1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

nghiên cứu ảnh hưởng của biến động tỷ giá đến kinh doanh ngoại tệ

19 355 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 127,68 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mở đầu:Cùng với hậu quả của cuộc khủng hoảng tài chính 2008, thị trường ngoại hối Việt Nam trong năm 2010 có rất nhiều biến động mà vấn đề gần đây nhất là căng thẳng do thiếu cung ngoại

Trang 1

Mục lục

I Mở đầu:

II Nội dung:

1 Khái quát hoạt động kinh doanh ngoại tệ của các ngân hàng thương mại: 1.1 Khái niệm

1.2 Các nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ chủ yếu

2 Hoạt động kinh doanh ngoại tệ của các ngân hàng thương mại hiện nay: 2.1 Tình hình hoạt động trong thời gian qua

2.2 Đánh giá kết quả hoạt động

3 Rủi ro trong kinh doanh ngoại tệ:

3.1 Rủi ro do biến động tỷ giá

3.2 Rủi ro tín dụng

3.3 Rủi ro thanh toán

4 Giải pháp thúc đẩy hoạt động kinh doanh ngoại tệ của các ngân hàng thương mại

5 Triển vọng kinh doanh ngoại tệ của các ngân hàng thương mại năm 2011

III Kết luận

Trang 2

I Mở đầu:

Cùng với hậu quả của cuộc khủng hoảng tài chính 2008, thị trường ngoại hối Việt Nam trong năm 2010 có rất nhiều biến động mà vấn đề gần đây nhất là căng thẳng do thiếu cung ngoại tệ trong khi cầu ngoại tệ rất lớn (chủ yếu là nhu cầu của các doanh nghiệp xuất nhập khẩu thanh toán cuối năm, nhu cầu chuyển đổi ngoại tệ để chuyển lợi nhuận về nước của các nhà đầu tư nước ngoài) Từ đầu năm đến nay, các ngân hàng thương đều niêm ye62t tỷ giá ở mức giá cao nhất mà Ngân hàng Nhà nước cho phép Tuy nhiên Mức giá này có khoảng các khá xa so với mức gia1 trên thị trường tự do Do đó các ngân hàng khó thu hút được cac nguồn ngoại tệ từ thị trường tự do dẫn đến các doanh nghiệp vẫn tiếp tục tìm kiếm nguồn ngoại tệ trên thị trường này

Trong khi thị trường tài chính Việt Nam đang diễn biến phức tạp thì hoạt đọng kinh doanh cùa các ngân hàng trong nước cũng gặp rất nhiều khó khăn Kinh doanh trong lĩnh vực ngân hàng là loại hình kinh doanh đặc biệt, tiềm ẩn nhiều rủi ro, nhất là trong lĩnh vực kinh doanh ngoại hối Ngoài các rủi ro thông thường mà các hoạt động khác cũng phải đối mặt như rủi ro lãi suất, rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản, rủi ro kỹ thuật, rủi ro pháp lý, rủi ro quốc gia…thì kinh doanh ngoại hối còn chịu thêm một rủi ro đặc biệt, đó là rủi ro tỷ giá Do tỷ giá biến động thường xuyên và vô lối, nên rủi ro tỷ giá được xem là rủi ro thường trực gắn liền và trở thành rủi ro đặc trưng của hoạt động kinh doanh ngoại hối của các ngân hàng Vì vậy, việc nghiên cứu ảnh hưởng của biến động tỷ giá đến kinh doanh ngoại tệ là hết sức cần thiết và qua đó ta có thể tìm ra một số biện pháp hữu hiệu để phòng ngừa và hạn chế rủi ro tỷ giá

Trang 3

II.Nội dung:

1 Khái quát hoạt động kinh doanh ngoại tệ của các ngân hàng thương mại.

1.1 Khái niệm:

Mua bán ngoại tệ là một trong nhiều hoạt động kinh doanh của ngân hàng Hoạt động này cũng đem lại một phần thu nhập đáng kể cho các ngân hàng Mục đích chính của hoạt động này là nhằm đáp ứng nhu cầu mua bán ngoại tệ của khách hàng một cách nhanh chóng và thuận lợi nhất, từ đó nâng cao chất lượng phục vụ và uy tín cho ngân hàng

