cập đến Ông tuy xuất thân từ giới bình dân nhưng rất có tài chính trị Tư tưởng của ông gồm 4 điểm chủ yếu sau: Một là, mục đích trị quốc là làm cho phú quốc binh cường; Hai là, phát triển nông, công, thương nghiệp, mặt khác phải đặt ra và thực hiện lệ chuộc tội; Ba là, chủ trương đề cao “Luật hình lệnh chính”; Bốn là, chú trọng đến đạo đức, lễ, nghĩa, liêm… trong phép trị nước.Tư tưởng của Quản Trọng bàn về vai trò của pháp luật trong việc điều hành đất nước, có thể thấy rằng ông chính là người khởi xướng của Pháp gia, đồng thời ông cũng là cầu nối Nho gia với Pháp gia
Sau Quản Trọng mà một loạt những nhà chính trị phát triển nối tiếp những tư tưởng của ông như Thân Bất Hại (401 – 337 TCN), Thận Đáo (370 – 290 TCN), Thương Ưởng, và đặc biệt phải kể đến Hàn Phi, sống cuối thời Chiến Quốc, là người
có công tổng kết và hoàn thiện tư tưởng trị nước của Pháp gia Đứng trước hoàn cảnh
xã hội rối ren lúc ấy, Hàn Phi chủ trương dùng pháp luật để cai trị đất nước vì bản chất con người là ác, muốn quản lý xã hội phải khởi xướng ra lễ nghĩa và chế định ra pháp luật để uốn nắn tính xấu của con người; theo ông quản lý xã hội là vị Pháp chứ không
vị Đức Ông cho rằng không có một phương pháp cai trị vĩnh viễn, cũng như không có một thứ pháp luật luôn luôn đúng trong hệ thống chính trị tồn tại hàng ngàn năm Từ
đó, ông đã phát triển và hoàn thiện tư tưởng Pháp gia thành một đường lối trị nước khá hoàn chỉnh và thích ứng với thời đại lúc bấy giờ Tần Thủy Hoàng đã sử dụng học thuyết của Hàn Phi và đã thống nhất được Trung Hoa năm 221 TCN, chấm dứt hơn năm trăm năm loạn lạc
1.2.2 Những luận điểm cơ bản
Về tự nhiên:
Ông giải thích sự phát sinh, phát triển của vạn vật theo tính quy luật khách quan mà ông gọi là Đạo Đạo là quy luật phổ biến của giới tự nhiên vĩnh viễn tồn tại
và không thay đổi Còn mỗi sự vật đều có "Lý" của nó "Lý" là sự biểu hiện khác nhau của Đạo trong mỗi sự vật cụ thể và là cái luôn luôn biến hóa và phát triển Từ đó, ông yêu cầu mọi hành động của con người không chỉ dựa trên quy luật khách quan, mà còn phải thay đổi theo sự biến hóa của "Lý", chống thái độ cố chấp và bảo thủ
Trang 7Về lịch sử:
Ông thừa nhận sự biến đổi của đời sống xã hội, khẳng định rằng không thể có chế độ xã hội nào là không thay đổi Do đó không thể có khuôn mẫu chung cho mọi
xã hội Ông đã phân chia sự tiến triển của xã hội làm 3 giai đoạn chính, mỗi giai đoạn
đó xã hội có những đặc điểm và tập quán riêng ứng với trình độ nhất định của sản xuất
và văn minh Đó là:
+ Thời Thượng cổ: Con người biết lấy cây làm nhà và phát minh ra lửa để nấu chín thức ăn
+ Thời Trung cổ: Con người đã biết trị thủy, khắc phục thiên tai
+ Thời Cận cổ: Bắt đầu xuất hiện giai cấp và xảy ra các cuộc chinh phạt lẫn nhau
Động lực căn bản của sự thay đổi xã hội được ông quy về sự thay đổi của dân số và của cải xã hội
Về thuyết "Tính người":
Ông theo quan niệm của Tuân Tử coi tính người là ác, đưa ra học thuyết luân lý
cá nhân vị lợi, luôn có xu hướng lợi mình hại người, tránh hại cầu lợi Kẻ thống trị phải nương theo tâm lý vị lợi của con người để đặt ra pháp luật, trọng thưởng, nghiêm phạt để duy trì trật tự xã hội
Tư tưởng về pháp trị
Trên cơ sở những luận điểm triết học cơ bản ấy, Hàn Phi Tử đã đề ra học thuyết Pháp trị, nhấn mạnh sự cần thiết phải cai trị xã hội bằng luật pháp Ông cũng phản đối thuyết nhân trị, đức trị của Nho giáo, phép "vô vi trị" của Đạo gia Phép trị quốc của Hàn Phi Tử bao gồm 3 yếu tố tổng hợp là pháp, thế và thuật, trong đó pháp
là nội dung của chính sách cai trị, thế và thuật là phương tiện để thực hiện chính sách
đó
+ "Pháp" là một phạm trù của triết học Trung Hoa cổ đại Theo nghĩa hẹp, là quy định, luật lệ có tính chất khuôn mẫu mà mọi người trong xã hội phải tuân thủ; theo nghĩa rộng, pháp được coi là một thể chế, chế độ chính trị và xã hội Vì vậy, pháp được coi là tiêu chuẩn, căn cứ khách quan để định rõ danh phận, giúp cho mọi người thấy rõ được bổn phận, trách nhiệm của mình
Trang 8+ "Thế" là địa vị, thế lực, quyền uy của người cầm đầu chính thể
+ "Thuật" cũng là chính danh, là phương sách trong thuật lãnh đạo của nhà vua nhằm lấy danh mà tránh thực
CHƯƠNG II:SỰ TƯƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT GIỮATRIẾT HỌC NHO GIA VÀ PHÁP GIA Ở TRUNG QUỐC THỜI CỔ ĐẠI
2.1 Quan niệm biện chứng về thế giới và xã hội quan
2.1.1 Tương đồng
Điểm tương đồng ít ỏi của hai trường phái triết học Nho gia và Pháp gia trong quan niệm về thế giới và xã hội quan là quan điểm sự vật không ngừng biến hóa Xuất phát từ vũ trụ quan của kinh Dịch, Khổng Tử cho rằng, vạn vật không ngừng biến hóa theo một trật tự không gì cưỡng lại được, mà nền tảng tận cùng của trật tự đó là thiên mệnh Còn theo Hàn Phi, ông thừa nhận sự tồn tại của lý, điều này chi phối mọi sự vận động biến hóa của tự nhiên và xã hội Ông yêu cầu con người phải phải nắm lấy cái lý của vạn vật mà biến hóa hành động cho phù hợp
2.1.2 Khác biệt
- Nội dung của Nho gia hầu như đặt trọng tâm ở những vấn đề của thế sự, xã hội Đó là các vấn đề chính trị, pháp luật, việc trị - loạn, việc bình định xã hội, quan điểm về giá trị đạo đức, thẩm mỹ, v.v
Tất cả những cố gắng của Nho gia là tổ chức ổn định trật tự xã hội Một trong những nội dung quan trọng của học thuyết là nói về chính trị Khổng Tử khẳng định
“Đạo người thì chính trị là việc lớn” Ông đề ra cái gốc của chính trị, nguyên nhân của trị loạn, và rất nhiều các biện pháp làm chính trị (noi theo thánh hiền, bồi dưỡng người quân tử, thuận lòng dân, v.v.) Những vấn đề khác mà Khổng Tử đề cập đến cũng nhằm ổn định xã hội là việc giáo dục, kỷ cương luân thường đạo lý, lễ nhạc, v.v đều
là những vấn đề của nhân sinh
Mục tiêu của Nho gia là đào tạo con người thành “thánh nhân” Khái niệm
“thánh nhân” ở đây không siêu hình, không phải chỉ bậc tiên thánh có phép thuật, có năng lực siêu nhiên, mà chỉ người có tài đức, có khả năng cai trị thiên hạ Chữ “Nho”
Trang 9được nhiều sách diễn giải ý nghĩa là chỉ người cần dùng cho xã hội Khái niệm “Đạo” của Nho gia nguyên thủy cũng không mang tính siêu hình “Đạo” đây là đạo của thánh nhân truyền lại, cụ thể là đạo truyền từ Nghiêu Thuấn, là đường đi, là cái lý, cái giá trị, cái chuẩn mực, v.v phải theo
Nội dung của những vần đề về bản thể luận, vũ trụ, thiên địa, quỷ thần, v.v trong Nho gia không đủ sâu rộng, Khổng Tử ít quan tâm đến các vấn đề nguồn gốc của vũ trụ nên quan điểm của ông về trời - đất quỷ - thần không rõ ràng Về trời, một mặt ông coi đó là giới tự nhiên với 4 mùa thay đổi, trăm vật sinh sôi; nhưng mặt khác, ông coi trời là lực lượng siêu nhiên quy định số phận và cuộc đời của mỗi con người, quốc gia, dân tộc Về quỷ thân, một mặt ông có thái độ hoài nghi; nhưng mặt khác, ông lại coi trọng ma tang cúng tế Tuy nhiên, để tìm chỗ dựa vững chắc cho lý luận đạo đức của mình, Khổng Tử và cả Mạnh Tử đều xây dựng thuyết thiên mệnh Từ đó, hai ông tìm kiếm sự thống nhất giữa trời, đất, người và vạn vật, đặc biệt là trên bình diện đạo đức – chính trị - xã hội, chứ không để ý đến khía cạnh sinh học – tự nhiên của con người
- Theo Pháp gia “đạo” được hiểu là nguyên lý căn bản, là quy luật phổ biến để hình thành các sự vật hiện tượng, đạo tồn tại vĩnh viễn không thay đổi, “lý” là phạm trù triết học thể hiện mặt chất lượng của sự vật riêng của sự vật hiện tương, bất thường
và luôn biến đổi Lý chi phối mọi sự vận động của tự nhiên và xã hội Hàn Phi yêu cầu trong hành động nhất thiết phải tuân theo đạo và lý nghĩa là một mặt phải tuân theo quy luật khách quan của sự vật, vừa phải nắm cái lý của vạn vật luôn biến hóa mà hành động cho phù hợp, mục đích chống lại tư tưởng thủ cựu, bảo thủ
Về quan điểm xã hội, theo Pháp gia thì trong tự nhiên không có ý chí tối cao, ý muốn chủ quan không thể tự quyết định thay đổi quy luật khách quan Hàn Phi phản đối các học thuyết tôn giáo thần bí lúc bấy giờ, ông cho rằng không có cơ sở gì để có thể chứng minh được là quỷ thần có thật Nếu như người đứng đầu mê tín – tin vào quỷ thần sẽ xã hội sẽ loạn Còn trong cuộc sống, do khi con người gặp tai nạn không giải quyết được mới tin vào quỷ thần, nếu con người không sinh bệnh tật thì quỷ thần
sẽ không tồn tại, lịch sử xã hội loài người luân biến đổi Từ xưa đến nay chưa có xã hội loài người nào tồn tại vĩnh viễn cả Ông chia xã hội loài người 3 thời kỳ, cổ đại –
Trang 10trung đại – hiện đại Mỗi thời kỳ có đặc điểm khác nhau nên sự phát triển lịch sử không giống nhau, mỗi thời kỳ phát sinh những vấn đề mới vì vậy người cai trị phải căn cứ vào xu thế chung của thời đại để lập ra chế độ mới Ông cho rằng không có bất
kỳ luật pháp nào luôn luôn đúng, Hàn Phi đã chỉ trích tư tưởng cục bộ , vì vậy nếu lấy những vấn đề ở thời xưa mà làm thước đo cho thời hiện tại thì đó là vấn đề ảo tưởng, lạc hậu
Hàn Phi cho rằng nguyên nhân dẫn đến sự biến đổi lịch sử loài người đó là do lợi ích vật chất, do các quan hệ hành vi con người Theo ông, nguyên nhân của mọi
sự biến đổi lịch sử là do dân số tăng lên, đây là nguyên nhân vận động căn bản Ông cho rằng, ở thời kỳ nguyên thủy, dân số ít chỉ cần săn bắn lượm hái là mọi người có
đủ lương thực để sống, nhưng khi dân số tăng lên tài nguyên của cải dần thu hẹp lại, buộc con người phải lao động sản xuất Mà tốc độ tăng dân số lại tăng hơn tốc độ tăng lên của của cải vật chất nên xảy ra sự tranh giành, cướp giật chiến tranh, làm xã hội trở nên loạn Vì vậy, cần thiết phải có luật pháp để ngăn chặn những hành vi đó
2.2 Quan niệm về nhân sinh
2.2.1 Tương đồng:
Có thể nói rằng ở quan niệm về nhân sinh, hai trường phái triết học Nho Gia và Pháp Gia giống nhau ở tư tưởng “hữu vi” và “tại thế”, đây là điểm khác biệt của hai trường phái này so với quan điểm “vô vi” và “ngoại thế” của Đạo gia – trường phái triết học nhấn mạnh bản tính tự nhiên của con người Hai từ hữu vi và vô vi, về nghĩa đen của từ, chỉ hai trạng thái trái ngược nhau “có làm” và “không làm” Hai khái niệm này trong phạm trù tư tưởng triết học thì chưa hẳn là hoàn toàn trái nghĩa nhau, bởi khái niệm “vô vi” của Đạo gia khá phức tạp Đạo gia không cho rằng “hành động” mang lại tác dụng trong mối quan hệ nhân luân và bồi dưỡng nhân cách, mà chính “vô vi” mới mang lại hiệu quả cao nhất “Vô vi” có thể hiểu là đừng can thiệp, đừng “miễn cưỡng”, cứ để mọi việc diễn ra theo cách tự nhiên của chúng Lão Tử cho rằng “Đạo không lo liệu, giải quyết bất cứ việc gì, nhưng không có việc gì mà làm không thành” (“Đạo thường vô vi nhi vô bất vi” -chương 37, Lão Tử) Lão Tử chủ trương vô vi trên nhiều phương diện Ngược lại, quan điểm của Nho gia và Pháp gia thì dùng hành động
để dạy dỗ dân, tề dân, khiến dân, ngăn cấm dân, dù bằng cách này hay cách khác,