1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

SỰ TƯƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT GIỮA TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO VÀ TRIẾT HỌC VEDANTA Ở ẤN ĐỘ THỜI CỔ ĐẠI

20 2,1K 8

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 114,68 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ấn Độ là một trong những cái nôi của nền văn minh nhân loại. Ðời sống, tôn giáo và nền triết học gồm nhiều triết hệ của tiểu lục địa Ấn Ðộ phô diễn một hỗn hợp phong phú và kinh ngạc. Tại Ấn Ðộ, không có một tôn giáo thuần nhất, cũng chẳng có một nền triết học độc nhất, đúng hơn, với nhiều cách thức am hiểu và liên hệ với thế giới - như là “một tiểu vũ trụ của các tôn giáo và các nền triết học”.

Trang 1

Trường Đại Học Kinh Tế TP.Hồ Chí Minh

Viện Đào Tạo Sau Đại Học

Đề Tài:

SỰ TƯƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT GIỮA TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO VÀ TRIẾT HỌC VEDANTA

Ở ẤN ĐỘ THỜI CỔ ĐẠI

Học viên thực hiện: Phan Nguyễn Kim Ngân

STT: 42 - Nhóm: 5

Lớp: Ngày 4 - Khóa: 22

Giảng viên phụ trách: TS.Bùi Văn Mưa

2012

Trang 2

LỜI MỞ ĐẦU

Ấn Độ là một trong những cái nôi của nền văn minh nhân loại Ðời sống,

tôn giáo và nền triết học gồm nhiều triết hệ của tiểu lục địa Ấn Ðộ phô diễn một

hỗn hợp phong phú và kinh ngạc Tại Ấn Ðộ, không có một tôn giáo thuần nhất,

cũng chẳng có một nền triết học độc nhất, đúng hơn, với nhiều cách thức am hiểu

và liên hệ với thế giới - như là “một tiểu vũ trụ của các tôn giáo và các nền triết

học”.Triết học Ấn Độ cổ đại đã hình thành và phát triển, vừa mang tính đa dạng

vừa mang tính thống nhất, tạo ra sự sống động, muôn màu, muôn vẻ của triết học

Ấn Độ Trong thời kỳ cổ đại, mặc dù cùng được hình thành và phát triển từ trong

truyền thống Veda, nhưng các trường phái triết học Ấn Độ lại luôn xung đột lẫn

nhau Đó là sự mâu thuẫn giữa hệ thống chính thống và phi chính thống, tiêu biểu

là trường phái Vedanta và trường phái Phật Giáo Vậy thì sự tương đồng và khác

biệt giữa hai trường phái này là gì? Bài tiểu luận này giúp tìm hiểu một cách sâu

rộng hơn về những điểm tương đồng và khác biệt, đồng thời tạo ra cái nhìn đúng

đắn, tổng quan hơn về hai trường phái triết học này

Viện Đào Tạo Sau Đại Học

Đề Tài:

SỰ TƯƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT GIỮA TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO VÀ TRIẾT HỌC VEDANTA

Ở ẤN ĐỘ THỜI CỔ ĐẠI

Học viên thực hiện: Phan Nguyễn Kim Ngân

STT: 42 - Nhóm: 5 Lớp: Ngày 4 - Khóa: 22 Giảng viên phụ trách: TS.Bùi Văn Mưa

Trang 3

CHƯƠNG I - Khái quát về triết học Ấn Độ thời cổ đại

I.1 Bối cảnh Ấn Độ thời cổ đại:

Ấn Độ là một bán đảo ở Nam Á, có sự đa dạng về địa hình và khí hậu ở các vùng Bắc Ấn, Trung Ấn và Nam Ấn Phía bắc là dãy núi Hymalaya và có hai con sông lớn: sông Ấn và sông Hằng Từ hai con sông này đã hình thành nên đồng bằng phù sa thuận lợi cho việc trồng trọt, đồng thời cũng là nơi sản sinh ra nền văn hóa cổ xưa và rực rỡ nhất châu Á Phía nam Ấn Độ là cao nguyên Decan, là vùng đất nghèo nàn, khô hạn, quanh năm nắng nóng Tính đa dạng thiên nhiên một mặt là điều kiện thuận lợi cho cư dân cổ tụ cư và phát triển, mặt khác là những thế lực đè nặng lên số phận con người Ấn Độ khi nhận thức của họ còn thấp kém

Thời cổ đại, Ấn Độ có nhiều dân tộc sinh sống nên có nhiều ngôn ngữ khác nhau Trong quá trình phát triển, có những quốc gia và các dân tộc khác bên ngoài xâm nhập vào Ấn Độ rồi định cư như Ba Tư, Hi Lạp Những dân tộc này sống hòa lẫn với nhau xây dựng nên một nền văn minh vĩ đại cho nhân loại

Sự phát triển của sức sản xuất xã hội của Ấn Độ thời kỳ này đã làm cho thủ công nghiệp tách hẳn ra khỏi nông nghiệp ở một số vùng, tạo thành các trung tâm thủ công nghiệp, thương nghiệp quan trọng thời bấy giờ Những con đường thương mại thủy bộ đã hình thành Đó không chỉ là con đường giao lưu kinh tế

mà đó là con đường giao lưu, truyền bá văn hóa giữa Ấn Độ với các nước Tuy nhiên, xã hộ nô lệ Ấn Độ vẫn bị bóp nghẹt bởi tính chất kiên cố của chế độ "công

xã nông thôn" làm cho nền kinh tế mang tính tự nhiên, đời sống xã hội trở nên trì trệ, chậm chạp Trong kết cấu này, chế độ quốc hữu về ruộng đất được các chủ nghĩa Mác coi là “chiếc chìa khoá” để hiểu toàn bộ lịch sử Ấn Độ cổ đại Chính trong mô hình này đã làm phát sinh sự phân biệt hết sức khắc nghiệt và dai dẳng của bốn đẳng cấp lớn trong xã hội: Tăng lữ , quý tộc, bình dân tự do và tiện nô Ngoài ra còn có sự phân biệt chủng tộc, dòng dõi, nghề nghiệp, tôn giáo

Trang 4

Đặc biệt, dưới thời các vua Gupta, để duy trì chế độ trung ương tập quyền, người ta còn sưu tập những bộ pháp điển ở thời kỳ trước đem dung hòa với chính sách đương thời, viết ra các bộ sách chính trị, pháp luật làm tiêu chuẩn áp dụng cho tổ chức xã hội hiện thời, thần thánh hóa ngôi vương chủ đến tột bậc bằng mọi biện pháp

Thêm vào đó, khoa học kỹ thuật Ấn Độ thời kỳ này cũng đạt được những tiến bộ đáng kể về các lĩnh vực toán học, thiên văn, lịch pháp nông nghiệp,

Những thành tựu đó thật sự là những nấc thang nhận thức quan trọng vào việc giải thích và cải tạo thế giới phục vụ cho lợi ích của con người Hơn thế nữa, chúng còn là cơ sở cho quá trình phát triển khả năng tư duy trừu tượng hình thành nên hệ thống triết học ở Ấn Độ thời kỳ này

I.2 Triết học Ấn Độ cổ đại:

I.2.1 Đặc điểm triết học Ấn Độ thời cổ đại:

Thứ nhất, do chịu ảnh hưởng của tinh thần Veda mà triết học Ấn Độ thời

cổ đại không thể phân chia rõ ràng thành chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm, phép biện chứng và phép siêu hình (như triết học phương Tây), mà chủ yếu được chia thành hệ thống chính thống và hệ thống không chính thống Trong các trường phái triết học cụ thể luôn có sự đan xen giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm, giữa phép biện chứng và siêu hình với nhau

Thứ hai, do chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi các tư tưởng tôn giáo mà triết học

Ấn Độ cổ đại thường là một bộ phận lý luận quan trọng tạo nên nội dung giáo lý của các tôn giáo lớn Tuy nhiên, tôn giáo Ấn Độ có xu hướng "hướng nội" đi sâu vào tìm hiểu đời sống tâm linh, tinh thần để phát hiện ra sức mạnh của linh hồn

cá nhân con người, vì vậy triết học Ấn Độ cổ - trung đại mang nặng tính chất duy tâm chủ quan và thần bí Sự phản tỉnh nhân sinh là một nét trội và có ưu thế của nhiều học thuyết triết học Ấn Độ cổ đại (trừ Lokàyata), và hầu hết các học thuyết triết học đều biến đổi theo xu hướng từ vô thần tới hữu thần, từ ít nhiều duy vật đến duy tâm hay nhị nguyên

Trang 5

Thứ ba, triết học Ấn Độ cổ đại đã đặt ra nhiều vấn đề, song nó rất quan

tâm đến việc giải quyết các vấn đề thuộc về lĩnh vực nhân sinh (bản chất, ý nghĩa của đời sống, nguồn gốc của nỗi khổ của con người) nhằm tìm kiếm phương tiện, con đường, cách thức giải thoát chúng sinh ra khỏi điều kiện tự nhiên và kinh tế

- xã hội khắc nghiệt

I.2.2 Các trường phái triết học Ấn Độ cổ đại:

Dưới sự tác động, chi phối, thống trị của triết lý Veda, Upanishad, và giáo

lý đạo Bàlamôn được mệnh danh là tư tưởng truyền thống chính thống, chính người Ấn Độ đã phân các hệ thống triết học của họ thành hai loại lớn Các trường phái triết học được gọi là hệ thống Bàlamôn chính thống – tức các darshanas – các trào lưu bằng cách này hay cách khác đều thừa nhận ưu thế mặc khải tối cao của kinh Veda và triết lý về Tinh thần sáng tạo vũ trụ tuyệt đối tối cao Brahman trong Upanishad, biện hộ cho giáo lý của đạo Bàlamôn, bảo vệ cho chế độ phân biệt đẳng cấp xã hội

+ Phái triết học chính thống bao gồm 6 trường phái chính là Samkhya, Nyaya, Vaisesika, Mimamsa, Yoga và Vedanta

+ Phái triết học không chính thống bác bỏ uy thế tối cao của kinh Veda, đạo Bàlamôn gồm 3 trường phái chính là: Phật giáo, Đạo Jaina và các trường phái triết học vô thần, duy vật trong phong trào mới đòi tự do tư tưởng ở Đông

Ấn và trường phái triết học duy vật tiêu biểu Lokayata hay chủ nghĩa duy vật khoái lạc Charvaka

Sự phân chia đó có căn cứ lịch sử, cho thấy sự rõ ảnh hưởng thống trị của chủ nghĩa duy tâm tôn giáo trong thánh kinh Veda, Upanishad và cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa vô thần và tư tuởng thần bí tôn giáo Các trường phái triết học đựơc coi là không chính thống tuy cùng có những điểm chung, như không tin có Thượng đế, nghi ngờ và phủ nhận quyền uy của kinh Veda, phê phán giáo lý đạo Bàlamôn, đả kích chế độ phân biệt đẳng cấp xã hội, nhưng giữa họ lại có sự khác biệt nhau trong cả quan điểm về thế giới cũng như quan niệm về nhân sinh

Trang 6

CHƯƠNG II - Khái quát về triết học Phật giáo và triết học Vedanta

II.1 Triết học Phật giáo:

II.1.1 Điều kiện ra đời:

Trước khi Phật ra đời, xã hội Ấn độ rơi vào cuộc khủng hoảng trầm trọng

về mọi mặt của đời sống xã hội Thời kỳ này tầng lớp Bà La Môn được kính trọng, tôn sùng tuyệt đối; bởi họ là những người được coi là có tri thức, có khả năng giảng dạy đạo lý và cúng tế thần linh Còn giai cấp Sát Đế lợi thống trị quốc gia, thâu tóm gần như toàn bộ đất đai Trong khi đó, các giai cấp dưới phải lao động vất vả, chịu mọi sự khổ cực để cung phụng cho các giai cấp trên Chính những lý do này khiến cho đời sống xã hội ngày càng nảy sinh mâu thuẫn sâu sắc

và dẫn đến sự phản kháng của đông đảo nhân dân lao động đòi quyền tự do, bình đẳng Cũng chính vào thời điểm này ánh sáng từ bi trí tuệ của Phật giáo đã xuất hiện “Phật giáo xuất hiện như là sự đáp ứng nhu cầu tinh thần phản kháng xã hội; một mặt nó phản ánh nỗi bất hạnh, đau khổ thực tế của nhân dân Ấn Độ; mặt khác nó phản kháng chế độ đẳng cấp nghiệt ngã, chống lại sự áp bức, bất bình đẳng giữa con người Nó công khai chống lại giáo lý truyền thống của kinh Veda

và đạo Bà la môn, bác bỏ uy quyền thần thánh, xây dựng niềm tin vào chính con người”

II.1.2 Quá trình hình thành và phát triển:

Phật giáo là một trào lưu triết học tôn giáo xuất hiện vào thế kỷ thứ VI trước Công nguyên, do Siddharta sáng lập và nhanh chóng được truyền bá ở miền Bắc Ấn Độ Tư tưởng triết lý Phật giáo ban đầu chỉ truyền miệng, sau đó viết thành văn thể hiện trong kinh "Tam tạng"gồm ba bộ phận: Tạng kinh , Tạng luật, Tạng luận

Siddharta là thái tử nước Capilavastu, con vua nước Tịnh Phạn thuộc giai cấp Sát Đế Lỵ, dòng Kiều Tất La là một đại quý tộc ở Ấn Độ Năm 29 tuổi, ông

từ bỏ cuộc sống vương giả đi tìm con đường diệt trừ nỗi đau khổ của chúng sinh

Trang 7

Sau 6 năm khổ luyện, ông đã "ngộ đạo", tìm ra chân lý "Tứ diệu đế" và "Thập nhị nhân duyên"

Từ Thế kỷ IV đến Thế kỷ III TCN, đạo phật đã triệu tập 3 kỳ đại hội ở Magadha Sau kỳ đại hội thứ 3 thì Đạo Phật mới được truyền đi các nước khác ngoài Ấn Độ và mang nặng bản sắc của các nước đó, chủ yếu là các nước trong khu vực Đông Nam Á

Sau đó đến khoảng năm 100, Đại hội Phật giáo được triệu tập lần thứ 4 Pasan, người ta có đưa thêm một số giáo lý mới, gọi là phật giáo cải cách và từ đây đạo Phật được chia ra 2 phái: tiểu thừa và đại thừa Sau đại hội lần thứ 4 thì Đạo Phật đã được truyền bá rộng rãi sang nhiều nước trên thế giới Nhưng lúc này thì Đạo Phật đã bắt đầu suy yếu, và đến thế kỉ thứ 13, Phật giáo được xem là

bị tiêu diệt tại Ấn Độ - nơi sản sinh đạo Phật

II.1.3 Các nét đặc trưng:

Phật giáo nhìn nhận thế giới tự nhiên cũng như nhân sinh bằng sự phân tích nhân quả Theo Phật giáo, nhân - quả là một chuỗi liên tục không gián đoạn

và không hỗn loạn, có nghĩa là nhân nào quả ấy Mối quan hệ nhân quả này Phật giáo thường gọi là nhân duyên với ý nghĩa là một kết quả của nguyên nhân nào

đó sẽ là nguyên nhân của một kết quả khác

2.1.3.1 Thế giới quan : mang tính vô thần, nhị nguyên luận ngả về phía

duy tâm chủ quan và có chứa những tư tưởng biện chứng chất phác

Về thế giới tự nhiên, bằng sự phân tích nhân quả, Phật giáo cho rằng không thể tìm ra một nguyên nhân đầu tiên cho vũ trụ, có nghĩa là không có một đấng Tối cao (Brahman) nào sáng tạo ra vũ trụ Cùng với sự phủ định Brahman, Phật giáo cũng phủ định phạm trù (Anatman- nghĩa là không có tôi) và quan điểm "vô thường"

Quan điểm “vô ngã” bao hàm tư tưởng cho rằng, vạn vật trong vũ trụ vốn không có tính thường hằng nó chỉ là sự “giả hợp” do sự hội đủ nhân duyên nên thành ra “có” (tồn tại) Ngay bản thân sự tồn tại của thực tế con người chẳng qua

Trang 8

cũng là do “ngũ uẩn” (năm yếu tố) hội hợp lại: Sắc (vật chất), thụ (cảm giác), tưởng (ấn tượng), hành (suy lý) và thức (ý thức) Theo cách phân loại khác-“lục tại”: địa (chất khoảng), thuỷ (chất nước), hoả (nhiệt năng), phong (hơi thở), không (khoảng trống) và thức (ý thức) Nói một cách tổng quát thì vạn vật chỉ là

sự “hội hợp” của hai loại yếu tố là vật chất “sắc” và tinh thần “danh” Như vậy thì không có cái gọi là “tôi” (vô ngã)

- Quan điểm “vô thường” gắn liền với quan điểm “vô ngã” Vô thường nghĩa là vạn vật biến đổi vô cùng theo chu trình bất tận: Sinh – Trụ – Dị – Diệt; chúng luôn bị cuốn vào dòng biến hoá hư ảo vô cùng theo luật “nhân quả”

“Nhân” nhờ “duyên” mới sinh ra “quả”, “quả” nhờ “duyên” mà thành “nhân” mới, “nhân” mới lại nhờ “duyên” mà thành “quả “ mới…; cứ như thế, vạn vật biến đổi, hợp – tan, tan – hợp mà không có nguyên nhân đầu tiên và kết quả cuối cùng nào cả

- Vì không nhận thức được sự biến ảo vô thường đó nên người ta nhầm tưởng là cái tôi tồn tại mãi, cái gì cũng là của ta nên con người cứ khát ái, tham dục, hành động chiếm đoạt nhằm thỏa mãn những ham muốn, dục vọng đó tạo ra những kết quả, gây nên nghiệp báo (karma), mắc vào bể khổ triền miên (sam -sara) tức là mắc vào kiếp luân hồi

2.1.3.2 Nhân sinh quan:

Nhân sinh quan là nội dung chủ yếu của triết lý Phật giáo nguyên thủy Cũng như nhiều trường phái khác của triết học Ấn Độ cổ đại, Phật giáo đặt vấn

đề tìm kiếm mục tiêu cứu cánh nhân sinh ở sự “giải thoát” (Moksa) khỏi vòng luân hồi, nghiệp báo để đạt tới trạng thái tồn tại Niết bàn (Nirvana) Tính quần chúng của luận điểm nhân sinh Phật giáo thể hiện ở chỗ nêu cao tinh thần “bình đẳng giác ngộ”, tức là quyền thực hiện sự giải thoát là cho tất cả mọi người mà cao hơn nữa là của mọi “chúng sinh” Điều này mang tính nhân bản sâu sắc, vượt qua giới hạn đẳng cấp khắc nghiệt vốn là một truyền thống chính trị Ấn Độ cổ đại Nó nói lên khát vọng “tự do cho tất cả mọi người”, không thể là độc quyền

Trang 9

của một đẳng cấp nào, dù đó là đẳng cấp tăng lữ hay quý tộc, bình dân hay tiện

nô Đây là lời kêu gọi gián tiếp cho quyền bình đẳng xã hội của Phật giáo, và như vậy Phật giáo thật sự là một trường phái thuộc phái “không chính thống” (tức phái cải cách) của nền tư tưởng Ấn Độ cổ đại

Tư tưởng nổi bật tạo nên cốt lõi của quan niệm nhân sinh quan của Phật giáo nguyên thủy là thuyết Tứ diệu đế với bốn bộ phận là khổ đế, tập đế, diệt đế

và đạo đế:

+ Khổ đế: Phật giáo cho rằng đời là bể khổ Cái khổ ấy không ngoài 8 nỗi khổ: Sinh, lão, bệnh, tử, thụ biệt ly (yêu mà phải chia ly), oán tăng hội (ghét mà phải ở sốngvới nhau), sở cầu bất đắc (muốn mà không được), ngũ uẩn khổ (sự hội tụ và xung đột của ngũ uẩn - sắc, thu, tưởng, hành, thức)

+ Nhân đế: là luận điểm giải thích những nguyên nhân sự đau khổ nơi cuộc sống nhân sinh Phật giáo cho rằng con người còn chìm đắm trong bể khổ khi không thoát ra khỏi dòng sông luân hồi Mà luân hồi là do nghiệp tạo ra Sở

dĩ có nghiệp là do lòng ham muốn, tham lam do sự ngu dốt và si mê, nói ngắn gọn là do Tam độc (tham, sân, si) gây ra Ngoài ra nhân đế được diễn giải một cách logic và cụ thể trong thuyết thập nhị nhân duyên (12 nguyên nhân dẫn đến

bể khổ): vô minh, hanh, thức, danh - sắc, lục nhập, xúc, thụ, ái, thủ, hữu, sinh, lão

- tử Trong 12 nhân duyên ấy thì “Vô minh” là nguyên nhân thâu tóm tất cả Bởi vậy diệt trừ vô minh là diệt trừ tận gốc rễ sự đau khổ nhân sinh

+ Diệt đế: Là luận điểm về khả năng có thể tiêu diệt được sự khổ nơi cuộc sống nhân sinh, đạt tới trạng thái Niết bàn, cứu cánh của hành động tự do Luận điểm này cũng bộc lộ tinh thần lạc quan tôn giáo của Phật giáo; cũng thể hiện khát vọng nhân bản của nó muốn hướng con người đến niềm hạnh phúc “tuyệt đối”; khát vọng chân chính của con người tới Chân – Thiện – Mỹ

+ Đạo đế: là luận điểm về con đường thể hiện sự diệt khổ, đạt tới giải thoát Đó không phải là con đường sử dụng bạo lực mà là con đường “tu đạo” Thực chất của con đường này là hoàn thiện đạo đức cá nhân gồm 8 nguyên tắc (bát chính đạo) Tám nguyên tắc này có thể thâu tóm vào 3 điều phải học tập, rèn

Trang 10

luyện là: Giới - Định - Tuệ (tức là: giữ giới luật, thực hành thiền định và khai thông trí tuệ bát nhã) Sự giải phóng mang ý nghĩa của sự thực hiện cá nhân, không mang ý nghĩa của những phong trào cách mạng hay cải cách xã hội Đây

là nét đặc biệt của “tinh thần giải phóng nhân sinh” của Phật giáo

II.2 Triết học Vedanta:

II.2.1 Điều kiện ra đời:

Vedanta là học thuyết triết học tôn giáo có ảnh hưởng rất lớn trong hệ thống triết học chính thống ở Ấn Độ cổ đại Nó ra đời từ phong trào tổng thuật, chú giải, khai thác mặt triết lý có tính chất trừu tượng, uyên áo của kinh Veda và kinh Upanishad – học thuyết có uy thế nhất trong lịch sử tư tưởng Ấn Độ cổ đại

II.2.2 Quá trình hình thành và phát triển:

Trường phái Vedanta xuất hiện vào thế kỷ II TCN, do Badarayana khởi xướng và Sankara phát triển, tiếp nối các tư tưởng của Upanisat, đưa ra các kiến giải siêu hình và duy tâm về nguyên nhan hình thành thế giới (vũ trụ và vạn vật)

Nghĩa gốc của từ ngữ Vedanta là: cuối thời của các kinh Veda, tức qua thời các Upanishad Hình thức cổ nhất mà chúng ta được biết về triết thuyết đó – triết thuyết lưu hành nhất ở Ấn - là kinh Brahma-sutra của Badarayana (khoảng

200 TCN), gồm 555 cách ngôn mà cách ngôn đầu tiên vạch rõ mục đích của toàn

bộ như sau: “Bây giờ, là cái ý muốn biết Brahman” Gần một ngàn năm sau, Gandapada soạn một cuốn chú giải các sutra đó, dạy phần bí truyền của học thuyết cho Govinda, Govinda sau dạy lại cho Shankara Sau cùng Shankara soạn

bộ chú giải nổi tiếng nhất, Vedanta, và thành triết gia lớn nhất của Ấn

II.2.3 Các nét đặc trưng:

Tác phẩm Brahman - Sutra được coi là kinh điển của Vedanta, nhưng nội dung không rõ ràng, khá mơ hồ nên có nhiều cách giải thích khác nhau

Cách luận giải có ảnh hưởng lớn nhất là "thuyết Vedanta nhất nguyên"

Đó là triết học nhất nguyên luận duy tâm chủ quan cho rằng chỉ có Brahman, tức

Ngày đăng: 18/11/2014, 14:45

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w