Một số máy móc, trang thiết bị không đồng bộ trong khi đó nước ta nằm trong khu vực khí hậu nhiệt đới nóng ẩm, các yếu tố môi trường lao động bất lợi phát sinh trong quá trình khai thác
Trang 1ĐẶT VẤN ĐỀ
Khai thác đá là một trong những ngành nghề không thể thiếu được cho
sự phát triển của nhiều nước trên thế giới, trong đú có Việt Nam Việc khai thác đá được chia làm các khu vực khác nhau Lạng Sơn là khu vực khai thác
đá nội địa Một số máy móc, trang thiết bị không đồng bộ trong khi đó nước
ta nằm trong khu vực khí hậu nhiệt đới nóng ẩm, các yếu tố môi trường lao động bất lợi phát sinh trong quá trình khai thác đá là: bụi, ồn, rung, hơi khí độc… Tất cả những yếu tố trên đều gây ảnh hưởng không nhỏ đến sức khoẻ người lao động
Trong điều kiện như vậy, những người công nhân lao động tiếp xúc kéo dài với các yếu tố bất lợi của môi trường lao động sẽ dẫn tới suy giảm sức khoẻ, làm tăng tỷ lệ bệnh tật, nhất là các bệnh có liên quan đến yếu tố nghề nghiệp đó là các bệnh về đường hô hấp Tỷ lệ một số bệnh khác cũng tăng như các bệnh của hệ tim mạch, tiờu hoỏ, tiết niệu,… Làm ảnh ảnh hưởng không nhỏ đến năng suất lao động và tác động lâu dài đến sức khoẻ công nhân khai thác đá
Tỉnh Lạng Sơn là một tỉnh miền núi Trong quá trình sản xuất khai thác
đá, một số máy móc thiết bị đã cũ, việc cải tiến, mua sắm thay thế trang thiết bị máy móc dã được tiến hành như chưa được đồng bộ Các yếu tố môi trường lao động độc hại, bất lợi khác như bụi, ồn, rung, điều kiện vi khí hậu không thuận lợi cũng góp phần làm tăng ô nhiễm môi trường lao động và ảnh hưởng không nhỏ đến sức khoẻ công nhân, nhất là đối với bệnh bụi phổi - silic, nguy cơ mắc bệnh của công nhân là không nhỏ, hàng năm có hàng chục người mắc
Bệnh bụi phổi Silic là bệnh sơ hoá phổi, tiến triển không hồi phục do hít phải bụi có hàm lượng Silic tự do cao Cho đến nay vẫn chưa có thuốc điều trị đặc hiệu
Trang 2Trước tình hình trờn đó cú một số công trình của một số tác giả nghiên cứu về vấn đề này tuy nhiên tại tỉnh Lạng Sơn vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu Để giúp cho việc phòng ngừa bệnh, và các tác hại bệnh nghề nghiệp,
bảo vệ sức khẻo công nhân Đề tài "Thực trạng điều kiện môi trường lao động
và sức khoẻ công nhân công ty TNHH mỏ đá Hồng Phong tỉnh Lạng Sơn, năm 2008 - 2009” được chúng tôi thực hiện nhằm giải quyết hai mục tiêu sau:
1- Khảo sát một số yếu tố môi trường lao động cơ bản trong khai thác và chế biến đá.
2- Mô tả thực trạng sức khoẻ, bệnh tật công nhân mỏ đá Hồng Phong - Lạng Sơn.
