1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

văn hoá là một yếu tố hết sức quan trọng đối với đời sống xã hội của tất cả các quốc gia trên thế giới

97 819 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 97
Dung lượng 401,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ cách hiểu như vậy về văn hóa, chúng tôi lựa chọn định nghĩa chínhthức về văn hóa của UNESCO đây cũng là một định nghĩa văn hóa đượcnhiều người chấp nhận để làm cơ sở nghiên cứu cho đề

Trang 1

Mở đầu

1 Tính cấp thiết của đề tài

Văn hoá là một yếu tố hết sức quan trọng đối với đời sống xã hội củatất cả các quốc gia trên thế giới Trong bối cảnh toàn cấu hoá kinh tế, khi màranh giới giữa các quốc gia về kinh tế, chính trị, tôn giáo… đang dần bị mờnhạt thì văn hoá vẫn giữ được tính bền vững của nó và được xem là một yếu

tố then chốt làm nên sự khác biệt giữa các quốc gia, các dân tộc

Ở Việt Nam, văn hoá được coi là “sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ lịch

sử dân tộc” Nó làm nên một sức sống mãnh liệt, giúp cộng đồng dân tộc Việt

Nam vượt qua biết bao sóng gió để không ngừng phát triển và lớn mạnh Vănhoá đã viết nên những trang sử hào hùng bởi tính kiên cường trong hoạn nạn,khí phách anh hùng trong dựng nước và giữ nước Văn hoá đã cho con ngườiViệt Nam một kháng thể trước ách đô hộ và những âm mưu đồng hoá của cácthế lực ngoại bang, để lại một một bản lĩnh Việt Nam mà ngày nay chóng ta

vô cùng tự hào trước cộng đồng quốc tế

Trong các giá trị văn hoá truyền thống Việt Nam thì văn hoá pháp lý

có một vị trí và vai trò hết sức quan trọng Ngày nay, khi đất nước ta bướcvào con đường đổi mới toàn diện thì vấn đề phát huy những giá trị của bảnsắc văn hoá dân tộc trong đó có văn hoá pháp lý đã và đang được Đảng vàNhà nước ta hết sức chú trọng Văn hoá được xác định là môi trường quyếtđịnh sự thành công của công cuộc đổi mới đất nước

Trên con đường phát huy văn hoá dân tộc, việc tìm hiểu dân tộc tính vàtruyền thống pháp lý của dân tộc là một yêu cầu khách quan, khi chóng ta đangphải đương đầu với những thách thức của sự nghiệp đổi mới, của quá trình hộinhập kinh tế quốc tế Việc xây dựng nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vìdân cũng đặt ra yêu cầu phải nghiên cứu, đánh giá một cách đầy đủ những giá trị

Trang 2

của văn hoá pháp lý Việt Nam mang tính truyền thống cũng như hiện đại, đểchúng ta chắt lọc, kế thừa và phát triển Bên cạnh đó, nghiên cứu văn hoá pháp

lý còn có ý nghĩa to lớn đối với việc kết hợp những giá trị văn hoá pháp lýtruyền thống với những kiến thức mới, những kinh nghiệm tốt của các hệ thốngpháp luật trên thế giới và vận dụng sáng tạo học thuyết Mác – Lênin và tư tưởng

Hồ Chí Minh về nhà nuớc và pháp luật trong xây dựng một đời sống pháp luậtvững chắc và phong phú ở Việt Nam

Công cuộc đổi mới đất nước trong những năm qua đã đem lại chochóng ta những thành tựu to lớn Tuy nhiên, bên cạnh đó mặt trái của cơ chếthị trường cũng làm nảy sinh nhiều tiêu cực trong xã hội về đạo đức, lối sốngcủa một bộ phận cán bộ và công dân, về tình hình tội phạm, tệ nạn xã hội giatăng… Đó là những biÓu hiện của sự xuống cấp văn hoá pháp lý trong đờisống xã hội Do đó, chúng ta cần phải nhìn nhận và đánh giá một cách kháchquan, đúng đắn về văn hoá pháp lý, vai trò của nó cũng như thực trạng vănhoá pháp lý ở nước ta hiện nay để đề xuất những phương hướng và giải phápnhằm nâng cao văn hóa pháp lý trong đời sống xã hội, góp phần vào thắng lợichung của công cuộc đổi mới đất nước Vì vậy, việc nghiên cứu văn hoá pháp

lý và đánh giá thực trạng văn hóa pháp lý ở Việt Nam hiện nay là một yêu cầubức thiết đang đặt ra cả về mặt lý luận và thực tiễn đối với các nhà khoa họcpháp lý Việt Nam Xuất phát từ những yêu cầu khách quan đó và với nhận

thức về tầm quan trọng của văn hoá pháp lý, chúng tôi chọn đề tài: Văn hoá pháp lý và xây dựng văn hoá pháp lý ở Việt Nam hiện nay làm đề tài nghiên

cứu cho luận văn tốt nghiệp Thạc sĩ luật học của mình

2 Tình hình nghiên cứu

Các công trình khoa học nghiên cứu về văn hoá và văn hoá ViệtNam đã xuất hiện khá nhiều trong thời gian gần đây Đây là một vấn đềđược nhiều học giả, nhiều nhà khoa học quan tâm Văn hoá nói chung vàvăn hoá Việt Nam nói riêng đã được nghiên cứu và tiếp cận từ nhiều góc

Trang 3

độ và trong nhiều lĩnh vực khác nhau Có thể kể ra một số công trình tiêu

biểu: Cơ sở văn hoá Việt Nam, Nxb Giáo dục, Hà nội 2004; Văn hoá Việt

Nam tìm tòi, suy ngẫm, Nxb Văn hóa dân tộc – Tạp chí văn hóa nghệ thuật,

Hà nội 2000; Việt Nam cái nhìn địa văn hoá, Nxb Văn hóa dân tộc – Tạpchí văn hóa nghệ thuật, Hà nội 1998 của GS Trần QuốcVượng Tìm về bảnsắc văn hoá Việt Nam, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, TP Hồ Chí Minh

2001 của VS Trần Ngọc Thêm Bản sắc văn hoá Việt Nam, Nxb Văn hóathông tin, Hà nội 1998 của GS Phan Ngọc; Đến hiện đại từ truyền thống,Chương trình khoa học công nghệ cấp Nhà nước KX- 07 của Trần ĐìnhHượu; … Tuy nhiên, văn hoá pháp lý lại là đề tài Ýt được các nhà khoahọc nghiên cứu Hiện nay, chưa có các công trình khoa học nghiên cứu sâu

về văn hoá pháp lý Việt Nam mà chỉ dừng lại ở một số luận văn Thạc sĩluật và một số bài viết có tính chất gợi mở về vấn đề này được đăng trêncác báo và tạp chí, như: Văn hóa pháp luật và phát triển văn hoá pháp luật

ở nước ta hiện nay - Đề tài khoa học cấp trường – Trường Đại học luật(2004); Nguyễn Thị Lê Thu: Văn hoá pháp luật ở công sở trong điều kiệncải cách hành chính, cải cách tư pháp ở nước ta hiện nay, Luận văn Thạc sĩluật học, Trường Đại học luật Hà Nội (2002); Đặng Cảnh Khanh: Văn hóaluật pháp - truyền thống và bài học hôm nay, Tạp chí Cộng sản số 5, năm1993; PGS PTS Lê Minh Tâm: Vấn đề văn hóa pháp lý ở nước ta tronggiai đoạn hiện nay, Tạp chí Luật học, số 5, năm 1998; TS Lê Thanh Thập:Mấy suy nghĩ về văn hóa và văn hóa pháp lý ở nước ta, Tạp chí Luật học,

số 2, năm 1999; Chuyên đề Văn hoá tư pháp – Thông tin nghiên cứu khoahọc pháp lý, Viện Nghiên cứu khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp, số tháng 7,năm 2001

3 Nhiệm vụ, mục đích, phạm vi nghiên cứu

Xuất phát từ tình hình nghiên cứu ở trên, đề tài đặt ra nhiệm vụ vàmục đích là: phân tích cơ sở lý luận về văn hóa pháp lý như khái niệm, đặcđiểm, cấu trúc, chức năng của văn hoá pháp lý; phân tích những nhân tố ảnh

Trang 4

hưởng đến sự hình thành và phát triển của văn hóa pháp lý và những điều kiệnbảo đảm của văn hóa pháp lý; đề xuất những phương hướng mang tính chấtpháp lý trong xây dựng văn hóa pháp lý ở Việt Nam hiện nay

Khái niệm văn hoá pháp lý có nội hàm rất rộng, bao hàm cả những giátrị văn hoá tinh thần và những giá trị văn hoá vật chất Văn hoá pháp lý cómối liên hệ, tác động, ảnh hưởng đến nhiều lĩnh vực, nhiều yếu tố của đờisống xã hội Trong khuôn khổ của một luận văn thạc sĩ luật học, chúng tôi chỉtập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản của văn hoá pháp lý nóichung và vận dụng những lý luận đó vào thực tiễn Việt Nam hiện nay

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Việc nghiên cứu đề tài dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩaMác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm của Đảng và Nhà nước

ta về văn hoá - giáo dục trong giai đoạn hiện nay Các phương pháp nghiêncứu cụ thể được sử dụng trong luận văn là: phân tích - tổng hợp, so sánh, hệthống hoá, xã hội học, lịch sử

5 Đóng góp mới về khoa học của đề tài

Về lý luận, tác giả luận văn phân tích để đưa ra khái niệm về vănhoá pháp lý; phân tích cấu trúc, chức năng của văn hoá pháp lý và các đặctrưng cơ bản của văn hoá pháp lý Việt Nam

Về thực tiễn, tác giả luận văn kiến nghị một số giải pháp pháp lýnhằm nâng cao, phát huy bản sắc văn hoá pháp lý trong đời sống xã hộiViệt Nam hiện nay, xây dựng văn hóa pháp lý Việt Nam trong điều kiệnđổi mới, phát triển ổn định, bền vững và hội nhập quốc tế

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài

Những kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần làm sâu sắc thêm lýluận của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm củaĐảng, Nhà nước ta về văn hoá nói chung và văn hoá pháp lý nói riêng, nhằm

Trang 5

khẳng định vị trí, vai trò quan trọng của văn hoá pháp lý trong đời sống xãhội Những kiến nghị của luận văn có thể góp phần xây dựng một nền văn hoápháp lý tiên tiến ở Việt Nam hiện nay Luận văn có thể làm tài liệu thamkhảo cho việc giảng dạy và học tập trong các trường pháp lý.

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận vănđược chia làm 2 chương, 6 tiết

Trang 6

Chương 1

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ VĂN HOÁ PHÁP LÝ

1.1 KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM, CẤU TRÚC, CHỨC NĂNG CỦA VĂN HOÁ PHÁP LÝ

1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của văn hoá pháp lý

1.1.1.1 Khái niệm văn hoá

Theo các nhà nghiên cứu phương Tây, khái niệm văn hóa có nguồn

gốc từ tiếng Latinh là "cultura" nghĩa là sự trồng trọt, dùng để chỉ sự chăm sóc đÊt đai, canh tác Ở phương Đông, trong Chu Dịch có nói đến: Quan

hồ nhân văn dĩ hóa thành thiên hạ” (quan sát dáng vẻ con người để giáo

hóa thiên hạ) Ở đây, văn hóa được giải thích như một phương thức dùngvăn để cải hóa con người

Vốn là hiện tượng xã hội hết sức đa dạng, phức tạp, đa cấp độ, vănhóa từng được nhìn nhận theo nhiều cách thức khác nhau Ở trình độ lý luận

và yêu cầu của xã hội hiện nay, văn hóa được xem như là tất cả những gìliên quan đến con người, Ýt nhiều thể hiện được sức mạnh bản chất của conngười Từ đó, có thể hiểu văn hóa là những phương thức và kết quả hoạtđộng của con người đạt được trong lịch sử, bao gồm giá trị vật chất, giá trịtinh thần do con người sáng tạo ra Với nghĩa hẹp, văn hóa phản ánh hệthống các giá trị và quy tắc ứng xử được xã hội chấp nhận Theo nghĩa này,văn hóa hàm chứa những quan điểm về mục đích, giá trị và lý tưởng của xãhội Văn hóa hướng con người tới chân, thiện, mỹ Nói đến văn hóa là nóiđến con người và văn hóa là thuộc tính biểu hiện bản chất xã hội của conngười

Trên thế giới đã có nhiều nhà nghiên cứu tìm kiếm và đưa ra nhữngđịnh nghĩa về văn hóa Tuy nhiên, cho đến nay, chóng ta vẫn chưa có một

Trang 7

định nghĩa thống nhất về văn hoá nhằm bảo vệ và phát huy các giá trị củavăn hoá Ngay từ giữa thế kỷ XX (năm 1952), hai nhà khoa học Hoa Kỳ làA.Kroeber và C.kluckholn đã thống kê được 150 định nghĩa khác nhau vềvăn hoá [34, tr.8] Ngày nay, số lượng các định nghĩa đó đã tăng lên rấtnhiều (trên 400 định nghĩa)

