DO vậy, chỉ có các oan sai được pháp luật quy định mới dược Nhà nược bồi thường 1.3 Các khái niệm khác có liên quan: Tạm giữ sai: Là việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn đã được áp dụng
Trang 1MỤC LỤC
ORCC 0 2 Nội dung SH nọ HH nh HT Ki ni KH nh nh kê 3
2, Cơ sở pháp lý để xác định bồi thường thiệt hại: -c<cc<<< 55522 4
3, Người có quyền yêu cầu bồi thường: - 222222222222 e 7
Trang 2MỞ ĐẦU
Để đảm bảo trật tự ky cương xã hội, bảo vệ các quyền cơ bản của công dân
đã được pháp luật ghi nhận, Nhà nước phải sử dụng quyền lực của mình để
chống lại mọi hành vi vi phạm pháp luật nhất là trong lĩnh vực tội phạm Giải quyết các vụ án hình sự một cách khách quan, đúng pháp luật là sự thể hiện việc
bảo vệ quyền con người Nhà nước phải ngăn chặn hoặc xử lý kịp thời không để cho những hành vi phạm tội xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Nhưng không phải vì việc xử lý nhanh chóng vụ án hình sự mà để quyền
và lợi ích hợp pháp của công dân bị xâm phạm
Lịch sử tư pháp thế giới đã chứng minh ngay cả ở những quốc gia gọi là tiên tiến nhất cũng đều có những trường hợp làm oan sai người vô tội Vì vậy,
tuy không luật pháp quốc gia nào cho phép các cơ quan tố tụng làm oan sai
người vô tội nhưng trong thực tế, mặc du lam đúng pháp luật và làm hết trách
nhiệm song những sai lầm khách quan mà việc làm oan người vô tội vẫn diễn
ra, thì cần coi đó như là một rủi ro nghề nghiệp Vấn đề quan trọng là chỗ phải
nâng cao năng lực, nêu cao trách nhiệm và tạo ra những điều kiện cần thiết để
những người tiến hành tố tụng hạn chế đến mức thấp nhất những sai lầm có thể xảy ra và nếu có việc làm oan sai xảy ra thì phải kiên quyết khắc phục và phải
bồi thường cho người bị oan
Tại Việt Nam, điều 29 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 quy định “Người
bị oan do người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự gây ra có quyền
được bồi thường thiệt hại và phục hồi danh dự, quyền lợi Cơ quan có thắm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự đã làm oan phải bồi thường thiệt hại và
phục hồi đanh dự, quyền lợi cho người bị oan; người đã gây ra thiệt hại có trách
nhiệm bồi hoàn cho cơ quan có thấm quyền theo quy định của pháp luật” Quy định này thể hiện sự quan tâm và trách nhiệm của Nhà nước trong việc bảo đảm việc bồi thường thiệt hại về vật chất và phục hồi danh dự cho người bị oan Tuy
Trang 3nhiên vấn đề oan trong tô tụng hình sự và việc bồi thường thiệt hại cho người bị
oan cũng còn những vướng mắc cả về lý luận và thực tiễn cần được làm rõ, nhất
là vào thời điểm hiện nay chúng ta đang tiến hành xây dựng Luật Bồi thường
sai có mối quan hệ mật thiết với nhau song lại có ranh giới để phân biệt Về
nguyên tắc đã là oan thì chắc chắn có sai, nhưng sai trong tố tụng hình sự thì
chưa chắc đã oan
1.1 Oan:
Gây oan cho một người là một hành vi hoặc một tập hợp hành VI của một hoặc nhiều chủ thể THTT mà các hướng điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án
của các cơ quan và cá nhân có thâm quyền THTT đã sao lầm dẫn đến hậu quả
thiệt hại về vật chất và tinh thần cho người vô tội Thậm trí gây thiệt hại cho các tính mạng của họ mà trong thực tế về mặt khách quan chủ thể bị oan không thực hiện hành vi phạm tội, không xâm hại đến các quan hệ là khách thể được bộ luật
hình sự bảo vệ Về mặt chủ quan người đó không có lỗi, cơ quan tiến hành tố
tụng đã không chứng minh được lỗi của người đó Trong mọi trường hợp về
nguyên tắc oan đều thuộc đối tượng
được nhà nước bồi thường
1.2: sai
Trang 4Sai là một hoặc tập hợp của các hành vi của các cá nhân có thâm quyền
THTT đã áp dụng đối với các hành vi không cấu thành tội phạm hoặc chưa đến
mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nhưng có hành vi vi phạm pháp luật Hoặc
trong một số trường hợp người đã thực hiện hành vi pham tội với tính chất mức
độ nhất định, nhưng bị truy cứu về tội nặng hơn hoặc truy tố thêm tội danh thực
tế đã không phạm, đã phải thi hành án, được xác định trong trường hợp Bản án
đó đã được Toà án cấp trên sửa theo hướng nhẹ hơn Tuy nhiên không phải
trường hợp sai nào cũng được Nhà nước bồi thường Thực tiễn ở nước ta cũng
như các nước trên thế giới, Nhà nước chỉ bồi thường cho những trường hợp sai
ở mức độ nhất định, việc xác định mưc độ này theo pháp luật các nước khác
nhau là khác nhau DO vậy, chỉ có các oan sai được pháp luật quy định mới
dược Nhà nược bồi thường
1.3 Các khái niệm khác có liên quan:
Tạm giữ sai: Là việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn đã được áp dụng đối với người bị bắt mà sau thời hạn tạm giữ coq quan điều tra đã không xác định
đủ căn cứ khởi tố bị can và có quyết định của cơ quan THTT có thấm quyền xác định việc tạm giữ là không có căn cứ
Tạm giam sai là biện pháp ngăn chăn mà cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát, Toa án đã áp dụng đói với một người mà hau qua của nó là đã cách l¡ người đó
với xã hội trong một thời gian nhất định và hạn chế một số quyền tự do của công đân mà có quyết dịnh của cơ quan thắm quyền là viẹc tạm giam là không
có căn cứ
Truy tố oan sai: là quyết định của cơ quan Viện kiẻm sát được thể hiện dưới
hình thức Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố một người ra trước Toà án đề xét
xử mà không có quyết định của các cơ quan tố tụng có thâm quyền xác định
Cáo trạng truy tố không có căn cứ, người bị truy tố vô tội, bản án tuyên người
đó không phạm tội
Xét xứ oan sai: là Bản án hoặc Quyết định của Toà án tuyên bằng một phán
quyết đối với một người xác định trách nhiệm hình sự của người đó phải chịu
Trang 5một hình phạt nhất định mà có bản án quyết định của cơ quan tố tụng có thâm
quyền xác định người đó không phạm tội hoặc hành vi đó không cấu thành tội phạm
Thi hành án oan sai: là hành vi của giám thị, quản giáo mà hậu quả của
nó là thời gian giam giữ của bị cáob{ kéo dài hơn so với bản án đã được tuyên
và các hành vi trái pháp luật khác gây thiệt hại cho người bị án về tính mạng,
sức khoẻ, tài sản một cách trái pháp luật
2, Cơ sớ pháp lý để xác định bồi thường thiệt hai:
Cơ sở pháp lý đề xác định bồi thường đối với oan sai trong tố tụng hình sự là
yêu cầu cần và đủ đề xác định trách nhiệm bồi thường của những người có thắm
quyền của cơ quan THTT Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của người có thấm quyền của cơ quan THHH là một hình thức cụ thể của trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do vậy cơ sở pháp lý của loại trách nhiệm này về nguyên tắc phải tuân theo các quy định cửa Bộ luật Dân sự.Tuy nhiên trách
nhiệm bồi thường của những người có thâm quyền của cơ quan THTT có tính đặc thù vì vậy trongcơ sở pháp lý của trách nhiệm bồi thường thiệt hại đo người
có thâm quyền của cơ quan THTT gây ra có nét riêng biêt, đó là:
