1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đề tài bồi thường thiệt hại trong tố tụng hình sự

31 703 1
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 31
Dung lượng 4,52 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

DO vậy, chỉ có các oan sai được pháp luật quy định mới dược Nhà nược bồi thường 1.3 Các khái niệm khác có liên quan: Tạm giữ sai: Là việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn đã được áp dụng

Trang 1

MỤC LỤC

ORCC 0 2 Nội dung SH nọ HH nh HT Ki ni KH nh nh kê 3

2, Cơ sở pháp lý để xác định bồi thường thiệt hại: -c<cc<<< 55522 4

3, Người có quyền yêu cầu bồi thường: - 222222222222 e 7

Trang 2

MỞ ĐẦU

Để đảm bảo trật tự ky cương xã hội, bảo vệ các quyền cơ bản của công dân

đã được pháp luật ghi nhận, Nhà nước phải sử dụng quyền lực của mình để

chống lại mọi hành vi vi phạm pháp luật nhất là trong lĩnh vực tội phạm Giải quyết các vụ án hình sự một cách khách quan, đúng pháp luật là sự thể hiện việc

bảo vệ quyền con người Nhà nước phải ngăn chặn hoặc xử lý kịp thời không để cho những hành vi phạm tội xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Nhưng không phải vì việc xử lý nhanh chóng vụ án hình sự mà để quyền

và lợi ích hợp pháp của công dân bị xâm phạm

Lịch sử tư pháp thế giới đã chứng minh ngay cả ở những quốc gia gọi là tiên tiến nhất cũng đều có những trường hợp làm oan sai người vô tội Vì vậy,

tuy không luật pháp quốc gia nào cho phép các cơ quan tố tụng làm oan sai

người vô tội nhưng trong thực tế, mặc du lam đúng pháp luật và làm hết trách

nhiệm song những sai lầm khách quan mà việc làm oan người vô tội vẫn diễn

ra, thì cần coi đó như là một rủi ro nghề nghiệp Vấn đề quan trọng là chỗ phải

nâng cao năng lực, nêu cao trách nhiệm và tạo ra những điều kiện cần thiết để

những người tiến hành tố tụng hạn chế đến mức thấp nhất những sai lầm có thể xảy ra và nếu có việc làm oan sai xảy ra thì phải kiên quyết khắc phục và phải

bồi thường cho người bị oan

Tại Việt Nam, điều 29 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 quy định “Người

bị oan do người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự gây ra có quyền

được bồi thường thiệt hại và phục hồi danh dự, quyền lợi Cơ quan có thắm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự đã làm oan phải bồi thường thiệt hại và

phục hồi đanh dự, quyền lợi cho người bị oan; người đã gây ra thiệt hại có trách

nhiệm bồi hoàn cho cơ quan có thấm quyền theo quy định của pháp luật” Quy định này thể hiện sự quan tâm và trách nhiệm của Nhà nước trong việc bảo đảm việc bồi thường thiệt hại về vật chất và phục hồi danh dự cho người bị oan Tuy

Trang 3

nhiên vấn đề oan trong tô tụng hình sự và việc bồi thường thiệt hại cho người bị

oan cũng còn những vướng mắc cả về lý luận và thực tiễn cần được làm rõ, nhất

là vào thời điểm hiện nay chúng ta đang tiến hành xây dựng Luật Bồi thường

sai có mối quan hệ mật thiết với nhau song lại có ranh giới để phân biệt Về

nguyên tắc đã là oan thì chắc chắn có sai, nhưng sai trong tố tụng hình sự thì

chưa chắc đã oan

1.1 Oan:

Gây oan cho một người là một hành vi hoặc một tập hợp hành VI của một hoặc nhiều chủ thể THTT mà các hướng điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án

của các cơ quan và cá nhân có thâm quyền THTT đã sao lầm dẫn đến hậu quả

thiệt hại về vật chất và tinh thần cho người vô tội Thậm trí gây thiệt hại cho các tính mạng của họ mà trong thực tế về mặt khách quan chủ thể bị oan không thực hiện hành vi phạm tội, không xâm hại đến các quan hệ là khách thể được bộ luật