Trang 3Chương 1TỔNG QUAN
1.1 Môi trường lao động với sức khoẻ người lao động:
Trong cuộc sống con người và môi trường có mối liên quan khăng khít với nhau và ảnh hưởng qua lại lẫn nhau Nhưng môi trường nào càng có nhiều yếu tố bất lợi, nhất là môi trường lao động thì con người dễ bị ảnh hưởng đến sức khoẻ
Sức khoẻ công nhân và môi trường lao động là hai vấn đề liên quan mật thiết với nhau Môi trường lao động ô nhiễm sẽ làm suy giảm sức khoẻ công nhân lao động, thậm chí gây nên những bệnh không chữa khỏi như: Bệnh bụi phổi - siilic nghề nghiệp, bệnh điếc nghề nghiệp, rung chuyển nghề nghiệp, ung thư phổi… Ngay cả sau khi chúng ta khám phát hiện bệnh cho đi điều dưỡng phục hồi và chuyển vị trí làm việc người lao động khỏi môi trường bị ô nhiễm nhưng bệnh vẫn tiếp tục tiến triển
Người lao động làm ở các ngành nghề khác nhau thường chịu tác động bởi các yếu tố môi trường lao động khác nhau như:
- Các yếu tố vật lý: Nhiệt độ, độ ẩm, tốc độ gió, ánh sáng, bức xạ nhiệt, bụi, ồn, rung chuyển, điện từ trường…
- Các yếu tố hoá học như: Khí NO2, SO2, CO2, CO, H2S,…
- Các yếu tố sinh vật: Vi khuẩn, vi rút, ký sinh trùng, nấm mốc, …
- Các yếu tố kinh tế, xã hội
Khai thác đá là nghề mà người lao động phải làm việc ngoài trời Một số yếu tố môi trường lao động không thuận lợi như bụi, tiếng ồn, hơi khí độc… phát sinh trong quá trình sản xuất khai thác và chế biến đá cũng ảnh hưởng đến năng xuất lao động và sức khoẻ công nhân Đặc biệt nước ta nằm trong
Trang 4khu vực khí hậu nhiệt đới nóng và ẩm, làm tăng các phản xạ nhiệt ẩm gây cản trở quá trình điều hoà thân nhiệt, ảnh hưởng tới sức khoẻ người lao động.Mỗi ngành nghề có đặc trương riêng, yếu tố môi trường tác động lên sức khoẻ công nhân lao động ở các ngành nghề khác nhau, do đó mô hình bệnh tật cũng có sự khác nhau.
Nhìn chung, các kết quả nghiên cứu của nhiều tác giả trong và ngoài nước đều cho rằng: Môi trường lao động có nhiều bụi, mô hình bệnh tật chủ yếu trong công nhân là bệnh phổi, phế quản mãn tính [3]
Đây là một bệnh nguy hiểm cho dự đó biết nguyên nhân, cơ chế gây bệnh nhưng cho đến nay chưa có phương pháp nào điều trị hữu hiệu cách tốt nhất để phòng chống lại căn bệnh này vẫn là các biện pháp phòng bệnh
1.2 Tình hình nghiên cứu môi trường lao động với sức khoẻ trên thế giới:
Cho đến nay giới khoa học và vệ sinh công nghiệp trên thế giới đã tổ chức nhiều hội nghị khoa học quốc tế về "Tác động phối hợp của môi trường lao động” như tại Phần Lan (1987), Nhật Bản (1986) [2]
Các tác giả Enterline P.E, Marsh G.M, Esmen N.A (1987) nghiên cứu tác động phối hợp của việc hút thuốc lá với nhiễm độc SO2 và Arsennic đến tỷ
lệ chết của công nhân nấu đồng Mỹ
Scheffer M, Dupuis H (1989) nghiên cứu tác động phối hợp của nhiệt
độ không khí với nhiệt độ da
Tác giả Voscresemski (1898) đã phân tích được nồng độ bụi chứa Silic
ở trong phổi và các hạch phế quản Ông đã khẳng định rằng khối lượng bụi chứa silic trong phổi của thợ mỏ nhiều hơn của những người khác [6]
Từ đầu thế kỷ XX, nhờ có các phương pháp kỹ thuật tiến bộ, nhất là máy X quang nên việc nghiên cứu bệnh bụi phổi nói chung và bệnh bụi phổi silic nói riêng cũng đạt được kết quả về nhiều mặt, được tiến hành ở nhiều nước trên thế giới
Trang 5Hội nghị quốc tế lần đầu tiên chính thức thảo luận về bệnh bụi phỏi silic được tổ chức ở Tohamnesburg (Nam phi) năm 1930 [19].