2.1 Có hành vi trái pháp luật trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành của người có thắm quyền của cơ quan tiến hành tố tụng hình sự: Hành vi trái pháp luật của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng hính sự là những hành vi đã không thực hiên đúng các quy định của pháp luật tố tụng hình
sự Hành vi của các chủ thể này không tuân theo yêu cầu đòi hỏi của quy phạm
pháp luật hình sự và tố tụng hình sự, đã thể hiện ra bên ngoái sự sai lầm trong
hoạt động đánh giá chứng cứ của các chủ thẻ tiến hành tố tụng hình sự Hành vi trái pháp luật của người có thâm quyền THTT hình sự được thực hiện chú yếu bằng hành động cụ thể như quyết định, phê chuẩn quyết định tạm giữ tạm giam không có căn cứ, ra quyết định truy tố người không phạm tội, xét xử tuyên án áp
dụng hình phạt cho người không có tội, giam giữ lâu hơn hoặc gây thiệt hại về
tính mạng sức khoẻ của phạm nhân do lỗi của giám thị trại giam Đồng thời các
Trang 6hành vi này diễn ra theo nhiều hướng khác nhau, với tính chất mức độ nghiêm trọng khác nhau và theo hướng truy cứu trách nhiệm oan cho người vô tội hoặc
tăng nặng trách nhiệm hình sự thiếu căn cứ mới phát sinh trách nhiệm bồi
thường
2.2 Có thiệt hại thực tế xảy ra:
Thiệt hại ở đây là những thiệt hại thực tế đã xây ra cho người bị oan sai Đó
là thiệt hại về tài sản, thiệt hại về tính mạng sức khoẻ, danh dự nhân phẩm, uy
tín vé tồn thất về tinh thần của người bị oan sai đã phải gánh chịu Theo nguyên
tắc chung các thiệt hại được xác định theo quy định tại các Điềm 612, 613, 614,
615, 616 Bộ luật dân sự
2.2.1 Thiệt hại về tài sản
Bao gồm tài sản bị tịch thu, bị giam giữ, bị phong toả dẫn đến bị mắt mát, hư hỏng, huỷ hoại, các lợi ích gắn liền với tài sản và các chi phí để khắc phục và hạn chế thiệt hại Tài sản bị thiệt hại bao gồm cả động sản và bất động sản, tài sản bị thiệt hại bao gồm cả tài sản vô hình và hữu hình, trong một số trường hợp còn là các quyền về tài sản, thu nhập bị mắt hoặc giảm sút của người bị thiệt hại
do nguyên nhân bị thiệt hại về tài sản gây ra Ví dụ: Bị tịch thu máy móc thiết bị
nguyên vật liệu trái pháp luật dẫn đến cơ sở sản xuất của người bị oan sai bị
đình đốn sản xuất, mất nguồn thu nhập
2.2.2 Thiệt hại về nhân thân:
Thiệt hại về sức khoẻ bị xâm phạm: Các chi phí hợp lí cho việc nghiên cứu, bồi thường, phục hồi các chức năng bị mất, bị giảm sút Thu nhập bị mắt bị giảm sút, nếu thu nhập của người bị hại không ổn định và không xác định trước
được thì áp dụng mức thu nhập bình quân của người lao động cùng loại Chi phí
hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị Nếu người bị thiệt hại bị mắt khả năng lao động và cần
có người thường xuyên chăm sóc thì thiệt hại bao gồm cả chỉ phí hợp lí cho việc chăm sóc người bị thiệt hại và khoán tiền cấp dưỡng cho những người mà người
bị hại có nghĩa vụ cấp dưỡng
Trang 7Thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm: Gồm chỉ phí hợp lí cho việccứu chữa,
bồi đưỡng chăm sóc người bị thiệt hại trước khi chết Chi phí hợp lí cho việc
mai táng Tiền cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt hại có nghĩa vụ cấp dưỡng Tuy nhiên, đối với thiệt hại trong trường hợp bị thi hành án tư hình
sai hiện chưa có các quy định cụ thê của pháp luật
Thiệt hại do danh dự, nhân phảm, uy tín của cá nhân bị xâm phạm: Chi phí hợp lí cho việc hạn chế khắc phục thiệt hại Thu nhập bị mắt hoặc bị giảm sút
do đanh dự nhân phẩm uy tín bị xâ hại
Thiệt hại về tỉnh thần: là những tốn thất tinh thần được quy định cho những người bị thiệt hại về sức khoẻ và những người thân thích gần gũi nhất của nạn
nhân bị xâm phạm về tính mạng nói chung, loại thiệt hại này đo Toà án quy
định từng trường hợp Cho đến nay chưa có quy định của pháp luật dé cụ thé
hoá các điều khoản này của Bộ luật dân sự Trong bộ luật dân sự cũng chưa quy định về tốn thất về tỉnh thần về tinh thần khi người bị oan sỉ bị hạn chế hoặc tước mắt quyền tự đo, bị cách li ra khỏi đời sống xã hội
2.3 Có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật của người có thẩm quyền của cơ quan THTT và hậu quá thiệt hại xảy ra
Xem xét mối liên hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật của người tiến hành
tố tụng và hậu quả oan sai ở đây được xác định trong quan hệ mà các hành vi
trái pháp luật của những người tiến hành tố tụng là nguyên nhân trực tiếp gây ra
các thiệt hại về tài sản, sức khoẻ, tính mạng, danh dự, nhân phẩm và tinh thần cho người bị thiệt hại và hậu quả thiệt hại là oan sai đã xảy ra Đó là hậu quả tất
yếu do những hành vi trái pháp luật của của người có thẩm quyền của cơ quan
tiến hành tố tụng
Vi dụ: Một loạt hành vi trái pháp luật của người tiến hành tố tụng như: khởi
tố, điều tra, truy tố, và cuối cùng là xét xử ra một Bản án kết tội một người không có tộivới mức án tù có thời hạn hoặc không thời hạn là nguyên nhân trực
tiếp tất yếu dẫn đến người bị hại đã bị tước đoạt quyền tự do, các quyền lợi ích
Trang 8hợp pháp khác một cách trái pháp luật Nó diễn ra trước về thời gian so với hậu quả oan sai là kết quả mà người bị thiệt hại phải gánh chịu
2.4 Có lỗi của chú thể tiến hành tố tụng gây ra và có quy định của pháp luật về phạm vi bồi thường
Lỗi là một dấu hiệu và là căn cư pháp lý bắt buộc trong cơ sở pháp lý xác định trách nhiệm bồi thường hiệt hại nói chung Đối với trách nhiệm bồi thường
thiệt hại do người có thẩm quyền của cơ quan THTT gây ra Bộ luật dân sự quy định” Cơ quan tiến hành tố tụng có trách nhiệm yêu cầu người có thâm quyền
đã gây thiệt hại hoàn trả khoản thiền mà mình đã bồi thường cho người bị thiệt hại theo quy định của pháp luật nếu người có thâm quyền đó có lỗi khi thi hành nhiệm vụ “ Như vậy, trong trách nhiệm bồi thường của người có thâm quyền
THTT Bộ luật dân sự đã xác định trực tiếp dấu hiệu lỗi trong việc xác định trách
nhiệm của người có thâm quyên tiến hành tố tụng
Lỗi của người có thầm quyền tiến hành tố tung là trạng thái tâm lý của họ đối
với hành vi trái pháp luật và hậu quả của hành vi thể hiện thái độ của họ đối với
vi phạm được biểu hiện dưới hai hình thức là cố ý và vô ý
2.4.1 Lỗi cố ý của người có thâm quyền tiến hành tố tụng khi thực hiện hành vi như ra lệnh bắt, ký Phê chuẩn Quyết định tạm giam, tạm giữ, Cáo trạng, Bản án.vv đã nhận thức đầy đủ tính chất mức độ hành vi và hậu quả của hành vi,
nhưng mong muốn hoặc có ý thức bỏ mặc cho hậu quả xảy ra Đây là hành
thức lỗi không những dẫn đến trách nhiệm bồi thường thiệt hại mà còn có thể dẫn đến trách nhiệm hình sự đối với các tội xâm phạm hoạt động tư pháp của
chủ thể thực hiện
2.4.2 Lỗi vô ý: La hình thức lỗi mà khi thực hiện hành vi chủ thế có thắm
quyền THTT đã không nhân thức được đầy đủ tính chất mức độ của hành vi và
