TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC NÉT TƯƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT GIỮA ĐẠO GIA VÀ PHÁP GIA Mục đích của đề tài: Thông qua quá trình nghiên cứu và tham khảo những công trình nghiên cứu của các tác giả có liên quan đến đề tài, từ đó rút ra những điểm tƣơng đồng và khác nhau cũng như giá trị và hạn chế trong trƣờng phái triết học Đạo Gia và Pháp Gia.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
Đề tài số 4:
“NÉT TƯƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT GIỮA ĐẠO GIA VÀ PHÁP GIA”
HVTH: Trần Văn Bình STT: 02 - N1
Lớp: Cao học Ngày 4 – K22 GVHD: TS Bùi Văn Mưa
Tp Hồ Chí Minh, 2012
Trang 2Tp Hồ Chí Minh, 2011
NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
Tp.Hồ Chí Minh, ngày…tháng…năm 2012
Trang 3HVTH: Trần Văn Bình Page 1
SỰ TƯƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT GIỮA TRIẾT HỌC ĐẠO GIA & PHÁP GIA Ở TRUNG QUỐC THỜI CỔ
PHẦN MỞ ĐẦU
1 Đặt vấn đề
Trung Hoa cổ đại là một quốc gia rộng lớn, có hai miền đối lập nhau về điều kiện tự nhiên, miền Bắc (có lưu vực sông Hoàng Hà, xa biển, đất đai khô cằn, cây cỏ thưa thớt, sản vật hiếm hoi)
và miền Nam (có lưu vực sông Trường Giang, khí hậu ấm áp, cây cối xanh tươi, sản vật phong phú) Bên cạnh Ấn Độ, Trung Quốc được coi là một trong hai trung tâm tư tưởng và văn hóa lớn của thế giới cổ, trung đại Những tư tưởng triết học và văn hóa được hình thành từ thời Tây Chu
và phát triển mạnh vào thời Đông Chu với sự xuất hiện của 6 trường phái triết học chính là: Nho Giáo, Mặc Gia, Đạo Gia, Âm - Dương Gia, Danh Gia, Pháp Gia đã có những ảnh hưởng sâu rộng đến nền văn minh Trung Hoa nói riêng và cả Đông Á nói chung
Đối với Việt Nam, những tư tưởng triết học và văn hóa của Trung Quốc có ảnh hưởng rất lớn
Vì vậy, nghiên cứu lịch sử triết học Trung Hoa cổ, trung đại là rất cần thiết để góp phần tìm hiểu
lịch sử tư tưởng, văn hóa của dân tộc
Cũng giống như ở Phương Tây, triết học Trung Hoa cổ đại có nhiều tư tưởng phức tạp và đa dạng với nhiều trường phái, đề cập đến mọi lĩnh vực đời sống xã hộ Trong đó, mỗi trường phái có những điểm tương đồng và khác biệt nhau để cùng thúc đẩy sự phát triển chung của triết học Ở đây, vì nhiều hạn chế về thời gian cũng như phạm vi triết học rất rộng lớn và phức tạp, em chỉ đi sau vào tìm hiểu, phân tích nét tương đồng và khác biệt giữa hai trường phái triết học lớn của
Trung Quốc là Đạo Gia và Pháp Gia
Do thời gian có hạn, kiến thức còn hạn hẹp nên bài viết của em sẽ còn nhiều thiếu sót Em rất mong nhận được sự góp ý của quý thầy để bài viết được hoàn thiện hơn Em xin chân thành cảm ơn!