Ở Việt Nam, văn hóa bắt đầu được nhiều nhà khoa học, nhiều học giảnghiên cứu trong những năm gần đây và họ cũng đã cố gắng đưa ra nhữngđịnh nghĩa về văn hóa Cách đây hơn 60 năm, học giả Đào Duy Anh đã đặtviên gạch đầu tiên cho ngành văn hóa học khi cuốn “Việt Nam văn hóa sửcương” của ông ra đời (1938) Ông quan niệm “hai tiếng văn hóa chỉ là chungtất cả các phương diện sinh hoạt của loài người cho nên ta có thể nói rằng:Văn hóa tức là sinh hoạt" [1, tr.13] Văn hóa theo đó là cách thức, là kiểu sinhhoạt của con người

GS Trần Quốc Vượng cho rằng: “Văn hóa là thế ứng xử, năng độngcủa một cộng đồng (ứng xử tập thể) hay một cá nhân đứng trước thiênnhiên, xã hội và đứng trước chính mình Văn hóa là lối sống (mode de vie),

là nếp sống (train de vie) tập thể và cá nhân” [100, tr.87] Đi sâu vào bảnchất của văn hóa, với cách tư duy thao tác luận, nhà văn hóa học GS PhanNgọc đã coi văn hóa thực chất là một kiểu lựa chọn Ông quan niệm rằng,con người có một kiểu lao động riêng, anh ta tạo nên một sản phẩm theocái mô hình trong óc anh ta (mô hình này do anh ta tiếp thu từ bên ngoàihay sáng tạo ra) Từ quan niệm như vậy GS Phan Ngọc định nghĩa “Vănhóa là mối quan hệ giữa thế giới biểu tượng trong óc mỗi cá nhân hay mỗitộc người với cái thế giới thực tại đã bị cá nhân hay tộc người này mô hìnhhóa theo cái mô hình tồn tại trong biểu tượng Điều biểu hiện rõ nhất chứng

tỏ mối quan hệ này, đó là văn hóa dưới hình thức dễ thấy nhất, biểu hiện

Trang 8

thành một kiểu lựa chọn riêng của cá nhân hay tộc người, khác các kiểu lựachọn của cá nhân hay tộc người khác” [55, tr.17].

Cách hiểu văn hóa là kiểu lựa chọn như vậy cũng tương đồng với cáchhiểu của Chủ tịch Hồ Chí Minh về văn hóa Người viết: “Vì lẽ sinh tồncũng như mục đích của cuộc sống loài người mới sáng tạo và phát minh rangôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệthuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phươngtiện sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó chính là văn hóa.Văn hóa là tổng hợp những phương thức sinh hoạt và biểu hiện của nó màloài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng với những nhu cầu đời sống và

đòi hỏi của sự sinh tồn” [49, tr.431].

Với tính phức tạp, đa chiều như vậy thật khó khăn để đưa ra một địnhnghĩa hoàn chỉnh, có tính bao quát về văn hóa Nghiên cứu về văn hóachúng tôi hiểu rằng, văn hóa chính là tổng thể những giá trị do con người

sáng tạo ra (văn hóa tức là nhân hóa), đó là các giá trị vật chất, các giá trị

tinh thần và bản thân sự phát triển của con người Các giá trị này, thực chấtchính là kết quả của sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên

và môi trường xã hội Các giá trị này đều tương tác và gắn bó với nhau.Trong các giá trị vật chất có các giá trị tinh thần và trong các giá trị tinhthần đều hàm chứa các giá trị vật chất Trong hai giá trị đó cũng hàm chứa

sự phát triển của năng lực bản chất của con người

Dù là văn hóa vật chất hay văn hóa tinh thần cũng đều là sản phẩm trựctiếp hay gián tiếp của con người Vì vậy, Mác đã nói rằng, văn hóa là sự thểhiện các năng lực bản chất của con người, bao gồm khả năng, sức mạnh,phương thức nhận thức, đánh giá và cải tạo thế giới của con người

Trang 9

Từ cách hiểu như vậy về văn hóa, chúng tôi lựa chọn định nghĩa chínhthức về văn hóa của UNESCO (đây cũng là một định nghĩa văn hóa đượcnhiều người chấp nhận) để làm cơ sở nghiên cứu cho đề tài của mình: “Vănhóa phản ánh và thể hiện một cách tổng quát sống động mọi mặt của cuộcsống (của mỗi cá nhân và các cộng đồng) đã diễn ra trong quá khứ cũng nhưdiễn ra trong hiện tại, qua hàng bao thế kỷ nó đã cấu thành nên một hệ thốngcác giá trị, truyền thống, thẩm mỹ và lối sống mà dựa trên đó từng dân tộc tự

khẳng định bản sắc riêng của mình”.

Văn hóa biểu hiện những gì do con người sáng tạo ra nên phạm vi của vănhóa rất rộng lớn Nghiên cứu về văn hóa đòi hỏi phải sử dụng những phươngpháp chính xác, khoa học mới có thể chỉ ra được những đặc trưng, vai trò, chứcnăng cũng như những mối liên hệ của văn hóa với các hiện tượng khác của đờisống xã hội Tiếp cận từ lý thuyết hệ thống, Viện sĩ Trần Ngọc Thêm đã chỉ ranhững đặc trưng và những chức năng cơ bản của văn hóa như sau:

Thứ nhất, văn hóa trước hết phải có tính hệ thống Mọi hiện tượng, sựkiện thuộc một nền văn hóa đều có liên quan mật thiết với nhau Nhờ có tính

hệ thống mà văn hóa, với tư cách là một đối tượng bao trùm mọi hoạt độngcủa xã hội thực hiện được chức năng tổ chức xã hội Chính văn hóa thườngxuyên làm tăng độ ổn định của xã hội, cung cấp cho xã hội mọi phương tiệncần thiết để đối phó với môi trường tự nhiên và xã hội của mình

Thứ hai, văn hóa có tính giá trị Trong từ văn hóa thì văn (ở phươngĐông đối lập với võ) có nghĩa là “vẻ đẹp” (= giá trị), hóa là trở thành, văn hóa

“trở thành đẹp, trở thành có giá trị” Văn hóa là thước đo nhân bản của xã hội,của con người Nhờ thường xuyên xem xét các giá trị mà văn hóa thực hiệnđược chức năng quan trọng thứ hai của mình là chức năng điều chỉnh xã hội,giúp cho xã hội duy trì được trạng thái cân bằng động của mình, không ngừng

Trang 10

tự hoàn thiện và thích ứng với những biến đổi của môi trường nhằm tự bảo vệ

để tồn tại và phát triển

Thứ ba, văn hóa có tính nhân sinh Văn hóa là một hiện tượng xã hội, làsản phẩm hoạt động thực tiễn của con nguời Theo nghĩa này, văn hóa đối lậpvới tự nhiên, nhưng nó không phải là sản phẩm hư vô mà có nguồn gốc tựnhiên Văn hóa là tự nhiên đã được biến đổi dưới sự tác động của con người.Đặc trưng này cho phép phân biệt loài người sáng tạo với loài vật bản năng

Do gắn liền với con người và hoạt động của con người trong xã hội, văn hóatrở thành công cụ giao tiếp quan trọng và do đó nó có chức năng giao tiếp.Thứ tư, văn hóa có tính lịch sử Tính lịch sử của văn hóa thể hiện ở chỗ

nó bao giờ cũng được hình thành trong một quá trình và được tích lũy quanhiều thế hệ Tính lịch sử tạo cho văn hóa một bề dày, một chiều sâu vàchính nó buộc văn hóa thường xuyên tự điều chỉnh, tự phân loại và phân bốlại các giá trị Tính lịch sử của văn hóa được duy trì bằng truyền thống vănhóa Truyền thống văn hóa tồn tại được là nhờ giáo dục, do đó, chức nănggiáo dục là chức năng quan trọng thứ tư của văn hóa Văn hóa thực hiệnchức năng giáo dục không chỉ bằng những giá trị đã ổn định (truyền thống)

mà còn bằng những giá trị đang hình thành Các giá trị ổn định và các giá trịđang hình thành tạo thành một hệ thống chuẩn mực mà con người hướng tới,nhờ đó mà văn hóa góp phần hình thành nhân cách con người [75, tr.20-24].Cần phân biệt văn hóa với văn minh, văn hiến, văn vật

Lâu nay nhiều người thường sử dụng “văn minh” (civilization) như một

từ đồng nghĩa với văn hóa, nhưng thực ra đây là những khái niệm gần gũi,

có liên quan mật thiết với nhau nhưng không đồng nhất với nhau Văn minh

là khái niệm chỉ trình độ phát triển nhất định của văn hóa chủ yếu về phươngdiện giá trị vật chất Nói đến văn minh, người ta chủ yếu nghĩ đến tiện nghi

Trang 11

vật chất (văn minh chủ yếu liên quan tới kỹ thuật làm chủ thế giới, biến đổithế giới để đáp ứng nhu cầu con người) Như vậy, văn hóa và văn minh khácnhau trước hết ở tính giá trị: trong khi văn hóa là một khái niệm bao trùm cảcác giá trị vật chất và tinh thần thì văn minh chỉ thiên về các giá trị vật chất.Văn hóa và văn minh còn khác nhau ở tính lịch sử: trong khi văn hóa luôn

có bề dày lịch sử thì văn minh chỉ là một lát cắt đồng đại, chỉ cho biết trình

độ phát triển của văn hóa Nếu văn minh của loài người tiến lên khôngngừng thì văn hóa lại không thế Một dân tộc có nền văn minh cao nhưngcũng có thể có một nền văn hóa nghèo nàn và ngược lại một dân tộc lạc hậuvẫn có thể có một nền văn hóa phong phú Ngoài ra, văn hóa và văn minhcòn được phân biệt bởi phạm vi của chúng Trong khi văn hóa thường cótính dân tộc, quốc gia thì văn minh có tính khu vực, quốc tế Nó đặc trưngcho mét khu vực rộng lớn hoặc cả nhân loại, bởi nó chứa giá trị vật chất vàvật chất thì rất dễ phổ biến, lan rộng

Về mối tương quan giữa văn hóa với văn hiến, văn vật Văn hiến vàvăn vật là những thuật ngữ đặc trưng của văn hóa phương đông Văn hiếndùng để chỉ những giá trị tinh thần do những người có tài, đức chuyển tải.Còn văn vật là là truyền thống văn hóa tốt đẹp được thể hiện thông qua mộtđội ngũ nhân tài và hiện vật trong lịch sử Sự khác biệt của văn hóa đối vớicác khái niệm này là ở phạm vi Văn hóa là khái niệm rộng lớn, bao trùm,trong đó có văn hiến, văn vật

1.1.1.2 Khái niệm, đặc điểm của văn hoá pháp lý

Như cách hiểu trên đây, văn hóa có mặt trong tất cả các sản phẩm docon người tạo ra, từ công cụ sản xuất đến các vật dụng sinh hoạt, từ tri thứckhoa học đến các tác phẩm nghệ thuật, văn hóa cũng đồng thời là bản thânphương thức tạo ra các sản phẩm đó Không chỉ có thế, văn hóa còn hiện diện

Trang 12

trong các quan hệ giữa con người với con người, dù đó là quan hệ kinh tế hayquan hệ tôn giáo, quan hệ pháp luật hay quan hệ giao tiếp thông thường Vănhóa còn là bản thân các năng lực cấu thành nhân cách con người, là tri thức,tình cảm, ý chí và mọi năng lực lao động sáng tạo

Như mọi lĩnh vực hoạt động xã hội khác, lĩnh vực pháp luật hiện naycũng đòi hỏi phải tính đến vị trí và vai trò nhân tố văn hóa của nó Hoạt độngpháp luật với tính cách là bộ phận, một khâu của hoạt động chính trị - xã hội,tuy không lấy văn hóa làm mục đích trực tiếp, nhưng hoạt động pháp luật lại

là địa bàn, là phương thức để con người thể hiện và hiện thực hóa những nănglực nhân tính của mình trong lĩnh vực pháp luật Điều đó đã chứng tỏ rằng,hoạt động pháp luật cũng hiện diện như phương diện đặc thù của văn hóa – đó

là văn hóa pháp lý

Văn hóa pháp lý là kết quả của bản thân hoạt động pháp luật của mỗimột quốc gia, một dân tộc, một cộng đồng người Vì vậy, cùng với vai trò củavăn hóa trong đời sống xã hội thì văn hóa pháp lý ngày càng trở thành mộtvấn đề được nhiều nhà khoa học quan tâm, bởi vì, có hiểu được văn hóa pháp

lý thì mới có thể xây dựng được một nền văn hóa pháp lý tiên tiến, mới cóđược một đời sống pháp luật vững mạnh, góp phần làm nên sự phát triển của

xã hội

Trên thế giới vào những năm 1990, văn hóa pháp lý đã trở thành mộtthuật ngữ được quan tâm nhất trong các nghiên cứu khoa học pháp lý hiệnđại Tuy nhiên, thuật ngữ này đã có từ rất lâu Trong diễn ngôn thời kỳ trướcchiến tranh, nhà sử học pháp luật người Mỹ Lawrence M.Friedman đã trìnhbày và so sánh văn hóa pháp lý với văn hóa chính trị vào năm 1969

Sở dĩ văn hóa pháp lý đã được các luật gia phương Tây quan tâm trongthời gian vừa qua là vì vào những năm 1990 đã có những sự thay đổi nhanh

Trang 13

chóng trong văn hóa pháp lý tại nhiều nước, đặc biệt là các nước Đông Âu vàcác nước trung tâm châu Âu Sự thay đổi này đã đặt ra yêu cầu cần thiết phảinhận dạng nền văn hóa pháp lý của mỗi nước Hiện tượng này không chỉ phùhợp với những quốc gia trong Liên bang Xô Viết trước đây, mà còn trở thànhmột phương thức để giải quyết những sự việc xảy ra như đối với sự hợp nhấtvăn hóa pháp lý của nước Đức thống nhất ngày nay.