Nhìn chung, các ngân hàng thương mại (NHTM) mua bán ngoại tệ trên thị trường ngoại hối (TTNH) trong nước lẫn thị trường ngoại hối quốc tế Trên thị trường ngoại hối trong nước, các NHTM mua bán ngoại tệ với đối tác chính là các doanh nghiệp xuất nhập khẩu, tiếp đến là các NHTM khác trên thị trường liên ngân hàng Ngoài ra, NHTM còn mua bán ngoại tện với ngân hàng Nhà nước (NHNN) nhằm đảm bảo nguồn cung ngoại tệ và thanh khoản Trên thị trường ngoại hối quốc tế, các NHTM trong nước ngày càng mở rộng hoạt động kinh doanh với nhiều ngân hàng lớn trên thế giới, từng bước hội nhập với thị trường tài chính khu vực và thế giới

1.2 Các nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ chủ yếu

1.2.1 Nghiệp vụ mua bán ngoại tệ giao ngay (spot transactions):

Nghiệp vụ mua bán giao ngay là nghiệp vụ mua bán ngoại tệ mà việc chuyển giao ngoại tệ được thực hiện ngay hay chậm nhất là trong vòng hai ngày làm việc kể từ khi hợp đồng mua bán ngoại tệ được ký kết trên cở sở tỷ giá giao ngay

Tỷ giá giao ngay là tỷ giá do tổ chức tín dụng yết giá tại thời điểm giao dịch hoặc do hai bên thỏa thuận nhưng phải đảm bảo trong biên độ quy định hiện hành của NHNN1

1.2.2 Nghiệp vụ mua bán ngoại tệ kỳ hạn (forward):

Nghiệp vụ mua bán ngoại tệ kỳ hạn là nghiệp vụ mua bán ngoại tệ mà việc chuyển giao ngoại tệ được thực hiện sau một thời gian nhất định kể từ khi thỏa thuận hợp đồng Mục đích của giao dịch này là nhằm phòng ngừa rủi ro biến động thất thường của tỷ giá đồng thời tính toán trước được hiệu quả kinh tế

Tỷ giá trên thị trường có kỳ hạn được xác định căn cứ trên cung và cầu của ngoại tệ, được xác định ngay khi thỏa thuận , dựa vào tỷ giá giao ngay về các đồng tiền đó trừ đi hay cộng thêm vào phần chênh lệch giữa lãi đi vay phải trả và lãi cho vay sẽ nhận được trên số ngày cụ thể của kỳ hạn

1.2.3 Nghiệp vụ mua bán ngoại tệ tương lai (future):

Nghiệp vụ mua bán ngoại tệ tương lai (giao sau) là nghiệp vụ mua bán ngoại tệ kỳ hạn nhưng được chuẩn hóa về loại ngoại tên giao dịch, doanh số giao dịch và ngày giao dịch Ngoài ra, giao dịch giao sau được thực hiện tập trung

1 Quyết định số 17/1998/QĐ-NHNN7 ngày 10 tháng 1 năm 1998 của Thống đốc NHNN Việt Nam.

Trang 4

thông qua môi giới trên sàn giao dịch trong khi giao dịch kỳ hạn được thực hiện dựa trên sự thõa thuận trực tiếp giữa hai bên

1.2.4 Nghiệp vụ mua bán ngoại tệ hoán đổi (swaps):

Nghiệp vụ mua bán ngoại tệ hoán đổi là một nghiệp vụ kết hợp đồng thời giữa các giao dịch mua (bán) ngoại tệ giao ngay với các giao dịch bán (mua) ngoại tệ có kỳ hạn cho cùng một khoản ngoại tệ nhất định, trong đó kỳ hạn thanh toán của hai giao dịch khác nhau và tỷ giá của hai giao dịch được xác định tại thời điểm ký hợp đồng

1.2.5 Nghiệp vụ mua bán ngoại tệ quyền chọn (options):

Quyền chọn là hợp đồng cho phép người mua quyền nhưng không bắc buộc, được mua (call) hay bán (put) một công cụ tài chính khác ở một mức giá xác định trong một thời gian xác định trước

Hợp đồng quyền chọn cho phép người mua quyền giới hạn tối đa thiệt hại của mình nếu tỷ giá không tăng như dự đoán Nhưng đối với người bán thì không giới hạn được tổn thất nếu xảy ra rủi ro về tỷ giá