hình sự bảo vệ Về mặt chủ quan người đó không có lỗi, cơ quan tiến hành tố

tụng đã không chứng minh được lỗi của người đó Trong mọi trường hợp về

nguyên tắc oan đều thuộc đối tượng

được nhà nước bồi thường

1.2: sai

Trang 4

Sai là một hoặc tập hợp của các hành vi của các cá nhân có thâm quyền

THTT đã áp dụng đối với các hành vi không cấu thành tội phạm hoặc chưa đến

mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nhưng có hành vi vi phạm pháp luật Hoặc

trong một số trường hợp người đã thực hiện hành vi pham tội với tính chất mức

độ nhất định, nhưng bị truy cứu về tội nặng hơn hoặc truy tố thêm tội danh thực

tế đã không phạm, đã phải thi hành án, được xác định trong trường hợp Bản án

đó đã được Toà án cấp trên sửa theo hướng nhẹ hơn Tuy nhiên không phải

trường hợp sai nào cũng được Nhà nước bồi thường Thực tiễn ở nước ta cũng

như các nước trên thế giới, Nhà nước chỉ bồi thường cho những trường hợp sai

ở mức độ nhất định, việc xác định mưc độ này theo pháp luật các nước khác

nhau là khác nhau DO vậy, chỉ có các oan sai được pháp luật quy định mới

dược Nhà nược bồi thường

1.3 Các khái niệm khác có liên quan:

Tạm giữ sai: Là việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn đã được áp dụng đối với người bị bắt mà sau thời hạn tạm giữ coq quan điều tra đã không xác định

đủ căn cứ khởi tố bị can và có quyết định của cơ quan THTT có thấm quyền xác định việc tạm giữ là không có căn cứ

Tạm giam sai là biện pháp ngăn chăn mà cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát, Toa án đã áp dụng đói với một người mà hau qua của nó là đã cách l¡ người đó

với xã hội trong một thời gian nhất định và hạn chế một số quyền tự do của công đân mà có quyết dịnh của cơ quan thắm quyền là viẹc tạm giam là không

có căn cứ

Truy tố oan sai: là quyết định của cơ quan Viện kiẻm sát được thể hiện dưới

hình thức Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố một người ra trước Toà án đề xét

xử mà không có quyết định của các cơ quan tố tụng có thâm quyền xác định

Cáo trạng truy tố không có căn cứ, người bị truy tố vô tội, bản án tuyên người

đó không phạm tội

Xét xứ oan sai: là Bản án hoặc Quyết định của Toà án tuyên bằng một phán

quyết đối với một người xác định trách nhiệm hình sự của người đó phải chịu

Trang 5

một hình phạt nhất định mà có bản án quyết định của cơ quan tố tụng có thâm

quyền xác định người đó không phạm tội hoặc hành vi đó không cấu thành tội phạm

Thi hành án oan sai: là hành vi của giám thị, quản giáo mà hậu quả của

nó là thời gian giam giữ của bị cáob{ kéo dài hơn so với bản án đã được tuyên

và các hành vi trái pháp luật khác gây thiệt hại cho người bị án về tính mạng,

sức khoẻ, tài sản một cách trái pháp luật

2, Cơ sớ pháp lý để xác định bồi thường thiệt hai:

Cơ sở pháp lý đề xác định bồi thường đối với oan sai trong tố tụng hình sự là

yêu cầu cần và đủ đề xác định trách nhiệm bồi thường của những người có thắm

quyền của cơ quan THTT Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của người có thấm quyền của cơ quan THHH là một hình thức cụ thể của trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do vậy cơ sở pháp lý của loại trách nhiệm này về nguyên tắc phải tuân theo các quy định cửa Bộ luật Dân sự.Tuy nhiên trách

nhiệm bồi thường của những người có thâm quyền của cơ quan THTT có tính đặc thù vì vậy trongcơ sở pháp lý của trách nhiệm bồi thường thiệt hại đo người

có thâm quyền của cơ quan THTT gây ra có nét riêng biêt, đó là:

2.1 Có hành vi trái pháp luật trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành của người có thắm quyền của cơ quan tiến hành tố tụng hình sự: Hành vi trái pháp luật của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng hính sự là những hành vi đã không thực hiên đúng các quy định của pháp luật tố tụng hình

sự Hành vi của các chủ thể này không tuân theo yêu cầu đòi hỏi của quy phạm

pháp luật hình sự và tố tụng hình sự, đã thể hiện ra bên ngoái sự sai lầm trong

hoạt động đánh giá chứng cứ của các chủ thẻ tiến hành tố tụng hình sự Hành vi trái pháp luật của người có thâm quyền THTT hình sự được thực hiện chú yếu bằng hành động cụ thể như quyết định, phê chuẩn quyết định tạm giữ tạm giam không có căn cứ, ra quyết định truy tố người không phạm tội, xét xử tuyên án áp

dụng hình phạt cho người không có tội, giam giữ lâu hơn hoặc gây thiệt hại về

tính mạng sức khoẻ của phạm nhân do lỗi của giám thị trại giam Đồng thời các

Trang 6

hành vi này diễn ra theo nhiều hướng khác nhau, với tính chất mức độ nghiêm trọng khác nhau và theo hướng truy cứu trách nhiệm oan cho người vô tội hoặc

tăng nặng trách nhiệm hình sự thiếu căn cứ mới phát sinh trách nhiệm bồi

thường

2.2 Có thiệt hại thực tế xảy ra:

Thiệt hại ở đây là những thiệt hại thực tế đã xây ra cho người bị oan sai Đó

là thiệt hại về tài sản, thiệt hại về tính mạng sức khoẻ, danh dự nhân phẩm, uy

tín vé tồn thất về tinh thần của người bị oan sai đã phải gánh chịu Theo nguyên

tắc chung các thiệt hại được xác định theo quy định tại các Điềm 612, 613, 614,

615, 616 Bộ luật dân sự

2.2.1 Thiệt hại về tài sản

Bao gồm tài sản bị tịch thu, bị giam giữ, bị phong toả dẫn đến bị mắt mát, hư hỏng, huỷ hoại, các lợi ích gắn liền với tài sản và các chi phí để khắc phục và hạn chế thiệt hại Tài sản bị thiệt hại bao gồm cả động sản và bất động sản, tài sản bị thiệt hại bao gồm cả tài sản vô hình và hữu hình, trong một số trường hợp còn là các quyền về tài sản, thu nhập bị mắt hoặc giảm sút của người bị thiệt hại

do nguyên nhân bị thiệt hại về tài sản gây ra Ví dụ: Bị tịch thu máy móc thiết bị

nguyên vật liệu trái pháp luật dẫn đến cơ sở sản xuất của người bị oan sai bị

đình đốn sản xuất, mất nguồn thu nhập

2.2.2 Thiệt hại về nhân thân:

Thiệt hại về sức khoẻ bị xâm phạm: Các chi phí hợp lí cho việc nghiên cứu, bồi thường, phục hồi các chức năng bị mất, bị giảm sút Thu nhập bị mắt bị giảm sút, nếu thu nhập của người bị hại không ổn định và không xác định trước

được thì áp dụng mức thu nhập bình quân của người lao động cùng loại Chi phí

hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị Nếu người bị thiệt hại bị mắt khả năng lao động và cần

có người thường xuyên chăm sóc thì thiệt hại bao gồm cả chỉ phí hợp lí cho việc chăm sóc người bị thiệt hại và khoán tiền cấp dưỡng cho những người mà người

bị hại có nghĩa vụ cấp dưỡng

Trang 7

Thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm: Gồm chỉ phí hợp lí cho việccứu chữa,

bồi đưỡng chăm sóc người bị thiệt hại trước khi chết Chi phí hợp lí cho việc

mai táng Tiền cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt hại có nghĩa vụ cấp dưỡng Tuy nhiên, đối với thiệt hại trong trường hợp bị thi hành án tư hình

sai hiện chưa có các quy định cụ thê của pháp luật

Thiệt hại do danh dự, nhân phảm, uy tín của cá nhân bị xâm phạm: Chi phí hợp lí cho việc hạn chế khắc phục thiệt hại Thu nhập bị mắt hoặc bị giảm sút