Những năm qua nhiều nhà khoa học nghiên cứu về văn hóa pháp lý đãđưa ra nhiều định nghĩa khác nhau về văn hóa pháp lý Đặc biệt, trong nhữngnăm gần đây đã có một diễn đàn bàn luận về chủ đề này, trong đó tạm thờichia những nhà nghiên cứu thành hai nhóm

Nhóm các nhà nghiên cứu xem xét văn hóa pháp lý từ góc độ chứcnăng, mà tiêu biểu là Lawrence M.Friedman Ông đã đưa ra cách nhìnkhách quan về hiện tượng văn hóa pháp lý, theo đó, ông cho rằng văn hóapháp lý là thái độ khác nhau của các dân tộc, các nhóm xã hội cũng nhưcủa các thể chế chính trị đối với đời sống pháp luật (về các vụ kiện hoặc tỉ

lệ tội phạm) Thái độ khác nhau đó được hiểu là trạng thái tâm lý pháp luật

và lối sống pháp luật

Nhóm các nhà nghiên cứu thứ hai tiếp cận văn hóa pháp lý theo mộtcách khác, tiêu biểu là nhà nghiên cứu người Đức Rorger Cotterrell Họ chorằng thái độ và trạng thái tâm lý sẽ tương đương nhau nếu chúng được tạo ratrong những giới hạn của tổ chức luật pháp Nhóm này chủ trương coi vănhóa pháp lý chỉ là một hiện tượng cung cấp một cái nhìn khách quan về nghềluật Thay vì tìm kiếm mô hình về thái độ và trạng thái tâm lý pháp lý,Cotterrell đã xem xét văn hóa pháp lý từ việc phân biệt các hệ tư tưởng để từ

đó nghiên cứu các kiến trúc luật pháp được xây dựng trên các hệ tư tưởng đó[102, tr.16]

Trang 14

Ở Việt Nam, như đã đề cập ở trên, văn hóa pháp lý chỉ mới được cácnhà nghiên cứu, các nhà khoa học quan tâm trong một số năm gần đây vàthường được hiểu là văn hóa pháp luật PGS TS Lê Minh Tâm cho rằng:

“Nói một cách tổng quát, văn hóa pháp luật là tổng thể những giá trị vậtchất và tinh thần mà con người sáng tạo ra trong lĩnh vực pháp luật, baogồm hệ thống quy phạm pháp luật trong các thời kỳ lịch sử, những tưtưởng, quan điểm, luận điểm, nguyên lý, nguyên tắc, những tác phẩm vănhóa pháp luật, những kinh nghiệm và thói quen tích lũy được trong quátrình xây dựng và thực thi pháp luật…” [69, tr.18] TS Lê Thanh Thậpviết: “Văn hóa pháp luật là những giá trị nhân đạo, tiến bộ, tích cực của hệthống pháp luật trong xã hội được thể hiện trong các đạo luật và thiết chế

xã hội Đồng thời, các giá trị đó còn được thể hiện trong các hoạt độngpháp luật, thẩm thấu vào nhận thức và hành động của mỗi cá nhân, biếnthành nhu cầu thường trực trong ứng xử của họ” [74, tr.26]

Như chóng ta đã biết, khởi nguồn của văn hóa là hoạt động sản xuấtvật chất nhằm thoả mãn nhu cầu vật chất và tinh thần của con người Vănhóa cũng chính là nhu cầu hoàn thiện con người, hoàn thiện xã hội, điều đóphản ánh khát vọng của con người ngày càng mong muốn trở nên văn minhhơn, tiến bộ hơn Sức sống của văn hóa là động lực thúc đẩy xã hội pháttriển tiến bộ Văn hóa pháp lý là một bộ phận của văn hóa nói chung và tấtnhiên nó cũng là thành quả của quá trình lao động và sáng tạo của conngười Văn hóa pháp lý cùng có chung mục đích là dẫn dắt đời sống nhânloại đi tới những giá trị cao cả để đạt được những giá trị chân, thiện, mĩ Dovậy, văn hóa pháp lý mang trong mình khả năng hiện thực hoá những nănglực nhân tính, phát huy vai trò và tăng cường hiệu quả của pháp luật trongđời sống xã hội (Ngược lại, hiệu quả của pháp luật trong xã hội cũng chính

là chỉ số, là thước đo trình độ phát triển của văn hóa pháp lý) Văn hóa pháp

Trang 15

lý là sự thống nhất hữu cơ những giá trị có được từ hoạt động sống của conngười trong các quan hệ pháp luật (hành vi, lối sống) và những kết quả cóđược do hiện thực hoá năng lực bản chất của con người trong lĩnh vực phápluật Do vậy, phát triển văn hóa pháp lý không những góp phần nâng caohiệu quả của pháp luật mà còn đảm bảo cho sự phát triển nhân cách củacon người Biến hoạt động pháp luật với tư cách là lĩnh vực hoạt động xãhội - chính trị thành lĩnh vực hoạt động sáng tạo "theo quy luật của cáiđẹp" (C Mác) Những chuẩn mực quy phạm pháp luật chỉ có giá trị khi nóbảo vệ những lý tưởng xã hội tốt đẹp, hướng con người tới các giá trị chân,thiện, mỹ Pháp luật bảo vệ cho những cái sai, thiếu chân thực, khách quan,bảo vệ và dung túng cho cái ác, cái thấp hèn, ti tiện thì nó không có giá trị

về mặt văn hóa Với ý nghĩa như vậy, chúng ta có thể hiểu: Văn hóa pháp

lý là sự phản ánh và thể hiện một cách tổng quát, sống động mọi mặt của đời sống pháp luật (của mỗi cá nhân và cộng đồng) đã diễn ra trong quá khứ cũng như diễn ra trong hiện tại, nó cấu thành nên một hệ thống các giá trị, truyền thống và lối sống pháp luật của một cộng đồng, một quốc gia, dân tộc.

Như vậy xét về bản chất, cũng như văn hóa nói chung, văn hóa pháp lý

có tính xã hội Bởi vì sự hiện diện của nó là kết quả của những phương thứchoạt động của con người Xã hội ở đây được hiểu là một tập đoàn người, mộtdân tộc, một quốc gia, mét giai cấp có quan hệ với nhau về mặt pháp luật Bảnchất xã hội của văn hóa pháp lý được thể hiện rõ trong tính dân tộc, tính giaicấp và tính nhân loại phổ biến

- Tính dân tộc của văn hóa pháp lý chính là những truyền thống, nếpsống, phong tục tập quán, những thói quen trong đời sống pháp luật và đãđược hình thành, lưu giữ và kế tục qua nhiều thế hệ của một dân tộc, mộtcộng đồng người Tính dân tộc, cốt cách dân tộc tô đậm bản chất của mọiquan hệ văn hóa Cũng như văn hóa nói chung, văn hóa pháp lý có tính bền

Trang 16

vững và lâu dài là do bản sắc dân tộc của nó quy định Sự khác nhau của mỗinền văn hóa do tính dân tộc của nó đại diện và chính nhờ sự khác biệt này màvăn hóa mới phát triển được.

- Sự phát triển của văn hóa pháp lý là một quá trình đầy mâu thuẫn, trong

đó còn phản ánh một quang phổ rộng lớn của các quan hệ giai cấp với lợi Ýchdân tộc Tính giai cấp của văn hóa pháp lý là những yếu tố phản ánh quyềnlực và lợi Ých của giai cấp thống trị được thể chế hoá thành luật, được đưavào đời sống pháp luật khi những yếu tố đó phù hợp với lợi Ých dân tộc, sựphát triển và tiến bộ xã hội Theo Lênin, trong xã hội có đối kháng giai cấp,mỗi nền văn hóa đều có hai dòng văn hóa Văn hóa của giai cấp thống trị, bóclột và văn hóa của nhân dân lao động tiến bộ xã hội Văn hóa nói chung xét về

chuẩn mực giai cấp có thể chia thành 3 nhóm: một là, nhóm không thể áp dụng các chuẩn mực giai cấp như ngôn ngữ, khoa học – kỹ thuật; hai là, nhóm

có nội dung nhân loại nhưng đồng thời ở mức độ nhất định mang dấu Ên cáclợi Ých giai cấp như một số phong tục, tập quán, một số các giá trị đạo đứcphổ quát; ba là, nhóm mà bản chất giai cấp gắn liền với văn hóa, trong đó đặcbiệt là lĩnh vực chính trị – pháp lý Văn hóa pháp lý là một lĩnh vực đặc thù,nằm trong nhóm thứ ba và nã mang tính giai cấp sâu sắc Do đó, để có thể xácđịnh giá trị văn hóa pháp lý của một quốc gia, một dân tộc, cần xác định tínhgiai cấp của những giai cấp suy tàn hay đang lên Khi giai cấp thống trị đang

là và còn là giai cấp cách mạng, đóng vai trò tích cực trong sự phát triển xãhội, thì nhu cầu và lợi Ých của giai cấp đó và của nhân dân có sự nhất trí ởmức độ cao Giai cấp thống trị chủ động ban hành một số chuẩn mực tiến bộtrong hiến pháp và pháp luật nhằm đáp ứng đòi hỏi của nhân dân - khi đó có

sự thống nhất giữa tính giai cấp và tính nhân loại trong đời sống pháp luật.Những giá trị văn hóa pháp lý được hình thành chính từ sự thống nhất đó

Trang 17

- Trong một nền văn hóa pháp lý, không có tính giai cấp đơn thuần.

Bản chất xã hội đã gắn liền với tính nhân loại phổ biến của nã Sự sáng

tạo văn hóa nói chung và văn hóa pháp lý nói riêng vốn là sản phẩm củanhững xã hội cụ thể, đồng thời nó cũng chứa đựng những cái đẹp, cái mới,cái tiến bộ Những giá trị đó là thước đo để mỗi giai cấp hướng sự pháttriển xã hội phù hợp với lợi Ých của mình Tính nhân loại phổ biến củavăn hóa pháp lý được biểu hiện ở một nền pháp luật có sự đảm bảo cácquyền cơ bản của con người như quyền tự do, công bằng, bình đẳng trướcpháp luật, quyền tự bảo vệ, quyền được đảm bảo các lợi Ých cơ bản của conngười phù hợp với sự tiến bộ xã hội Cả tính giai cấp, tính dân tộc của vănhóa pháp lý đều chứa đựng trong mối quan hệ với tính nhân loại phổ biến.Tính nhân loại phổ biến của văn hóa pháp lý không nằm ngoài tính giai cấp

và tính dân tộc Tính giai cấp đang lên trong sự phát triển lịch sử sẽ tạo ranhững sản phẩm văn hóa pháp lý có tính nhân loại Ví dụ hiến pháp là giá trịvăn hóa pháp lý của cách mạng tư sản, và ngày nay nó đã trở thành một giá trịmang tính nhân loại Cũng vậy, tính nhân loại của văn hóa pháp lý cũngkhông tách rời tính dân tộc của nó Những tinh hoa của văn hóa dân tộc sẽmang tính nhân loại phổ biến Những ghi nhận bước đầu về quyền bình đẳngcủa phụ nữ trong Bộ luật Hồng Đức sở dĩ được đánh giá cao, trở thành phổbiến nhân loại là vì đó là những giá trị cao quý của dân tộc Việt Nam

1.1.2 Cấu trúc của văn hoá pháp lý

Xét về mặt cấu kết, văn hóa pháp lý là bộ phận cấu thành nền văn hóanói chung Từ phương pháp tiếp cận hệ thống - cấu trúc và tính độc lập tươngđối của văn hóa pháp lý, chóng ta có thể nhận diện được cấu trúc, vai trò vàchức năng của văn hóa pháp lý, cũng như sự tác động qua lại giữa văn hóapháp lý với các hiện tượng khác của đời sống xã hội Muốn nhận thức đượcmột cách đầy đủ về văn hóa pháp lý, trước tiên phải xác định được cấu trúc

Trang 18

của văn hóa pháp lý Xung quanh vấn đề này còn có những ý kiến khác nhau.

