1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC PHÉP BIỆN CHỨNG DUY TÂM HÊ-GHEN VÀ VAI TRÒ CỦA NÓ ĐỐI VỚI SỰ RA ĐỜI CỦA TRIẾT HỌC MÁC

20 1,3K 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 0,98 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC PHÉP BIỆN CHỨNG DUY TÂM HÊ-GHEN VÀ VAI TRÒ CỦA NÓ ĐỐI VỚI SỰ RA ĐỜI CỦA TRIẾT HỌC MÁC Triết học ra đời và phát triển cho đến nay đã có lịch sử gần 3000 năm. Sự phát triển những tƣ tƣởng triết học của nhân loại là một quá trình không đơn giản. Cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật và duy tâm, gắn với nó là cuộc đấu tranh giữa các phƣơng pháp nhận thức hiện thực: phƣơng pháp biện chứng và phƣơng pháp siêu hình. Tuy là cái trục xuyên suốt lịch sử triết học, làm nên cái “ logic nội tại khách quan” của sự phát triển, song lịch sử diễn biến của nó lại hết sức phức tạp.

Trang 1

TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC

Đề tài số 10:

PHÉP BIỆN CHỨNG DUY TÂM HÊ-GHEN VÀ VAI TRÒ CỦA NÓ ĐỐI VỚI SỰ RA ĐỜI CỦA TRIẾT HỌC MÁC

Học viên thực hiện : VƯƠNG THỊ HỒNG LÂM

TP.HCM, tháng 12 năm 2012

Trang 2

LỜ NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN

Trang 4

Phép biện chứng duy tâm Hê-ghen và vai trò của nó đối với sự ra đời của triết học Mác Trang 1

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 2

1 CHƯƠNG I : BỐI CẢNH RA ĐỜI CỦA TRIẾT HỌC HÊGHEN 3

1.1 Sơ lược xã hội Đức cuối thế kỉ XVIII – đầu thế kỷ XIX 3

1.2 Đặc điểm triết học cổ điển Đức 3

1.3 Tiểu sử nhà triết học Hê-ghen 4

2 CHƯƠNG II : NỘI DUNG PHÉP BIỆN CHỨNG DUY TÂM HÊGHEN 5

2.1 Nội dung phép biện chứng duy tâm Hê-ghen 5

2.1.1 Hiện tượng luận tinh thần 5

2.1.2 Khoa học logic 6

2.1.3 Triết học tự nhiên 8

2.1.4 Triết học tinh thần 9

2.2 Ý nghĩa của phép biện chứng duy tâm Hê-ghen 10

3 CHƯƠNG III: VAI TRÒ CỦA PHÉP BIỆN CHỨNG DUY TÂM HÊGHEN ĐỐI VỚI SỰ RA ĐỜI CỦA TRIẾT HỌC MÁC 11

3.1 Những điều kiện lịch sử ra đời của triết học Mác 11

3.1.1 Điều kiện kinh tế-xã hội 11

3.1.2 Nguồn gốc lý luận và những tiền đề khoa học tự nhiên 12

3.2 Vai trò của phép biện chứng duy tâm Hê-ghen đối với sự ra đời của triết học Mác 13 KẾT LUẬN 16

TÀI LIỆU THAM KHẢO 17

Trang 5

Phép biện chứng duy tâm Hê-ghen và vai trò của nó đối với sự ra đời của triết học Mác Trang 2

LỜI MỞ ĐẦU

Triết học ra đời và phát triển cho đến nay đã có lịch sử gần 3000 năm Sự phát triển những tư tưởng triết học của nhân loại là một quá trình không đơn giản

Cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật và duy tâm, gắn với nó là cuộc đấu tranh giữa các phương pháp nhận thức hiện thực: phương pháp biện chứng và phương pháp siêu hình Tuy là cái trục xuyên suốt lịch sử triết học, làm nên cái “ logic nội tại khách quan” của sự phát triển, song lịch sử diễn biến của nó lại hết sức phức tạp

Triết học cổ điển đức, mà tiêu biểu là triết học Hê-ghen và triết học Phơ-ơ-bắc là tiền đề lý luận trực tiếp cho sự ra đời của triết học Mác Phép biện chứng của Hê-ghen là một tiền đề lý luận quan trọng của triết học Mác, vì vậy Mác đã thừa nhận Hê-ghen là

“người thầy vĩ đại” của mình Phép biện chứng của Hê-ghen là phép biện chứng duy tâm Tuy đứng trên lập trường duy tâm nhưng Hê-ghen đã xây dựng nên các hệ thống triết học độc đáo, đề xuất được tư duy biện chứng, logic biện chứng, học thuyết về các quá trình phát triển đó là phép biện chứng Trong tất cả các triết gia nổi tiếng phương tây, Hê-ghen có lẽ là người khó hiểu nhất, nhưng ông chính là người đặt nền móng cho tư tưởng biện chứng Mác và hồi sinh triết học với tư cách là một hệ thống về thế giới

Tuy nhiên phép biện chứng của Hê-ghen lại nằm trong lớp vỏ duy tâm thần bí sơ cứng giáo điều, bóp méo phép biện chứng, làm phép biện chứng không còn khoa học cách mạng và sống động nữa Triết học Mác ra đời đã triệt để phê phán tính chất duy tâm, thần bí trong triết học Hê-ghen , nhưng đồng thời cũng đánh giá cao tư tưởng biện chứng của ông “ tính chất thần bí mà phép biện chứng đã mắc phải trong tay Hê-ghen tuyệt nhiên không ngăn cản Hê-ghen trở thành người đầu tiên trình bày một cách bao quát và

có ý thức những hình thái vận động chung của phép biện chứng Ở Hê-ghen , phép biện chứng bị lộn ngược đầu xuống đất Chỉ cần dựng lại là sẽ phát hiện được cái hạt nhân hợp

lý của nó ở đằng sau cái vỏ thần bí của nó Bằng thiên tài của mình, Mác và Ăng-ghen đã cải tạo triệt để phép biện chứng duy tâm của Hê-ghen thành phép biện chứng duy vật để

nó đóng vai trò công cụ tình thần nhận thức cái lĩnh vực tự nhiên, xã hội và tư duy con

Trang 6

Phép biện chứng duy tâm Hê-ghen và vai trò của nó đối với sự ra đời của triết học Mác Trang 3

người Đó là nội dung của đề tài mà mà em muốn để cập “ Phép biện chứng duy tâm Hê-ghen và vai trò của nó đối với sự ra đời của triết học Mác”

Sự ra đời triết học Mác tạo nên sự biến đổi có ý nghĩa cách mạng trong lịch sử phát triển triết học của nhân loại Đó là một cuộc cách mạng thật sự trong học thuyết về

xã hội, một trong những yếu tố chủ yếu của bước ngoặt cách mạng mà Mác đã thực hiện trong triết học

1 CHƯƠNG I : BỐI CẢNH RA ĐỜI CỦA TRIẾT HỌC HÊGHEN

1.1 Sơ lược xã hội Đức cuối thế kỉ XVIII – đầu thế kỷ XIX

Đến cuối thế kỷ 18 đầu thế kỷ 19, Chủ Nghĩa Tư Bản được thiết lập ở một số nước Tây Âu như Italia, Anh, Pháp , đem lại một nền sản xuất chưa từng có trong lịch sử, tỏ ra

ưu việt hơn hẳn so với tấc cả các chế độ trước đó

Trong khi ở nhiều nước Tây Âu đang có những thay đổi nhảy vọt như vậy, thì nước Đức cho đến thế kỷ 19 vẫn là một quốc gia phong kiến lạc hậu Liên bang Đức chỉ tồn tại về hình thức, thực chất đất nước còn phải chia thành nhiều tiểu vương quốc nhỏ tách biệt nhau Tình trạng đó gây nhiều trở ngại đối với sự phát triển của đất nước Triểu đình vua phổ Phridrich Vin Hem (1770-1840) vẫn ngoan cố tăng cường quyền lực và duy trì chế độ phong kiến thối nát, cản trở đât nước phát triển theo con đường tư bản chủ nghĩa Cả đất nước bao chìm trong bầu không khí bất bình của đông đảo quần chúng Như Ăng-ghen nhận xét, có thể coi đây là một trong những thời kỳ yếu hèn nhất trong lịch sử nước Đức

1.2 Đặc điểm triết học cổ điển Đức

Đáp ứng đơn đặt hàng của lịch sử, triết học cổ điển Đức ra đời Cũng giống như

ở Pháp hồi thế kỷ XVIII, cách mạng triết học ở Đức hồi thế kỷ XIX cũng đi trước cuộc cách mạng chính trị Nhưng hai cuộc cách mạng triết học ấy hoàn toàn khác nhau Người pháp đấu tranh công khai chống toàn bộ nền khoa học, chống giáo hội và thường chống ngay cả nhà nước nữa Trái lại, người Đức lại là những giáo sư, những nhà giáo

do nhà nước bổ nhiệm để giáo dục thanh niên; tác phẩm của họ là sách giáo khoa được mọi người thừa nhận và cái hệ thống hoàn tất của toàn bộ sự phát triển triết học, tức là

hệ thống Hê-ghen, thậm chí đã được nâng lên có thể nói là lên địa vị triết học nhà nước

Trang 7

Phép biện chứng duy tâm Hê-ghen và vai trò của nó đối với sự ra đời của triết học Mác Trang 4

của vương quốc Phổ và cách mạng lại phải núp sau những giáo sư ấy, sau những lời thông thái rởm và tối nghĩa của họ, trong những câu văn nặng nề và buồn tẻ của họ Triết học cổ điển Đức tiếp tục phát huy truyền thống duy lý của phương tây, khôi phục lại quan niệm coi triết học là khoa học của mọi khoa học Các triết gia ra sức xây dựng các hệ thống triết học vạn năng, bao trùm tất cả mọi lĩnh vực hoạt động của con người làm cơ sở cho những hoạt động đó Đối với Hê-ghen, triết học thật sự phải là logic học, còn đối với Phơi-ơ-bắc, đó là nhân bản học Tuy nhiên, do cố khắc phục những hạn chế siêu hình và máy móc trong nền triết học duy vật thế kỷ XVII- XVIII mà triết học cổ điển Đức lại rơi vào chủ nghĩa duy tâm thần bí Họ cho rằng, tính biện chứng sống động chỉ là bản tính của cái tinh thần, còn cái tự nhiên thì phi biện chứng Dù vậy họ vẫn tiếp thu những tư tưởng biện chứng quý báu trong di sản triết học cổ điển của nhân loại, phát triển thêm và xây dựng phép biện chứng như một học thuyết triết học về mối liên

hệ phổ biến và sự phát triển xảy ra trong thế giới Triết học cổ điển đức đề cao vai trò của con người với tính cách là chủ thể trong mọi hoạt động cải tạo thế giới - khách thể;

và khảo sát khách thể gắn liền với hoạt động thực tiễn của chủ thể - con người Song do quan điểm duy tâm chi phối mà nhiều triết gia của nền triết học này hiểu thực tiễn chỉ là hoạt động sáng táo của ý thức, đồng thời tuyệt đối hóa ý thức, biến ý thức thành lực lượng siêu nhiên có năng lực sáng tạo kỳ vĩ Vì vậy triết học của họ mang tính duy tâm thần bí Triết học cổ điển đức là cơ sở thế giới quan, là nền tảng ý thức hệ của giai cấp

tư sản đức cuối thế kỷ XVIII – đầu thế kỷ XIX, vốn yếu về kinh tế nhược về chính trị, nhưng có đời sống văn hóa tinh thần khá phong phú, sống trong một xã hội mà tàn tích phong kiến còn quá nặng nề

1.3 Tiểu sử nhà triết học Hê-ghen

Hê-ghen (1770 – 1831) là triết gia duy tâm người Đức, một trong những triết gia

có ảnh hưởng nhất thế kỷ XIX Hê-ghen sinh tại Stuttgart vào ngày 27/8/1770, trong một gia đình công chức cao cấp nhà nước Ông được giáo dục trong bầu không khí sùng đạo Tin Lành Cha ông cổ vũ ông trở thành một giáo sĩ, và Hê-ghen đã vào trường dòng tại đại học Tübingen – trường đào tạo về thần học, năm 1788 Ở đó ông đã phát triển tình bạn với nhà thơ Friedrich Hölderlin và nhà triết học Friedrich Wilhelm Joseph von Schelling Bản thân ông từng là giáo sư dạy trung học, sau đó là giáo sư giảng dạy trong trường đại học Do chịu ảnh hưởng của senlinh mà Hê-ghen say sưa nghiên cứu triết học

Trang 8

Phép biện chứng duy tâm Hê-ghen và vai trò của nó đối với sự ra đời của triết học Mác Trang 5

và ông đã trở thành nhà triết học – bác học vĩ đại nhất Hê-ghen luôn là người của mọi thời đại Triết học của Hê-ghen là tinh hoa của triết học cổ điển Đức và là nguồn gốc lý luận trực tiếp của cổ điển Mác Hê-ghen đã để lại cho nhân loại một di sản triết học đồ sộ

và rất giá trị các tác phẩm chính của ông là hiện tượng luân tinh thần, bách khoa toàn thư các khoa học triết học ( khoa học logic, triết học tự nhiên và triết học tinh thần)…

2 CHƯƠNG II : NỘI DUNG PHÉP BIỆN CHỨNG DUY TÂM HÊGHEN 2.1 Nội dung phép biện chứng duy tâm Hê-ghen

2.1.1 Hiện tượng luận tinh thần

Một là, thừa nhận sự tồn tại của ý niệm tuyệt đối Ý niệm tuyệt đối chứ không

phải cái tuyệt đối (senlinh) là nền tảng của hiện thực Ý niệm tuyệt đối là sự hợp nhất giữa thực thể-giới tự nhiên và cái tối tuyệt đối Ý niệm tuyệt đối là cái có trước, tồn tại vĩnh viễn và độc lập với ý thức của con người, là sự đồng nhất giữa tư duy và tồn tại, giữa tinh thần và vật chất, là đấng tối cao sáng tạo ra giới tự nhiên, con người và lịch sử nhân loại Con người chỉ là một sản phẩm của quá trình vận động phát triển tự thân của ý niệm tuyệt đối Hoạt động nhận thức và cải tạo thế giới của con người, tức lịch sử nhân loại, chỉ là giai đoạn phát triển cao của ý niệm tuyệt đối, là công cụ để nó nhận thức chính bản thân mình và quay trở về với chính mình

Hai là, thừa nhận sự phát triển của ý niệm tuyệt đối Hê-ghen coi sự phát triển

không chỉ đơn thuần là sự tăng giảm về lượng hay sự dịch chuyển về vị trí của các vật thể trong không gian mà là một bước phát triển mới về chất theo quy luật phủ định của phủ định – phát triển là quá trình liên tiếp thay thế cái cũ bằng cái mới trên cơ sở có sự kế thừa Theo Hê-ghen , quá trình phát triển của ý niệm tuyệt đối theo tam đoạn thức: “chính

đề – phản đề – hợp đề”; cụ thể trong “hiện tượng luận tinh thần” là tinh thần chủ quan – tinh thần khách quan – ý niệm tuyệt đối Đây là ba giai đoạn cơ bản trong quá trình phát triển của ý niệm tuyệt đối, đồng thời cũng là ba giai đoạn điển hình thể hiện mâu thuẫn giữa con người với giới tự nhiên Bằng hoạt động của mình, con người biến giới tự nhiên

là cái đối lập với mình thành cái cho mình, tức là làm chủ giới tự nhiên Hoạt động của con người là quá trình thống nhất giữa cái tinh thần và cái vật chất

Ba là, thừa nhận ý thức con người là sản phẩm của lịch sử Hê-ghen coi lịch sử là

hiện thân của ý niệm tuyệt đối, là đỉnh cao của sự phát triển ý niệm tuyệt đối trên trần

Trang 9

Phép biện chứng duy tâm Hê-ghen và vai trò của nó đối với sự ra đời của triết học Mác Trang 6

gian Lịch sử nhân loại có được nhờ vào hoạt động có ý thức của những cá nhân cụ thể, nhưng nó lại là nền tảng quy định ý thức của mỗi cá nhân Sự phát triển của lịch sử luôn mang tính kế thừa Ý thức cá nhân là sự khái quát, sự rút ngắn về thời gian, sự tái diễn về không gian toàn bộ chặng đường mà ý thức nhân loại đã trải qua trong lịch sử Ý thức nhân loại là sự tái hiện toàn bộ tiến trình lịch sử nhân loại, nó là sản phẩm của lịch sử và

là hiện thân của ý niệm tuyệt đối

Bốn là, triết học là học thuyết về ý niệm tuyệt đối Hê-ghen thừa nhận có 3 hình

thức thể hiện ý niệm tuyệt đối trên trần gian là nghệ thuật, tôn giáo và triết học Trong đó triết học là hình thức thể hiện cao nhất, trọn vẹn và đầy đủ nhất ý niệm tuyệt đối Theo ông, triết học là khoa học của mọi khoa học, là khoa học vạn năng đóng vai trò nền tảng cho toàn bộ thế giới quan và tư tưởng con người Nhưng mỗi thời đại lại có một học thuyết triết học của riêng mình Học thuyết này là tinh hoa tinh thần của thời đại đó, là thời đại đó được thể hiện dưới dạng tư tưởng Mỗi hệ thống triết học của một thời đại nào

đó đều là chắt lọc, kết tinh, khái quát lại toàn bộ lich sử triết học trước đó, đặc biệt là tư tưởng triết học Triết học và lịch sử triết học thống nhất với nhau như là sự thống nhất giữa cái tư duy và cái lịch sử Vì vậy triết học phải bao trùm toàn bộ lịch sử phát triển của

ý niệm tuyệt đối Theo quan điểm này thì triết học Hê-ghen được chai thành ba bộ phận: khoa học logic, triết học tự nhiên, triết học tinh thần; ứng với ba giai đoạn phát triển của

ý niệm tuyệt đối là ý niệm tuyệt đối trong chính nó, ý niệm tuyệt đối trong sự tồn tại khác của nó (tự tha hóa), ý niệm tuyệt đối khắc phục sự tự tha hóa quay về với nó

2.1.2 Khoa học logic

Logic học là bộ phận quan trọng nhất của hệ thống Hê-ghen bởi đối tượng của nó

là ý niệm tuyệt đối ở giai đoạn sơ khai nhất, nhưng là điểm xuất phát và nền tảng của toàn bộ hệ thống Thế giới quan duy tâm là cơ sở để Hê-ghen giải quyết các vấn đề trong logic học của ông

Là tác phẩm quan trọng nhất của hệ thống triết học Hê-ghen, khoa học logic nghiên cứu ý niệm tuyệt đối ở gia đoạn sơ khai, nhưng lại là xuất phát điểm của hệ thống Khi vạch ra những hạn chế của logic học cũ là chỉ nghiên cứu tư duy chủ quan trong phạm vi ý thức cá nhân mà không chỉ được ranh giới giữa logic học và các ngành khoa học khác cùng nghiên cứu tư duy, là chỉ dựa trên những phạm trù bất động, tách rời hình thức ra khỏi nội dung của nó…,Hê-ghen khởi thảo một logic học mới giúp vạch ra bản

Trang 10

Phép biện chứng duy tâm Hê-ghen và vai trò của nó đối với sự ra đời của triết học Mác Trang 7

chất đích thực của tư duy, và đóng vai trò như một phương pháp luận triết học làm cơ sở cho mọi khoa học Đó là khoa học về những phạm trù và qui luật của tư duy; nhưng tư duy mà logic học nghiên cứu là tư duy thuần túy, tức là ý niệm tuyệt đối trong chính nó hay thượng đế Theo Hê-ghen, logic học giúp thể hiện thượng đế trong bản chất vĩnh hằng của ngài trước khi sáng tạo ra giới tự nhiên và các tinh thần hữu hạn khác, trong đó

có tư duy con người Tư duy con người chỉ là một giai đoạn phát triển cao của ý niệm tuyệt đối, qua đó ý niệm tuyệt đối có khả năng ý thức được bản thân mình Khi xác định bản chất khách quan như thế của tư duy, Hê-ghen coi giới tự nhiên chỉ là tư duy khách quan vô thức – tư duy thể hiện dưới dạng các sự vật, để phân biệt với tu duy con người là

tư duy khách quan có ý thức Logic học nghiên cứu tư duy như thế phải là một hệ thống siêu hình học

Khoa học logic được chia thành ba bộ phận phù hợp với tiến trình phát triển của ý niệm tuyệt đối; đó là học thuyết về tồn tại, học thuyết về bản chất và học thuyết về khái niệm

Học thuyết về tồn tại: Đối với Hê-ghen đây là quy luật chiếm vị trí quan trọng

nhất trong ba quy luật của phép biện chứng Những thay đổi liên tục về lượng dẫn đến những những biến đổi gián đoạn về chất và ngược lại Sự quy định này nói lên cách thức tồn tại của sự vật Theo Hê-ghen, tồn tại phát triển qua các phạm trù trung giới: tồn tại thuần túy – hư vô – sinh thành – hiện thực – chất – lượng – độ Tồn tại thuần túy nghĩa là tồn tại ở một phương diện nhất định và được đồng nhất với hư vô, tồn tại dẫn đến sinh thành Sinh thành hàm chứa trong mình mâu thuẫn giữa tồn tại và hư vô, khiến nó vận động và kết quả là tồn tại chuyển thành một tồn tại khác hay là tồn tại hiện thực Qua trình chuyển từ tồn tại thuần túy sang sinh thành là sự thống nhất giữa chất, lượng trong

độ Chất là tính quy định bên trong sự vật Lượng là tính quy định bên ngoài của nó Độ

là sự thống nhất của chất và lượng với nhau trong sự vật để sự vật là nó Khi lượng của

sự vật thay đổi vượt quá độ, tức qua điểm nút thì chất này chuyển thành chất khác, tức bước nhảy xảy ra

Học thuyết về bản chất: Trong học thuyết này, Hê-ghen tập trung luận giải về quy

luật mâu thuẫn cụ thể là bàn về sự tự vận động phát triển của các phạm trù: đồng nhất – khác biệt – đối lập – mâu thuẫn, bản chất – hiện tượng, nội dung – hình thức, khả năng – hiện thực, nguyên nhân – kết quả Ông vạch ra sự thống nhất và đấu tranh của các mặt

Ngày đăng: 18/11/2014, 13:54

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w