2 Đối tượng nghiên cứu
Nội dung nghiên cứu của đề tài: tư tưởng triết học Đạo Gia: điển hình là Đức Lão Tử, Trang
Tử và tư tưởng triết học Pháp Gia: điển hình là Hàn Phi
Trang 4HVTH: Trần Văn Bình Page 2
Phạm vi nghiên cứu: nét tường đồng và khác biệt về quá trình hình thành và phát triển, thế
giới quan – nhân sinh quan, tư tưởng biện chứng, quan điểm chính trị xã hộ giữa hai trường phái
Đạo Gia và Pháp Gia
3 Tóm tắt nội dung đề tài
Mục đích của đề tài: Thông qua quá trình nghiên cứu và tham khảo những công trình nghiên
cứu của các tác giả có liên quan đến đề tài, từ đó rút ra những điểm tương đồng và khác nhau cũng
như giá trị và hạn chế trong trường phái triết học Đạo Gia và Pháp Gia
Ý nghĩa: Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể sử dụng làm tài liệu phục vụ cho việc nghiên
cứu, tham khảo để tìm hiểu những nét khác biệt và tương đồng cơ bản giữa Đạo Gia và Pháp Gia
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: BỐI CẢNH LỊCH SỬ VÀ ĐÔI NÉT VỀ ĐẠO GIA VÀ PHÁP GIA
1 Khái quát lịch sử Trung Quốc thời cổ đại
1.1 Khái quát lịch sử
Sự hình thành và phát triển của triết học Trung Hoa cổ đại dựa trên cơ sở của sự biến động của
xã hội Trung Hoa cổ đại Có thể nói Trung Hoa cổ đại là một trong những cái nôi của nền văn minh nhân loại Theo truyền thuyết, thời tối cổ Trung Quốc đã có Tam Hoàng (người phát minh ra lửa), Phục Hy (người chăn nuôi) và Nhân Hoàng Sau đó là thời ngũ đế với hai vị vua nổi tiếng là Nghiêu và Thuấn Tiếp đến là thời nhà Hạ với văn hóa đặc trưng là văn hóa Long Sơn (tức văn hóa đồ gốm đen), kéo dài từ năm 2005-765 TCN Thời nhà Thương được thành lập sau đó vào khoảng đầu thế kỷ XVII TCN; Đến khoảng thế kỷ XIV, vua mười đời nhà Thương là Bàn Canh đã dời đô về đất Ân, từ đó nhà Thương còn được gọi là nhà Ân Đến khoảng thế kỷ XI TCN, Chu Vũ Vương là con trai của Chu Văn Vương đã giết vua Trụ nhà Thương và lập ra nhà Chu, bao gồm hai giai đoạn phát triển là Tây Chu (1027-770 TCN) và Đông Chu (Xuân Thu: 770-481 TCN,
Chiến Quốc: 481-32 TCN)
Giai đoạn đầu của thời nhà Chu là Tây Chu đã tiến lên một bước trong lịch sử phát triển vì đã đưa chế độ nô lệ ở Trung Hoa lên đỉnh cao Trong thời kỳ thứ nhất này, những tư tưởng triết học
đã xuất hiện, tuy chưa đạt tới mức là một hệ thống Thế giới quan thần thoại, tôn giáo và chủ nghĩa duy tâm thần bí là thế giới quan thống trị trong đời sống tinh thần và thế quyền và ngay từ đầu nó
Trang 5HVTH: Trần Văn Bình Page 3
đã lý giải sự liên hệ mật thiết giữa đời sống chính trị - xã hội với lĩnh vực Đạo đức luân lý Đồng thời, thời kỳ này đã xuất hiện những quan niệm có tính chất duy vật mộc mạc, những tư tưởng vô thần tiến bộ đối lập lại chủ nghĩa duy tâm, thần bí thống trị đương thời
Thời kỳ thứ hai là thời kỳ Đông Chu (thời kỳ Xuân Thu – Chiến Quốc) là thời kỳ chuyển biến
từ chế độ chiếm hữu nô lệ sang chế độ phong kiến Sự tranh giành địa vị xã hội của các thế lực thù địch đã đẩy xã hội Trung Hoa cổ đại vào tình trạng chiến tranh khốc liệt liên miên Đây chính là điều kiện lịch sử đòi hỏi giải thể chế độ nô lệ thị tộc nhà Chu, hình thành xã hội phong kiến: đòi hỏi giải thể nhà nước của chế độ gia trưởng, xây dựng nhà nước phong kiến nhằm giải phóng lực lượng sản xuất, mở đường cho xã hội phát triển Sự biến chuyển sôi động đó của thời đại đã đặt ra
và làm xuất hiện những tụ điểm, những trung tâm “kẻ sĩ”, luôn tranh luận về trật tự xã hội cũ và đề
ra những hình mẫu của một xã hội trong tương lai Như đã nói, lịch sử thời kỳ này gọi là thời kỳ
“Bách gia chư tử”, “Bách gia minh tranh” Chính trong quá trình đó đã sinh ra các nhà tư tưởng lớn và hình thành nên các trường phái triết học khá hoàn chỉnh Lúc này ở Trung Quốc bẳt đầu hình thành những học thuyết chính trị - xã hội và triết học khác nhau như: Khổng Tử với học thuyết “nhân lễ”, Lão Tử với học thuyết “vô vi”, Mặc Tử với học thuyết “kiêm ái’, Dương Chu với học thuyết “vị ngã”, Hàn Phi Tử với học thuyết “pháp trị”,
Sau đó Tần Thủy Hoàng thống nhất đất nước Trung Hoa bằng uy quyền bạo lực và mở đầu thời kỳ Trung Hoa phong kiến Sự kiện này đã đánh dấu một bước ngoặt lớn trong lịch sử phát triển của Trung Quốc, chấm dứt thời kỳ Trung Hoa cổ đại Tiếp đến là sự thay thế của hàng loạt các triều đại như Hán, Đường, Tống , Vì vậy mà hầu hết người ta nói rằng chế độ nô lệ có manh nha từ thời nhà Hạ, chín muồi vào thời Thương – Ân và phát triển vào thời nhà Chu Còn thời Xuân Thu – Chiến Quốc là quá độ từ nô lệ sang phong kiến và chín muồi vào thời Hán Khi nhà Tần thống nhất Trung Quốc, xây dựng quốc gia phong kiến rộng lớn đã dùng học thuyết Pháp gia
để trị nước Nhà Hán thay thế nhà Tần thì lên án Pháp gia và tôn sùng Nho Giáo Từ thời Hán trở
đi, các triều đại phong kiến Trung Quốc đã xem Nho giáo là học thuyết thống trị Nhưng thực ra Nho giáo đã thay đồi nhiều so với gốc của nó Nhà Hán trên danh nghĩa là tôn sùng Nho giáo nhưng bên trong đã dùng tư tưởng Pháp gia để trị nước Nho giáo đến thể kỷ III SCN đã kết hợp với Lão – Trang đã trở thành huyền học, đến thế kỷ X SCN, kết hợp với Phật và Đạo trở thành lý học
1.2 Các vấn đề trong triết học Trung Quốc cổ đại
Sự đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm, giữa phép biện chứng và siêu hình
là quy luật phát triển của mọi hệ thống triết học, trong đó có triết học Trung Quốc Nhưng sự đấu tranh đó cũng như sự thay đổi của các trường phái triết học, sự phát triển của các luận điểm tư tưởng Trung Quốc được biểu hiện trên các vấn đề ít nhiều có sắc thái bản địa: vấn đề bản thế vũ trụ, vấn đề cơ bản của triết học, vấn đề con người
Trang 6HVTH: Trần Văn Bình Page 4
a Về bản thế của vũ trụ
Trường phái duy tâm thì cho rằng thế giới bên ngoài và con người là do thượng đế sinh ra Chủ
nghĩa duy vật có quan điểm trái lại nhưng họ cũng có nhiều cách giải thích khác nhau
Trong thuyết Âm – Dương đầu tiên (thời Tiền Chu) coi Âm – Dương như là hai khí, hai nguyên lý hay hai thế lực vũ trụ: biểu thị cho giống đực và giống cái Chính do sự tác động qua lại giữa chúng mà sinh ra mọi sự vật, hiện tượng trong đất trời; Trong thuyết Ngũ Hành cho rằng
“Ngũ hành” (Thủy, Hỏa, Mộc, Kim, Thổ) tương sinh tương khắc sinh ra vạn vật
Trong tư tưởng triết học của Lão Tử (thời Xuân Thu – Chiến Quốc) thì coi “Đạo” là bản nguyên của vũ trụ, có trước trời đất, không biết tên nó là gì, tạm đặt tên cho nó là “Đạo”.Vì “đạo” quá huyền diệu, khó nói danh trạng nên có thể quan niệm ở hai phương diện “vô’ và “hữu” “Vô”
là nguyên lý vô hình, là gốc của trời đất “Hữu” là nguyên lý hữu hình là mẹ của vạn vật Công cụ của Đạo là vô cùng, Đạo sáng tạo ra vạn vật, vạn vật nhờ có Đạo mà sinh ra, sự sản sinh ra vạn vật theo trình tự “Đạo sinh một, một sinh hai, hai sinh ba, ba sinh ra vạn vật”
Trong học thuyết của Nho gia, cho rằng “trời” có ý nghĩa bậc nhất, “trời” và “đất” hợp lại là nguồn gốc của vạn vật: “trời” và “đất” hợp lại thì vạn vật sinh ra, “âm” và “dương” giao tiếp với nhau thì sinh ra biến hóa”
Trong các luận điểm trên thì luận điểm “ngũ hành tương sinh tương khắc” có vai trò lớn trong lịch sử Bằng các luận điểm lấy vật chất hoặc sự vận động của vật chất để giải thích nguồn gốc của các hiện tượng vật chất, các nhà duy vật đã làm lu mờ vai trò của thần thánh, vai trò của siêu nhiên
b Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức
Đây được coi là một trong những vấn đề cơ bản của triết học, trung tâm của cuộc đấu tranh không khoan nhượng giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm
Vấn đề vật chất và ý thức được đề cập trong lịch sử Trung Quốc qua nhiều phạm trù như thần
và hình; tâm và vật, lý và khí,…Trong đó cặp phạm trù thần và hình xuất hiện sớm nhất vào thời Xuân Thu – Chiến Quốc và nó là cặp phạm trù được nhắc đến nhiều hơn cả trong lịch sử triết học Chủ nghĩa duy tâm Trung Quốc cho rằng thần có trước hình; hình phụ thuộc vào thần; còn chủ nghĩa duy vật Trung Quốc cho rằng hình có trước thần; thần có dựa vào hình… (Tuân Tử)
Các quan niệm duy tâm giành được vai trò thống trị vì nó là quan điểm của giai cấp thống trị, được giai cấp thống trị cổ vũ Những quan điểm của các nhà duy vật, mặc dù các nhà duy vật thô
sơ chất phác, song họ dựa vào hiện thực, vào sự quan sát giới tự nhiên Vì vậy tuy không giữ được
Trang 7HVTH: Trần Văn Bình Page 5
vai trò lịch sử nhưng những quan điểm duy vật thời bấy giờ có tác dụng phê phán mãnh liệt chủ nghĩa duy tâm thần bí vốn gắn liền với chính sách cai trị của chế độ phong kiến
c Về con người
Đây là vấn đề nổi bật trong lịch sử triết học phương Đông nói chung và triết học Trung Quốc
cổ đại nói riêng Tuy nhiên người ta chú trọng đến vấn đề này không phải vì hạnh phúc con người
mà là vì lợi ích của giai cấp thống trị, không phải là để giải phóng những bế tắc con người trong cuộc sống mà là để giáo dục con người theo lập trường giai cấp phong kiến Chính vì vậy, triết học chú trọng nhiều đến khía cạnh Đạo đức, tức là phương thức để có thể kìm hãm được con người,
điều khiển và thống trị họ theo chế độ phong kiến
2 Tư Tưởng Triết Học Của Đạo Gia
2.1 Sơ lược sự hình thành và phát triển Triết học Đạo Gia
Đạo giáo được xem là tôn giáo đặc hữu chính thống của Trung Quốc Hình thành từ thế kỉ thứ
tư trước công nguyên, khi tác phẩm Đạo Đức Kinh của Lão Tử xuất hiện Các tên gọi khác là Đạo
Lão, Đạo Hoàng Lão, hay Đạo Gia
Đạo Gia là một trong Tam giáo tồn tại từ thời Trung Quốc cổ đại, song song với Nho giáo và Phật giáo Ba truyền thống tư tưởng nội sinh (Nho-Lão) và ngoại nhập (Phật) này đã ảnh hưởng rất lớn đến nền tảng văn hoá dân tộc Trung Quốc Mặc dù có rất nhiều quan điểm khác biệt nhưng cả
ba giáo lí này đã hoà hợp thành một truyền thống Ảnh hưởng Tam giáo trong lĩnh vực tôn giáo và văn hoá vượt khỏi biên giới Trung Quốc, được truyền đến các nước Đông Nam Á lân cận như Việt Nam, Hàn Quốc và Nhật Bản
2.2 Một số tư tưởng triết học cơ bản của Đạo Gia
a Tư tưởng triết học trong Đạo Đức Kinh của Lão Tử
Lý luận về Đạo và đức
“Đạo” giữ một vai trò trọng tâm trong toàn bộ hệ thống triết học Lão Giáo Lão Tử cho rằng Đạo là bản nguyên của vũ trụ, phi cảm tính, phi ngôn ngữ, sâu kín, huyền diệu của vạn vật, để chỉ con đường, quy luật chung của mọi sự sinh thành, biến hóa xảy ra trong thế giới Như vậy, “Đạo”
là cái có trước Trời Đất, muôn loài vạn vật đều sinh ra từ “Đạo” nhưng khi có sự can thiệp của con
người thì “Đạo” không còn là “Đạo” nữa
“Đức” là một phạm trù triết học dùng để thể hiện sức mạnh tiềm ẩn của “Đạo”, nhờ nó vạn
vật được định hình và phân biệt được với nhau, là cái lý sâu sắc để nhận biết vạn vật
Mối tương quan giữa Đạo và đức: Lão Tử viết “Đạo sinh ra vạn vật, Đức bao bọc, bồi dưỡng, nuôi lớn tới thành thục, che chở vạn vật…” chương 51, Đạo Đức Kinh Như vậy, Đạo là cái mà nhờ đó
mà mọi vật được sinh ra và Đức là biểu hiện của Đạo nơi sự vật, là hình của Đạo, là cái mọi vật được định hình và đặt tên để trở thành nó, phân biệt với cái khác
Trang 8HVTH: Trần Văn Bình Page 6
=> Như vậy, quan niệm về Đạo của trường phái Đạo Gia đã thể hiện một trình độ khái quát cao của tư duy về những vấn đề bản nguyên thế giới được xem xét trong tính chỉnh thể thống nhất của
nó
Quan niệm biện chứng về thế giới của Lão Tử
Theo Ông toàn bộ thế giới là một cuộc đại chuyển tiếp không ngừng Thuật ngữ "Đạo trường" trong "Đạo Đức Kinh" thường đồng nghĩa với Dịch - đó là sự chuyển biến, thay đổi của vạn vật Trong sự vận động, biến đổi đó tất cả chỉ là tương đối, chỉ là một giai đoạn của dòng chuyển hoá
vô tận Sự vận động của vạn vật không phải là hỗn loạn mà tuân theo những quy luật tất yếu của tạo hoá Đây là những quy luật nghiêm ngặt, không sự vật nào đứng ngoài quy luật đó kể cả trời, đất, thần linh
Theo Lão Tử, toàn bộ vũ trụ bị chi phối bởi hai quy luật cơ bản nhất là: luật quân bình và luật phản phục
Luật quân bình làm cho vạn vật vũ trụ vận động, biến hóa trong trạng thái cân bằng theo một trật tự đều hòa tự nhiên, không có cái gì thái quá, không có cái gì bất cập Đạo chính là cái “Đạo của trời…chỗ cao thì ép xuống thấp, chỗ thấp thì nâng lên cao, có dư thì bớt đi, không đủ thì bù vào Đạo của trời bớt chỗ dư bù chỗ thiếu” (Đạo Đức Kinh, Chương 42) Nếu vi phạm luật quân bình, phá vỡ trạng thái vận động cân bằng của vũ trụ, thì vạn vật sẽ rối loạn, trì trệ và có nguy cơ
bị phá hoại
Theo luật phản phục, cái gì phát triển đến tột đỉnh thì tất sẽ trở thành cái đối lập với nó; sự vật khi phát triển đến cực điểm các tính chất của nó thì những tính chất ấy sẽ đi ngược lại để trở thành tính chất tương phản Lão Tử viết: “Ít thì được, nhiều thì mất” (Chương 22) và “trong thiên hạ cái rất mềm thì làm chủ cái rất cứng” (Chương 43) Phản phục, theo Lão Tử có thể được hiểu theo hai nghĩa Nghĩa thứ nhất, phản phục là sự vận động, biến hóa có tính chất tuần hoàn, đều đặn, nhịp nhàng và tự nhiên của vạn vật Đó là quy luật bất di bất dịch của tự nhiên Nghĩa thứ hai, là sự vận động trở về với “Đạo” của vạn vật, gọi là sự “phản giả Đạo chi động” (Đạo Đức Kinh, Chương 40)
Mọi sự vật biến động, biến đổi, theo Lão Tử có nguồn gốc từ trong bản thân sự vật Mỗi vật đều là thể thống nhất của hai mặt đối lập, vừa tương hoà, vừa xung khắc, vừa đối lập lại vừa liên
hệ, ràng buộc bao hàm lẫn nhau và không thể thiếu được nhau Lão Tử viết: "Trong vạn vật, không vật nào mà không cõng âm, bồng dương, nhân chỗ xung nhau mà hoà vào nhau"
=> Như vậy, tư tưởng về mâu thuẫn biện chứng đã đạt tới trình độ khá sâu sắc và trở thành cốt lõi trong phép biện chứng của Lão Tử Ông đã chỉ ra được bản chất thực sự của mọi sự mâu thuẫn, đó
là mối quan hệ biện chứng giữa động và tĩnh giữa thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập Vì
Trang 9HVTH: Trần Văn Bình Page 7
mối quan hệ biện chứng của các mặt đối lập chính là nguồn gốc của mọi sự vận động, biến đổi Nhưng các mặt đối lập trong các sự vật, hiện tượng có thể chuyển hoá cho nhau
Quan niệm nhân sinh và chính trị xã hội
Thuyết “Vô vi”: “Vô vi” có nghĩ là là hoạt động một cách tự nhiên, không can thiệp vào guồng máy tự nhiên, không hoạt động có tính giả tạo, gò ép, không thái quá và bất cập Lão Tử viết:
“Đạo thường không làm gì mà không gì không làm Vua chúa nếu giữ được đạo, muôn vật sẽ tự mình chuyển hóa Không ham muốn để được yên lặng, thiên hạ sẽ tự yên” (Đạo Đức Kinh, Chương 37) “Vô vi” còn có nghĩa là bảo vệ, giữ gìn bản tính tự nhiên của mình, của vật Cho nên Lão Tử nói: “Ta có ba của báu hằng nắm giữ và bảo vệ: một là lòng từ ái, hai là tiết kiệm và ba là không dám đứng trước thiên hạ” (Đạo Đức Kinh, Chương 67)
Như thế, theo Lão Tử đạt tới “vô vi” có thể làm cho con người ta trở nên tuyệt vời, vươn tới chân thiện, là người bước vào vương quốc của giấc mơ, để tỉnh dậy trước thực tế vào lúc chết Trong quan điểm về chính trị - xã hội, Ông nói: “Ta vô vi mà dân tự hóa Ta vô tình mà dân tự tính Ta vô dự mà dân tự giàu Ta vô dục mà dân chất phác” (Đạo Đức Kinh, Chương 57) Trị nước theo Đạo “vô vi” Lão Tử chủ trương xóa bỏ mọi lễ giáo, pháp luật, văn hóa, kỹ thuật; bỏ tất
cả những gì trái với tự nhiên, tổn hại đến bản chất tự nhiên của con người
Theo Đạo “vô vi”, Lão Tử mơ ước trở lại đời sống chất phác của thời đại công xã nguyên thủy, không thể chế, không có chế độ tư hữu và trao đổi hàng hóa, sống tự cấp tự túc Đó là cảnh mộc mạc, “vô danh phi phác”, như Đạo vô danh của ông: “Nước nhỏ, dân ít” (Đạo Đức Kinh, Chương 80) Theo ông, chẳng có cái gọi là vinh hay nhục gì khi thắng hay bại trong chiến tranh Cho nên quân giết người nhiều thì phải biết đau xót mà khóc, cuộc chiến thắng phải xử bằng tang lễ” (Đạo Đức Kinh, Chương 31)
b Trang Tử và sự phát triển của Đạo Gia
Trang Tử được coi là nhà tư tưởng lớn về Đạo học trong triết học cổ Trung Quốc, người có công mài dũa viên ngọc “Đạo” của Lão Tử làm hiện lên đầy đủ vẻ lấp lánh huyền hoặc của nó Vì thế, người đời xưa thường gọi trường phái triết học này là Lão–Trang.Quan niệm biện chứng chất phát về thế giới của Trang Tử
Về nguyên nhân của “Đạo” và năng lực của nó, Trang Tử viết: “Đạo tự bản tự căn, vốn tồn tại
như xưa, khi chưa có trời đất, làm thiêng liêng quỷ thần.” (Nam Hoa Kinh, Đại tông sư) Quan
điểm duy vậy đã thể hiện rõ khi ông cho “Đạo” là cái tự nhiên như thế, nó không do ai sinh ra mà
tự bản tự căn Nó là bản thể đầu tiên của vũ trụ và vạn vật, nên nó “sinh ra trời đất”
Nội dung thứ hai về “Đạo” của Trang Tử là vô thường Đây là nội dung cốt lỗi của “Đạo” ở Trang Tử Trang Tử viết: “Thoắt lặng không hình, biến hóa không thường, chết chăng sống
Trang 10HVTH: Trần Văn Bình Page 8
chăng? Trời đất cùng chăng, thân mình đi chăng? Mơ màng đi đâu? Muôn vật la liệt, không có gì
là nơi đáng để ta về” (Nam Hoa kinh, Thiên hạ)
Vậy là Trang Tử tuyệt đối hóa sự vận động, bỏ qua sự đứng im, sự tồn tại tương đối của vạn vật Đây chính là điểm khác biệt giữa Trang Tử và Lão Tử Nếu Lão Tử chú ý phân biệt các mặt đối lập, tương phản nhau trong “Đạo” như “một âm một dương là đạo”, hay “rắn thì nát, nhọn thì nhụt” thì ở Trang Tử, Ông đã hòa nhập tất cả là một trong sự biến hóa không lường Vì vậy, vũ trụ, vạn vật luôn ở trạng thái tương đối
Tiến trình vận động của các sự vật, theo Trang Tử, được diễn tả như sau: bắt đầu từ “Đạo”,
“Đạo” biến mà có khí, khí biến mà có hình, hình biến mà có sinh, sinh biến mà có tử, tử để trở về với “Đạo”
Trang Tử cho rằng vạn vật trong thế giới vận động, biến hóa khôn lường, nhưng chúng vận động không lộn xộn, tùy tiện mà vận động theo một trật tự, một nguyên tắc nghiêm ngặt Vì theo một khuôn trời định sẵn nên sự vận động không ngừng và vô cùng của vạn vật ở Trang Tử không phải theo chiều hướng phát triển đi lên, mà là theo một vòng tròn khép kín không rõ đầu, cuối Trang Tử tuyệt đối hóa mặt vận động đến mức xóa nhòa ranh giới giữa vận động và đứng im, tồn tại và không tồn tại, chất và lượng,…để chỉ còn thấy tất cả đều tương đối, đều thoáng qua
Trong triết học Trang Tử, khái niệm “Đức” không phải là Đạo đức trong đời sống xã hội, mà
là năng lực phát triển tự do trọn vẹn có bản tính tự nhiên ở mọi người, mọi vật “Đức” là một trạng thái tất yếu của vạn vật được quy định bởi bản tính tự nhiên của nó “Đức” của con người là sống hòa thuận với tự nhiên, theo bản tính tự nhiên vốn có của mình, không bị ràng buộc của bất cứ mối liên hệ xã hội nào
Theo Trang Tử, con người là sản phẩm của tự nhiên Con người cũng như vạn vật đều chứa đựng “Đạo” như là cái bản chất quy định con người, là “tính” hoặc “lý tự nhiên” “Tính” là cái biểu hiện của “Đạo” ở trong mỗi con người, chúng hoàn toàn giống nhau, nhưng do “đạo” là cái luôn biến đổi mà tính biểu hiện lại hết sức khác nhau ở mỗi người Thực chất Trang Tử đã đề cao
và tuyệt đối hóa mặt tự nhiên của con người, biến con người thành một thực thể riêng biệt, khép kín, phủ nhận mặt xã hội của con người, đồng nhất họ với tự nhiên Khi đề cao bản chất tự nhiên của con người, Trang Tử đã hạ thấp con người, đánh đồng con người có ý thức với muôn vật vô tri
vô giác Quan điểm có của ông đã thể hiện khuynh hướng đồng nhất tự nhiên và xã hội