Có ý kiến cho rằng cấu trúc của văn hóa pháp lý là một thể thống nhất của trithức pháp luật, tình cảm pháp luật đúng đắn và hành vi xử sự tích cực đối vớipháp luật.Theo ý kiến khác, văn hóa pháp lý được cấu thành từ ba bộ phận là:

ý thức pháp luật, hệ thống pháp luật và các phương tiện pháp luật và khảnăng, trình độ sử dụng pháp luật để xử lý các quan hệ xã hội [69, tr.18]

Đa sè ý kiến đều thừa nhận rằng: văn hóa phản ánh và thể hiện mộtcách tổng quát, sống động mọi mặt trong cuộc sống của mỗi cá nhân và cảcộng đồng đã diễn ra trong quá khứ và đang diễn ra trong hiện tại, nó cấuthành một hệ thống các giá trị truyền thống thẩm mỹ và lối sống mà dựa trên

đó, từng dân tộc khẳng định bản sắc riêng của mình Theo cách hiểu đó, vănhóa là một lĩnh vực hoạt động xã hội cụ thể của mỗi dân tộc được thể hiệnqua ba yếu tố cốt lõi: các giá trị tư tưởng, đạo đức, thẩm mỹ (yếu tố ý thức);các giá trị vật chất kỹ thuật do con người lao động, sáng tạo ra trong lĩnh vực

đó (hiện thực hóa yếu tố ý thức), và cuối cùng là năng lực, cách thức sử dụngcác giá trị đã sáng tạo ra để đáp ứng các nhu cầu vật chất và nhu cầu tinh thầncủa con người (yếu tố hành vi, lối sống) Các yếu tố này được giữ gìn, lưutruyền qua nhiều thế hệ, phản ánh bản sắc riêng của mỗi dân tộc trong từnglĩnh vực hoạt động Theo các căn cứ nêu trên, có thể nói rằng: văn hóa pháp

lý được cấu thành từ các yếu tố: ý thức pháp luật; hệ thống pháp luật và vàcuối cùng là hành vi theo pháp luật và lối sống theo pháp luật

- Ý thức pháp luật Với tư cách là một hình thái ý thức xã hội, ý thứcpháp luật là yếu tố hết sức quan trọng của văn hóa pháp lý Căn cứ vào đặcđiểm, tính chất và phương thức phản ảnh, ý thức pháp luật gồm có hai bộphận là tư tưởng pháp luật và tâm lý pháp luật

Trang 19

+ Tư tưởng pháp luật là tổng hợp các tư tưởng, quan điểm, quan niệm

có tính chất lý luận và khoa học về pháp luật Tư tưởng pháp luật phản ánhtrình độ nhận thức cao, có tính hệ thống về các vấn đề có tính chất bản chấtcủa pháp luật và các hiện tượng pháp luật Hạt nhân cốt lõi của tư tưởng phápluật là tri thức khoa học về pháp luật

+ Tâm lý pháp luật là những tình cảm, tâm trạng, cảm xúc, thái độ,cách đánh giá của cá nhân và các nhóm xã hội về pháp luật cũng như cáchiện tượng pháp lý xảy ra trong đời sống xã hội Tâm lý pháp luật chỉ biểuhiện cấp độ nhận thức thông thường dựa trên cơ sở tình cảm pháp luậttruyền thống, kinh nghiệm sống, tập quán và tâm lý xã hội Nói cách khác

là ở cấp độ này, ý thức pháp luật mới chỉ thể hiện ở sự thừa nhận, tiếp thu

và xử sự theo sự thừa nhận và tiếp thu đó: điều hay lẽ phải, việc nên làm,điều cần tránh theo tình cảm hướng thiện

Sự thống nhất hài hòa giữa tư tưởng pháp luật và tâm lý pháp luật trong ýthức pháp luật thể hiện mối quan hệ của con người đối với pháp luật, sự đánh giá

về tính hợp pháp hay không hợp pháp trong hành vi xử sự của con người, cũngnhư trong tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà nước và tổ chức xã hội Với

tư cách là yếu tố cơ bản và quan trọng của văn hóa pháp lý, ý thức pháp luật tíchcực và tiến bộ là tiền đề tư tưởng trực tiếp để xây dựng và hoàn thiện hệ thốngpháp luật, là nhân tố thúc đẩy việc thực hiện pháp luật trong đời sống xã hội vàbảo đảm cho việc áp dụng đúng đắn các quy phạm pháp luật

- Hệ thống pháp luật Đây chính là một trong những kết quả đã được

hiện thực hóa từ năng lực hoạt động pháp luật của con người Khi nói đếnvăn hóa pháp lý của một quốc gia, một dân tộc thì không thể không nói đến

hệ thống pháp luật của quốc gia, dân tộc đó Hệ thống pháp luật ở đây đượchiểu là tổng thể những quy phạm pháp luật đã được ban hành và tồn tại

Trang 20

trong quá khứ cũng như trong hiện tại, bao gồm cả những luật tục của cáccộng đồng dân cư cũng như pháp luật của nhà nước Hệ thống pháp luậtchính là một yếu tố đóng góp những giá trị để làm nên diện mạo, bản sắccủa một nền văn hóa pháp lý Xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luậtvừa là một đòi hỏi khách quan của xã hội và của nền văn hóa xã hội, vừa cótác dụng tạo cơ sở cho sự phát triển văn hóa pháp lý Hệ thống pháp luậthoàn thiện đạt được các tiêu chí toàn diện, đồng bộ, khoa học, thực tiễn làmột biểu hiện sinh động của nền văn hóa pháp lý cao.

- Hành vi theo pháp luật và lối sống theo pháp luật Hành vi và lối sốngtheo pháp luật là yếu tố cấu thành thứ ba của văn hóa pháp lý Nó thể hiệncách thức, khả năng, trình độ sử dụng pháp luật và các công cụ pháp luật củatừng cá nhân, của cộng đồng và nhà nước trong quá trình đấu tranh vì sự bìnhđẳng xã hội và công lý theo định hướng chân, thiện, mỹ

+ Hành vi theo pháp luật là hành động có ý thức của con người và tổchức của con người diễn ra trong môi trường điều chỉnh của pháp luật Hành

vi theo pháp luật mang ý nghĩa tích cực và được coi là hành vi hợp pháp hay

là hành vi xử sự tích cực đối với pháp luật và các hiện tượng pháp luật, dựatrên cơ sở những tri thức pháp luật và tình cảm pháp luật đúng đắn, phù hợpvới xã hội Hành vi pháp luật tích cực (hành vi hợp pháp) có ý nghĩa xã hội vàvăn hóa to lớn: một mặt, nó nói lên động cơ hành vi của chủ thể; mặt khác, nóphản ánh nhu cầu tiến bộ của xã hội, sự hài hòa ở những mức độ khác nhaugữa lợi Ých xã hội mà pháp luật phản ánh với lợi Ých cá nhân, giữa nhu cầucủa nhà nước và nhu cầu của cá nhân công dân, có tác dụng làm ổn định xãhội và tăng cường ý thức tôn trọng pháp luật Vì vậy, hành vi hợp pháp thểhiện trình độ văn hóa pháp lý cao và được xã hội tôn trọng

Trang 21

+ Lối sống theo pháp luật gắn liền với hành vi theo pháp luật Lối sống làtổng thể những nét cơ bản đặc trưng cho hoạt động sống và phương thức hànhđộng của con người, của các giai cấp, các dân tộc, các nhóm xã hội hay cộngđồng xã hội trong những điều kiện xã hội nhất định Hoạt động sống và phươngthức hành động của cộng đồng như thế nào thì sẽ tạo ra lối sống như thế Êy Lốisống theo pháp luật là một loại hình của lối sống dựa trên nền tảng ý thức phápluật xã hội tiên tiến, là một biểu hiện của lối sống có văn hóa cao Nã mang tínhcộng đồng và có tác dụng tạo ra môi trường tích cực cho quá trình xã hội hóahành vi theo pháp luật của các cá nhân, của các cơ quan nhà nước và tổ chức xãhội Lối sống theo pháp luật vừa có tác dụng đóng góp vào quá trình sáng tạo racác giá trị văn hóa pháp lý, lại vừa là quá trình tiếp nhận và phát huy các giá trịvăn hóa pháp lý trong thực tiễn cuộc sống của cộng đồng xã hội mà đỉnh cao củaquá trình đó là "Sống, học tập, lao động theo hiến pháp và pháp luật".

1.1.3 Chức năng của văn hoá pháp lý

Có thể nói, văn hóa pháp lý có ba chức năng cơ bản sau đây:

- Chức năng nhận thức Nhận thức là chức năng đầu tiên của văn hóatrong bất kỳ lĩnh vực hoạt động xã hội nào Văn hóa pháp lý cũng vậy, thiếuchức năng nhận thức thì không thể nói đến bất kỳ chức năng nào khác, bởi vì,một bộ luật, một đạo luật nào đó - với tư cách là sản phẩm văn hóa pháp lý,trước khi đi vào thực tiễn cuộc sống, phát huy vai trò và hiệu lực trong việcđiều chỉnh các mối quan hệ xã hội, điều chỉnh hành vi của cá nhân trong xãhội thì nó phải được mọi người hiểu và nhận thức đúng

Trình độ lập hiến, lập pháp là một biểu hiện rất cao của văn hóa pháp

lý Các chuẩn mực, quy phạm pháp luật quan trọng chỉ có thể có được khicác nhà làm luật nhận thức được một cách sâu sắc các quy luật của đờisống kinh tế, chính trị, xã hội, phát hiện những quan hệ xã hội mới nảy

Trang 22

sinh, nhận thức được sự cần thiết và mức độ phải có pháp luật điều chỉnh.Văn hóa pháp lý giúp cho các nhà làm luật hiểu biết và xử lý tốt các tìnhhuống mà cuộc sống đặt ra theo yêu cầu chân, thiện, mỹ Nâng cao trình độnhận thức của con người cũng chính là phát huy những tiềm năng, năng lựcbản chất của con người Đó là bước đầu rất quan trọng để hoàn thiện conngười, hoàn thiện xã hội Do đó, văn hóa nói chung và văn hóa pháp lýluôn luôn chứa đựng tính chất nhân văn Cơ sở của mọi hiệu quả trong lĩnhvực văn hóa pháp lý cũng là khát vọng hướng tới cái Chân - thiện - mỹ.Cũng cần khẳng định rằng, phát huy chức năng nhận thức của văn hóa pháp

lý, đặc biệt là trong các tầng lớp nhân dân lao động, sẽ là một động lựcquan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, góp phần giữ gìn và pháthuy các giá trị văn hóa pháp lý, tạo ra sự nhận thức sâu sắc về vai trò vàcác giá trị xã hội của pháp luật Chức năng nhận thức là tiền đề quan trọng

để thực hiện các chức năng khác của văn hóa pháp lý

- Chức năng giáo dục Các hoạt động của văn hóa pháp lý rất đa dạng

và phong phú và đều hướng tới cái tốt, cái đẹp, qua đó tác động đến conngười và xã hội Chính khía cạnh này thể hiện chức năng giáo dục của vănhóa pháp lý Văn hóa pháp lý là sản phẩm hoạt động pháp luật của con người.Trong môi trường xã hội có sự điều chỉnh của pháp luật, toàn bộ các hành vi,hoạt động xã hội của con người được thể hiện ra trong các tình huống ứng xử

Ở đó, con người tiếp xúc với nhau, tác động đến nhau, trao đổi, yêu cầu vàtiếp nhận ở nhau một điều gì đó trong khuôn khổ luật định Văn hóa pháp lývới các yếu tố chân, thiện, mỹ chỉ đường cho các thành viên xã hội lựa chọncách xử sự như thế nào để tránh được xung đột với các cá nhân khác Mỗingười phải hành động như thế nào để vừa đạt được lợi Ých của mình, vừakhông vi phạm pháp luật Các cách xử sự đó được chọn lọc, được kiểmnghiệm qua thời gian và trở thành khuôn mẫu ứng xử, thẩm thấu vào ý thức

Trang 23

của mỗi người, biểu hiện ở tư tưởng, quan điểm về pháp luật và ở tình cảmđối với pháp luật Như vậy, văn hóa pháp lý góp phần tạo ra môi trường vănhóa giáo dục và môi trường đời sống tinh thần, ý thức pháp luật của conngười.

Nói đến chức năng giáo dục của văn hóa pháp lý là nói đến việc địnhhướng cho hành vi theo pháp luật của con người Hành vi theo pháp luật, nhưchúng ta đã biết, là hành vi có ý thức của con người diễn ra trong môi trườngđiều chỉnh của pháp luật Trong mọi trường hợp, hành vi theo pháp luật chỉ cóthể là hành vi hợp pháp Tuy nhiên, ý nghĩa giáo dục từ việc định hướng chohành vi theo pháp luật là ở chỗ, giáo dục cách xử sự tích cực đối với pháp luậtdựa trên ý thức pháp luật và tình cảm pháp luật đúng đắn, phù hợp với các giátrị văn hóa pháp lý Mỗi cá nhân, theo quy luật hướng thiện, không muốn thựchiện các hành vi vi phạm pháp luật hay phá vỡ các quy tắc và những yêu cầu,đòi hỏi của chuẩn mực pháp luật Nhưng để đạt được điều này, bên cạnh ýthức tự giác, tích cực của mỗi người còn cần đến chức năng giáo dục Địnhhướng giá trị văn hóa pháp lý là xu hướng của con người muốn vươn lênchiếm lĩnh hoặc tiếp cận các giá trị văn hóa cao đẹp của pháp luật, nhờ đó màdần dần hoàn thiện nhân cách của mình

- Chức năng thực tiễn Chức năng thực tiễn của văn hóa pháp lý có

mối liên hệ mặt thiết với chức năng nhận thức và chức năng giáo dục, vì mọihoạt động thực tiễn pháp luật chỉ có thể đạt hiệu quả cao dựa trên cơ sở giáodục và nhận thức Nói đến chức năng thực tiễn của văn hóa pháp lý trước hết

là nói đến sự vận dụng và phát huy các kết quả nghiên cứu văn hóa pháp lývào hoạch định và xây dựng chính sách pháp luật của nhà nước Chính sáchpháp luật là một khâu quan trọng có ý nghĩa quyết định đối với hoạt động lậppháp nói chung và việc xây dựng các bộ luật, các đạo luật nói riêng Chínhsách pháp luật có ảnh hưởng tới ý thức và tâm lý của con người, góp phần

Trang 24

hình thành ý thức pháp luật mang tính tích cực của các cá nhân và các nhómcộng đồng Dưới tác động của văn hóa pháp lý, việc hoạch định và xây dựngchính sách pháp luật đúng đắn là định hướng quan trọng cho công tác xâydựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật

Trong chức năng thực tiễn của văn hóa pháp lý có vấn đề dự báo vềtình hình và xu hướng phát triển của pháp luật Cơ sở của dự báo là sự nhậnthức sâu sắc các quy luật phát triển của đời sống kinh tế - xã hội; là sự hiểubiết đầy đủ về các yếu tố, các điều kiện làm phát sinh các quan hệ xã hội mới.Khi văn hoạt động lập pháp đạt tới trình độ cao và các nhà làm luật nêu rađược các chuẩn mực cơ bản thì khả năng dự liệu quy tắc điều chỉnh các quan

hệ xã hội mới phát sinh cũng sẽ đạt tới một mức độ cần thiết Đến lượt mình,

dự báo tình hình và xu hướng phát triển của pháp luật lại là cơ sở để địnhhướng chính sách pháp luật

1.2 CÁC NHÂN TỐ CHỦ YẾU ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA VĂN HOÁ PHÁP LÝ

Văn hoá pháp lý không phải là các giá trị bất biến mà nó luôn vận động,biến đổi Văn hoá pháp lý phụ thuộc vào một tổng hệ các giá trị thành tố vàmang tính khách quan, lịch sử Với cách tiếp cận duy vật biện chứng khinghiên cứu văn hoá pháp lý, chóng ta phải luôn đặt nó trong mối liên hệ phổbiến và trong sự phát triển Tức là, phải xem xét văn hoá pháp lý trong mốiquan hệ biện chứng với rất nhiều hiện tượng xã hội khác trong đó quan trọngnhất là mối quan hệ với kinh tế, chính trị, pháp luật và với yếu tố văn hoá nóichung Bản chất của các mối quan hệ đó là sự tác động ảnh hưởng hai chiềugiữa văn hoá pháp lý và các hiện tượng nói trên và ngược lại Trong mục này,chúng tôi chỉ tập trung tìm hiểu sự ảnh hưởng của kinh tế, chính trị, văn hoánói chung và pháp luật đối với văn hoá pháp lý

Trang 25

1.2.1 Ảnh hưởng của kinh tế đối với sự hình thành và phát triển của văn hoá pháp lý

Kinh tế là một nhân tố quyết định kiến trúc thượng tầng xã hội và lànhân tố ảnh hưởng sâu sắc đến văn hoá pháp lý

Xuất phát từ cấu trúc của văn hoá pháp lý (ý thức pháp luật, hệ thốngpháp lụât, hành vi và lối sống theo pháp luật) chúng ta có thể thấy, kinh tế lànhân tố tác động trực tiếp và có tính quyết định đối với ý thức pháp luật và lốisống, thói quen tuân thủ pháp luật của con người trên lãnh thổ của một quốcgia Có thể thấy sự ảnh hưởng của kinh tế đối với văn hóa pháp lý một cách rõnét nhất ở sự tác động của kinh tế tới hệ thống pháp luật của mỗi quốc gia.Kinh tế là yếu tố chủ yếu quy định pháp luật Sự phụ thuộc của pháp luật vàokinh tế thể hiện ở chỗ: nội dung của pháp luật là do các quan hệ kinh tế quyếtđịnh, chế độ kinh tế là cơ sở của pháp luật Kinh tế có tác động quyết địnhđến chính sách pháp luật, đến hệ thống pháp luật và từ đó tác động rất lớn đếnhành vi, lối ứng xử theo pháp luật của các chủ thể trong xã hội

Từ vai trò của kinh tế, chúng ta có thể thấy rằng, một nền kinh tế năng động

sẽ là động lực để hình thành nên một đời sống pháp luật lành mạnh, hiệu quả và

từ đó sẽ góp phần hình thành những giá trị văn hóa pháp lý tiến bộ và ngược lại.Điều đó được minh chứng bằng lịch sử phát triển của xã hội Việt Nam Xã hộiViệt Nam trước đây là một xã hội trọng nông, ức thương trong một lịch sử hàngnghìn năm Tuy có những thời điểm đã có sự giao lưu thương mại với nướcngoài và đã tạo được những trung tâm thương mại, các thương cảng có vị thếtrong khu vực như Vân Đồn, Phố Hiến, Hội An, nhưng sau khi các thương nhânnước ngoài rút khỏi các thương cảng này do những chính sách của các triều đạiphong kiến thì các thương cảng này nhanh chóng bị tàn lụi và quay trở lại lànhững làng xã thuần nông mà không thể trở thành các đô thị như đã từng xảy ra

Trang 26

ở các nước phương Tây Một xã hội coi thường thương mại, xa lạ với chủ nghĩa

tự do cá nhân, chậm chạp trong khi tiếp nhận chủ nghĩa trọng thương có lẽ làmột trong những nguyên nhân cơ bản làm cho pháp luật Việt Nam kém pháttriển và gián tiếp kéo theo sự kém phát triển của các giá trị văn hóa pháp lý.Ngày nay, dưới chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa và một nền kinh tế thị trườngnăng động đang trên đà phát triển với tốc độ cao nhưng những hệ lụy của tưtưởng coi thường thương mại từ thời phong kiến ở một mức độ nào đó vẫn còntồn tại và tác động tiêu cực đến đời sống kinh tế – xã hội Việt Nam

Kinh tế không chỉ tác động có tính quyết định đến hệ thống pháp luật mà

nó còn tác động rất lớn đến ý thức pháp luật trong xã hội Trong một nước cónhiều giai cấp khác nhau thì thì luôn có hai loại ý thức pháp luật tồn tại - ýthức pháp luật chính thống và ý thức pháp luật của cộng đồng xã hội Ý thứcpháp luật chính thống là ý thức pháp luật của giai cấp thống trị, nó là một bộphận của hệ tư tưởng đại diện cho phương thức sản xuất chủ yếu và cho chế

độ kinh tế của quốc gia đó Một khi phương thức sản xuất, chế độ kinh tế củamột quốc gia thực sự tiến bộ thì ý thức pháp luật thống trị sẽ gần gũi với ýthức pháp luật của cộng đồng xã hội, với ý thức quốc gia, dân tộc, do đó nó sẽ

có được sự đồng thuận, ủng hộ từ phía cộng đồng và sẽ tạo điều kiện để thúcđẩy sự phát triển của xã hội Ngược lại, khi chế độ kinh tế đại diện chophương thức sản xuất đã trở nên lỗi thời thì ý thức pháp luật thống trị cũng sẽtrở nên lỗi thời, bảo thủ, phản động và do đó sẽ đối lập với ý thức pháp luậtcủa đa số các tầng lớp trong xã hội Khi đó, cùng với các nguyên nhân kinh tế– xã hội khác, giai cấp thống trị có thể sẽ bị lật đổ và bị thay thế bởi giai cấpkhác với những tư tưởng pháp luật tiến bộ hơn, đảm bảo cho sự hình thành vàphát triển không ngừng của các giá trị văn hóa pháp lý

Kinh tế còn có tác động lớn lao đến hành vi, lối sống, thói quen tuânthủ pháp luật của con người trong xã hội Đó là sự tác động đến hành vi

Trang 27

của những người làm việc trong các cơ quan công quyền, hành vi của côngdân trong đời sống sản xuất và sinh hoạt nói chung Chóng ta có thể thấy rõvai trò của kinh tế đối với hành vi, lối sống, thói quen tuân thủ pháp luậtcủa người dân từ chính thực tiễn xã hội Việt Nam trước những năm đổimới Với một nền kinh tế tiểu nông, đặc trưng là sản xuất nhỏ, lại được vậnhành bởi một cơ chế kế hoạch hóa, bao cấp thì hiển nhiên hệ thống phápluật, đặc biệt là dân luật sẽ không phát triển, người dân không có nhiều cơhội tiếp xúc với pháp luật, khi đó các quan hệ xã hội, các giao dịch chủ yếu

sẽ được điều chỉnh bằng những yếu tố khác như truyền thống, đạo đức, luậttục… Hệ quả của nó là dần dần tạo thành những thói quen không sử dụngpháp luật trong đời sống hàng ngày của công dân và tác động tiêu cực đến

sự tuân thủ pháp luật của họ “Buôn lậu là căn tính của xã hội nông

nghiệp” [100, tr.549] Cơ chế kinh tế kế hoạch hóa, tập trung, bao cấp còn

làm cho một bộ phận cán bộ, công chức nhà nước nhiễm thói quan liêu, cửaquyền, khi thực hiện nhiệm vụ, chức trách của mình không hoàn toàn dựatrên các quy định của pháp luật và lợi Ých của nhà nước Từ cơ chế “xin,cho” đã sinh ra nhiều căn bệnh nguy hiểm trong một bộ phận cán bộ, côngchức như tham nhũng, nhận hối lộ, lãng phí của công, hách dịch, cửa quyền,

… làm mất lòng tin của nhân dân đối với nhà nước và đối với pháp luật

1.2.2 Ảnh hưởng của chính trị đối với sự hình thành và phát triển của văn hóa pháp lý

Pháp luật của mỗi một quốc gia, về bản chất là hình thức biểu hiện củachính trị Đường lối, chính sách của giai cấp thống trị trong một quốc gia luônluôn giữ vai trò chủ đạo đối với pháp luật của quốc gia đó Và với vai trò của

nó, chính trị cũng tác động một cách mạnh mẽ đến sự hình thành và phát triểncác giá trị văn hóa pháp lý của mỗi quốc gia, mỗi dân tộc Chính trị trước hết,được hiểu là sự biểu hiện tập trung của kinh tế, vì vậy, đường lối chính trị thể

Trang 28

hiện trước hết ở chính sách kinh tế Các chính sách đó được cụ thể hóa thànhpháp luật, được áp dụng thống nhất trong toàn xã hội Chính trị còn là biểuhiện của mối quan hệ giữa các giai cấp, các lực lượng khác nhau trong xã hộitrên tất cả các lĩnh vực Giai cấp thống trị bằng quyền lực chính trị của mình

sử dụng pháp luật và các thiết chế xã hội khác để duy trì địa vị và lợi Ých,trong đó pháp luật được coi là vũ khí chủ yếu để duy trì địa vị thống trị đó.Xuất phát từ đó, chúng ta có thể thấy rằng chính trị thông qua pháp luật đãgián tiếp trở thành một trong những nhân tố quan trọng tác động đến sự hìnhthành và phát triển của các giá trị văn hóa pháp lý Sự tác động của chính trịđối với văn hóa pháp lý không chỉ bó hẹp trong phạm vi các quy định củapháp luật mà cả trong ý thức pháp luật và hành vi, lối ứng xử theo pháp luậtcủa cả cộng đồng xã hội

Tuy nhiên, khi nói đến sự tác động của chính trị đối với văn hóa pháp lýchóng ta cũng cần phải xem xét sự tác động đó diễn ra như thế nào Chính trịnào thì tác động tốt, tích cực, chính trị nào thì tác động xấu, tiêu cực đến vănhóa pháp lý

Một chế độ chính trị dân chủ hiện đại – chế độ dân chủ có tính nhânbản, quan tâm nhiều đến con người, đến quyền con người và sự phát triểnbền vững của xã hội tất yếu sẽ có những tác động tích cực làm giàu thêm cácgiá trị của văn hóa pháp lý Một chế độ chính trị dân chủ thực sự được biểuhiện bằng những nỗ lực cải thiện đời sống của các tầng lớp nhân dân, đặcbiệt là tầng lớp dân nghèo, bằng các chế độ chăm sóc y tế, chính sách pháttriển văn hóa, giáo dục, an sinh xã hội… Chế độ chính trị dân chủ sẽ tạo ra

sự độc lập trong hoạt động tư pháp, xây dựng một hệ thống pháp luật lànhmạnh, có hiệu quả, thực hiện bầu cử và cạnh tranh tù do, thường xuyêntrưng cầu dân ý, mở rộng truyền thông, tự do ngôn luận, tạo ra những điềukiện cần thiết để người dân tham gia một cách thực tế hơn vào các hoạt động

Trang 29

quản lý nhà nước Một chế độ chính trị như vậy sẽ giúp cho người dân cónhiều cơ hội để thực hiện quyền lực của mình, tạo điều kiện để họ tiếp cậnpháp luật, nâng cao ý thức pháp luật, tức là đã góp phần to lớn vào sự hìnhthành và phát triển của các giá trị văn hóa pháp lý Ngược lại, chế độ chínhtrị phi dân chủ hay dân chủ hình thức sẽ có những tác động tiêu cực đếnnhững giá trị của văn hóa pháp lý Chế độ chính trị phi dân chủ hay dân chủhình thức sẽ cho ra đời một hệ thống pháp luật chỉ bảo vệ lợi Ých của mộtnhóm người nhất định Hệ thống pháp luật phi nhân bản đó kết quả sẽ đưađến một đời sống pháp luật nghèo nàn, phi văn hóa.

Chế độ chính trị – xã hội ở nước ta hiện nay là chế độ dân chủ xã hội chủnghĩa, trong đó toàn bộ quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân (Điều 2 Hiếnpháp năm 1992) Pháp luật chính là công cụ để bảo vệ người dân và đảm bảo

để họ thực hiện quyền lực chính trị của mình Hệ thống pháp luật của nhànước ta đang được xây dựng và hoàn thiện không ngoài mục đích cao cả đó.Một chế độ chính trị dân chủ xã hội chủ nghĩa như ở nước ta đã có nhữngđóng góp không nhỏ vào sự hình thành và phát triển của một nền văn hóapháp lý Việt Nam tiến bộ, vì con người

1.2.3 Ảnh hưởng của văn hoá và đạo đức truyền thống dân tộc đối với sự hình thành và phát triển của văn hóa pháp lý

Pháp luật chính là sự phản ánh bản chất xã hội, đời sống tinh thần củacủa con người Pháp luật và văn hóa pháp lý chỉ là một phần của văn hóa nóichung, do đó sự tác động của văn hóa dân tộc đến sự hình thành và phát triểncủa văn hóa pháp lý là một điều tất yếu Sự tác động đó diễn ra ở bất kỳ mộtnền văn hóa nào, một quốc gia hay một dân tộc nào Có ý kiến cho rằng, sở dĩnước Mỹ có một nền pháp luật tiên tiến, người dân Mỹ có trình độ nhận thứcpháp luật cao là nhờ có sự phát triển của kinh tế - xã hội và những ảnh hưởngcủa văn hóa Mỹ là một quốc gia đa văn hóa, công dân Mỹ có nguồn gốc từ

Trang 30

khắp nơi trên thế giới, họ đến Mỹ mang theo mình những truyền thống vănhóa, tôn giáo, tín ngưỡng khác nhau nên trong quan hệ xã hội họ không bị chiphối bởi tình đồng hương, đồng tộc, đồng chí… mà chỉ tìm thấy một đạilượng chung duy nhất, đó là pháp luật Chính nhờ vậy mà pháp luật đã đi vàođời sống người Mỹ một cách tự nhiên, bám rễ sâu trong sinh hoạt của hàngngày của họ và hình thành nên những giá trị văn hóa Một ví dụ khác, trongthế giới đương đại, pháp luật và văn hóa pháp lý được coi là những biểu hiệncủa sự công bằng và mang tính nhân văn cao, thế nhưng ở các quốc gia Hồigiáo, các giá trị đó vẫn chưa được đảm bảo Nhân quyền, bình đẳng nam nữ bịpháp luật khước từ, và nguyên nhân cũng chính từ văn hóa, từ những quy địnhcủa giáo lý Hồi giáo Còn ở các quốc gia phương Đông, trong đó có Việt Namthì sao? Chóng ta có thể khẳng định rằng văn hóa truyền thống của các nướcphương Đông cũng có những ảnh hưởng to lớn đến pháp luật và sự hình thànhcác giá trị văn hóa pháp lý Tác giả Phạm Duy Nghĩa khi nghiên cứu mốiquan hệ giữa văn hóa và pháp luật đã nhận xét rằng:

Nếu như Thiên chúa giáo được coi là nền móng tạo nên vănminh pháp lý phương Tây, thì thuyết âm dương, ngũ hành, tínngưỡng thờ cúng tổ tiên, triết lý nhân quả, tình thương yêu đồngloại của đạo Phật và triết lý của Khổng giáo đã tạo nên nền móngcho văn minh pháp lý Việt Nam Thứ nền móng đó đã thấm sâutrong tâm thức người Việt Nam (…) Một đạo luật, mọi cải cáchnếu được xây dựng xung đột với những giá trị nền tảng đó sẽ khôngđược cộng đồng người Việt Nam chấp nhận và ủng hộ, và nó sẽ tựtiêu vong Lịch sử Việt Nam có nhiều minh chứng cho luận điểmnày [52, tr.118]

Ở Việt Nam, pháp luật và văn hóa pháp lý cũng chịu sự tác động to lớncủa văn hóa dân tộc Sự tác động đó cũng được diễn ra theo hai chiều - tíchcực và tiêu cực Văn hóa Việt Nam chính là sự kết tinh của những giá trị tốtđẹp, nhân văn của con người Việt Nam qua nhiều thế kỷ Những giá trị vật

Trang 31

chất và tinh thần đó tạo nên bản sắc của con người Việt Nam trong cộng đồngquốc tế Trong các giá trị truyền thống, nổi lên vị trí hành đầu được ngườiViệt Nam coi như chuẩn mực cao nhất của đạo lý dân tộc là tinh thần yêunước, ý thức dân tộc, ý chí tự lập, tự cường, truyền thống đoàn kết vì đại

nghĩa dân tộc Bên cạnh đó là truyền thống lao động cần cù, sáng tạo, tính

thích nghi và hội nhập để tồn tại và phát triển, lối ứng xử mềm mỏng, truyềnthống hiếu học, trọng học vấn, trọng nghĩa khí, tính cộng đồng, tương trợ,giúp đỡ lẫn nhau khi gặp khó khăn, hoạn nạn, tinh thần nhân ái, yêu côngbằng, yêu lẽ phải, ghét bạo lực, cường quyền… Những giá trị đó là nền tảngvăn hóa dân tộc, là cội nguồn đem lại những tư tưởng pháp lý tiến bộ, nhânvăn Điều đó đã được minh chứng trong cổ luật Việt Nam Pháp luật ViệtNam dưới các triều đại phong kiến, tuy là công cụ phục cho quyền lực củanhà vua và lợi Ých của giai cấp địa chủ phong kiến nhưng do ảnh hưởng củayếu tố văn hóa nên trong các văn bản pháp luật đó đã chứa đựng những giá trịhết sức tiến bộ, nhân văn như: tính công bằng; dân chủ; chống tham quan, ôlại, ức hiếp, sách nhiễu dân chúng {Thương anh tôi để trong lòng/Việc quantôi cứ phép công tôi làm (Lời quan- truyện nôm khuyết danh Phạm Tải –Ngọc Hoa), Chí dung kẻ gian, chí oan người ngay (tục ngữ), Pháp vị bất thân(cổ ngữ)…}, và đặc biệt có rất nhiều những quy định nhằm bảo vệ quyền conngười

- Văn hóa truyền thống Việt Nam còn chứa đựng một hệ thống nhữngchuẩn mực đạo đức hết sức phong phú và góp phần không nhỏ vào sự hìnhthành nhân cách con người Việt Nam Đạo đức và pháp luật là hai hiện tượng

có mối quan hệ tương hỗ, và chúng đều là những phương thức điều chỉnhhành vi của con người Thông qua các quy phạm do nhà nước ban hành, phápluật điều chỉnh hành vi của con người một cách bắt buộc, cưỡng chế để đảmbảo cho sự ổn định và phát triển của xã hội Vì vậy, người ta coi pháp luật làđạo đức tối thiểu, còn chuẩn mực đạo đức điều chỉnh hành vi con người mộtcách tự nguyện, tự giác theo lương tâm (và nhiều khi theo dư luận xã hội),

Trang 32

đạo đức được coi là pháp luật tối đa Các yếu tố đạo đức ở những mức độkhác nhau được thể hiện trong tất cả các quy phạm xã hội, đặc biệt là trongphong tục, tập quán, luật tục, hương ước…Dưới dạng phổ quát nhất, chúng ta

có thể hiểu đạo đức là tổng thể những nguyên tắc, những quan niệm và chuẩnmực xã hội về điều thiện, điều ác, về danh dự, lương tâm, lẽ công bằng, vinh,nhục…Ở đâu có con người thì ở đó có đạo đức, và con người luôn có nhu cầuhướng tới các giá trị đạo đức, hướng tới cái thiện, cái đẹp Chính vì vậy,chúng ta có thể nói rằng các chuẩn mực đạo đức có một vai trò rất lớn trongviệc hình thành các giá trị văn hóa pháp lý Một quốc gia, một dân tộc nếu cómột hệ thống các giá trị đạo đức phong phú, tiến bộ sẽ là nền tảng để phápluật dễ dàng đi vào cuộc sống, vào ý thức của người dân, từ đó người dân sẽ

có thói quen sống và làm việc theo hiến pháp và pháp luật Các giá trị đạo đứccàng phong phú, càng dễ dàng định hướng hoạt động của con người phù hợpvới pháp luật (hành vi hợp đạo đức rất hiếm khi trái pháp luật) Từ vai trò củađạo đức đối với pháp luật và văn hóa pháp lý, có thể thấy rằng việc nghiêncứu toàn bộ hệ thống giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc để từ đó chọnlọc những giá trị tốt đẹp, phù hợp với cuộc sống hiện đại, luật hóa chúng, biến

“lệ hay” thành “phép nước” là một điều hết sức cần thiết và điều đó cũngđồng nghĩa với việc thúc đẩy sự hình thành và phát triển của các giá trị vănhóa pháp lý

1.2.4 Ảnh hưởng của pháp luật đối với sự hình thành và phát triển của văn hóa pháp lý

Pháp luật tuy là một bộ phận cÊu thành của văn hóa pháp lý nhưng bảnthân nó cũng có những tác động rất lớn đến sự hình thành và phát triển củavăn hóa pháp lý Tác động của pháp luật rõ nhất, có thể nói là sự tác động lênhành vi, lối ứng xử của con người trong các quan hệ xã hội Một hệ thốngpháp luật tốt, công bằng, bảo vệ các quyền lợi của người dân sẽ có tác độngtích cực định hướng hành vi của họ Khi người dân thấy được tính ưu việt củapháp luật, thấy pháp luật có thể che chở, bảo vệ họ thì tất yếu sẽ đặt niềm tin

Trang 33

vào pháp luật và từ đó tự giác tuân thủ các quy định của pháp luật, đồng thờiđấu tranh ngăn chặn những hành vi vi phạm pháp luật của người khác.

Ngược lại, một hệ thống pháp luật không phù hợp với ý chí và nguyệnvọng của nhân dân và với thực tiễn thì sẽ đem lại những phản tác dụng, khi

đó thái độ của người dân đối với pháp luật sẽ là dửng dưng, coi thường vàthậm chí là phản kháng lại những quy định của pháp luật Một hệ thốngpháp luật như vậy nếu tồn tại lâu dài sẽ tạo ra những thói quen, lối sốngpháp luật phi văn hóa Người dân Việt Nam hiện nay được đánh giá là chưa

có thói quen tuân thủ pháp luật có lẽ cũng có phần tác động của thói quenphản kháng pháp luật hà khắc trong một thời gian dài dưới sự đô hộ củaphong kiến Trung Quốc và thực dân Pháp

1.3 NHỮNG ĐIỀU KIỆN ĐẢM BẢO CHO SỰ ỔN ĐỊNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA VĂN HÓA PHÁP LÝ Ở VIỆT NAM

Văn hóa pháp lý, như đã trình bày ở trên, có mối liên hệ với rất nhiềuhiện tượng xã hội khác nhau, và chịu sự tác động chi phối mạnh mẽ của cáchiện tượng xã hội đó Các hiện tượng xã hội như chính trị, kinh tế, văn hóa,pháp luật… không những chỉ tác động chi phối đối với văn hóa pháp lý màcòn là những đảm bảo cần thiết cho sự hình thành và phát triển của văn hóapháp lý Đảm bảo cần thiết, có nghĩa là thiếu sự vững mạnh của các yếu tố đóthì văn hóa pháp lý sẽ trở thành nghèo nàn, khó phát triển, và trong nhiềutrường hợp sẽ hình thành các giá trị phản văn hóa

Vậy, các yếu tố đảm bảo cho sự phát triển của văn hóa pháp lý được biểu hiệnnhư thế nào, phải đạt được những yêu cầu và trình độ phát triển nào để đảm bảo choviệc xây dựng một nền văn hóa pháp lý tiên tiến Sau đây là một số yếu tố được coi

là quan trọng nhất đảm bảo cho sự hình thành và phát triển của văn hóa pháp lý:

1.3.1 Những điều kiện đảm bảo về kinh tế

Pháp luật ra đời, tồn tại và phát triển dựa trên một cơ sở kinh tế nhấtđịnh, nó phản ánh trình độ phát triển của kinh tế Pháp luật không thể cao hơn

Trang 34

hoặc thấp hơn chế độ kinh tế, nó hoàn toàn phụ thuộc vào chế độ kinh tế Dovậy, một nền kinh tế phát triển, ổn định là điều kiện quan trọng bậc nhất bảođảm cho sự phát triển của pháp luật và văn hóa pháp lý Nếu kinh tế chậmphát triển, đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn thì sẽ ảnh hưởng không tốttới sự hình thành các giá trị của văn hóa pháp lý.

Một nền kinh tế phát triển, trước hết được đo bằng tốc độ tăng trưởngkinh tế hàng năm, tốc độ đó phải vừa cao vừa có tính ổn định Đời sống củangười dân phải được đảm bảo cả về mặt vật chất và tinh thần, không để xảy ratình trạng thiếu đói, giảm thiểu tỷ lệ hộ gia đình nghèo trong xã hội Chấtlượng cuộc sống được nâng cao, người dân được hưởng một môi trường sốngtốt, được sử dụng nước sạch, chăm sóc sức khỏe và các điều kiện dân sinhkhác… Bên cạnh đời sống vật chất thì trình độ văn hóa – giáo dục cũng làmột thước đo của nền kinh tế Một nền kinh tế phát triển, phải có một thiếtchế văn hóa – giáo dục hoàn thiện và đạt chất lượng cao, đáp ứng được phầnlớn nhu cầu học tập cũng như hưởng thụ văn hóa của người dân

Một nền kinh tế phát triển, đòi hỏi phải có một cơ sở hạ tầng tốt (điện,đường, trường, trạm…), đáp ứng được các nhu cầu sản xuất và sinh hoạt củanhân dân Cơ sở hạ tầng có vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển củakinh tế – xã hội, trong đó có cả ý thức xã hội và lối sống của con người.Chúng ta rất khó nhận thấy những tác động của điều kiện cơ sở hạ tầng đốivới sự phát triển của ý thức xã hội và lối sống, nhưng trong thực tế sự tácđộng đó là vô cùng quan trọng Ở nước ta, với nền kinh tế thị trường địnhhướng xã hội chủ nghĩa, bao gồm nhiều thành phần kinh tế, với các hìnhthức sản xuất, kinh doanh đa dạng dựa trên nhiều hình thức sở hữu đanxen, trong đó kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể ngày càng trở thành nềntảng, đã và đang phát triển tương đối toàn diện, với nhịp độ tăng trưởngkhá, đáp ứng ngày càng tốt hơn, đầy đủ hơn nhu cầu vật chất và tinh thần

Trang 35

của nhân dân và bước đầu đã tạo ra được những bảo đảm cần thiết cho sựphát triển của một nền văn hóa pháp lý tiên tiến.

1.3.2 Những điều kiện đảm bảo về chính trị

Chính trị cũng là một yếu tố quan trọng đảm bảo cho sự hình thành và

phát triển của các giá trị văn hóa pháp lý Sự đảm bảo của yếu tố chính trị đốivới văn hóa pháp lý được thể hiện qua các nội dung sau:

+ Chính trị ổn định sẽ là một đảm bảo tốt nhất cho sự ổn định tư tưởng,tâm lý của nhân dân và của toàn xã hội Khi đó người dân sẽ yên tâm làm ăn,sinh sống và các giá trị tốt đẹp của cuộc sống sẽ nảy sinh, trong đó có cả cácgiá trị văn hóa pháp lý Ngược lại, nếu chính trị không ổn định sẽ kéo theonhiều hậu quả tác hại đối với đời sống xã hội, như dân chủ, công bằng xã hội

bị chà đạp, an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội bị đe dọa, khủng hoảng vềtâm lý con người, tâm lý xã hội, lo sợ mất việc làm, đảo lộn cuộc sống…những hậu quả đó sẽ tác động xấu đến ý thức pháp luật nói riêng và văn hóapháp lý nói chung Hiện nay, trên thế giới có nhiều quốc gia lâm vào tìnhtrạng khủng hoảng toàn diện về kinh tế – xã hội có nguyên nhân từ sự không

ổn định của chính trị

+ Một hệ thống chính trị được tổ chức hợp lý, hoạt động có hiệu quả,bên cạnh việc thúc đẩy kinh tế phát triển sẽ tạo ra những bảo đảm chắcchắn cho sự hình thành và phát triển của văn hóa pháp lý Hệ thống chínhtrị được tổ chức tốt phải đảm bảo tính đồng bộ, và có cơ chế phối hợp tốtgiữa các cơ quan trong toàn hệ thống Trong điều kiện phát triển của xã hộingày nay, hệ thống chính trị còn cần thiết đạt tới sự gọn nhẹ, năng động và

có hiệu quả Hoạt động của hệ thống chính trị là hoạt động chủ yếu để quản

lý, điều hành nền kinh tế và đảm bảo trật tự xã hội Do đó, hiệu quả hoạtđộng của hệ thống chính trị đuợc đo bằng năng lực thực tiễn của tất cả cácthành viên trong hệ thống, từ việc ban hành đường lối, chính sách, xâydựng pháp luật và thực hiện chúng trong thực tế Hoạt động của hệ thốngchính trị có hiệu quả sẽ thúc đẩy kinh tế phát triển, đời sống nhân dân được

Trang 36

nâng lên, các quyền và lợi Ých hợp pháp của họ được pháp luật bảo vệ, khi

đó niềm tin của nhân dân vào chế độ, vào nhà nước, pháp luật sẽ khôngngừng được củng cố, đó chính là những đảm bảo cần thiết cho sự hình thành

và phát triển của các giá trị văn hóa pháp lý tiên tiến

+ Bảo đảm của điều kiện chính trị đối với sự phát triển của văn hóa pháp

lý còn được biểu hiện qua năng lực của cá nhân chính trị, đó là những người

được cử những trọng trách trong các cơ quan nhà nước, các tổ chức chính trị –

xã hội Những cá nhân này nếu có năng lực thực sự, công tâm, có đạo đứctrong sáng, tận tụy vì công việc, giải quyết công việc trên cơ sở triệt để tuânthủ hiến pháp và pháp luật sẽ tạo nên những mô hình nhân cách văn hóa pháp

lý để giáo dục cho toàn thể nhân dân

Các yếu tố như hệ tư tưởng chính trị, hệ thống chính trị, cá nhân chính trị

có mối quan hệ biện chứng và trong sự thống nhất không thể phân chia Vìvậy, để có một chế độ chính trị tốt, dân chủ, thực sự vì nhân dân đảm bảo cho

sự phát triển của đời sống kinh tế – xã hội nói chung và sự phát triển của vănhóa pháp lý nói riêng, đòi hỏi các yếu tố nêu trên phải không ngừng được đổimới hoàn thiện vì mục đích cuối cùng là phục vụ nhân dân

Chế độ chính trị của nước ta được hình thành từ cách mạng tháng Támnăm 1945 và thực hiện một mục tiêu nhất quán là xây xựng một nước ViệtNam dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Hệ thốngchính trị của chúng ta đang được nỗ lực đổi mới và hoàn thiện để phù hợp vớitình hình phát triển đất nước Phần lớn cán bộ, đảng viên, công chức nhà nước

là những người có phẩm chất chính trị tốt, đạo đức trong sáng, tận tụy trongcông việc Tất cả những yếu tố đó, bước đầu đã tạo ra những bảo đảm cần thiếtcho sự nghiệp xây dựng một nền văn hóa pháp lý tiên tiến ở nước ta hiện nay

1.3.3 Những điều kiện đảm bảo về văn hóa nói chung

Xét về bản chất, pháp luật không chỉ mang tính giai cấp, tính chính trị

mà còn mang tính xã hội, do đó trình độ phát triển của văn hóa có tác độngrất lớn đối với pháp luật và văn hóa pháp lý Các giá trị văn hóa truyền

Trang 37

thống như phong tục, tập quán, đạo đức và những quy phạm xã hội khác trởthành những bảo đảm cần thiết cho sự hình thành và phát triển của các giátrị văn hóa pháp lý.

Các giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp như tinh thần yêu nước, ý thứcdân tộc, ý chí tự lập, tự cường, truyền thống đoàn kết vì đại nghĩa dân tộc, yêucông bằng, yêu lẽ phải,…chính là mảnh đất màu mỡ để cho văn hóa pháp lýnảy nở và phát triển Bên cạnh đó, các quy phạm xã hội như hương ước, luậttục,… cũng góp phần không nhỏ định hướng hành vi của con người Tronglịch sử nước nhà, hương ước hay khoán ước, khoán lệ đã từng tồn tại dướidạng luật tục của các làng xã người Việt và đã đóng góp không nhỏ duy trìtrật tự kỷ cương ở địa phương và rộng hơn là duy trì trật tự kỷ cương trongtoàn xã hội Tuy có một số hạn chế nhưng nhìn chung, hương ước đã để lạinhiều di sản quý giá về mặt văn hóa pháp lý mà ngày nay chóng ta đang kếthừa và phát huy dưới dạng quy ước làng, xã, cụm dân cư Có thể kể ra một sốyếu tố tích cực của hương ước như: bảo vệ và phát triển sản xuất; bảo vệ trật

tự, an ninh làng xã; phát triển văn hóa giáo dục; bảo vệ thuần phong, mỹ tục;phát huy tinh thần tương trợ hợp tác, giúp đỡ lẫn nhau…

Do đặc điểm là một quốc gia đa dân tộc (54 dân tộc anh em) nên lịch sửđất nước ta cũng chứng kiến sự ra đời và tồn tại của rất nhiều bản luật tục củacác dân tộc trên địa bàn cả nước Theo kết quả sưu tầm, thống kê của các nhàdân tộc học, hiện nay nước ta có những bản luật tục tiêu biểu sau: Luật tục Ê

đê, Luật tục M’nông, Luật tục Thái, Luật tục Giarai, Luật tục Chăm, Luậttục Mạ, Luật tục Koho, Luật tục Xtiêng, Luật tục Raglai…những luật tụctrên có thể là thành văn hay không thành văn nhưng chúng đều là sản phÈmsáng tạo của con người Việt Nam, phản ánh giá trị văn hóa và trình độ pháttriển sản xuất của các tộc người Việt Nam trong lịch sử Trong các bản luậttục đó đều hàm chứa những giá trị nhân văn, toát lên tinh thần gắn bó cộngđồng, dân chủ, bình đẳng…Bên cạnh những nét nổi bật về nội dung thì hìnhthức biểu hiện của một số bản luật tục cũng được đánh giá đã đạt đến mộttrình độ cao Ví dụ, luật tục được văn bản hóa của người Thái đã mang

Trang 38

phong cách thể hiện khác với luật tục của các dân tộc khác, ngắn gọn, rõràng, khúc chiết và mang tính luật cao hơn tính tục lệ, phong tục Và đặc biệt

là, có nhiều luật tục vẫn còn tác dụng trong quản lý xã hội của các tộc ngườiViệt Nam cho đến tận ngày nay

Các dạng quy phạm xã hội tuy chỉ có hiệu lực trong từng cộng đồng nhỏ

bé, những vùng lãnh thổ nhất định, nhưng chúng đã và đang đóng góp tíchcực cho sự ổn định và phát triển của xã hội, góp phần hình thành và phát triểncủa văn hóa pháp lý