2 Rủi ro trong kinh doanh ngoại tệ:

2.1 Một số loại rủi ro trong kinh doanh ngoại tệ:

Rủi ro biến động tỷ giá là rủi ro xảy ra khi các giao dịch kinh tế được thực hiện bằng ngoại tệ và tỷ giá hối đoái biến động theo hướng làm cho đồng nội

tệ bị mất giá Với những doanh nghiệp sử dụng nhiều ngoại tệ, khi tỷ giá hối đoái tăng, số lỗ về tỷ giá có thể làm giảm đáng kể, thậm chí là triệt tiêu toàn bộ lợi nhuận thu được trong kinh doanh Đây là rủi ro bất khả kháng của các doanh nghiệp trong một nền kinh tế nhập siêu với tỷ lệ lớn

Rủi ro tín dụng quốc tế là rủi ro xuất hiện khi bên đối tác không thực hiện trách nhiệm Rủi ro tín dụng quốc tế gồm có rủi ro thực hiện và rủi ro thanh toán (đối tác không thực hiện trách nhiệm khi đến hạn thanh toán) Do sự chênh lệch về thời gian thanh toán giữa các đồng tiền nên các ngân hàng khó kiểm soát được khoản tiền khách hàng đã vào tài khoản của mình hay chưa Trong khi đó, ngân hàng đã phải chuyển tiền cho khách hàng theo như hợp đồng đã thoả thuận

Rủi ro tài chính là rủi ro khi trạng thái ngoại tệ không cân bằng thì rủi ro này xuất hiện Trong trường hợp, trạng thái ngoại tệ cân bằng nhưng khác nhau về thời gian thì rủi ro tỷ lệ Swap xảy ra Nhu cầu khách hàng rất đa dạng và phong phú, khách hàng cần loại ngoại tệ khác nhau, thời gian mua bán khác nhau nên rủi

ro này thường xảy ra Đôi khi, rủi ro xảy ra chỉ vì tại thời điểm giao dịch của khách hàng, các đối tác của NH không giao dịch vì thế NH phải tự yết giá cho khách hàng Khi tỷ giá thay đổi, mua hay bán các đồng ngoại tệ đều sẽ bộc lộ rủi

ro ngoại tệ Rủi ro tài chính là rủi ro dẫn đến tổn thất do thị trường tài chính mang lại như rủi ro về lãi suất, tỷ giá, rủi ro về biến động giá chứng khoán, rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản Trừ rủi ro kinh doanh là bất khả kháng, rủi ro về tài chính thường được kiểm soát chặt chẽ để hạn chế rủi ro phát sinh từ hoạt động kinh doanh do chính ngân hàng không phòng ngừa

2.2 Phương pháp hạn chế rủi ro trong kinh doanh ngoại tệ:

Trang 5

2.2.1 Đẩy mạnh thực hiện nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ:

Các công cụ phái sinh đang ngày càng phổ biến và sự phổ biến này xuất phát từ tính linh hoạt và mềm dẻo của nó so với các công cụ khác Lợi nhuận của những công cụ này được hình thành từ chính giá của những sản phẩm mà nó điều chỉnh

Chính vì thế, lợi ích của các công cụ phái sinh luôn được các nhà đầu tư chứng khoán khai thác triệt để nhằm tránh các khoản thua lỗ do sự biến động của giá cả Một cách đơn giản, với việc mua các công cụ phái sinh, các nhà đầu tư đang đánh cược rằng thị trường sẽ biến động theo chiều hướng ngược lại Từ đó, các nhà đầu

tư vừa có được lợi nhuận nếu tỷ giá lên cao, vừa đảm bảo sẽ không thua lỗ trong trường hợp tỷ giá xuống

2.2.2 Cần đa dạng hóa các loại tiền tệ:

Đa dạng hóa tiền tệ cũng là cách phòng tránh rủi ro trong hoạt động KDNT Đầu cơ chỉ một loại ngoại tệ với một số lượng quá lớn có thể sẽ đem lại lợi nhuận rất lớn nếu đi đúng với xu hướng biến động của tỷ giá Bên cạnh đó, tiềm ẩn một rủi ro rất lớn và cũng sẽ không lường hết hậu quả Người ta nói

“không nên để tất cả quả trứng trong cùng một rổ” quả thật không sai

2.2.3 Xây dựng chiến lược kinh doanh trong từng giai đoạn cụ thể:

Ngày nay bất cứ ngân hàng nào cũng có chiến lược kinh doanh cụ thể trong một giai đoạn nhất định Do dó nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ cũng cần có hoạch định chiến lược rõ ràng kể cả thị trường ngoài nước và trong nước Sự biến động của tỷ giá thường không theo một chu kỳ nào nhất định và đôi khi nó dao động chỉ vì một tin đồn hay là lòng tin của dân chúng bị giảm sút về nền kinh tế,

về chính phủ Tuy vậy, sự biến động này cũng có những chu kỳ theo sự phát triển của nền kinh tế khu vực, giai đoạn phát triển, khả năng phục hồi, kỳ vọng hay là thời điểm kết sổ của quốc gia Chẳng hạn như ngày 31/3 hằng năm là ngày kết thúc năm tài chính của Nhật, các công ty sẽ chuyển lợi nhuận về nước Chính vì thế, các ngân hàng cần có kế hoạch kinh doanh trong từng giai đoạn tùy theo từng thời điểm cụ thể mà có thể thay đổi phù hợp

2.2.4 Xây dựng các hạn mức kinh doanh ngoại tệ, khối lượng giao dịch, giới hạn loại tiền kinh doanh một cách hợp lý và linh hoạt:

Một biện pháp hạn chế rủi ro hữu hiệu là sử dụng hạn mức trong hoạt động KDNT Hạn mức là công cụ để quản lý rủi ro Hạn mức do mỗi ngân hàng đặt ra tùy thuộc vào đặc điểm kinh doanh và khả năng chấp nhận rủi ro của ngân hàng Ngân hàng phải xây dựng và duy trì một hạn mức chi tiết và rõ ràng

2.2.5 Nâng cao hiệu quả, cạnh tranh lành mạnh, nâng cao uy tín của

hệ thống ngân hàng

Một ngân hàng có uy tín không chỉ thể hiện qua cơ cấu tổ chức, trình độ kinh nghiệm làm việc, lợi nhuận, tỷ lệ lợi nhuận trên vốn tự có, thanh toán đúng hạn mà còn được đánh giá qua vốn hoạt động Mức vốn thấp sẽ làm cho ngân hàng bị hạn chế trong việc mở rộng nghiệp vụ như option hay thành lập các công

ty trực thuộc Tăng vốn tự có sẽ giúp tăng hạn mức trong các giao dịch của ngân hàng từ hạn mức trong KDNT đến mức bảo lãnh trong L/C (tín dụng thư)

Trang 6

2.2.6 Nâng cao trình độ và kỹ năng của đội ngũ cán bộ nhân viên hoạt

động trong các NHTM.

Để NH ngày càng vững mạnh đáp ứng được yêu cầu cạnh tranh ngày càng gay gắt của thị trường nội địa và quốc tế đòi hỏi phải có một đội ngũ nhân viên giỏi nghiệp vụ, năng động, tìm tòi học hỏi, tuân thủ đúng qui định của NH và có đạo đức kinh doanh Để đạt được mục tiêu trên các ngân hàng phải quan tâm đến công tác quản trị và đào tạo nhân viên về nghiệp vụ, ngoại ngữ, thực hiện tốt công tác tuyển dụng, chế độ khen thưởng, thường xuyên tổ chức hội thảo, tập huấn cho nhân viên KDNT đồng thời hỗ trợ của các phòng nghiên cứu và quan hệ khách hàng trong hoạch định chiến lược

2.2.7 Xây dựng mô hình kiểm soát và quản lý hoạt động KDNT hiệu

quả

Hoạt động kiểm soát thật sự chưa được quan tâm đúng mức trong các ngân hàng Bổ nhiệm người đúng tiêu chuẩn, đào tạo cán bộ kiểm soát tương xứng với nhiệm vụ chính là việc cần phải làm ngay nhằm đảm bảo kiểm soát đúng

và dự báo kịp thời rủi ro phát sinh

2.2.8 Tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát nội bộ và chuyên môn hóa công tác xử lý rủi ro

Về cơ cấu quản lý rủi ro, các NH thường không có phòng chuyên trách để quản lý rủi ro Nhiệm vụ này đang được phòng kiểm soát nội bộ quản lý Trách nhiệm của phòng kiểm soát nội bộ là giám sát việc thực hiện các qui định kinh doanh của ngân hàng chứ không phải là thực hiện công tác quản lý rủi ro Hiện nay các NH còn thiếu cơ chế giám sát, vì thế các NH cần xây dựng bộ máy quản

lý rủi ro Ngoài yếu tố về nhân sự, các NH cần phải xây dựng các qui trình, qui chế hoạt động, chỉ tiêu định lượng giá trị rủi ro và kiểm soát chặt chẽ hơn các hoạt động nhất là trạng thái mở trong KDNT

2.2.9 Trích lập Quỹ rủi ro

Ngoài một số phương pháp nhằm hạn chế rủi ro, NH cần trích một phần lợi nhuận để dành làm quỹ rủi ro về KDNT Cũng giống như, hoạt động tín dụng, hàng năm đều phải trích một phần lợi nhuận để bù đắp và phòng ngừa cho những khoản nợ khó đòi hay tiểm ẩn nguy cơ khó thu hồi nợ Trong KDNT, rủi ro luôn luôn xuất hiện đồng thời với giao dịch mở nghĩa là trạng thái ngoại tệ không cần bằng Trích lập quĩ rủi ro có thể là 10% -20% lợi nhuận của năm đó về KDNT

Và hiện nay việc trích lập quỹ này đều được các ngân hàng thực hiện một cách liên tục mỗi năm

3 Hoạt động kinh doanh ngoại tệ của các ngân hàng thương mại hiện nay:

3.1 Tình hình hoạt động trong thời gian qua:

Theo tin từ ngân hàng Nhà nước, tính đến đầu tháng 10.2010, Việt Nam có 1.190 tổ chức tín dụng (TCTD) đang hoạt động, trong đó có 5 ngân hàng thương mại nhà nước (2/5 NHTM Nhà nước đã cố phần hóa là VCB và Vietinbank); 5 ngân hàng liên doanh, 5 ngân hàng 100% vốn nước ngoài; 49 chi nhánh ngân

Trang 7

hàng nước ngoài, 37 NHTM cổ phần (trong số này, 11 ngân hàng có vốn đầu tư nước ngoài); 17 công ty tài chính (2/7 công ty đã cổ phần hóa là công ty tài chính

cổ phần Dầu khí và công ty cổ phần tài chính Handico); 13 công ty cho thuê tài chính và 1048 quỹ tín dụng nhân dân cơ sở (QTDND) Đồng thời, số lượng thành viên tham gia trên thị trường liên ngân hàng cũng tăng qua các năm, tính đến

2008 con số này là 79 thành viên, tăng 58% so với 2004 Điều này đã góp phần làm cho thị trường tài chính của Việt Nam ngày càng sôi động hơn Do đó, doanh

số giao dịch ngoại tệ giữa ngân hàng với khách hàng và giữa các ngân hàng với nhau đều tăng qua từng năm, góp phần tăng tính thanh khoản cho toàn thị trường ĐVT: %

Năm Giữa các ngân hàng với

nhau Giữa ngân hàng với khách hàng

Bảng 1: Tốc độ tăng giảm liên hoàn về doanh số giao dịch ngoại tệ trên TTNH.

Hoạt động kinh doanh ngoại tệ (KDNT) của các NHTM chủ yếu nhằm phục vụ nhu cầu thanh toán quốc tế của các doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu và điều hòa trạng thái ngoại tệ trên thị trường Do đó mà khi Việt Nam gia nhập WTO, cùng với đà tăng trưởng của hoạt động xuất nhập khẩu thì doanh số mua bán ngoại tệ giữa các ngân hàng và giữa ngân hàng với khách hàng cũng tăng trưởng nhanh chóng, đặc biệt là năm 2008

ĐVT: triệu USD

Bảng 2: Doanh số mua bán của các NHTM giai đoạn 2007-2009

Trong những năm gần đây, tình hình biến động tỷ giá đã gây không ít khó khăn cho việc KDNT của các NHTM Cụ thể: NHNN đã 2 lần điều chỉnh biên độ dao động trong năm 2007, 3 lần năm 2008, 2 lần năm 2009, và 2 lần từ đầu năm đến nay Lần điều chỉnh gần đây nhất là vào ngày 17/8/1010, NHNN đã ra thông báo quyết định tăng tỷ giá bình quân liên ngân hàng giữa VND và USD áp dụng

từ ngày 18/8/2010 Theo đó, tỷ giá từ mức 18.544 VND/USD tăng lên 18.932 VND/USD Với sự điều chỉnh này cùng với biên độ +/-3%, mức tỷ giá trần mà các NHTM có thể giao dịch là 19.500 VND/USD so với mức 19.100VND/USD trước đó Thời gian gần đây, do thị trường ngoại hối trở nên hết sức căng thẳng, tỷ giá USD/VND trên thị trường tự do tăng liên tục, có lúc vượt qua mốc 21.300 VND/USD, cao hơn tỷ giá trần của NHNN hơn gần 9% Do đó, cùng với sự biến

Trang 8

động của tỷ giá, lợi nhuận từ hoạt động KDNT cũng giảm qua các năm kể từ năm 2008

ĐVT: triệu VND

Vietinbank 64.087 7,58 290.04

6

7,20 48.217 2,20 91.557 9,80

Eximbank 139.25

7

16,4 7

634.10 5

15,7 5 135.409 6,17 80.301 8,60

Vietcombank 354.53

2

41,9 4

925.91 1

23,0 0 918.309 4,18 380.665 40,75

ACB 15.514 1,83 678.85

2

16,8 6

422.336 19,2

5 320.007 34,26 Techcombank 24.583 2,91 21.793 0.54 48.089 2,19

-Habubank 2.718 0,32 7.639 0,19 32.192 1,47

-SCB 2.499 0,29 57.306 1,42 139.215 6,34 (181.370

)

-Sacombank 100.81

5 11,93 510.041 12,66 314.108 14,32 242.900 26,00

2 14,33 790.779 19,64 208.866 9,52

-MB 21.124 2,50 101.40

3

2,52 (72.766

)

-Bảng 3: Lợi nhuận KDNT và tỷ trọng so với LNTT của một số ngân hàng qua

các năm.

Năm 2008, mức lợi nhuận thu được từ KDNT tăng cao do tình hình xuất nhập khẩu cả nước khả quan: kim ngạch xuất khẩu tăng 62,9 tỷ USD trong khi nhập khẩu tăng 17,5 tỷ USD so với năm 2007 Tuy nhiên đến cuối 2008, khủng hoảng tài chính ở Mỹ nổ ra làm ảnh hưởng đến nền kinh tế toàn cầu Trong khi

đó, Mỹ lại là một đối tác lớn trong lĩnh vực xuất khẩu của Việt Nam, do đó mà kim ngạch xuất khẩu 2009 đã giảm 9,7%, nhập khẩu giảm 32,1% so với 2008 Vì thế, lợi nhuận thu được từ KDNT cũng giảm đáng kể

Tuy nhiên, nếu xem xét cơ cấu lợi nhuận ở bảng 3 thì các NHTM cũng đóng góp rất lớn vào cơ cấu lợi nhuận chung của các NHTM, nhưng nếu so sánh

cơ cấu lợi nhuận từ hoạt động KDNT với tổng lợi nhuận của một NHTM trong nước thì tỷ lện này sẽ thấp hơn nhiều so với các ngân hàng nước ngoài Chẳng hạn như lợi nhuận từ KDNT của HSBC chiếm khoảng 69% tổng lợi nhuận trước thuế, của ANZ là 40% trong khi của Vietcombank là 16%, Sacombank là 15% Từ đây,

có thể thấy được các ngân hàng nước ngoài đang rất thành công trong hoạt động kinh doanh này Mặc dù bị hạn chế về nhiều mặt như vốn điều lệ, doanh số mua bán ngoại tệ, song các ngân hàng nước ngoài vẫn chứng tỏ được lợi thế về kinh nghiệm, khả năng phân tích thị trường trên thị trường ngoại hối quốc tế

Với xu hướng ngày càng phát triển của hoạt động KDNT, ngày 10 tháng

11 năm 2004, NHNN đã ban hành quyết định 1452/2004/QĐ-NHNN về giao dịch

Trang 9

ngoại hối của các TCTD được phép hoạt động thay thế cho quyết định 17/1998/QĐ-NHNN đã ban hành trước đó cùng với một số văn bản đơn lẻ quy định về các loại hình giao dịch trong KDNH bước đầu có tác dụng phát triển thị trường các công cụ phái sinh ngoại tệ (như kỳ hạn, hoán đổi, quyền chọn, tương lai) Nhưng trên thực tế, các công cụ này lại phát triển khá khiêm tốn ở Việt Nam (như chi nhánh ngân hàng Citibank, Standard Chartered, BIDV, Vietcombank, HSBC) với doanh số giao dịch thấp hơn nhiều so với các nghiệp vụ truyền thống Hiện nay, chủ yếu khách hàng chỉ mua bán ngoại tệ với hình thức thanh toán ngay, do đó mà nguồn thu từ kinh doanh mua bán giao ngay chiếm tỷ trọng cao trong khi các giao dịch công cụ phái sinh (CCPS) lại kém hiệu quả

ĐVT: triệu VND

Thu nhập

từ KDNT

giao ngay

410.088 552.849 (384.443) 408.820 380.561 55.065

Thu nhập

từ CCPS (120.042) 237.930 25.237 (349.542) (171.695) (21.499) Lợi

nhuận từ

hoạt động

KDNT

290.046 790.779 (359.261) 59.278 208.866 33.566

Bảng 4: Cơ cấu lợi nhuận KDNT của Vietinbank, BIDV, SCB từ 2008-2009.

Tuy NHNN đã cho phép kinh doanh nhiều loại CCPS nhưng nhìn chung, giao dịch kỳ hạn và giao dịch hoán đổi là 2 loại hình kinh doanh phổ biến nhất và chiếm tỷ trọng cao so với các loại giao dịch còn lại Nguyên nhân chủ yếu của việc hạn chế này chính là rào cản của môi trường chính sách mà đi đầu là việc tính thuế, tiếp đến là chế độ hach toán kế toán, nhu cầu của doanh nghiệp Tuy nhiên, bản chất của CCPS là phòng ngừa rủi ro để tối đa hóa lợi nhuận hơn là vì mục đích kiếm lời của các ngân hàng Do đó, các ngân hàng đã xác định, việc kinh doanh các CCPS chỉ nhằm đáp ứng nhu cầu về ngoại hối để thanh toán, trả

nợ vay, góp vốn, của khách hàng 2 hình thức còn lại là hợp đồng quyền chọn và hợp đồng tương lai được các doanh nghiệp sử dụng rất hạn chế, mới chỉ được vài ngân hàng triển khai như Techcombank, BIDV, ACB, VIBbank đối tượng chủ yếu của loại hợp đồng này chủ yếu là các doanh nghiệp xuất khẩu cà phê, cao su

và kim loại

Ngân hàng Công cụ tài chính

phái sinh

2009 Quí I,II,III/2010

Tài sản/

công nợ

Tỷ trọng

Tài sản/

công nợ

Tỷ trọng ACB Hợp đồng kỳ hạn -21.314 41,59 -659.111 42,59

Hợp đồng hoán đổi -5.560 10,58 -16.933 1,09 Hợp đồng quyền 20.854 40,69 871.352 56,31

Trang 10

-Tổng 51.251 100,00 1.547.396 100,00 Sacombank

Hợp đồng kỳ hạn 27.870 3,24 7.032 5,87 Hợp đồng hoán đổi 581.575 96,76 -112.745 94,13

Tổng 859.445 100,00 119.777 100,00

3.2 Đánh giá chung kết quả hoạt động kinh doanh ngoại tệ:

Kể từ khi ra đời, hoạt động KDNT đã mang lại những khoản thu không nhỏ cho các NHTM Nguồn thu này cũng góp phần nâng cao thu nhập và hiệu quả hoạt động của các NHTM Qua bảng số liệu 1 và 2 ta thấy được rằng, doanh số mua bán ngoại tệ đều tăng qua từng năm Điều này chứng tỏ rằng hoạt động KDNT từng bước phát triển và có vai trò ngày càng quan trọng trong cơ cấu doanh thu của các NHTM Thực hiện đa dạng hoá các hình thức giao dịch hối đoái (tương ứng với việc thực hiện mua bán 14 loại ngoại tệ khác nhau), thoả mãn nhu cầu đa dạng về các loại ngoại tệ của khách hàng Nhìn chung cân đối ngoại tệ của toàn hệ thống đã tốt hơn, về cơ bản đã đáp ứng đủ 100% nhu cầu mua ngoại

tệ thanh toán nhập khẩu hàng hoá dịch vụ và trả nợ vay ngoại tệ của các doanh nghiệp và cá nhân vv Phạm vi hoạt động KDNT được mở rộng đồng thời cả ở thị trường trong nước và thị trường quốc tế

Trong thời gian gần đây, tình hình nền kinh tế trong nước cũng như quốc tế

có nhiều diễn biến phức tạp, song hoạt động KDNT vẫn tạo ra được lợi nhuận ở mức cao Đây cũng là điều đáng khích lệ cho các ngân hàng Bên cạnh đó, KDNT

đã đóng góp vai trò quan trọng trong hỗ trợ các nghiệp vụ ngân hàng khác phát triển Nếu chỉ xét đơn thuần trên góc độ lợi nhuận thì lãi KDNT của toàn hệ thống bình quân là rất khiêm tốn so với lợi nhuận thu được từ hoạt động tín dụng Hiệu quả KDNT chưa cao, cơ bản do ảnh hưởng bởi tính chất đặc thù của thị trường ngoại tệ Việt Nam, song hoạt động KDNT gắn bó mật thiết hữu cơ, là một nghiệp

vụ không thể thiếu trong việc hỗ trợ đắc lực cho Tài trợ thương mại, Thanh toán XNK, Chuyển tiền ngoại tệ … không ngừng phát triển Qua đó ngân hàng có thể thu được lãi cho vay hoặc phí dịch vụ từ các hoạt động này, đóng góp vào thành tích chung về hoạt động KDNT của toàn hệ thống

Bên cạnh đó, hoạt động KDNT vẫn còn nhiều hạn chế mà nổi bật là các sản phẩm tuy đa dạng nhưng vẫn chưa đem lại hiệu quả, khách hàng chỉ chủ yếu

sử dụng giao dịch giao ngay Ngoài ra, trong số các NHTM được cấp phép cung ứng dịch vụ thanh toán quốc tế trên thị trường thế giới thì số lượng thực tế mà các NHTM tham gia KDNT trên thị trường này vẫn khá khiêm tốn Đó cũng do chất lượng nghiệp vụ của các ngân hàng phần nào còn yếu kém Sự mất cân đối giữa khách hàng nhập khẩu và khách hàng xuất khẩu làm cho cân đối ngoại tệ của các NHTM chưa ổn định và vững chắc Lượng ngoại tệ mua từ khách hàng xuất khẩu

có nguồn thu ngoại tệ bình quân mới chỉ đạt 7-8% kim ngạch XK nên chưa đảm bảo khả năng đáp ứng đủ 100% nhu cầu về ngoại tệ trong mọi thời điểm Trên

Ngày đăng: 18/11/2014, 10:30

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Tốc độ tăng giảm liên hoàn về doanh số giao dịch ngoại tệ trên TTNH. - nghiên cứu ảnh hưởng của biến động tỷ giá đến kinh doanh ngoại tệ
Bảng 1 Tốc độ tăng giảm liên hoàn về doanh số giao dịch ngoại tệ trên TTNH (Trang 7)
Bảng 3: Lợi nhuận KDNT và tỷ trọng so với LNTT của một số ngân hàng qua - nghiên cứu ảnh hưởng của biến động tỷ giá đến kinh doanh ngoại tệ
Bảng 3 Lợi nhuận KDNT và tỷ trọng so với LNTT của một số ngân hàng qua (Trang 8)
Bảng 4: Cơ cấu lợi nhuận KDNT của Vietinbank, BIDV, SCB từ 2008-2009. - nghiên cứu ảnh hưởng của biến động tỷ giá đến kinh doanh ngoại tệ
Bảng 4 Cơ cấu lợi nhuận KDNT của Vietinbank, BIDV, SCB từ 2008-2009 (Trang 9)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w