ILO (1980) đưa ra bảng phân loại kèm theo bộ phim mẫu, áp dụng cho tất cả các nước có bệnh bụi phổi silic [5]
Nhiều nước trên thế giới đó cú những công trình nghiên cứu về bệnh bụi phổi Silic Vì tác hại nghiêm trọng của nó đến sức khoẻ, tính mạng của công nhân lao động, do đó nhiều hội nghị quốc tế, quốc gia về bệnh bụi phổi silic đã được tổ chức [33]
1.3 Tình hình nghiên cứu môi trường lao động và sức khoẻ công nhân trong nước:
Ở nước ta đó cú một số nghiên cứu về tác động của vi khí hậu nóng, hơi khí độc, bụi đến sinh lý và bệnh tật của công nhân
Đào Ngọc phong (1986) đánh giá sự tương quan giữa các dấu hiệu bệnh lý viêm phế quản mạn với bụi, CO2 [25] Cùng tác giả Đào ngọc Phong và Chu Văn Thăng (1985) nghiên cứu phối hợp tác động bụi, SO2 đến bệnh hô hấp [26].Tác giả Nguyễn Bá Chẳng (2001) nghiên cứu tình hình vệ sinh môi trường khu dân cư đô thị Quảng ninh dưới ảnh hưởng của bụi và các yếu tố lý hoỏ khỏc [7]
Theo Nguyễn Khắc Hải (1998) nghiên cứu ô nhiễm môi trường và sức khoẻ, bệnh tật của công nhân ngành vật liệu xây dụng, mô hình bệnh tật chủ yếu là [9]:
- Bệnh phế quản – phổi chiếm tỷ lệ 70,18%
- Bệnh tai mũi họng chiếm tỷ lệ 20,40%
- Bệnh điếc nghề nghiệp chiếm tỷ lệ 19,00%
- Bệnh mắt chiếm tỷ lệ 6,20%
Theo số liệu thồng kê của Bộ Y tế đến tháng 12/2001 cả nước có khoảng 12.688 trường hợp mắc bệnh bụi phổi - silic được giám định và cấp sổ chiếm 76,29% trong tổng số các bệnh nghề nghiệp được phát hiện [31]
Trang 61.4 Tình hình môi trường lao động và bệnh nghề nghiệp của công nhân
Theo số liệu Khoa sức khoẻ Trung tâm Y tế dự phòng Lạng Sơn cú trờn 300 công nhân của mỏ trực tiếp làm việc trong môi trường ô nhiễm Với kết quả đo môi trường lao động năm 2008 của Trung tâm Y tế dự phòng Lạng Sơn cho thấy:
- Hàm lượng Silic trong bụi: 9 - 32%
1.4.2 Tình hình sức khoẻ về bệnh nghề nghiệp của công nhân mỏ đá Hồng Phong
Theo số liệu thống kê của Hội đồng giám định Y khoa và khoa sức khoẻ nghề nghiệp Trung tâm Y tế dự phòng Lạng Sơn cho đến nay tại mỏ đá Hồng Phong đã phát hiện những trường hợp mắc bệnh bụi phổi silic nghề nghiệp, Hàng năm số mắc mới được khám và phát hiện người mắc bệnh bụi phổi Lạng Sơn là một Tỉnh được Bộ Y tế chọn tỉnh Lạng Sơn thuộc nhóm 2 chương trình phòng chống bệnh nghề nghiệp giai đoạn 2008 – 2010 mục tiêu hàng năm giảm tỷ lệ mắc mới và tiến tới thanh toán bệnh bụi phổi - silic vào năm 2030 theo chủ trương toàn cầu
Trang 7Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu:
2.1.1 Người lao động:
Tất cả cán bộ nhân viên khối văn phòng công ty và công nhân từ khai thác, vận chuyển, sản xuất, chế biến mỏ đá Hồng Phong không phân biệt giới, tuổi đời và tuổi nghề
2.1.2 Môi trường lao động:
Đo vi khí hậu, độ ồn, bụi hô hấp, bụi toàn phần, hàm lượng SiO2 và một
số hơi khí độc…
2.2 Thời gian nghiên cứu
Từ tháng 7 năm 2009 đến tháng 8 năm 2010
2.3 Địa điểm nghiên cứu
Địa điểm nghiên cứu mỏ đá Hồng Phong - tỉnh Lạng Sơn
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Thiết kế nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu được thiết kế theo phương pháp nghiên cứu cắt ngang hồi cứu dựa trên số liệu hồ sơ quản lý sức khoẻ và bệnh tật nghề nghiệp của công nhân viên chức Công ty TNHH mỏ đá Hồng Phong
2.4.2 Cỡ mẫu nghiên cứu
- Toàn bộ công nhân viên chức Công ty TNHH mỏ đá Hồng Phong
gồm: 300 công nhân viên chức (167 công nhân nam và 133 công nhân nữ)
- Dựa vào đặc điểm nghề nghiệp và môi trường lao động, chúng tôi chia đối tượng ra làm 3 nhóm nghiên cứu theo TCVN: 5508 – 1991, 5509 –
1991, 3985 – 1999 505/BYT Và sử dụng theo thường quy kỹ thuật của Viện
Y học lao động và vệ sinh Môi trường
Trang 8Nhóm I: Nhóm nghề có nguy cơ cao (nhóm NC cao) bao gồm các nghề khai thác đá, lỏi mỏy sỳc, mỏy gạt, khoan nổ mìn, sàng tuyển đá… nhóm này
có 112 công nhân Trong đó có 59 công nhân nam và 53 Công nhân nữ
Nhóm II: Nhóm nghề có nguy cơ vừa (nhóm NC vừa) bao gồm: thợ cơ khí,
cơ điện, lái xe, bảo vệ mỏ, quản đốc, phó quản đốc và cán bộ kỹ thuật… nhóm này có 119 công nhân Trong đó có 88 công nhân nam và 31 Công nhân nữ
Nhóm III: Nhóm nguy cơ thấp (nhóm NC thấp) gồm khối văn phòng quản lý, Y tế, cấp dường nhà bếp nhóm này môi trường vi khí hậu nồng độ bụi thấp hơn hai nhóm NC cao và NC vừa Nhóm này có 69 công nhân Trong
đó có 44 công nhân nam và 25 Công nhân nữ
2.4.3 Cách chọn mẫu nghiên cứu
Chọn mẫu theo phương pháp chủ đích là toàn bộ quần thể công nhân viên chức trong Công ty TNHH mỏ đá Hồng Phong, không phân biệt tuổi, giới, nghề nghiệp, thời gian tiếp xúc với các yếu tố nguy cơ…
2.4.4 Các biến số và chỉ số nghiên cứu
- Về môi trường lao động:
+ Vi khí hậu (nhiệt độ, độ ẩm, vận tốc gió)
+ Bụi (bụi toàn phần, bụi hô hấp, hàm lượng Silic)
+ Tiếng ồn (ồn chung, ồn phân tích giải tần số)
+ Hơi khí độc (CO2, CO, SO2, NO2, H2S, NH3)
- Về tình hình sức khoẻ, bệnh tật của công nhân viên chức công ty:
+ Khám lâm sàng:
* Tuổi, giới, thời gian tiếp xúc (tuổi nghề, nam, nữ, nhóm nghề)
* Các chỉ số về thể lực: chiều cao, cân nặng, vòng ngực, huyết áp, mạch, nhiệt độ, nhịp thở
* Các bệnh và các triệu chứng bệnh về hô hấp, tim mạch, tai mũi họng,
da, tiờu hoỏ, tiết niệu, tâm thần kinh, phụ khoa…
+ Cận lâm sàng:
Trang 9* Phim X quang phổi.
* Đo chức năng hô hấp
2.4.5 Công cụ thu thập số liệu
- Hồ sơ khám sức khoẻ định kỳ theo thông tư số 13/2007/TT – BYT ngày 21 tháng 11 năm 2007 của Bộ Y tế
- Phiếu kết quả đo môi trường lao động
2.4.6 Phương pháp thu thập thông tin và thiết bị đo đạc
2.4.5.1 Máy móc, phương tiện đo các yếu tố trong môi trường lao động
Đo bụi hô hấp bằng mya đo Cacella – Anh và bụi toàn phần bằng máy
đo hiện số Dust Track – Mỹ, sử dụng máy lấy bụi SKC – Mỹ, cân mẫu bụi bằng cân điện tử toàn phần: mg/m3 Xác định hàm lượng SiO2 trong bụi hô hấp, sử dụng phương pháp Quang phổ hấp thụ hồng ngoại biến đổi Fourie trờn mỏy Shimadzu FT – IR 8400S – Nhật, kết quả biểu thị bằng hàm lượng SiO2 (%) trong bụi hô hấp
d Đo hơi khí độc
Lấy mẫu các hơi, khí bằng máy EC.2000 và máy SKC – Mỹ, phân tích bằng phương pháp so màu quang phổ hấp thụ vùng trông thấy trên máy đo mật độ quang Spectronic 21-D và máy cực phổ xung vi phân Metrohm VA
646 – Thuỵ Sỹ
e Đo bức xạ nhiệt: Đo bằng nhiệt kế tam cầu Metrosonic – Nhật
2.4.5.2 Kỹ thuật đo môi trường lao động
Trang 10- Đo vi khí hậu và bụi
Phương pháp thu thập các chỉ số nghiên cứu về môi trường được sử dụng theo thường quy kỹ thuật của viện Y học lao động và vệ sinh môi trường năm 2004
Địa điểm đo môi trường lao động: Những nơi tập trung nhiều công nhân đang làm việc của công ty như: các phân xưởng, trong nhà xưởng, ngoài trời, trờn cỏc moong đá, trờn các phương tiện khai thác và vận chuyển đá, mỗi điểm lấy 03 mẫu kết quả là giá trị trung bình
Xác định nồng độ bụi toàn phần trong không khí (mg/m3) các mẫu bụi được lấy từ các phân xưởng sản xuất có yếu tố nguy cơ cao
2.4.5.3 Phương pháp thu thập thông tin về sức khoẻ, bệnh tật của công nhân
Hồi cứu kết quả khám sức khoẻ định kỳ phân loại sức khoẻ và hồ sơ quản lý bệnh tật chung và bệnh nghề nghiệp trong hai năm 2008 – 2009 vệ một số bệnh tim mạch và hô hấp như viêm phế quản, bụi phổi… chẩn đoán xác định trên cơ sở kết hợp cả lâm sàng và cận lâm sàng, nên kết quả nghiên
Trang 11cứu thu được gần như chắc chắn đó là bệnh, cũn cỏc bệnh khác phần lớn gọi
là chứng bệnh do phát hiện qua khám định kỳ
2.4.7 Một số khái niệm sử dụng trong nghiên cứu
- Phân loại sức khoẻ công nhân dựa vào bảng phân loại sức khoẻ theo quyết định số 1613/BYT ngày 15/08/1997 của Bộ trưởng Bộ Y tế về việc ban hành “Tiờu chuẩn phân loại sức khoẻ để khám tuyển, khám định kỳ” cho người lao động
Bảng 2.1 Phân loại thể lực đối với lao động các nghề.
LOẠI
SƯC
CHIỀU CAO(cm)
CÂN NẶNG(kg)
VÒNG NGỰC(cm)
CHIỀU CAO(cm)
CÂN NẶNG(kg)
VÒNG NGỰC(cm)
I 163 trở lên 50 trở
lên
82 trở lên 155 trở lên
45 trở lên
76 trở lên
V Dưới 150 Dưới 40 Dưới 74 Dưới 143 Dưới 38 Dưới 70
* Cách phân loại sức khoẻ:
Loại I: Về cơ bản cả 13 chỉ tiêu đạt loại I
Loại II: Chỉ cần có 1 chỉ tiêu phân loại xếp loại II thì xếp sức khoẻ loại II Loại III: Chỉ cần có 1 chỉ tiêu phân loại xếp loại III thì xếp sức khoẻ loại III
Trang 12Loại IV: Chỉ cần có 1 chỉ tiêu phân loại xếp loại IV thì xếp sức khoẻ loại IV Loại V: Chỉ cần có 1 chỉ tiêu phân loại xếp loại V thì xếp sức khoẻ loại V.
* Cận lâm sàng:
Chụp X quang phổi: chụp phim X quang bằng máy SHIMADZU cả
sóng để chẩn đoán xác định bệnh bụi phổi - silic và phim phải đạt được đầy
đủ các tiêu chuẩn ở mức cao nhất, phải đảm bảo thông số kỹ thuật quy định của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) và Tổ chức Lao động Thế giới Phương pháp chụp được tính toán chiều cao, cân nặng tần số cho từng người
Đo chức năng hô hấp: Đo chức năng hô hấp khoa sức khoẻ nghề nghiệp
trung tâm Y tế dự phòng Lạng Sơn thực hiện theo kỹ thuật thường quy Viện
Y học Lao động và Vệ sinh môi trường Thiết bị đo máy SPIO ANALYZER
ST 250 của hang FUKUO SANYO (Nhật Bản sản xuất) có chương trình phần mềm phân tích kết quả
Bảng 2.2 Nhận định kết quả đo chức năng hô hấp
Đánh giá mức độ suy giảm CNHH
Mức độ suy giảm được xác định dựa vào% số lý thuyết của FEV1 hoặc FVC (Có 3 mức độ nhẹ, vừa và nặng)
Bảng 2.3 Đánh giá mức độ suy giảm chức năng hô hấp
Mức độ Hội chứng hạn chế Hội chứng tắc nghẽn
Trang 132.4.8 Đạo đức nghiên cứu
- Đề tài này sử dụng số liệu hiện có về đo môi trường lao động trong 2 năm: 2008 và 2009; kết quả khám sức khỏe định kỳ của công nhân cũng trong
2 năm 2008 và 2009 Do vậy việc sử dụng số liệu phải được phép của cơ quan chủ quản và sau khi có kết quả nghiên cứu phải phản hồi lại cho cơ quan
- Những thông tin liên quan đến tình hình sức khỏe, môi trường chỉ phục vụ cho mục đích nghiên cứu, không được sử dụng cho mục đích khác
Sơ đồ mô hình nghiên cứu
Khảo sát các yếu tố MT, sức khỏe và bệnh tật
Tình hình sức khỏe công nhân
Mỏ đá Hồng Phong
Nhóm nguy
Nhóm nguy
cơ thấp
Trang 14Chương 3KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Kết quả nghiên cứu môi trường lao động:
Bảng 3.1: Kết quả đo vi khí hậu trong hai năm 2008 – 2009
Trang 15Nhiệt độ Độ ẩm
(%)
Tốc độ gió(m/s)
Nhiệt độ ( 0 c)
Độ ẩm (%)
Tốc độ gió(m/s) TCVN:
3733/2002 /QĐ-BYT
TCVN:
3733/2002 /QĐ-BYT
TCVN: 3733/2002 /QĐ-BYT
Bụi hô hấp (mg/m 3 )
Hàm lượng Silic (%)
Bụi toàn phần (mg/m 3 )
Bụi hô hấp (mg/m 3 )
Hàm lượng Silic (%)
độ bụi toàn phần nằm trong giới hạn cho phép (≤ 4,0 mg/m3)
- Hầu hết tại các điểm đo mẫu bụi hô hấp đều vượt tiêu chuẩn cho phép, cao nhất là khu vực nguy cơ cao (từ 2,5 đến 3 lần) Sau đó đến khu vực nguy cơ vừa (1,5 đến 1,8 lần), ở khu vực nguy cơ thấp nằm trong giới hạn cho phép
Hàm lượng Si02 ở các khu vực điểm đo nằm trong khoảng 5 - 20%
Trang 16Bảng 3.3: Kết quả đo tiếng ồn
Tần số
Khu
vực đo
Tiếngồnchung
Mức áp âm ở các dải tần số (Hz)
63 125 250 500 1000 2000 4000 8000
Trang 17Bảng 3.4: Kết quả đo hơi khí độc các khu vực mỏ đá Hồng Phong Năm 2008:
Trang 183.2 Kết quả nghiên cứu về sức khoẻ, bệnh tật.
Bảng 3.6: Phân bố đối tượng nghiên cứu theo giới trong nhóm nghề (năm 2009)
Tỷ lệ (%)
Số lượng
Tỷ lệ (%)
Nhận xét:
- Tỷ lệ nam chiếm 63,7% và tỷ lệ nữ chiếm 36,3%
- Ở nhóm nghề nguy cơ cao tỷ lệ giữa nam cao hơn nữ (nam: 52,7%;
nữ 47,3%), đặc biệt nhóm nguy cơ vừa tỷ lệ nam công nhân cao gấp hơn 2 lần
so với nữ
Bảng 3.7: Phân bố đối tượng nghiên cứu theo tuổi nghề (năm 2009)
Trang 19Nhận xét:
- Đa số công nhân có tuổi nghề < 10 năm chiếm tỷ lệ 38,3% Sau đó đến tuổi nghề từ 10 đến 19 năm chiếm tỷ lệ 31,6%, cuối cùng đến tuổi nghề trên 20 năm chiếm tỷ lệ 30,1%
Bảng 3.8: Phân loại sức khoẻ cho năm 2008 – 2009
Loại sức
khoẻ
Năm
Tổng số
Loại sức khoẻ Loại II Loại III Loại IV Loại V
Số lượng %
Số lượng %
Số lượng %
Số lượng %
2008 296 117 39,5 112 37,8 63 21,3 4 1,4
2009 300 104 34,7 117 39,0 74 24,7 5 1,7
Ghi chú: Không có sức khỏe loại I
Nhận xét:
- Năm 2008 có 296 công nhân, số công nhân khám sức khỏe đình kỳ
đạt 100%; năm 2009 có 300 công nhân số công nhân khám sức khỏe định kỳ cũng đạt 100%
- Nhỡn chung sức khỏe của công nhân có xu hướng giảm dần từ 2008 đến 2009 Thể hiện qua số liệu sức khỏe từ loại III, IV, V tăng dần, năm sau cao hơn năm trước Sức khỏe loại II có xu hướng giảm
Bảng 3.9: Phân loại sức khoẻ theo nhóm nghề năm 2009
Loại sức khoẻ
Nhóm nghề
Tổng số
Loại sức khoẻ Loại I Loại II Loại III Loại IV Loại V
Nguy cơ cao (1) 112 34 30,4 48 42,9 26 23,2 4 3,6 Nguy cơ vừa (2) 119 40 33,6 51 42,9 27 22,7 1 0,8 Nguy cơ thấp (3) 69 30 43,5 18 26,1 21 30,4 0 0,0
Ghi chú: Không có sức khỏe loại I
Nhận xét: