TIỂU LUẬN TRIẾT SỰ TƯƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT GIỮA TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO VÀ TRIẾT HỌC VEDANTA Ở ẤN ĐỘ THỜI CỔ ĐẠI Triết học Ấn Độ đã dâng tặng cho nhân loại một kho tàng tri thức vô tận về vũ trụ và nhân sinh. Trong mấy ngàn năm qua, nền triết học này đã đặt ra và bước đầu giải quyết nhiều vấn đề của triết học và đã cống hiến cho nhân loại nhiều bài học vô giá về đạo đức, về triết lý nhân sinh…. và nó như suối nguồn tuôn chảy bất tận vào hàng triệu triệu trái tim con người trên khắp thế giới.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
VIỆN ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC
***
TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
Đề tài 01:
SỰ TƯƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT GIỮA TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO VÀ TRIẾT HỌC VEDANTA Ở ẤN ĐỘ THỜI CỔ ĐẠI
SVTH : NGUYỄN CÔNG NGUYÊN STT : 47
Nhóm : 5 Lớp : Cao học K22 – Ngày 4 GVHD : TS BÙI VĂN MƯA
TP Hồ Chí Minh, tháng 12/2012
Trang 2LỜI MỞ ĐẦU
Triết học Ấn Độ đã dâng tặng cho nhân loại một kho tàng tri thức vô tận về vũ trụ
và nhân sinh Trong mấy ngàn năm qua, nền triết học này đã đặt ra và bước đầu giải quyết nhiều vấn đề của triết học và đã cống hiến cho nhân loại nhiều bài học vô giá về đạo đức, về triết lý nhân sinh… và nó như suối nguồn tuôn chảy bất tận vào hàng triệu triệu trái tim con người trên khắp thế giới Ấn Độ cũng là nơi cho ra đời nhiều tôn giáo, nhiều trường phái triết học như Phật Giáo, Ấn độ giáo, Hồi giáo, Vêđanta, Hinđu… Nền triết học ấy đã và đang ảnh hưởng sâu sắc đến xã hội Ấn Độ ngày nay Có thể nói Ấn độ là “một tiểu vũ trụ của các tôn giáo và các nền triết học” Triết học
ấn Độ đã thể hiện tính biện chứng và tầm khái quát khá sâu sắc, đã đưa lại nhiều đóng góp quý báu vào kho tàng di sản của triết học nhân loại
Ấn Độ là một trong những cái nôi của nền triết học phương đông Một xu hướng
cơ bản trong triết học Ấn Độ cổ, trung đại là quan tâm giải quyết những vấn đề nhân sinh dưới góc độ tâm linh tôn giáo với xu hướng "hướng nội", đi tìm cái "Đại ngã" trong cái "Tiểu ngã" của một thực thể cá nhân Triết học Ấn Độ cổ đại đã hình thành
và phát triển, vừa mang tính đa dạng vừa mang tính thống nhất, tạo ra sự sống động ,muôn màu, muôn vẻ của triết học Ấn Độ Trong thời kỳ cổ đại, mặc dù cùng được hình thành và phát triển từ trong truyền thống Vêđa, nhưng các trường phái triết học Ấn Độ lại luôn có những điểm tương đồng và xung đột lẫn nhau Đó là sự mâu thuẫn giữa hệ thống chính thống và phi chính thống, tiêu biểu là trường phái Vêđanta
và trường phái Phật Giáo Đây cũng là đề tài cho bài tiểu luận này: “Sự tương đồng và
khác biệt giữa triết học Phật giáo và triết học Vêđanta ở Ấn Độ thời cổ đại” Bài viết
giúp tìm hiểu một cách sâu rộng hơn về những điểm tương đồng và khác biệt, đồng thời tạo ra cái nhìn đúng đắn, tổng quan hơn về hai trường phái triết học này
Với phương pháp nghiên cứu những tài liệu sẵn có như: Lịch Sử Triết Học
Phương Đông ( NXB: Chính Trị Quốc Gia – Sự Thật; Doãn Chính – 2011 ), Lịch sử
triết học (của tập thể tác giả: TS Trần Đình Thảo, TS Nguyễn Bình Yên, ThS Đố Kim Thanh, ThS Nguyễn Văn Cứ), giáo trình “triết học Mac-Lenin” dành cho các trường Đại học, Cao đẳng của Bộ giáo dục,… và tài liệu ở một số trang website
Trang 3CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT VỀ TRIẾT HỌC ẤN ĐỘ THỜI CỔ ĐẠI
I Hoàn cảnh ra đời triết học Ấn Độ thời cổ đại:
1 Về tự nhiên:
Ấn độ cổ đại là một bán đảo có diện tích lớn nằm ở miền Nam châu Á Đông nam và tây nam giáp với Ấn độ dương; Phía bắc là dãy núi Hymalaya và có hai con sông lớn: sông Ấn và sông Hằng Từ hai con sông này đã hình thành nên đồng bằng phù sa thuận lợi cho việc trồng trọt, đồng thời cũng là nơi sản sinh ra nền văn hóa cổ xưa và rực rỡ nhất châu Á Phía nam Ấn độ là cao nguyên Decan, là vùng đất nghèo nàn, cằn cõi, khô hạn, quanh năm nắng nóng
Điều kiện thiên nhiên và khí hậu của Ấn Độ rất phức tạp Địa hình vừa có nhiều núi non trùng điệp, vừa có nhiều sông ngòi với những vùng đồng bằng trù phú; có vùng khí hậu nóng, ẩm, mưa nhiều, có vùng lạnh giá, quanh năm tuyết phủ, lại cũng có những vùng sa mạc khô cằn, nóng nực Tính đa dạng, khắc nghiệt của điều kiện tự nhiên và khí hậu là những thế lực tự nhiên đè nặng lên đời sống và ghi dấu ấn đậm nét trong tâm trí người Ấn Độ cổ
2 Về xã hội:
Xã hội ấn Độ cổ đại ra đời sớm Theo tài liệu khảo cổ học, vào khoảng thế kỷ XXV trước Công nguyên đã xuất hiện nền văn minh sông Ấn, sau đó bị tiêu vong, nay vẫn chưa rõ nguyên nhân Từ thế kỷ XV trước Công nguyên các bộ lạc du mục Arya từ Trung Á xâm nhập vào ấn Độ Họ định cư rồi đồng hóa với người bản địa Dravida tạo thành cơ sở cho sự xuất hiện quốc gia, nhà nước lần thứ hai trên đất Ấn
Độ Từ thế kỷ thứ VII trước Công nguyên đến thế kỷ XVI sau Công nguyên, đất nước
Ấn Độ phải trải qua hàng loạt biến cố lớn, đó là những cuộc chiến tranh thôn tính lẫn nhau giữa các vương triều trong nước và sự xâm lăng của các quốc gia bên ngoài
Thời cổ đại, Ấn độ có nhiều dân tộc sinh sống nên có nhiều ngôn ngữ khác nhau Đông nhất và có vị trí quan trọng là tộc người Dravidiens ở phía nam và người Aryan sống ở phía bắc Trong quá trình phát triển, có những quốc gia và các dân tộc khác bên ngoài xâm nhập vào Ấn độ rồi định cư như người Ba tư, Hi lạp….Những dân tộc này sống hòa lẫn với nhau xây dựng nên một nền văn minh vĩ đại cho nhân loại
3 Về kinh tế:
Nông nghiệp lúa nước là ngành kinh tế chủ yếu của người Ấn độ cổ đại Họ biết đắp đê dẫn nước vào ruộng, biết dùng trâu cày và các công cụ bằng đồng….Ngoài
ra ngành chăn nuôi cũng phát triển mạnh, các súc vật được nuôi thành từng đàn, từng bầy như ngựa, dê, lợn, gia cầm… Vì nhu cầu cuộc sống nên nghề làm đồ gốm, đồ đồng cũng phát triển; từ đây quan hệ buôn bán, trao đổi xuất hiện ở hình thức sơ khai
Trang 4Theo đà phát triển của xã hội, nghề thủ công nghiệp đã xuất hiện và gặt hái những thành tựu đáng kể “những thợ thủ công nghiệp đã tụ tập thành những tổ chức đặc biệt kiểu như phường hội Những nghề thủ công nghiệp phát đạt nhất thời đó là nghề dệt bông, đay, tơ lụa, nghề làm đồ gốm và đồ trang sức”
4 Về chính trị :
Vào khoảng 1500 đến 1000 năm trước CN, tộc người Aryan đã di cư vào Ấn
độ Lúc đầu họ sinh sống bằng nghề chăn nuôi, du mục Khi tấn công và chiếm đoạt được nhiều vùng đồng bằng tươi tốt của người Dravidien, họ đã học tập được kỹ thuật canh tác của người dân bản xứ và thay đổi lối sống từ chăn nuôi du mục sang định cư làm ruộng Về sau người Aryan tổ chức ra các công xã nông thôn và phân chia ruộng đất cho các thành viên trong công xã Đứng đầu công xã là xã trưởng và hội đồng bô lão của công xã Họ vừa là người quản lý công xã, vừa là người đại diện cho công xã giao thiệp với các cấp trên (tù trưởng, sau khi thành lập quốc gia là vua)
Đặc điểm nổi bật của điều kiện kinh tế - xã hội của xã hội ấn Độ cổ, trung đại
là sự tồn tại rất sớm và kéo dài kết cấu kinh tế - xã hội theo mô hình "công xã nông thôn", trong đó, theo Mác, chế độ quốc hữu về ruộng đất là cơ sở quan trọng nhất để tìm hiểu toàn bộ lịch sử ấn Độ cổ đại Trên cơ sở đó đã phân hóa và tồn tại bốn đẳng cấp lớn: tăng lữ (Brahman), quý tộc (Ksatriya), bình dân tự do (Vaisya) và tiện nô (Ksudra) Ngoài ra còn có sự phân biệt chủng tộc, dòng dõi, nghề nghiệp, tôn giáo
5 Về văn hóa – khoa học:
Về văn hóa, Ấn độ cổ đại đã thành tựu được một số lãnh vực sau:
- Ngôn ngữ và chữ viết: khi người Aryan xâm nhập vào Ấn độ họ đã dùng
tiếng nói của mình để sáng tác ra bộ Kinh Veda (ngôn ngữ Veda) Đến thế kỷ thứ IV trước công nguyên Panini đã sáng tác ra ngôn ngữ Sanskrit (ngôn ngữ này chỉ sử dụng trong tầng lớp quý tộc) Dân chúng mỗi vùng có một thứ tiếng khác nhau Do vậy ở
Ấn độ có rất nhiều ngôn ngữ bình dân như Pali (ngôn ngữ của Phật Giáo), tiếng Tamin của người Dravidien ở miền Nam Ấn
- Thiên văn học: xuất hiện từ thời Veda, họ đã quy định được 1 tháng gồm 30
ngày, 1 năm gồm có 12 tháng… và phỏng đoán được trái đất hình cầu và quay quanh trục của nó Cuối thế kỷ thứ V trước CN, Thiên văn học đã giải thích được hiện tượng nhật thực, nguyệt thực
- Toán học: người Ấn độ đã phát hiện ra chữ số thập phân và hình tượng các
chữ số Đặc biệt là họ đã tính được số Pi khá chính xác, biết được định lý Pitago, biết giải phương trình bậc hai, bậc ba…
- Y học: Người Ấn đã biết chữa bệnh bằng cách dùng các loại cây và các
phương pháp trị bệnh đơn giản Về sau y học ngày càng phát triển, họ đã biết điều trị
Trang 5bệnh lâm sàng một cách thuần thục và chính xác….
- Kiến trúc: nổi bật nhất là lối kiến trúc xây dựng chùa chiền, đền tháp.
- Văn học: dân Ấn đã sáng tác ra các áng văn chương bất hủ như bộ Veda và
các bộ sử thi: Mahabharata, Ramayana… đây là niềm tự hào của nền văn hóa Ấn độ
II Triết học Ấn Độ cổ đại:
1 Đặc điểm triết học Ấn Độ cổ đại :
Trước hết, triết học ấn Độ là một nền triết học chịu ảnh hưởng lớn của những
tư tưởng tôn giáo Giữa triết học và tôn giáo rất khó phân biệt Tư tưởng triết học
ẩn giấu sau các lễ nghi huyền bí, chân lý thể hiện qua bộ kinh Vêda, Upanisad Tuy nhiên, tôn giáo của ấn Độ cổ đại có xu hướng "hướng nội" chứ không phải "hướng ngoại" như tôn giáo phương Tây Vì vậy, xu hướng trội của các hệ thống triết học
-tôn giáo ấn Độ đều tập trung lý giải và thực hành những vấn đề nhân sinh quan
dưới góc độ tâm linh tôn giáo nhằm đạt tới sự "giải thoát" tức là đạt tới sự đồng nhất
tinh thần cá nhân với tinh thần vũ trụ (Atman và Brahman)
Thứ hai, các nhà triết học thường kế tục mà không gạt bỏ hệ thống triết học có
trước
Thứ ba, khi bàn đến vấn đề bản thể luận, một số học phái xoay quanh vấn đề
"tính không", đem đối lập "không" và "có", quy cái "có" về cái "không" thể hiện một trình độ tư duy trừu tượng cao
2 Các trường phái triết học Ấn Độ cổ đại:
Lịch sử phát sinh và phát triển của triết học ấn độ cổ ( - trung ) đại được chia thành hai thời kỳ: thời kỳ Véđa ( khoảng cuối thiên niên kỷ II đến thế kỷ VII trước Công Nguyên) và thời kỳ cổ điển, hay thời kỳ Phật giáo, Bàlamôn giáo ( từ thế kỷ
VI đến thế kỷ I trước Công Nguyên)
a Triết học thời kỳ Veda:
Kinh Veda là những bộ kinh cổ nhất của Ấn Độ và của nhân loại Đó là một bộ sách thu lượm tất cả những câu ca dao, vịnh phú, những tư tưởng, quan điểm, những tập tục, lễ nghi của nhiều bộ lạc người Arya
Chữ Veda bắt nguồn từ căn tự "vid", nghĩa đen là "tri thức", "hiểu biết".
Nó cũng được dùng chung với nghĩa là "thánh kinh", là "sự sáng suốt cao nhất" Có thể nói Veda là một tác phẩm tổng hợp, có tính hỗn hợp và có nhiều cách phân chia
- Giai đoạn từ khoảng 2000 năm trước Công Nguyên đến thế kỷ VIII trước Công Nguyên: có các tập kinh như: Rig – Véđa , Sama – Véđa, Yajur – Véđa, Atharva – Véđa Nhìn chung trong các tập Véđa thời kỳ này tập trung
Trang 6phản ánh ước vọng của người dân thường như mong mưa thuận gió hòa, mong có thức ăn, có gia súc ; đồng thời phản ánh một tín ngưỡng ma thuật và đa thần giáo, chưa có những khái quát triết học Tuy nhiên qua các tập Véđa đã thể hiện sự phát triển của tư duy trừu tượng trong đó người ta đã thừa nhận một nguyên lý vũ trụ với sức mạnh vô hạn, biểu hiện ra trong thiên nhiên, trong tinh thần và các nghi lễ
- Giai đoạn từ thế kỷ VIII trước Công Nguyên đến thế kỷ V trước Công Nguyên: Brahmana, Aranyaka, Kinh Upanishad
- Tư tưởng triết học trong kinh Upanishad: Đây là một trong những bộ
kinh quan trọng nhất của kinh Véđa, được biên soạn qua nhiều thế kỷ ( khoảng
từ thế kỷ X đến thế kỷ V tr.CN) bởi các tông phái, các đạo sĩ trong những hoàn cảnh và địa phương khác nhau Khái niệm Upanishad có nghĩa là ngồi trang nghiêm cùng giảng giải lý thuyết cao siêu, huyền bí với thầy ("shad" nghĩa là
"ngồi"; "upa" nghĩa là "gần"; "ni" có nghĩa là "trang nghiêm") Upanishad không phải là một tác phẩm trình bày có hệ thống, chặt chẽ những quan điểm của một trường phái triết học, mà được viết dưới hình thức hội thoại giữa thầy
và trò Sự xuất hiện của Upanishad được coi là "bước nhảy" hoàn toàn từ thế giới quan thần thoại, tôn giáo sang tư duy triết học
b Triết học thời kỳ cổ điển (Hay thời kỳ Phật giáo, Bàlamôn giáo):
Các trào lưu triết học thời kỳ này với khuynh hướng đa dạng, đại diện cho các tầng lớp xã hội khác nhau, vừa mang tính chất triết học, vừa mang đậm màu sắc tôn giáo
Trong thời kỳ này, cuộc đấu tranh giữa các trường phái triết học, nhất là cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật, vô thần chống chủ nghĩa duy tâm, tôn giáo lên đến đỉnh cao, đặc biệt là việc phủ nhận uy thế của kinh Veda Từ đó
đã hình thành cách phân chia có tính chất truyền thống tất cả các trường phái triết học thành hai phái chính:
+ Phái triết học chính thống (Astika) : thừa nhận uy thế tối cao của kinh
Veda, đạo Bàlamôn, bao gồm 6 trường phái chính là 1 Samkhya, 2 Nyaya, 3 Vaisêsika, 4 Mimamsa, 5 Yoga và 6 Vedanta
+ Phái triết học không chính thống (Nastika) : bác bỏ uy thế tối cao của
kinh Veda, đạo Bàlamôn gồm 3 trường phái chính là: 1 Các trường phái triết học vô thần, duy vật trong phong trào mới đòi tự do tư tưởng ở Đông ấn và trường phái triết học duy vật tiêu biểu Lokayata hay chủ nghĩa duy vật khoái lạc Charvaka; 2 Phật giáo và 3 Đạo Jaina
Trừ trường phái Lokayata là trường phái triệt để duy vật, vô thần, còn tất
cả các trường phái khác đều mang tính chất nhị nguyên luận hay thiếu triệt để
Trang 7CHƯƠNG 2: KHÁI QUÁT VỀ TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO VÀ TRIẾT HỌC
VÊĐANTA THỜI CỔ ĐẠI
I Triết học Phật giáo:
1 Điều kiện ra đời:
Ấn Độ là cái nôi đầu tiên của Phật giáo Phật giáo là một trường phái triết học - tôn giáo xuất hiện vào khoảng cuối thế kỷ VI trước Công Nguyên ở miền Bắc ấn Độ, phía Nam dãy Hymalaya, vùng biên giới giữa ấn Độ với Nêpan hiện nay Đạo Phật, đã ra đời và phát triển rực rỡ khoảng thế kỷ thứ III TCN
Phật giáo ra đời do nhu cầu phát triển xã hội, cụ thể là giải quyết mâu thuẫn giữa các giai cấp ngày càng khắc nghiệt trong xã hội Ấn lúc bấy giờ Không ở đâu sự phân chia giai cấp lại diễn ra dai dẵng và khắc nghiệt như ở Ấn
Độ
Xã hội Ấn Độ chia thành 4 đẳng cấp với địa vị và quyền lợi khác nhau: đứng đầu là tăng lữ, kế đến là quý tộc, sau đó là bình dân tự do và cuối cùng là
nô lệ Quan hệ giữa những đẳng cấp này có những quy định rất nghiêm ngặt, giai cấp nô lệ bị đàn áp, bóc lột, áp bức đến tận cùng
Hệ thống các quan hệ phân biệt đẳng cấp hết sức hà khắc đã tạo nên vết rạn nứt sâu sắc trong xã hội Ấn Độ cổ đại Do vậy, cần thiết phải có sự xuất hiện các trường phái triết học để giải quyết đơn đặt hàng của lịch sử Đạo Phật
ra đời trong làn sóng phản đối sự ngự trị của đạo Bàlamôn và chế độ đẳng cấp,
lý giải căn nguyên nỗi khổ và tìm con đường giải thoát con người khỏi nỗi khổ đó
2 Quá trình hình thành và phát triển :
Người sáng lập Đạo Phật là Thích Ca Mâu Ni có tên thật là Siddharha(Tất Đạt Đa) họ là Gautama (Cù Đàm), con trai đầu của vua Suddhodana (Tịnh Phạn) dòng họ Sakya, có kinh đô là thành Kapilavatthu (Ca- tỳ - la - vệ) Phật Thích Ca sinh ngày 8 tháng 4 năm 563 tr CN và mất năm 483 tr CN Năm 29 tuổi, ông từ bỏ cuộc sống vương giả đi tu luyện tìm con đường diệt trừ nỗi đau khổ của chúng sinh Sau 6 năm khổ luyện, ông đã "ngộ đạo", tìm ra chân lý "Tứ diệu đế" và "Thập nhị nhân duyên"
Tư tưởng triết lý Phật giáo ban đầu chỉ truyền miệng, sau đó viết thành văn thể hiện trong kinh "Tam tạng"(Tripitaka) gồm ba bộ phận: 1) Tạng kinh (Sutra
- pitaka) ghi lời Phật dạy; 2) Tạng luật ( Vinaya - pitaka) gồm các giới luật của đạo Phật; 3) Tạng luận ( Abhidarma - pitaka) gồm các bài kinh, các tác phẩm luận giải, bình chú về giáo pháp của các cao tăng, học giả về sau Từ nguồn cội
Ấn Độ, Phật giáo đã theo dòng thời gian truyền đi khắp nơi
Trang 8Phật giáo ra đời không chỉ như một câu trả lời cho những yêu cầu bức thiết của xã hội mà còn cho những đòi hỏi của lịch sử Tuy nhiên từ thế kỷ thứ III sau công nguyên, cùng với sự cải tiến của các tôn giáo khác cũng như cuộc đấu tranh giữa 3 tôn giáo lớn của Ấn Độ: Bàlamôn, Hồi giáo và Phật giáo ngày càng gay gắt dẫn đến việc Phật giáo bắt đầu suy tàn
3 Các nét đặc trưng của triết học Phật giáo:
a Thế giới quan:
Thế giới quan Phật giáo nguyên thủy chứa đựng những yếu tố duy vật và biện chứng chất phác, phủ nhận tư tưởng về đấng sáng tạo Brahman, cũng như phủ nhận"Cái tôi" (Atman) và đưa ra quan niệm "Vô ngã" (Anatman) và "Vô thường"
Phạm trù "Vô ngã" bao hàm tư tưởng cho rằng, vạn vật trong vũ trụ chỉ là
sự "giả hợp" do hội đủ nhân duyên nên thành ra "có" (tồn tại) Ngay bản thân sự tồn tại của thực thể con người cũng do nhân duyên kết hợp và được tạo thành bởi hai thành phần là thể xác (Rupa - sắc) và tinh thần (Nâma - danh), do sự hợp tan của ngũ uẩn( sắc - thụ - tưởng - hành - thức) Duyên hợp ngũ uẩn thì là ta, duyên tan ngũ uẩn ra thì không còn là ta, là diệt, nhưng không phải là mất đi mà
là trở lại với ngũ uẩn Ngay các yếu tố của ngũ uẩn cũng luôn biến hóa theo luật nhân quả không ngừng nên vạn vật, con người cứ biến hóa vụt mất, vụt còn, không có sự vật riêng biệt tồn tại mãi mãi, không có cái tôi thường định (An -Atman)
Phạm trù "Vô thường" gắn liền với phạm trù "vô ngã" "Vô thường" nghĩa
là vũ trụ là vô thủy, vô chung; vạn vật trong thế giới chỉ là dòng biến hóa vô thường, vô định không do một vị thần nào tạo nên cả; tất cả đều biến đổi theo luật nhân quả, theo quá trình sinh, trụ, dị, diệt (hay thành, trụ, hoại, không) và chỉ có sự biến hóa ấy là thường hữu Tất cả mọi sự vật, hiện tượng tồn tại trong
vũ trụ đều bị chi phối bởi luật nhân duyên Cái nhân (Hetu) nhờ có cái duyên (pratitya) mới sinh ra được mà thành quả (phla) Quả lại do cái duyên mà thành
ra nhân khác, nhân khác lại nhờ có duyên mà thành quả mới và cứ biến đổi mãi mãi
Vì không nhận thức được sự biến ảo vô thường đó nên người ta nhầm tưởng là cái tôi tồn tại mãi, cái gì cũng là của ta nên con người cứ khát ái, tham dục, hành động chiếm đoạt nhằm thỏa mãn những ham muốn, dục vọng đó tạo
ra những kết quả, gây nên nghiệp báo (karma), mắc vào bể khổ triền miên (sam
- sara) tức là mắc vào kiếp luân hồi
b Nhân sinh quan:
Thừa nhận quan niệm "Luân hồi" và "Nghiệp" trong Upanishad, Phật giáo đặc biệt chú trọng triết lý nhân sinh, đặt mục tiêu tìm kiếm sự giải thoát cho chúng sinh khỏi vòng luân hồi, nghiệp báo để đạt tới trạng thái tồn tại Niết bàn
Trang 9(Nirvana) Nhân sinh quan Phật giáo mang tính chất duy tâm chủ quan, thần bí nhưng chứa đựng giá trị nhân bản sâu sắc
" Tứ diệu đế" là bốn chân lý chắc chắn, hiển nhiên, hoàn toàn cao hơn hết,
gồm:
+ Khổ đế: Phật giáo coi " đời là bể khổ" Có trăm ngàn nỗi khổ, nhưng có
8 nỗi khổ trầm luân, bất tận mà bất cứ ai cũng phải gánh chịu là: Sinh, lão, bệnh, tử, thụ biệt ly ( Yêu thương mà phải chia lìa), Oán tăng hội ( Oán ghét nhau mà phải sống với nhau), sở cầu bất đắc ( Cầu mong mà không được), ngũ thụ uẩn ( năm yếu tố vô thường nung nấu làm nên sự đau khổ)
+ Nhân đế (hay Tập đế): Giải thích những nguyên nhân gây nên đau khổ cho chúng sinh Đó là 12 nguyên nhân ( Thập nhị nhân duyên): 1 Vô minh;
2 Hành; 3 Thức; 4 Danh sắc; 5 Lục nhập; 6 Xúc; 7 Thụ; 8 ái; 9 Thủ; 10 Hữu; 11 Sinh và 12 Lão, tử Trong 12 nhân duyên ấy thì Vô minh tức là ngu tối, không sáng suốt là nguyên nhân đầu tiên
+ Diệt đế: Là lần theo Thập nhị nhân duyên, tìm ra cội nguồn của nỗi khổ, tiêu diệt nó và đưa chúng sinh thoát khỏi nghiệp chướng, luân hồi, đạt tới cảnh trí Niết bàn
+ Đạo đế: Chỉ ra con đường diệt khổ đạt tới giải thoát Đó là con đường
"tu đạo", hoàn thiện đạo đức cá nhân gồm 8 nguyên tắc ( bát chính đạo):
1 Chính kiến: Hiểu biết đúng đắn
2 Chính tư duy: Suy nghĩ đúng đắn
3 Chính ngữ: Giữ lời nói phải
4 Chính nghiệp: Giữ đúng trung nghiệp
5 Chính mệnh: Giữ ngăn dục vọng
6 Chính tinh tiến: Rèn luyện không mệt mỏi
7 Chính niệm: Có niềm tin vững chắc vào sự giải thoát
8 Chính định: An định, không bị ngoại cảnh chi phối
Tám nguyên tắc này có thể thâu tóm vào 3 điều phải học tập, rèn luyện là: Giới - Định - Tuệ ( tức là: giữ giới luật, thực hành thiền định và khai thông trí tuệ bát nhã)
Nhân quả
Nhân là nguyên nhân, quả là kết quả Cái nhân nhờ có cái duyên mới sinh
ra được mà thành quả Quả lại nhờ có duyên mà thành nhân khác, nhân khác lại nhờ có duyên mà thành quả mới… Cứ thế nối nhau vô cùng vô tận mà thế giới, vạn vật, muôn loài, cứ sinh sinh, hoá hoá mãi Tất cả đều theo luật nhân quả biến đổi không ngừng và chỉ có sự biến hoá ấy là vĩnh viễn Nhân quả là một định luật của tất cả mọi sự vật
Nghiệp báo và luân hồi
Trang 10Nghiệp chữ phạn là Karma là cái do hậu quả việc làm của ta, do hành động của thân thể ta là “thân nghiệp”; hậu quả của những lời nói của ta là “khẩu nghiệp”, hậu quả do ý nghĩ của ta gây nên là “ý nghiệp” Tất cả những thân nghiệp, khẩu nghiệp, ý nghiệp là do ta tham dục mà thành, do ta muốn thoả mãn tham vọng của mình gây nên Nghiệp báo lý giải căn nguyên nỗi khổ ở đời con người Cuộc đời con người là sự gánh chịu hậu quả của nghiệp đương thời và các kiếp sống trước rồi nó tiếp tục chi phối cả đời sau Nghiệp báo trong một đời là sự tổng hợp của các nghiệp gây ra trong hiện tại cộng với các nghiệp gây
ra trong quá khứ, nó quyết định đời sau xấu hay tốt, thiện hay ác
Luân hồi chữ phạn là Samsara, có nghĩa là bánh xe quay tròn Phật giáo cho rằng, sau khi một thể xác sinh vật nào đó chết thì linh hồn sẽ tách ra khỏi thể xác và đầu thai vào một sinh vật khác nhập vào một thể xác khác (có thể là con người, loài vật thậm chí cỏ cây) Mỗi chúng ta đều đã trải qua hàng ngàn hàng vạn cuộc đời, chỉ những người tu hành đắc đạo, được vào cõi Phật mới thoát khỏi luân hồi Chúng sinh nào chưa được giác ngộ, đều phải luân hồi mãi mãi trong bể khổ Cứ thế mãi do kết quả, quả báo hành động của những kiếp trước gây ra Đó cũng là cách lý giải căn nguyên nỗi khổ ở đời con người
Giải thoát và phương pháp để giải thoát
Giải thoát là chấm dứt hoàn toàn các nguyên nhân dẫn đến sinh tử, thoát ra khỏi Luân hồi và đạt Niết bàn
Niết bàn có thể được hiểu là sự chấm dứt ái dục hay lìa bỏ ái dục, ám chỉ lửa phiền não đã được dập tắt, đạt được trạng thái hoàn toàn giải thoát Phật giáo cho rằng khi con người làm cho lòng mình sạch hết tham lam, nóng giận
và si mê thì đã đến được bến giác, tức là cảnh giới Niết Bàn Do đó, con người phải dày công tu dưỡng, xoá bỏ được lửa dục, lửa sân, lửa si mê để chứng được cảnh giới niết bàn ngay trong cõi đời hiện tại
Từ bi
“Từ bi” là “từ” và “bi”, là hai đức tính cơ bản trong bốn đức tính mà Phật giáo gọi là “tứ vô lượng” (Caturapramana) hay còn gọi là “tứ vô lượng tâm” Đại từ điển Đinh Phúc Bảo định nghĩa “tứ vô lượng” là “bốn đức tính” của Phật Bồ tát gồm từ, bi, hỷ, xả Tâm niệm đem lại niềm vui cho người khác gọi là
“từ”, tâm niệm làm cho người khác bớt khổ đau gọi là “bi”, vui mừng vì chúng sinh được an lạc, tránh khổ đau gọi là “hỷ”, tâm niệm đối với chúng sinh không tính toán thân, sơ, đối xử với mọi người bình đẳng như nhau gọi là “xả” Từ bi trong Phật giáo không có nghĩa đơn giản là xót thương kẻ khác một cách thụ động và tiêu cực, mà ngược lại từ bi là một sức mạnh tích cực đưa ta thẳng vào hành động, trong mục đích loại trừ mọi thể dạng của khổ đau và mọi cội rễ của khổ đau
II Triết học Vêđanta :
1 Điều kiện ra đời :
Vedanta là học thuyết triết học tôn giáo có ảnh hưởng rất lớn trong hệ thống