Trong sự phát triển năng động của nền kinh tế thị trường nước ta hiệnnay, lợi nhuận của con người thu được ngày càng tăng lên, các yếu tố kháccủa đời sống xã hội cũng dần dần được củng cố và nâng cao Tuy nhiên,mặt trái của nền kinh tế thị trường cũng đang làm đảo lộn những chuẩnmực xã hội, những chuẩn mực mà con người Việt Nam không ngừng vunđắp qua hàng ngàn đời nay Trong bối cảnh đó thì những giá trị văn hóatruyền thống tốt đẹp đang được coi như “liều thuốc kháng sinh” hạn chế táchại của mặt trái kinh tế thị trường, đảm bảo cho sự phát triển bền vững củađất nước, trong đó có sự phát triển của văn hóa pháp lý

Người Việt Nam chóng ta có quan niệm về “đạo làm người” và “lẽ ởđời”, đó chính là những chuẩn mực văn hóa được hình thành từ trong cuộcsống cộng đồng, là kết quả của kinh nghiệm sống và đấu tranh để tồn tại

và phát triển Người Việt Nam ngày nay, trước những đòi hỏi của thời đạiphải có trách nhiệm nỗ lực vun đắp những giá trị mới làm giàu thêm chobản sắc, cho nhân cách của mình Truyền thống văn hóa tốt đẹp của dântộc chính là những bảo đảm chắc chắn nhất cho sự thành công của tráchnhiệm nặng nề đó Văn hóa pháp lý khi đó sẽ trở thành một trong nhữngnét đẹp của diện mạo con người Việt Nam hiện đại

1.3.4 Những điều kiện đảm bảo về pháp luật

Hệ thống pháp luật hoàn thiện đạt được các tiêu chuẩn toàn diện, đồng

bé, khoa học, thực tiễn, đáp ứng được những yêu cầu của cuộc sống đang đặt

Trang 39

ra góp phần quan trọng vào sự hình thành và phát triển của văn hóa pháp lý.Tính toàn diện của hệ thống pháp luật phải được thể hiện ở chỗ trong hệthống pháp luật có đầy đủ các ngành luật để điều chỉnh các lĩnh vực quan hệ

xã hội cơ bản; trong mỗi ngành luật có đầy đủ các chế định để điều chỉnhcác nhóm quan hệ xã hội có nội dung và tính chất đồng nhất thuộc đối tượngđiều chỉnh của ngành luật có chế định luật Êy; trong mỗi chế định luật lại cóđầy đủ các quy phạm pháp luật để điều chỉnh các quan hệ xã hội thuộc đốitượng điều chỉnh của chế định luật Êy Tính đồng bộ của hệ thống pháp luậtthể hiện: không có sự mâu thuẫn, chồng chéo giữ các ngành luật trong hệthống pháp luật, giữa các chế định luật trong cùng một ngành luật, giữa cácquy phạm pháp luật trong một chế định luật và giữa các văn bản quy phạmpháp luật với nhau; có sự sắp xếp, bố trí hợp lý, khoa học giữa các ngànhluật trong hệ thống pháp luật, giữa các chế định luật trong một ngành luật,giữa các quy phạm pháp luật trong một chế định luật và giữa các văn bảnquy phạm pháp luật trong hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật Hệthống pháp luật mang tính khoa học khi nó được xây dựng, hoàn thiện trên

cơ sở lý luận và thực tiễn; trên những thành tựu mới nhất của khoa học, đặcbiệt là khoa học pháp lý ở trong và ngoài nước và với kỹ thuật xây dựng cao.Tính thực tiễn của hệ thống pháp luật được thể hiện ở chỗ: hệ thống phápluật được xây dựng, hoàn thiện phù hợp với nhu cầu mang tính khách quancủa thực tiễn, có khả năng giải quyết được những vấn đề mà thực tiễn đặt ra

và trong một mức độ nhất định còn có khả năng giải quyết cả những vấn đềmới sẽ nảy sinh trong một tương lai gần

Hệ thống pháp luật hoàn thiện như vậy sẽ bảo đảm duy trì, phát triển ổnđịnh, bền vững và phát huy cao độ của chính nó và các yếu tố khác của văn hóapháp lý là ý thức pháp luật, hành vi theo pháp luật và lối sống theo pháp luật

Trang 40

Chương 2

XÂY DỰNG VĂN HOÁ PHÁP LÝ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

2.1 THỰC TRẠNG VĂN HOÁ PHÁP LÝ VIỆT NAM HIỆN NAY

2.1.1 Thực trạng ý thức pháp luật

2.1.1.1 Ý thức pháp luật của cán bộ, công chức

- Thực trạng nhận thức pháp luật của cán bộ, công chức Hiểu biết pháp

luật không phải là điều kiện duy nhất, nhưng là điều kiện quan trọng nhất để

có thái độ đúng đắn đối với với pháp luật Có được sự hiểu biết pháp luật mộtcách toàn diện, đầy đủ chủ yếu thông qua việc đào tạo tại các trường đại học,cao đẳng và trung học pháp lý Do đặc điểm của quá trình hình thành đội ngũcán bộ, công chức ở nước ta hiện nay thì kiến thức pháp luật của họ được tíchlũy chủ yếu cũng thông qua học tập ở nhiều loại trường, lớp khác nhau nhưcác trường chuyên nghiệp, trường chính trị, trường hành chính…, và phần lớn

là qua kinh nghiệm thực tiễn công tác Vì vậy, việc đánh giá tình hình hiểubiết pháp luật của cán bộ, công chức không thể không tính tới trình độ họcvấn văn hóa, chuyên môn nghiệp vụ và kinh nghiệm công tác của họ

Trong những năm đổi mới vừa qua, với chủ trương từng bước tiêuchuẩn hóa đội ngũ cán bộ, công chức, việc đào tạo kiến thức về mọi mặt chocán bộ, công chức được Đảng, nhà nước và xã hội quan tâm nhiều hơn Độingũ cán bộ, công chức đã được đào tạo kiến thức nghiệp vụ chuyên sâu vàkiến thức pháp luật một cách bài bản hơn, thường xuyên hơn So với địaphương, cơ sở thì trình độ học vấn của cán bộ, công chức ở trung ương đượcnâng cao hơn, đó là điều kiện tốt cho việc tham mưu hoạch định chính sách

và xây dựng pháp luật của nhà nước Tuy nhiên, sự chênh lệch quá mức vềtrình độ học vấn của cán bộ, công chức trong các cấp của cơ quan nhà nước,đặc biệt là giữa cơ quan trung ương và cơ quan địa phương, giữa tỉnh, huyệnvới cơ sở, giữa cán bộ vùng đồng bằng, thành thị với cán bộ vùng sâu, vùng

Ngày đăng: 18/11/2014, 11:49

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đào Duy Anh (2002), Việt Nam văn hóa sử cương, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam văn hóa sử cương
Tác giả: Đào Duy Anh
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 2002
2. Báo cáo chính trị của BCH Trung ương Đảng khóa VII tại Đại hội VIII của Đảng (1996), "Tăng cường pháp chế XHCN, xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam, quản lý xã hội bằng pháp luật", Tạp chí Nhà nước và pháp luật, (4) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tăng cường pháp chế XHCN, xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam, quản lý xã hội bằng pháp luật
Tác giả: Báo cáo chính trị của BCH Trung ương Đảng khóa VII tại Đại hội VIII của Đảng
Năm: 1996
3. “Báo cáo tổng kết tình hình chống tội phạm kinh tế, tham nhòng giai đoạn 1993 – 2004 của Bộ Công an” (2005). Báo Gia đình và xã hội (93) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết tình hình chống tội phạm kinh tế, tham nhòng giai đoạn 1993 – 2004 của Bộ Công an
Nhà XB: Báo Gia đình và xã hội
Năm: 2005
6. Trần Bình (2001), "Luật tục và việc quản lý làng bản của người Dao ở Việt Nam", Tạp chí Luật học, (3) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật tục và việc quản lý làng bản của người Dao ở Việt Nam
Tác giả: Trần Bình
Năm: 2001
7. Nguyễn Đăng Dung (1997), "Vấn đề dân chủ trong Nhà nước và pháp luật thế giới", Tạp chí Nhà nước và pháp luật, (7) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề dân chủ trong Nhà nước và pháp luật thế giới
Tác giả: Nguyễn Đăng Dung
Nhà XB: Tạp chí Nhà nước và pháp luật
Năm: 1997
8. Nguyễn Đăng Dung (1998), "Dân chủ làng xã - Những vấn đề cần phải đặt ra nghiên cứu", Tạp chí Nhà nước và pháp luật, (6) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dân chủ làng xã - Những vấn đề cần phải đặt ra nghiên cứu
Tác giả: Nguyễn Đăng Dung
Nhà XB: Tạp chí Nhà nước và pháp luật
Năm: 1998
9. Vò Kim Dung (2003), "Vài nét ảnh hưởng tư tưởng pháp trị của Hàn Phi trong lịch sử Việt Nam", Tạp chí Luật học, (3) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vài nét ảnh hưởng tư tưởng pháp trị của Hàn Phi trong lịch sử Việt Nam
Tác giả: Vò Kim Dung
Năm: 2003
10. Thành Duy (1995), "Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh và mối quan hệ giữa đạo đức và pháp luật, đạo đức và lợi Ých công dân", Tạp chí Quản lý nhà nước, (3) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh và mối quan hệ giữa đạo đức và pháp luật, đạo đức và lợi Ých công dân
Tác giả: Thành Duy
Năm: 1995
11. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2001
12. Nguyễn Ngọc Đào (1996), "Những giá trị của dân luật Việt Nam nhìn từ truyền thống và các chuẩn mực pháp lý", Tạp chí Luật học, (5) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những giá trị của dân luật Việt Nam nhìn từ truyền thống và các chuẩn mực pháp lý
Tác giả: Nguyễn Ngọc Đào
Nhà XB: Tạp chí Luật học
Năm: 1996
13. Nguyễn Ngọc Đào (2001), "Con người trong mối quan hệ giữa luân lý, giáo lý và pháp lý", Tạp chí Luật học, (1) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Con người trong mối quan hệ giữa luân lý, giáo lý và pháp lý
Tác giả: Nguyễn Ngọc Đào
Nhà XB: Tạp chí Luật học
Năm: 2001
14. Hà Đăng (1996), "Phát huy truyền thống và bản lĩnh dân tộc trong giao lưu văn hóa với nước ngoài", Tạp chí Cộng sản, (2) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát huy truyền thống và bản lĩnh dân tộc trong giao lưu văn hóa với nước ngoài
Tác giả: Hà Đăng
Năm: 1996
15. Bùi Xuân Đính (1995), "Những đặc điểm chính của lệ làng trong lịch sử quản lý làng xã ở Việt Nam", Tạp chí Quản lý nhà nước, (1) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những đặc điểm chính của lệ làng trong lịch sử quản lý làng xã ở Việt Nam
Tác giả: Bùi Xuân Đính
Năm: 1995
16. Bùi Xuân Đính (1997), "Phép khảo công với việc xây dựng đội ngũ quan lại trông coi pháp luật thời phong kiến", Tạp chí Luật học, (5) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phép khảo công với việc xây dựng đội ngũ quan lại trông coi pháp luật thời phong kiến
Tác giả: Bùi Xuân Đính
Năm: 1997
17. Nguyễn Minh Đoan (1997), "Giải thích pháp luật - đôi điều suy nghĩ", Tạp chí Luật học, (4) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải thích pháp luật - đôi điều suy nghĩ
Tác giả: Nguyễn Minh Đoan
Năm: 1997
19. Phạm Văn Đồng, Văn hóa và đổi mới tác phẩm và bình luận. Nxb Văn hóa thông tin. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa và đổi mới tác phẩm và bình luận
Tác giả: Phạm Văn Đồng
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
20. Nguyễn Văn Động (1992), “Vấn đề nhà nước pháp quyền”, Tạp chí Cộng sản (2), tr. 22 – 25 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề nhà nước pháp quyền”, "Tạp chí Cộng sản
Tác giả: Nguyễn Văn Động
Năm: 1992
21. Nguyễn Văn Động (1996), “Học thuyết nhà nước pháp quyền: lịch sử và hiện tại”, Tạp chí Luật học (4), tr.19- 23 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Học thuyết nhà nước pháp quyền: lịch sử và hiện tại”, "Tạp chí Luật học
Tác giả: Nguyễn Văn Động
Năm: 1996
22. Nguyễn Văn Động (2003), “Một số nhận thức về các biện pháp pháp lý chủ yếu nhằm hình thành và nâng cao ý thức pháp luật ở nước ta hiện nay, Tạp chí Dân chủ và pháp luật (12), tr. 4-6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số nhận thức về các biện pháp pháp lý chủ yếu nhằm hình thành và nâng cao ý thức pháp luật ở nước ta hiện nay, "Tạp chí Dân chủ và pháp luật
Tác giả: Nguyễn Văn Động
Năm: 2003
23. Sigmund Freud (2000), Nguồn gốc của văn hóa và tôn giáo.Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguồn gốc của văn hóa và tôn giáo
Tác giả: Sigmund Freud
Nhà XB: Nxb Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 2000

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w