hậu quả thiệt hại xây ra cho người bị oan sai mặc dù những người này phải biết trước hậu quả thiệt hại đó Pháp luật đòi hỏi ở họ tính thần trách nhiệm và tính cần trọng cao
3, Người có quyền yêu cầu bồi thường:
Trang 9Người có quyền yêu cầu bồi thường là người bị oan sai, tức là người đã bị
bắt tạm giữ tạm giam, bị truy tố xét xử , thi hành án Bản chất pháp lí họ là
người bị hại, cũng giống như những người bị hại khác họ là người bị thiệt hại về tài sản và nhân thân, nhưng lại không giống như những bị hại thông thường khác, bọ là người bị chính những cơ quan và người có thâm quyền tiến hành tố
tụng bảo vệ pháp luật gây thiệt hại Chính những dặc điểm pháp lý này biến họ trở thành người bị hại dặc biệt, đôi khi họ còn bị bặt trong hai tư cách giáp danh vừa là bị hại vừa là tội phạm hay nói chính xác hơn họ trở thành người bị hại từ
địa vị mà các cơ quan và người có thẩm quyền tiến hành té tụng coi họ nguyên
là tội phạm Trong tình cảnh pháp lý như vậy họ trở về với xã hội đôi khi đã mắt tất cả cơ nghiệp gia đình, cuộc sống và bao nhiêu quyền là lơi ích hợp pháp khác Khi được minh oan sửa sai những người này trở thành chủ thể có quyền yêu cầu đuợc bồi thường Người có quyền yêu cấu bồi thường có thể là cá nhân hoặc tổ chức Mặc dù chủ thể của trách nhiệm hình sự chỉ có thể là cá nhân và
cá nhân là chủ thể chủ yếu của quyền yêu cầu bồi thường trong các vụ án oan
sai song trong trường hợp oan sai co thiệt hại quyền và lợi ích hợp pháp của tô
chức đo hành vi gây thiệt hại của người có thâm quyền tiến hành tố tụng gây ra thì đại điện hợp pháp của tổ chức này có quyền yêu cầu bồi thường Việc xác định tư cách người bị oan sai- đồng thời là người coa quyền yêu cấu bồi thường phải dựa trên cơ sở quyết định của cơ quan tố tụng có thấm quyền xác định
bằng một Quyết định hoặc một Bản án
3.1 Cá nhân:
Chủ thể có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại do người có thẩm quyền của
cơ quan tiến hành tố tụng gây ra bao gồm công dân ViệtNam bị oan sai, người
không quốc tịch bị oan sai, kẻ cá người nước ngoài tại Việt Nam bị oan sai trừ trường hợp các điều ước Quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia có quy
định khác
Trang 10Trong trường hợp người có quyền yêu cầu đoi bồi thường đã chết thì người thừa kế của người này có quyên yêu cầu đòi bồi thường theo quy định của pháp
luật về thừa kế
3.2 Tổ chức:
Đối với tổ chức là các chủ thể đã bị áp dụng các biện pháp trong tố tụng
hình sự như kê biên, phong toả, tịch thu tai sản hoặc bị tốn hại nghiêm trọng về
uy tín kinh doanh trên thương trường một cách trái pháp luật cũng có thê trở
thành chủ thể yêu cầu đòi bồi thường
3.3: Xác định người bị oan sai
- Người bị tạm giữ mà có quyết định của cơ quan có thâm quyền trong hoạt
động tổ tụng hình sự huỷ bỏ quyết định tạm giữ vì người đó không thực hiện
hành vi vi phạm pháp luật
- Người bị tạm giam mà có quyết định của cơ quan có thắm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự huỷ bỏ quyết định tạm giam vì người đó không thực hiện hành vi phạm tội;
- Người đã chấp hành xong hoặc đang chấp hành hình phạt tù có thời hạn,
tù chung thân, đã bị kết án tử hình mà có bản án, quyết định của Toà án có thẩm
quyền xác định người đó không thực hiện hành vi phạm tội;
- Người bị khởi tố, truy tố, xét xử, thi hành án ngoài các trường hợp quy
định trên đây mà có bản án, quyết định của cơ quan có thẩm quyền trong tố tụng
hình sự xác định người đó không thực hiện hành vi phạm tội
4 Chủ thể trực tiếp bôi thường
Theo điều 620 BLDS
Nhà nước là chủ thể đã trao quyền cho các cá nhân có thẩm quyền THTT, nên khi các cá nhân này trong khi thi hành công vụ gây thiệt hại thì họ phải chịu
trách nhiệm nhưng Nhà nước đại diện chỉ trả tiền bồi thường tổn thất, sau đó
Nhà nước có quyền yêu cầu hoàn lại khoản mà Nhà nước đã chỉ từ nhân viên có
hành vi gậy tổn hại mà mình đã đại diện trả phí bồi thường
10
Trang 11Chính vì vậy, cơ quan tiến hành tố tụng được BLDS nước ta xác định là chủ thể có trách nhiệm bồi thường đầu tiên có trách nhiệm thụ lý và giải quyết yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại đối với người bị oan sai Trách nhiệm bồi thường của các cơ quan THTỊT được xác địnhn theo trách nhiệm của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng đó Đồng thời, trách nhiệm được xác định theo nhiệm vụ tố tụng và trong từng trường hợp cụ thể ở
các giao đoạn trong quá trình THTT hình sự Việc xác định trách nhiệm bồi thường của các cơ quan THTT dựa theo nguyên tắc hoạt động của các cơ quan
này Các giai đoạn trong tố tụng hình sự gắn bó với nhau rất chặt chế nhưng có tính chế ước và giám sát lẫn nhau, đồng thời lại có tính độc lập tương đối trong hoạt động của từng hệ thống trong cơ quan này Trong hoạt động tố tụng các cơ
quan điều tra, truy tố, xét xử có các quyền độc lập tuân theo pháp luật đồng thời
chịu trách nhiệm về các hành vi và quyết định trong các hoạt động tố tụng của
mình Vì vậy xác định trách nhiệm của các cơ quan THTT' dựa trên nguyên tắc giới hạn độc lập về nghiệp vụ của các cơ quan này Đồng thời cũng xác định
trách nhiệm độc lập trong nội bộ một hệ thống ccơ quan như Toà án cấp sơ
thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của từng cơ quan tiến hành tố tụng
4.1 Cơ quan có thâm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự đã ra quyết định khởi tố bị can có trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp có quyết
định đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án vì người bị khởi tố không thực hiện hành
vi phạm tội
4.2 Cơ quan đã ra lệnh tạm giữ, tạm giam có trách nhiệm bồi thường thiệt hại
trong trường hợp việc tạm giữ bị huỷ bỏ vì người bị tạm giữ không có hành vi
vi phạm pháp luật hoặc việc tạm giam bị huỷ bỏ vì người bị tạm giam không
thực hiện hành vi phạm tội; nếu việc tạm giữ, tạm giam có phê chuẩn của Viện kiểm sát, thì Viện kiểm sát đã phê chuẩn có trách nhiệm bồi thường
4.3 Viện kiểm sát đã ra quyết định truy tố có trách nhiệm bồi thường thiệt hại
trong các trường hợp sau đây:
11
Trang 12a) Toà án cấp sơ thầm tuyên bố bị cáo không có tội vì không thực hiện hành vi
phạm tội và bản án sơ thâm đã có hiệu lực pháp luật;
b) Toà án cấp phúc thấm giữ nguyên bản án, quyết định của Toà án cấp sơ thắm
tuyên bé bi cáo không có tội vì không thực hiện hành vi phạm tội;
c) Toa án cấp phúc thầm giữ nguyên bản án, quyết định của Toà án cấp sơ thâm
tuyên bé bi cáo không có tội vì không thực hiện hành vi phạm tội và sau đó Toà
án xét xử theo thủ tục giám đốc thâm, tái thẩm vẫn giữ nguyên bản án, quyết
định của Toà án phúc thẩm tuyên bị cáo không có tội vì không thực hiện hành vi phạm tội
4.4 Toà án cấp sơ thâm có trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các trường
hợp sau đây:
a) Toa án cấp sơ thâm tuyên bố bị cáo có tội nhưng Toà án cấp phúc thâm huỷ
bán án sơ thấm, tuyên bố bị cáo không có tội và đình chỉ vụ án vì người đó không thực hiện hành vi phạm tội hoặc huỷ bản án sơ thấm để điều tra lại mà sau đó bị can được đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án vì không thực hiện hành vi phạm tội hoặc huỷ bản án sơ thấm để xét xử lại mà sau đó bị cáo được tuyên bố
là không có tội vì không thực hiện hành vi phạm tội;
b) Toà án cấp sơ thẩm tuyên bố bị cáo có tội, bản án đã có hiệu lực pháp luật,
nhưng Toà án xét xử theo thủ tục giám đốc thâm, tái thầm huỷ bản án và đình
chỉ vụ án vì người đó không thực hiện hành vi phạm tội;
e) Toà án cấp sơ thâm tuyên bố bị cáo có tội, bản án đã có hiệu lực pháp luật,
nhưng Toà án xét xử theo thủ tục giám đốc thấm, tái thâm huỷ bản án để điều
tra lại mà sau đó bị can được đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án vì không thực hiện hành vi phạm tội;
đ) Toà án cấp sơ thâm tuyên bồ bị cáo có tội, bản án đã có hiệu lực pháp luật, nhưng Toà án xét xử theo thủ tục giám đốc thâm, tái thẩm huý bản án đề xét xử lại mà sau đó bị cáo được tuyên bố là không có tội vì không thực hiện hành vi phạm tội
12
Trang 134.5 Toà án cấp phúc thâm có trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các trường
hợp sau đây:
a) Toà án cấp phúc thâm tuyên bố bị cáo có tội, nhưng Toà án xét xử theo thủ
tục giám đốc thâm, tái thâm huỷ bản án và đình chỉ vụ án vì người đó không
thực hiện hành vi phạm tội;
b) Toà án cấp phúc thấm tuyên bồ bị cáo có tội, nhưng Toà án xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thắm huỷ bản án để điều tra lại mà sau đó bị can được đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án vì không thực hiện hành vi phạm tội;
c) Toà án cấp phúc thâm tuyên bố bị cáo có tội, nhưng Toà án xét xử theo thủ
tục giám đốc thẩm, tái thấm huỷ bản án để xét xử lại mà sau đó bị cáo được tuyên bó là không có tội vì không thực hiện hành vi phạm tội
4.6 Toà án nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm bồi thường thiệt hại khi Uỷ ban
thâm phán Toà án nhân dân cấp tỉnh xét xử theo thủ tục giám đốc thâm, tái thẩm giữ nguyên bản án của Toà án cấp dưới tuyên bị cáo có tội trong các trường hợp sau đây:
a) Toà hình sự Toà án nhân dân tối cao xét xử theo thủ tục giám đốc thâm, tái
thấm huỷ quyết định giám đốc thâm, tái thẩm của Uỷ ban thâm phán Toà án nhân dân cấp tỉnh và đình chỉ vụ án vì người đó không thực hiện hành vi phạm
tdi;
b) Toa hinh su Toa an nhan dan tối cao xét xử theo thủ tục giám đốc thâm, tái thâm huỷ quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm của Uỷ ban thâm phán Toà án nhân dân cấp tỉnh để điều tra lại mà sau đó bị can được đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án vì không thực hiện hành vi phạm tội;
c) Toà hình sự Toà án nhân dân tối cao xét xử theo thủ tục giám đốc thâm, tái
thấm huỷ quyết định giám đốc thâm, tái thâm của Uỷ ban thâm phán Toà án
nhân dân cấp tỉnh đề xét xử lại mà sau đó bị cáo được tuyên bố là không có tội
vì không thực hiện hành vi phạm tội
4.7 Toà án nhân dân tối cao có trách nhiệm bồi thường thiệt hại khi các Toà có
thấm quyền thuộc cơ cấu tô chức của Toà án nhân dân tối cao (gọi chung là Toà
13
Trang 14có thầm quyền) xét xử theo thủ tục giám đốc thâm, tái thầm giữ nguyên bản án của Toà án cấp dưới tuyên bị cáo có tội trong các trường hợp sau đây:
a) Hội đồng thâm phán Toà án nhân dân tối cao huỷ quyết định giám đốc thâm,
tái thâm của Tòa có thầm quyền thuộc Toà án nhân dân tối cao và đình chỉ vụ
án vì người đó không thực hiện hành vi phạm tội;
b) Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao huỷ quyết định giám đốc thâm, tái thấm của Tòa có thâm quyền thuộc Toà án nhân dân tối cao đề điều tra lại
mà sau đó bị can được đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án vì không thực hiện hành
4.8 Cơ quan đã ra quyết định thu giữ, tạm giữ, kê biên, tịch thu tài sản có trách
nhiệm bồi thường cho những người thuộc các trường hợp quy định tại khoản 1
Điều 1 của Nghị quyết này có tài sản bị thu giữ, tạm giữ, kê biên, tịch thu mà bị
thiệt hại
4.9 Cơ quan thi hành án có trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp
có quyết định của cơ quan có thâm quyền xác định việc thi hành án không đúng
nội dung bản án, quyết định phải thi hành và gây thiệt hại cho người đã chấp
hành án
5 Các khoản Bồi thường thiệt hại:
5.1 Khôi phục danh dự
1 Người bị oan được khôi phục danh dự
Cơ quan có trách nhiệm bồi thường thiệt hại phải xin lỗi, cải chính công khai cho người bị oan
2 Việc xin lỗi, cải chính công khai được thực hiện bằng các hình thức sau đây a) Trực tiếp xin lỗi, cải chính công khai tại nơi cư trú hoặc nơi làm việc của người bị oan có sự tham dự của đại diện chính quyền địa phương nơi người bị
14
Trang 15oan cư trú, đại diện cơ quan nơi người bị oan làm việc, đại điện của một tổ chức chính trị - xã hội mà người bị oan là thành viên;
b) Đăng trên một tờ báo trung ương và một tờ báo địa phương trong ba số liên
tiếp, trừ trường hợp người bị oan hoặc người đại diện hợp pháp của họ có yêu cầu không đăng báo
3 Trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày có bản án, quyết định của cơ quan
có thâm quyên trong hoạt động tố tụng hình sự xác định người bị oan, cơ quan
có trách nhiệm bồi thường thiệt hại phải thực hiện việc xin lỗi, cải chính công
khai theo quy định tại khoản 2 Điều này
5.2 Thiệt hại do tốn thất về tỉnh thần
1 Việc bồi thường thiệt hại do tốn thất về tinh thần trong thời gian bị tạm giữ, tạm giam, chấp hành hình phạt tù được xác định là mỗi ngày bị tạm giữ, tạm
giam, chấp hành hình phạt tù được bồi thường ba ngày lương tính theo mức
lương tối thiểu chung do Nhà nước quy định tại thời điểm giải quyết bồi thường
2 Những người bị oan quy định tại khoản I Điều này mà bị chết thì vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi, người trực tiếp nuôi dưỡng
người bị oan được bồi thường chung một khoản tiền bù đắp về tinh thần là ba trăm sáu mươi tháng lương tính theo mức lương tối thiểu chung do Nhà nước
quy định tại thời điểm giải quyết bồi thường
3 Việc bồi thường thiệt hại đo tốn thất về tinh thần cho những người bị oan
không thuộc các trường hợp quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này được xác định là mỗi ngày bị oan được bồi thường một ngày lương tính theo mức
lương tối thiểu chung đo Nhà nước quy định tại thời điểm giải quyết bồi thường Thời gian để tính bồi thường thiệt hại được xác định kể từ ngày có quyết định
khởi tố bị can cho đến ngày có bản án, quyết định của cơ quan có thâm quyền
trong hoạt động tố tụng hình sự xác định người đó không thực hiện hành vi phạm tội
5.3 Thiệt hại về vật chất trong trường hợp người bị oan chết
15