do đanh dự nhân phẩm uy tín bị xâ hại

Thiệt hại về tỉnh thần: là những tốn thất tinh thần được quy định cho những người bị thiệt hại về sức khoẻ và những người thân thích gần gũi nhất của nạn

nhân bị xâm phạm về tính mạng nói chung, loại thiệt hại này đo Toà án quy

định từng trường hợp Cho đến nay chưa có quy định của pháp luật dé cụ thé

hoá các điều khoản này của Bộ luật dân sự Trong bộ luật dân sự cũng chưa quy định về tốn thất về tỉnh thần về tinh thần khi người bị oan sỉ bị hạn chế hoặc tước mắt quyền tự đo, bị cách li ra khỏi đời sống xã hội

2.3 Có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật của người có thẩm quyền của cơ quan THTT và hậu quá thiệt hại xảy ra

Xem xét mối liên hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật của người tiến hành

tố tụng và hậu quả oan sai ở đây được xác định trong quan hệ mà các hành vi

trái pháp luật của những người tiến hành tố tụng là nguyên nhân trực tiếp gây ra

các thiệt hại về tài sản, sức khoẻ, tính mạng, danh dự, nhân phẩm và tinh thần cho người bị thiệt hại và hậu quả thiệt hại là oan sai đã xảy ra Đó là hậu quả tất

yếu do những hành vi trái pháp luật của của người có thẩm quyền của cơ quan

tiến hành tố tụng

Vi dụ: Một loạt hành vi trái pháp luật của người tiến hành tố tụng như: khởi

tố, điều tra, truy tố, và cuối cùng là xét xử ra một Bản án kết tội một người không có tộivới mức án tù có thời hạn hoặc không thời hạn là nguyên nhân trực

tiếp tất yếu dẫn đến người bị hại đã bị tước đoạt quyền tự do, các quyền lợi ích

Trang 8

hợp pháp khác một cách trái pháp luật Nó diễn ra trước về thời gian so với hậu quả oan sai là kết quả mà người bị thiệt hại phải gánh chịu

2.4 Có lỗi của chú thể tiến hành tố tụng gây ra và có quy định của pháp luật về phạm vi bồi thường

Lỗi là một dấu hiệu và là căn cư pháp lý bắt buộc trong cơ sở pháp lý xác định trách nhiệm bồi thường hiệt hại nói chung Đối với trách nhiệm bồi thường

thiệt hại do người có thẩm quyền của cơ quan THTT gây ra Bộ luật dân sự quy định” Cơ quan tiến hành tố tụng có trách nhiệm yêu cầu người có thâm quyền

đã gây thiệt hại hoàn trả khoản thiền mà mình đã bồi thường cho người bị thiệt hại theo quy định của pháp luật nếu người có thâm quyền đó có lỗi khi thi hành nhiệm vụ “ Như vậy, trong trách nhiệm bồi thường của người có thâm quyền

THTT Bộ luật dân sự đã xác định trực tiếp dấu hiệu lỗi trong việc xác định trách

nhiệm của người có thâm quyên tiến hành tố tụng

Lỗi của người có thầm quyền tiến hành tố tung là trạng thái tâm lý của họ đối

với hành vi trái pháp luật và hậu quả của hành vi thể hiện thái độ của họ đối với

vi phạm được biểu hiện dưới hai hình thức là cố ý và vô ý

2.4.1 Lỗi cố ý của người có thâm quyền tiến hành tố tụng khi thực hiện hành vi như ra lệnh bắt, ký Phê chuẩn Quyết định tạm giam, tạm giữ, Cáo trạng, Bản án.vv đã nhận thức đầy đủ tính chất mức độ hành vi và hậu quả của hành vi,

nhưng mong muốn hoặc có ý thức bỏ mặc cho hậu quả xảy ra Đây là hành

thức lỗi không những dẫn đến trách nhiệm bồi thường thiệt hại mà còn có thể dẫn đến trách nhiệm hình sự đối với các tội xâm phạm hoạt động tư pháp của

chủ thể thực hiện

2.4.2 Lỗi vô ý: La hình thức lỗi mà khi thực hiện hành vi chủ thế có thắm

quyền THTT đã không nhân thức được đầy đủ tính chất mức độ của hành vi và

hậu quả thiệt hại xây ra cho người bị oan sai mặc dù những người này phải biết trước hậu quả thiệt hại đó Pháp luật đòi hỏi ở họ tính thần trách nhiệm và tính cần trọng cao

3, Người có quyền yêu cầu bồi thường:

Trang 9

Người có quyền yêu cầu bồi thường là người bị oan sai, tức là người đã bị

bắt tạm giữ tạm giam, bị truy tố xét xử , thi hành án Bản chất pháp lí họ là

người bị hại, cũng giống như những người bị hại khác họ là người bị thiệt hại về tài sản và nhân thân, nhưng lại không giống như những bị hại thông thường khác, bọ là người bị chính những cơ quan và người có thâm quyền tiến hành tố

tụng bảo vệ pháp luật gây thiệt hại Chính những dặc điểm pháp lý này biến họ trở thành người bị hại dặc biệt, đôi khi họ còn bị bặt trong hai tư cách giáp danh vừa là bị hại vừa là tội phạm hay nói chính xác hơn họ trở thành người bị hại từ

địa vị mà các cơ quan và người có thẩm quyền tiến hành té tụng coi họ nguyên

là tội phạm Trong tình cảnh pháp lý như vậy họ trở về với xã hội đôi khi đã mắt tất cả cơ nghiệp gia đình, cuộc sống và bao nhiêu quyền là lơi ích hợp pháp khác Khi được minh oan sửa sai những người này trở thành chủ thể có quyền yêu cầu đuợc bồi thường Người có quyền yêu cấu bồi thường có thể là cá nhân hoặc tổ chức Mặc dù chủ thể của trách nhiệm hình sự chỉ có thể là cá nhân và

cá nhân là chủ thể chủ yếu của quyền yêu cầu bồi thường trong các vụ án oan

sai song trong trường hợp oan sai co thiệt hại quyền và lợi ích hợp pháp của tô

chức đo hành vi gây thiệt hại của người có thâm quyền tiến hành tố tụng gây ra thì đại điện hợp pháp của tổ chức này có quyền yêu cầu bồi thường Việc xác định tư cách người bị oan sai- đồng thời là người coa quyền yêu cấu bồi thường phải dựa trên cơ sở quyết định của cơ quan tố tụng có thấm quyền xác định

bằng một Quyết định hoặc một Bản án

3.1 Cá nhân:

Chủ thể có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại do người có thẩm quyền của

cơ quan tiến hành tố tụng gây ra bao gồm công dân ViệtNam bị oan sai, người

không quốc tịch bị oan sai, kẻ cá người nước ngoài tại Việt Nam bị oan sai trừ trường hợp các điều ước Quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia có quy

định khác

Trang 10

Trong trường hợp người có quyền yêu cầu đoi bồi thường đã chết thì người thừa kế của người này có quyên yêu cầu đòi bồi thường theo quy định của pháp

luật về thừa kế

3.2 Tổ chức:

Đối với tổ chức là các chủ thể đã bị áp dụng các biện pháp trong tố tụng

hình sự như kê biên, phong toả, tịch thu tai sản hoặc bị tốn hại nghiêm trọng về

uy tín kinh doanh trên thương trường một cách trái pháp luật cũng có thê trở

thành chủ thể yêu cầu đòi bồi thường

3.3: Xác định người bị oan sai

- Người bị tạm giữ mà có quyết định của cơ quan có thâm quyền trong hoạt

động tổ tụng hình sự huỷ bỏ quyết định tạm giữ vì người đó không thực hiện

hành vi vi phạm pháp luật

- Người bị tạm giam mà có quyết định của cơ quan có thắm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự huỷ bỏ quyết định tạm giam vì người đó không thực hiện hành vi phạm tội;

- Người đã chấp hành xong hoặc đang chấp hành hình phạt tù có thời hạn,

tù chung thân, đã bị kết án tử hình mà có bản án, quyết định của Toà án có thẩm

quyền xác định người đó không thực hiện hành vi phạm tội;

- Người bị khởi tố, truy tố, xét xử, thi hành án ngoài các trường hợp quy

định trên đây mà có bản án, quyết định của cơ quan có thẩm quyền trong tố tụng

hình sự xác định người đó không thực hiện hành vi phạm tội

4 Chủ thể trực tiếp bôi thường

Theo điều 620 BLDS

Nhà nước là chủ thể đã trao quyền cho các cá nhân có thẩm quyền THTT, nên khi các cá nhân này trong khi thi hành công vụ gây thiệt hại thì họ phải chịu

trách nhiệm nhưng Nhà nước đại diện chỉ trả tiền bồi thường tổn thất, sau đó

Nhà nước có quyền yêu cầu hoàn lại khoản mà Nhà nước đã chỉ từ nhân viên có

hành vi gậy tổn hại mà mình đã đại diện trả phí bồi thường

10

Trang 11

Chính vì vậy, cơ quan tiến hành tố tụng được BLDS nước ta xác định là chủ thể có trách nhiệm bồi thường đầu tiên có trách nhiệm thụ lý và giải quyết yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại đối với người bị oan sai Trách nhiệm bồi thường của các cơ quan THTỊT được xác địnhn theo trách nhiệm của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng đó Đồng thời, trách nhiệm được xác định theo nhiệm vụ tố tụng và trong từng trường hợp cụ thể ở

các giao đoạn trong quá trình THTT hình sự Việc xác định trách nhiệm bồi thường của các cơ quan THTT dựa theo nguyên tắc hoạt động của các cơ quan

này Các giai đoạn trong tố tụng hình sự gắn bó với nhau rất chặt chế nhưng có tính chế ước và giám sát lẫn nhau, đồng thời lại có tính độc lập tương đối trong hoạt động của từng hệ thống trong cơ quan này Trong hoạt động tố tụng các cơ

quan điều tra, truy tố, xét xử có các quyền độc lập tuân theo pháp luật đồng thời

chịu trách nhiệm về các hành vi và quyết định trong các hoạt động tố tụng của

mình Vì vậy xác định trách nhiệm của các cơ quan THTT' dựa trên nguyên tắc giới hạn độc lập về nghiệp vụ của các cơ quan này Đồng thời cũng xác định

trách nhiệm độc lập trong nội bộ một hệ thống ccơ quan như Toà án cấp sơ

thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của từng cơ quan tiến hành tố tụng

4.1 Cơ quan có thâm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự đã ra quyết định khởi tố bị can có trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp có quyết

định đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án vì người bị khởi tố không thực hiện hành

vi phạm tội

4.2 Cơ quan đã ra lệnh tạm giữ, tạm giam có trách nhiệm bồi thường thiệt hại

trong trường hợp việc tạm giữ bị huỷ bỏ vì người bị tạm giữ không có hành vi

vi phạm pháp luật hoặc việc tạm giam bị huỷ bỏ vì người bị tạm giam không

thực hiện hành vi phạm tội; nếu việc tạm giữ, tạm giam có phê chuẩn của Viện kiểm sát, thì Viện kiểm sát đã phê chuẩn có trách nhiệm bồi thường

4.3 Viện kiểm sát đã ra quyết định truy tố có trách nhiệm bồi thường thiệt hại

trong các trường hợp sau đây:

11

Trang 12

a) Toà án cấp sơ thầm tuyên bố bị cáo không có tội vì không thực hiện hành vi

phạm tội và bản án sơ thâm đã có hiệu lực pháp luật;

b) Toà án cấp phúc thấm giữ nguyên bản án, quyết định của Toà án cấp sơ thắm

tuyên bé bi cáo không có tội vì không thực hiện hành vi phạm tội;

c) Toa án cấp phúc thầm giữ nguyên bản án, quyết định của Toà án cấp sơ thâm

tuyên bé bi cáo không có tội vì không thực hiện hành vi phạm tội và sau đó Toà

án xét xử theo thủ tục giám đốc thâm, tái thẩm vẫn giữ nguyên bản án, quyết

định của Toà án phúc thẩm tuyên bị cáo không có tội vì không thực hiện hành vi phạm tội

4.4 Toà án cấp sơ thâm có trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các trường

hợp sau đây:

a) Toa án cấp sơ thâm tuyên bố bị cáo có tội nhưng Toà án cấp phúc thâm huỷ

bán án sơ thấm, tuyên bố bị cáo không có tội và đình chỉ vụ án vì người đó không thực hiện hành vi phạm tội hoặc huỷ bản án sơ thấm để điều tra lại mà sau đó bị can được đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án vì không thực hiện hành vi phạm tội hoặc huỷ bản án sơ thấm để xét xử lại mà sau đó bị cáo được tuyên bố

là không có tội vì không thực hiện hành vi phạm tội;

b) Toà án cấp sơ thẩm tuyên bố bị cáo có tội, bản án đã có hiệu lực pháp luật,

nhưng Toà án xét xử theo thủ tục giám đốc thâm, tái thầm huỷ bản án và đình

chỉ vụ án vì người đó không thực hiện hành vi phạm tội;

e) Toà án cấp sơ thâm tuyên bố bị cáo có tội, bản án đã có hiệu lực pháp luật,

nhưng Toà án xét xử theo thủ tục giám đốc thấm, tái thâm huỷ bản án để điều

tra lại mà sau đó bị can được đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án vì không thực hiện hành vi phạm tội;

đ) Toà án cấp sơ thâm tuyên bồ bị cáo có tội, bản án đã có hiệu lực pháp luật, nhưng Toà án xét xử theo thủ tục giám đốc thâm, tái thẩm huý bản án đề xét xử lại mà sau đó bị cáo được tuyên bố là không có tội vì không thực hiện hành vi phạm tội

12

Trang 13

4.5 Toà án cấp phúc thâm có trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các trường

hợp sau đây:

a) Toà án cấp phúc thâm tuyên bố bị cáo có tội, nhưng Toà án xét xử theo thủ

tục giám đốc thâm, tái thâm huỷ bản án và đình chỉ vụ án vì người đó không

thực hiện hành vi phạm tội;

b) Toà án cấp phúc thấm tuyên bồ bị cáo có tội, nhưng Toà án xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thắm huỷ bản án để điều tra lại mà sau đó bị can được đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án vì không thực hiện hành vi phạm tội;

c) Toà án cấp phúc thâm tuyên bố bị cáo có tội, nhưng Toà án xét xử theo thủ

tục giám đốc thẩm, tái thấm huỷ bản án để xét xử lại mà sau đó bị cáo được tuyên bó là không có tội vì không thực hiện hành vi phạm tội

4.6 Toà án nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm bồi thường thiệt hại khi Uỷ ban

thâm phán Toà án nhân dân cấp tỉnh xét xử theo thủ tục giám đốc thâm, tái thẩm giữ nguyên bản án của Toà án cấp dưới tuyên bị cáo có tội trong các trường hợp sau đây:

a) Toà hình sự Toà án nhân dân tối cao xét xử theo thủ tục giám đốc thâm, tái

thấm huỷ quyết định giám đốc thâm, tái thẩm của Uỷ ban thâm phán Toà án nhân dân cấp tỉnh và đình chỉ vụ án vì người đó không thực hiện hành vi phạm

tdi;

b) Toa hinh su Toa an nhan dan tối cao xét xử theo thủ tục giám đốc thâm, tái thâm huỷ quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm của Uỷ ban thâm phán Toà án nhân dân cấp tỉnh để điều tra lại mà sau đó bị can được đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án vì không thực hiện hành vi phạm tội;

c) Toà hình sự Toà án nhân dân tối cao xét xử theo thủ tục giám đốc thâm, tái

thấm huỷ quyết định giám đốc thâm, tái thâm của Uỷ ban thâm phán Toà án

nhân dân cấp tỉnh đề xét xử lại mà sau đó bị cáo được tuyên bố là không có tội

vì không thực hiện hành vi phạm tội

4.7 Toà án nhân dân tối cao có trách nhiệm bồi thường thiệt hại khi các Toà có

thấm quyền thuộc cơ cấu tô chức của Toà án nhân dân tối cao (gọi chung là Toà

13

Trang 14

có thầm quyền) xét xử theo thủ tục giám đốc thâm, tái thầm giữ nguyên bản án của Toà án cấp dưới tuyên bị cáo có tội trong các trường hợp sau đây:

a) Hội đồng thâm phán Toà án nhân dân tối cao huỷ quyết định giám đốc thâm,

tái thâm của Tòa có thầm quyền thuộc Toà án nhân dân tối cao và đình chỉ vụ

án vì người đó không thực hiện hành vi phạm tội;

b) Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao huỷ quyết định giám đốc thâm, tái thấm của Tòa có thâm quyền thuộc Toà án nhân dân tối cao đề điều tra lại

mà sau đó bị can được đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án vì không thực hiện hành

4.8 Cơ quan đã ra quyết định thu giữ, tạm giữ, kê biên, tịch thu tài sản có trách

nhiệm bồi thường cho những người thuộc các trường hợp quy định tại khoản 1

Điều 1 của Nghị quyết này có tài sản bị thu giữ, tạm giữ, kê biên, tịch thu mà bị

thiệt hại

4.9 Cơ quan thi hành án có trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp

có quyết định của cơ quan có thâm quyền xác định việc thi hành án không đúng

nội dung bản án, quyết định phải thi hành và gây thiệt hại cho người đã chấp

hành án

5 Các khoản Bồi thường thiệt hại:

5.1 Khôi phục danh dự

1 Người bị oan được khôi phục danh dự

Cơ quan có trách nhiệm bồi thường thiệt hại phải xin lỗi, cải chính công khai cho người bị oan

2 Việc xin lỗi, cải chính công khai được thực hiện bằng các hình thức sau đây a) Trực tiếp xin lỗi, cải chính công khai tại nơi cư trú hoặc nơi làm việc của người bị oan có sự tham dự của đại diện chính quyền địa phương nơi người bị

14

Trang 15

oan cư trú, đại diện cơ quan nơi người bị oan làm việc, đại điện của một tổ chức chính trị - xã hội mà người bị oan là thành viên;

b) Đăng trên một tờ báo trung ương và một tờ báo địa phương trong ba số liên

tiếp, trừ trường hợp người bị oan hoặc người đại diện hợp pháp của họ có yêu cầu không đăng báo

3 Trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày có bản án, quyết định của cơ quan

có thâm quyên trong hoạt động tố tụng hình sự xác định người bị oan, cơ quan

có trách nhiệm bồi thường thiệt hại phải thực hiện việc xin lỗi, cải chính công

khai theo quy định tại khoản 2 Điều này

5.2 Thiệt hại do tốn thất về tỉnh thần

1 Việc bồi thường thiệt hại do tốn thất về tinh thần trong thời gian bị tạm giữ, tạm giam, chấp hành hình phạt tù được xác định là mỗi ngày bị tạm giữ, tạm

giam, chấp hành hình phạt tù được bồi thường ba ngày lương tính theo mức

lương tối thiểu chung do Nhà nước quy định tại thời điểm giải quyết bồi thường

2 Những người bị oan quy định tại khoản I Điều này mà bị chết thì vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi, người trực tiếp nuôi dưỡng

người bị oan được bồi thường chung một khoản tiền bù đắp về tinh thần là ba trăm sáu mươi tháng lương tính theo mức lương tối thiểu chung do Nhà nước

quy định tại thời điểm giải quyết bồi thường

3 Việc bồi thường thiệt hại đo tốn thất về tinh thần cho những người bị oan

không thuộc các trường hợp quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này được xác định là mỗi ngày bị oan được bồi thường một ngày lương tính theo mức

lương tối thiểu chung đo Nhà nước quy định tại thời điểm giải quyết bồi thường Thời gian để tính bồi thường thiệt hại được xác định kể từ ngày có quyết định

khởi tố bị can cho đến ngày có bản án, quyết định của cơ quan có thâm quyền

trong hoạt động tố tụng hình sự xác định người đó không thực hiện hành vi phạm tội

5.3 Thiệt hại về vật chất trong trường hợp người bị oan chết

15

Ngày đăng: 18/11/2014, 12:17

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm