1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ĐỀ TÀI SỰ TƯƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT GIỮA TRIẾT HỌC NHO GIA & TRIẾT HỌC PHÁP GIA Ở TRUNG QUỐC THỜI CỔ ĐẠI

19 482 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 1,01 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐỀ TÀI SỰ TƯƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT GIỮA TRIẾT HỌC NHO GIA & TRIẾT HỌC PHÁP GIA Ở TRUNG QUỐC THỜI CỔ ĐẠI Trung Hoa cổ đại là một quốc gia rộng lớn và có lịch sử lâu đời kéo dài khoảng 2000 năm lịch sử (bắt đầu từ cuối thiên niên kỷ thứ III và kết thúc bằng sự kiện Tần Thủy Hoàng thống nhất Trung Hoa bằng uy quyền bạo lực vào cuối thế kỷ thứ III TCN). Thời kỳ này, xã hội Trung Hoa hết sức đảo lộn vì chiến tranh, loạn lạc liên miên.

Trang 1

VIỆN ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC

- -

TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC

ĐỀ TÀI:

SỰ TƯƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT GIỮA TRIẾT HỌC NHO GIA & TRIẾT HỌC PHÁP GIA Ở TRUNG QUỐC THỜI CỔ ĐẠI

Học viên thực hiện : Huỳnh Thiên Thảo

Mã số học viên :7701221063

Giảng viên hướng dẫn : TS BÙI VĂN MƯA

Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 12 năm 2012

Trang 2

Nhận xét của giảng viên



Trang 3

LỜI MỞ ĐẦU

-o0o - Trung Hoa cổ đại là một quốc gia rộng lớn và có lịch sử lâu đời kéo dài khoảng

2000 năm lịch sử (bắt đầu từ cuối thiên niên kỷ thứ III và kết thúc bằng sự kiện Tần Thủy Hoàng thống nhất Trung Hoa bằng uy quyền bạo lực vào cuối thế kỷ thứ III TCN) Thời kỳ này, xã hội Trung Hoa hết sức đảo lộn vì chiến tranh, loạn lạc liên miên Mặc dù xã hội đầy biến động nhưng trong sự biến động đó, nhân dân Trung Hoa đã tạo nên một nền văn hóa rực rỡ Và cũng chính bối cảnh đó đã sản sinh các nhà tư tưởng lớn Nhiều trường phái triết học lần lượt ra đời và phát triển, tạo thành một hệ thống đồ sộ, bao quát nhiều vấn đề triết học Do vậy, có thể khẳng định Trung Hoa cổ đại không chỉ là một trung tâm văn hóa lớn của vùng Đông Bắc Á mà còn là một trung tâm văn hóa lớn và phong phú nhất của nền văn minh của phương Đông - chiếc nôi lớn của văn minh nhân loại

Thời kỳ này Trung Hoa có chín trường phái triết học chính – gọi là “Cửu gia”

trong đó Nho gia và Pháp gia là hai trường phái triết học có ảnh hưởng sâu rộng

đến vấn đề chính trị - xã hội, luân lý, đạo đức không chỉ trong xã hội Trung Hoa cổ đại mà còn có giá trị lâu dài cho đến tận ngày nay

Nho gia là một trường phái triết học lớn được hoàn thiện liên tục và có tầm ảnh

hưởng đáng kể đến đời sống tinh thần của nhân dân Trung Hoa cổ đại Là một học thuyết chính trị – đạo đức, Nho gia đặc biệt quan tâm đến vấn đề đạo đức cá nhân, giáo dục và đào tạo con người

Pháp gia là trường phái triết học có vai trò quyết định trong sự nghiệp thống

nhất về tư tưởng và chính trị trong xã hội Trung Hoa cổ đại Học thuyết pháp trị của Pháp gia đã được vương quốc Tần ra sức vận dụng và kết cục đã đưa nước Tần đến thành công trong việc kết thúc cục diện phân tán cát cứ, thống nhất được đất nước Trung Hoa sau những năm dài chiến tranh khốc liệt

Trang 4

Dựa trên những nghiên cứu về hai dòng tư tưởng này, bài tiểu luận là phần trình

bày về “Sự tương đồng và khác biệt giữa triết học Nho gia & triết học Pháp gia ở

Trung Quốc thời cổ đại” Kết cấu đề tài này gồm có 5 chương:

 Chương I-Hoàn cảnh ra đời của triết học Nho gia và Pháp gia

 Chương II-Khái quát nội dung triết học Nho gia và Pháp gia

 Chương III-Sự khác biệt giữa hai trường phái triết học

 Chương IV-Sự tương đồng giữa hai trường phái triết học

 Chương V-Hạn chế của triết học Nho gia và Pháp gia

Giáo trình chính được dùng để tham khảo khi thực hiện bài tiểu luận này là:

Trường ĐH Kinh Tế TP.HCM - Khoa Lý luận chính trị - Tiểu ban Triết học, Triết học (phần I) dùng cho học viên cao học và nghiên cứu sinh không thuộc chuyên ngành triết học, LHNB Trường Đại học Kinh Tế TP.HCM, 2011; Bộ Giáo dục và Đào tạo, Giáo trình Triết học Mác-Lênin (dùng trong các trường đại học và cao đẳng), NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2006

Do thời gian nghiên cứu hạn chế nên đề tài có thể không tránh khỏi những khiếm khuyết, mong nhận được những ý kiến đóng góp chân thành, sâu sắc của Thầy để nội dung bài viết được hoàn thiện hơn Xin chân thành cảm ơn Thầy

Trang 5

Chương I: HOÀN CẢNH RA ĐỜI CỦA TRIẾT HỌC NHO GIA VÀ PHÁP GIA

Nho gia và Pháp gia xuất hiện vào khoảng thế kỷ VI TCN dưới thời Xuân Thu Đây là thời kỳ chuyển biến từ chế độ chiếm hữu nô lệ sang chế độ phong kiến Xã hội lúc này ở vào tình trạng hết sức đảo lộn Sự tranh giành địa vị xã hội của các thế lực cát cứ đã đẩy xã hội Trung Hoa cổ đại vào tình trạng chiến tranh khốc liệt liên miên Đây chính là điều kiện lịch sử đòi hỏi giải thể chế độ nô lệ thị tộc nhà Chu, hình thành xã hội phong kiến; đòi hỏi giải thể nhà nước của chế độ gia trưởng, xây dựng nhà nước phong kiến nhằm giải phóng lực lượng sản xuất, mở đường cho xã hội phát triển Sự biến chuyển sôi động đó của thời đại đã đặt ra và làm xuất hiện những tụ điểm, những trung tâm các “kẻ sĩ” luôn tranh luận về trật tự xã hội cũ và

đề ra những hình mẫu của một xã hội trong tương lai Họ đấu tranh để tranh giành ảnh hưởng với nhau, tiếp thu, thâm nhập lẫn nhau Chính trong quá trình ấy đã sản sinh các nhà tư tưởng lớn và hình thành nên các trường phái triết học khá hoàn chỉnh Thời kỳ này Trung Hoa có chín trường phái triết học chính – gọi là “Cửu gia” gồm: Nho gia, Mặc gia, Đạo gia, Âm Dương gia, Danh gia, Pháp gia, Nông gia, Tung hoành gia và Tạp gia, trong đó Nho gia và Pháp gia là hai trường phái triết học

có ảnh hưởng sâu rộng đến vấn đề chính trị - xã hội, luân lý, đạo đức trong xã hội Trung Hoa cổ đại và có giá trị lịch sử lâu dài cho đến tận ngày nay.[2, tr33]

1.1 Nho gia

Người sáng lập Nho gia là Khổng tử (551 - 479 TCN) Sau khi ông mất, tư tưởng của ông đã được các thế hệ học trò kế thừa Đến thời Chiến Quốc, Nho gia được chia thành tám phái, trong đó mạnh nhất là phái Mạnh Tử (372 - 298 TCN) và Tuân

Tử (313 – 238 TCN) Mạnh Tử và Tuân Tử hoàn thiện và phát triển theo hai xu hướng khác nhau: duy tâm và duy vật. [2, tr39]

Mạnh Tử thần bí hoá những giá trị chính trị- đạo đức đến mức coi chúng là tiên thiên (có nguồn gốc từ trời, là nguyên lý tự nhiên mà trời phú cho con người và con người bẩm thụ lấy), “thiên mệnh” quyết định nhân sự Do đó, xét trên phương diện thế giới quan, Mạnh Tử đã thể hiện rõ nét chủ nghĩa duy tâm và cách nhận thức của

Trang 6

Mạnh Tử rất tiêu biểu cho tư tưởng triết học phương Đông Do quan niệm bản tính con người là thiện nên Nho gia đề cao sự giáo dục để con người trở về đường thiện với những chuẩn mực đạo đức sẵn có

Đối lập với Mạnh Tử, Tuân Tử lại coi bản tính con người vốn là ác Khi mới sinh

ra con người đã có lòng hiếu lợi, đố kỵ và ham muốn dục vọng[5] Mặc dù bản thân con người ác, nhưng có thể giáo hoá thành thiện Ở luận điểm này, Tuân Tử đã nhận thấy vai trò tác động của nhân tố xã hội, của sự học tập đối với tính người Từ đó, Tuân Tử chủ trương học theo lễ nghĩa để hoàn thiện con người, đề cao việc giáo hóa con người nhằm điều tiết cái bản năng, hướng con người tới cái thiện Tuân Tử coi thế giới khách quan có quy luật riêng, người có thể thắng trời Do đó, tư tưởng triết học của Tuân Tử thuộc chủ nghĩa duy vật thô sơ[2, tr40]

1.2

Quản Trọng (thế kỷ VI TCN) là người nước Tề, vốn xuất thân từ giới bình dân nhưng rất có tài chính trị, được coi là người đầu tiên bàn về vai trò của pháp luật như là phương cách trị nước.[3]

Sau Quản Trọng phải kể đến Thân Bất Hại (401-337 TCN), là người nước Trịnh chuyên học về hình danh, làm quan đến bậc tướng quốc Ông đề cao “thuật” trong phép trị nước Một đại biểu nữa của phái Pháp gia thời kỳ này là Thận Đáo (370-290 TCN), ông là người nước Triệu và chịu ảnh hưởng một số tư tưởng triết học về đạo của Lão Tử, nhưng về chính trị ông lại đề xướng đường lối trị nước bằng pháp luật Thận Đáo đề cao vai trò của “thế” Cùng thời với Thận Đáo, có một người cũng nêu cao tư tưởng Pháp trị, đó là Thương Ưởng Ông đã hai lần giúp vua Tần cải cách pháp luật hành chính và kinh tế làm cho nước Tần trở nên hùng mạnh Trong phép trị nước Thương Ưởng đề cao “pháp”. [3]

Cuối cùng phải kể đến Hàn Phi, người có công tổng kết và hoàn thiện tư tưởng trị nước của Pháp gia khi kết hợp cả ba yếu tố “pháp”, “thuật” và “thế” Từ đó, ông

đã phát triển và hoàn thiện tư tưởng pháp gia thành một đường lối trị nước khá hoàn chỉnh và thích ứng với thời đại lúc bấy giờ

Trang 7

Chương II: KHÁI QUÁT NỘI DUNG TRIẾT HỌC NHO GIA VÀ PHÁP GIA 2.1 Nho gia

ục con người a) Tư tưởng của triết học Nho gia về đạo đức

[2, tr41]

[2, tr42]

[2, tr42]

nhân

b) Tư tưởng của triết học Nho gia về giáo dục

+ Nho gia coi việc giáo dục đạo đức là vị trí hàng đầu: Khổng Tử rất đề cao vai trò của giáo dục vì chỉ có giáo dục mới làm cho con người từ “vô đạo” thành “hữu đạo”

+ Mục tiêu của giáo dục: làm cho mọi người hiểu và thực hiện đạo làm người + Đối tượng: đối tượng cần được giáo dục, đào tạo theo Nho gia là tầng lớp thống trị Còn đối với dân chúng thì “giáo hóa” để dễ dàng cai trị

+ Phương pháp giáo dục: Nho gia coi trọng kinh nghiệm thực tế, nhấn mạnh vai trò của việc suy nghĩ tìm tòi, cố gắng của chủ quan, kết hợp học và hành, thấy được mối quan hệ khăng khít giữa người dạy và người học

+ Phương châm giáo dục: “tiên học lễ, hậu học văn”

Trang 8

c) Tư tưởng của triết học Nho gia về chính trị

+ Về cách trị nước an dân: Nho gia kiên trì vương đạo và chủ trương “lễ trị”[2,

tr43]

+ Vai trò của người cầm quyền: Nho gia ủ trương “chính danh”: Vua phải làm tròn phận sự của mình Ngoài ra, Khổng Tử cho rằng thành bại của việc cai trị đất nước chính là đức hạnh của nhà vua đang trị vì[6]

+ Vai trò của dân: Mạnh Tử đề cao vai trò người dân bởi vì nếu không có dân sẽ không có nước, không có nước thì không có vua, kẻ thống trị nếu không được nhân dân ủng hộ thì chính quyền sớm hay muộn gì cũng phải sụp đổ Nó có tác dụng cảnh báo đối với nhà cầm quyền đương thời: Phải thi hành chính sự như thế nào đó để được lòng dân, cũng có nghĩa là bảo về lâu dài quyền lợi của nhà cầm quyền

2.2 Pháp gia

Trái với Nho gia, nội dung cơ bản của triết học Pháp gia là vấn đề pháp trị

Hàn Phi quan niệm pháp luật là công cụ hữu hiệu nhất để đem lại hòa bình, ổn định và công bằng Ông hết sức coi trọng tác dụng của pháp luật và chủ trương xây dựng một lý luận pháp trị hoàn chỉnh, trong đó lấy “pháp” làm hạt nhân, kết hợp chặt chẽ “pháp”, “thuật” với “thế”

Nội dung chủ yếu của pháp luật theo Hàn Phi là thưởng và phạt - ông gọi đó là hai đòn bẩy trong tay vua để giữ vững chính quyền Thưởng phạt là nhằm mục đích thực hiện "pháp" "để cứu loạn cho dân chúng, trừ họa cho thiên hạ Với nội dung và mục đích như trên "pháp" thật sự là tiêu chuẩn khách quan để phân định danh phận, phải trái, tốt, xấu, thiện ác và sẽ làm cho nhân tâm và vạn sự đều qui về một mối, đều lấy pháp làm chuẩn Vì vậy, "pháp" trở thành cái gốc của thiên hạ.[3]

Cùng với "pháp", "thế" là yếu tố không thể thiếu được trong pháp trị Pháp gia cho rằng muốn có luật pháp rõ ràng minh bạch và được dân tuyệt đối tôn trọng thi hành thì nhà vua phải có “thế” "Thế" trước hết là địa vị, thế lực, quyền uy của người cầm quyền mà trước hết là của nhà vua "Thế" có vị trí quan trọng đến mức có thể thay thế được hiền nhân “Thế” không chỉ là địa vị, quyền hành của vua mà còn

Trang 9

là sức mạnh của dân, của đất nước, của vận nước (xu thế lịch sử) Để nâng cao thế của nhà vua, Pháp gia chủ trương trong nước nhất nhất mọi thứ đều phải tuân theo pháp lệnh của vua kể từ hành vi, lời nói đến tư tưởng. [3]

Sau “pháp” và “thế”, pháp gia rất chú ý đến “thuật” trong đường lối pháp trị

“Thuật” trước hết là cách thức, phương thức, mưu lược… trong việc tuyển người, dùng người, giao việc, xét đoán sự vật, sự việc mà nhờ nó pháp luật được thực hiện

và nhà vua có thể “trị quốc bình thiên hạ” “Thuật bao gồm ba mặt là bổ nhiệm, khảo sát và thưởng phạt Nhiệm vụ chủ yếu của "thuật" cai trị là phân biệt rõ ràng những quan lại trung thành, tận tâm và những quan lại xu nịnh ma giáo, thử năng lực của họ, kiểm tra công trạng và những sai lầm của họ với mục đích tăng cường bộ máy cai trị trên cơ sở bộ máy luật pháp và chế độ chuyên chế. [3]

 

Chương III: SỰ KHÁC BIỆT GIỮA HAI TRƯỜNG PHÁI TRIẾT HỌC

3.1 Nội dung cơ bản:

+ Nho gia: nội dung cơ bản trong tư tưởng triết học Nho gia là luận bàn về đạo

đức và giáo dục con người Sinh ra và lớn lên trong thời loạn lạc, Khổng Tử nhận

thấy rằng xã hội bất ổn, có chiến tranh là do con người “vô đạo” (không có đạo đức), do vậy, theo ông, cần phải đưa con người trở về “hữu đạo” (có đạo đức) bằng cách “giáo hóa” (giáo dục)[5]

Nội dung đạo đức của Nho gia là luân thường, xoay quanh năm mối quan hệ nền tảng của xã hội (luân): vua tôi, cha con, chồng vợ, anh em, bạn bè và năm chuẩn

mực đạo đức cá nhân (thường): nhân, nghĩa, lễ, trí, tín Đó là những tiền đề để thực hiện thuyết chính danh, làm cho xã hội được ổn định, trật tự

+ Pháp gia: nội dung cơ bản trong tư tưởng triết học Pháp gia là pháp trị Pháp

gia coi pháp luật là công cụ hữu hiệu để đem lại hoà bình, ổn định và công bằng, do

đó Pháp gia đã đề xuất tư tưởng dùng luật pháp để trị nước

Sở dĩ tư tưởng của Hàn Phi đối lập với tư tưởng Nho gia là bởi ông có một quan niệm hết sức sâu sắc về thực tiễn Khác với Khổng-Mạnh lấy cái quá khứ được tuyệt

Trang 10

đối hóa để đo hiện tại, Hàn Phi cho rằng: mọi suy nghĩ, hành động, lý luận phải đều được bắt nguồn từ chính thực tiễn của đất nước Then chốt của việc xây dựng đất nước giàu mạnh là phải dựa vào pháp luật Pháp luật được thi hành một cách phổ quát và đúng đắn thì xã hội mới ổn định, xã hội ổn định lại là tiền đề quan trọng để xây dựng đất nước giàu mạnh, làm cho dân chúng được yên bình, hạnh phúc.[6]

3.2 Ý thức về sự vận động của xã hội:

+ Nho gia: Nho gia cho rằng vạn vật không ngừng biến đổi theo một trật tự

không gì cưỡng lại được, mà nền tảng tận cùng của nó là thiên mệnh

Xuất phát từ thiên mệnh, nho gia tìm kiếm sự thống nhất giữa trời, đất, người và vạn vật, đặc biệt là trên bình diện đạo đức-chính trị-xã hội, chứ không để ý đến khía cạnh sinh học-tự nhiên trong con người.[1, tr56]

+ Pháp gia: Pháp gia cho rằng không có một pháp luật siêu hình hay một mô

hình pháp luật trừu tượng tiên thiên để mà noi theo Chỉ duy nhất có yêu cầu và tiêu chuẩn của thực tiễn[6]

Hàn Phi đưa ra quan điểm tiến hóa về lịch sử, ông cho rằng lịch sử xã hội luôn trong quá trình tiến hóa và trong mỗi thời kỳ lịch sử thì mỗi xã hội có những đặc điểm dấu ấn riêng Do vậy, không có một phương pháp cai trị vĩnh viễn, cũng như không có một thứ pháp luật luôn luôn đúng trong hệ thống chính trị tồn tại hàng ngàn năm Người thống trị phải căn cứ vào nhu cầu khách quan của lịch

sử, dựa vào đặc điểm thời thế mà lập ra chế độ, đặt ra chính sách, vạch ra cách trị nước sao cho thích hợp.[3]

3.3 Quan điểm giáo dục:

+ Nho gia: Về quan điểm giáo dục, theo Khổng Tử, mọi người đều cần được

giáo dục; nội dung của giáo dục là đạo đức và nhân cách

Đối tượng chủ yếu trong giáo dục, đào tạo của Nho gia là những người thuộc giai cấp thống trị; những người thuộc giai cấp khác nhưng có thể bố sung cho giai cấp thống trị Ngoài ra, Nho gia còn coi trọng nhiệm vụ dạy dân, giáo hóa dân Nho gia đòi hỏi nhà cầm quyền chăm lo tới việc dạy dân ngang với việc nuôi dân

Nội dung đào tạo của: làm cho mọi người hiểu và thực hiện đạo làm người

Ngày đăng: 18/11/2014, 17:17

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w