Tiểu luận Quản trị ngân hàng TÌNH HÌNH THANH KHOẢN HỆ THỐNG NGÂN HÀNG VIỆT NAM TRONG CÁC NĂM 20082012 Khi xem xét ở chức năng trung gian tính dụng, nếu mất tính thanh khoản ngân hàng buộc phải chạy đua huy động vốn dẫn đến lãi suất huy động cao, lãi suất huy động cao buộc lãi suất cấp tín dụng cao và khó cho vay rõ ràng làm sụt giảm lợi nhuận và uy tín của ngân hàng.
Trang 1TÌNH HÌNH THANH KHOẢN HỆ THỐNG NGÂN HÀNG VIỆT NAM TRONG CÁC NĂM 2008-2012
GVHD: PGS.TS TRƯƠNG QUANG THÔNG Danh Sách Nhóm 3 – Lớp TCDN Ngày Cao Học K22
Trang 21 Khái Quát Về Thanh Khoản Và Rủi Ro Thanh Khoản 2
1.1 Khái quát về thanh khoản 2
1.2 Các chỉ số thể hiện khả năng thanh khoản 2
1.2 Rủi ro thanh khoản 6
1.2.1 Khái niệm 6
1.2.2 Nguyên nhân của rủi ro thanh khoản 6
2.Tình Hình Thanh Khoản Hệ Thống Ngân Hàng 2008 – 2012 8
2.1 Bối cảnh kinh tế trong mối liên hệ với hệ thống tài chính - ngân hàng, giai đoạn 2008 – 2012 8
2.1.1 Tình hình kinh tế thế giới 8
2.1.2 Tình hình kinh tế trong nước 9
2.2 Đánh giá và phân tích tình hình thanh khoản hệ thống ngân hàng trong giai đoạn 2008 – 2012 10
2.2.1 Thống kê mô tả và đánh giá tổng quan tình hình thanh khoản ngân hàng 10
2.2.2 Phân tích tình hình thanh khoản dựa trên diễn biến chính sách và phản ứng của các ngân hàng 19
KẾT LUẬN 28
Trang 3Bảng 2.2: Ngân hàng SeA Bank
Trang 4Hình 2.1: Tỷ lệ an toàn vốn (CAR)
Hình 2.2: Tỷ lệ an toàn vốn của 4 ngân hàng lớn nhất Việt Nam (2008 -2012)Hình 2.3: Chỉ số H1 và H2
Hình 2.4: Chỉ số H3 , H4 , H5
Hình 2.5: Cung ứng tiền qua thị trường mở một số năm – NHNN
Hình 2.6: Trái phiếu phát hành và giao dịch trên thị trường thứ cấp
Trang 5LỜI MỞ ĐẦU
Khi xem xét ở chức năng trung gian tính dụng, nếu mất tính thanh khoản ngân hàngbuộc phải chạy đua huy động vốn dẫn đến lãi suất huy động cao, lãi suất huy động caobuộc lãi suất cấp tín dụng cao và khó cho vay rõ ràng làm sụt giảm lợi nhuận và uy tíncủa ngân hàng Rủi ro thanh khoản là một trong những rủi ro quan trọng nhất đối vớihoạt động ngân hàng Một ngân hàng gặp phải rủi ro thanh khoản có thể bị tê liệt tronghoạt động và gặp phải những loại rủi ro phá sản
Rủi ro thanh khoản phát sinh khi dân chúng mất lòng tin vào ngân hàng hoặc nhu cầurút tiền có tính chất thời vụ mà ngân hàng không dự tính trước được đòi hỏi ngân hàngphải chi trả tức thời một khoản tiền lớn hơn mức bình thường Trong bối cảnh đó, hầuhết các ngân hàng đều phải đối phó với tình huống tương tự, thì chi phí để huy độngvốn bổ sung tăng lên một cách đáng kể do lượng vốn cung ứng trên thị trường giảm.Hậu quả là ngân hàng phải bán một số tài sản có độ thanh khoản thấp càng ngày càngnghiêm trọng, nếu tất cả người gửi tiền đồng loạt yêu cầu chi trả toàn bộ tiền gửi của
họ thì dẫn đến ngân hàng chỉ đang từ chỗ phải đối phó với rủi ro thanh khoản đến chỗphải đối mặt với rủi ro phá sản
Rủi ro thanh khoản không chỉ đe dọa sự an toàn của bản thân từng ngân hàng thươngmại, mà còn liên quan đến sự an toàn của cả hệ thống Ví dụ, việc phá sản của mộtngân hàng thiếu thanh khoản sẽ dẫn đến sự hoảng loạn của người gửi tiền, kéo theo sựrút tiền hàng loạt ở các ngân hàng khác và lúc này sẽ dẫn đến sự sụp đổ của toàn hệthống chứ không chỉ của riêng ngân hàng đó
Khó khăn thanh khoản ảnh hưởng đến các hoạt động đầu tư vì khi lãi suất tiền gửi tăng,nguồn tiền tập trung gửi vào ngân hàng làm cho nền kinh tế sẽ giảm kênh huy độngvốn Song song đó, lãi suất cấp tín dụng cao sẽ làm ảnh hưởng đến hoạt động kinhdoanh của doanh nghiệp, dẫn đến giá cả tăng (tăng nguy cơ lạm phát), giảm quy môđầu tư dẫn đến tăng trưởng kinh tế sụt giảm Vì lý do đó, nhóm chúng tôi đã thực hiện
đề tài “Tình hình thanh khoản hệ thống ngân hàng Việt Nam giai đoạn 2008-2012”
Trang 6Vốn tự có Tổng tài sản “Có” rủi ro quy đổi
X 100%
CAR =
1 Khái Quát Về Thanh Khoản Và Rủi Ro Thanh Khoản
1.1 Khái quát về thanh khoản
Dựa vào hai cách tiếp cận từ tài sản và nguồn vốn, thanh khoản là khả năng tiếp cậncác tài sản và nguồn vốn với một chi phí hợp lý để phục vụ các nhu cầu hoạt động khácnhau của NH Một tài sản có tính thanh khoản cao khi chi phí chuyển đổi thành tiềnthấp và thời gian chuyển đổi thành tiền nhanh, trong khi đó nguồn vốn có tính thanhkhoản cao khi chi phí huy động thấp và thời gian huy động nhanh
1.2 Các chỉ số thể hiện khả năng thanh khoản
1 Vốn điều lệ
Là nguồn vốn ban đầu của ngân hàng có được khi mới hoạt động và được ghi vào bảnđiều lệ hoạt động của ngân hàng Vốn điều lệ hoặc vốn được cấp tối thiểu phải bằngmức vốn pháp định
2 Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu (CAR)
Là một thước đo độ an toàn vốn của ngân hàng
Vốn tự có là tổng vốn cấp 1 (Tier 1 capital) và vốn cấp 2 (Tier 2 capital) Tổng tài sản
“Có” rủi ro là tổng giá trị tài sản “Có” xác định theo mức độ rủi ro và giá trị tài sản
“Có” tương ứng của cam kết ngoại bảng xác định theo mức độ rủi ro Cách tính toánchi tiết được quy định trong Thông tư 13/2010/TT-NHNN ngày 20/05/2010 của Ngânhàng Nhà nước CAR cho ý nghĩa tương tự như tỷ lệ đòn bẩy Tỷ lệ này giúp xác địnhkhả năng đáp ứng các nghĩa vụ của ngân hàng với khả năng tự vệ từ vốn tự có và đánhgiá khả năng thích ứng các rủi ro tín dụng, rủi ro hoạt động Xem xét hệ số này cũng
Trang 7Vốn tự có Tổng nguồn vốn huy động
X 100%
H1 =
Vốn tự có Tổng tài sản “Có”
X 100%
H2 =
giúp tạo ra công bằng khi đánh giá rủi ro giữa các ngân hàng lớn và ngân hàng nhỏ.Ngân hàng Trung ương các nước thường quy định tỷ lệ CAR tối thiểu để bảo vệ ngườigửi tiền, người cho vay, và qua đó giúp đảm bảo an toàn hệ thống tài chính Theo thông
tư số 13/2010/TT-NHNN ngày 20/05/2010, tổ chức tín dụng, trừ chi nhánh ngân hàngnước ngoài, hiện được quy định phải duy trì tỷ lệ an toàn vốn (CAR) tối thiểu ở mức9%
3 Chỉ số giới hạn huy động vốn (H1)
Hệ số này đưa ra nhằm mục tiêu giới hạn mức huy động vốn của ngân hàng để tránhtình trạng khi ngân hàng huy động vốn quá nhiều vượt mức bảo vệ của vốn tự có làmcho ngân hàng có thể mất khả năng chi trả Nói cách khác ngân hàng chỉ được huyđộng 1/H1 lần vốn tự có H1 được NHNN
4 Chỉ số (H2)
Hệ số này dùng để đánh giá mức độ rủi ro của tổng tài sản có của một ngân hàng Theoquy định hệ số H2 lớn hơn 5% Thông thường ngân hàng nào gặp phải sự sụt giảm vềtài sản (do rủi ro xuất hiện) càng lớn thì lợi nhuận của ngân hàng đó càng thấp Vì vậy
hệ số này cho phép tài sản của ngân hàng sụt giảm ở một mức độ nhất định so với vốn
tự có của ngân hàng
Trang 8Tiền mặt + Tiền gửi tại các TCTD Tổng tài sản “Có”
6 Chỉ số năng lực cho vay (H4)
Hệ số này chỉ rằng, phần tài sản “Có” của ngân hàng được phân bổ cho những tài sảnkém thanh khoản, đó là các khoản tín dụng Nếu dư nợ càng cao, lợi nhuận thu từ hoạtđộng tín dụng càng nhiều, đồng thời rủi ro thanh khoản của ngân hàng cũng càng lớn
7 Chỉ số (H5)
Hệ số này đánh giá ngân hàng đã sử dụng bao nhiêu phần trăm tiền gửi để cấp tíndụng, chỉ tiêu này càng cao khả năng thanh toán càng giảm, rủi ro thanh khoản cànglớn, nhất là khi các ngân hàng sử dụng vốn huy động tập trung vào cho vay trung vàdài hạn
8 Chỉ số chứng khoán có tính thanh khoản (H6)
Trang 9Tiền gửi và cho vay TCTD Tiền gửi và vay từ TCTD
Tổng cho vay qua đêm – Tổng nợ qua đêm
Chỉ số H6 phản ánh tỷ lệ nắm giữ các chứng khoán dễ dàng chuyển đổi thành tiền mặt,đáp ứng nhu cầu thanh khoản trên tổng tài sản “Có” Tỷ lệ này càng cao trạng tháithanh khoản của ngân hàng càng tốt
9 Chỉ số (H7)
Chỉ số H7 cho biết trên thị trường liên ngân hàng, thì một ngân hàng đóng vai trò làngân hàng dư thừa thanh khoản hay thiếu hụt thanh khoản, chủ động hay không chủđộng giải quyết thanh khoản Chỉ số này giúp so sánh lượng vốn mà ngân hàng cho vay
và gửi tại các TCTD khác và lượng vốn mà các TCTD khác vay và gửi tại ngân hàngnày Chỉ số H7 lớn hơn 1 thể hiện ngân hàng có khả năng thanh khoản tốt
10 Chỉ số (H8)
Chỉ số H8 cho biết lượng tiền mặt và tiền gửi tại các TCTD khác của ngân hàng chiếmbao nhiêu phần trăm trong tiền gửi của khách hàng Tiền mặt và tiền gửi tại các TCTDkhác là loại tài sản tức thời có thể dùng để thanh toán ngay cho nhu cầu rút tiền gửi củakhách hàng bất cứ lúc nào ra khỏi ngân hàng Do đó chỉ số H8 càng cao thể hiện khảnăng thanh khoản của ngân hàng càng tốt, rủi ro thanh khoản thấp
11 Các chỉ số khác
Trang 10Tiền gửi giao dịch Tổng tiền gửi
1.2 Rủi ro thanh khoản
1.2.1 Khái niệm
Rủi ro thanh khoản là loại rủi ro đặc trưng và phổ biến trong hoạt động ngân hàng Rủi
ro thanh khoản là rủi ro mà ngân hàng thiếu khả năng thanh toán, do không có khảnăng chuyển đổi tài sản thành tiền, hoặc không có khả năng huy động, vay mượn đểđáp ứng các hợp đồng đã cam kết trước đó
1.2.2 Nguyên nhân của rủi ro thanh khoản
1.2.2.1 Nguyên nhân chủ quan
Quản lý thanh khoản không chặt chẽ dẫn đến thiếu khả năng chi trả
Cho vay và đầu tư quá mức, tập trung cho vay hay đầu tư vào các doanh nghiệphoặc các chứng khoán, các ngành hay các doanh nghiệp có rủi ro cao
Do thiếu am hiểu thị trường, thiếu thông tin hoặc phân tích thông tin không đầy
đủ dẫn đến cho vay hoặc đầu tư không hợp lý
Do hoạt động kinh doanh trái pháp luật, tham ô
Do cán bộ, ngân hàng thiếu đạo đức nghê nghiệp, yếu kém về trình độ nghiệp
Trang 111.2.2.2 Nguyên nhân khách quan
Chính sách quản lý của NHNN
Khi NHNN tiến hành các giao dịch trên thị trường mở, thay đổi lãi suất, thay đổi tỷ lệ
dự trữ bắt buộc hay thay đổi lãi suất tái chiết khấu, nó làm thay đổi lượng cung tiềntrong nền kinh tế Do đó các ngân hàng phải điều chỉnh hành vi, điều này ảnh hưởngđến thanh khoản của NH Thí dụ như, nếu NHNN quy định tỷ lệ dự trữ bắt buộc điềuchỉnh tăng lên, điều này làm các ngân hàng sử dụng phần còn lại của nguồn vốn huyđộng để kinh doanh giảm lại, lượng tiền mặt tại ngân hàng giảm đi Nếu như trước đóngân hàng có những khoảng cam kết cấp tín dụng cho người vay, thì ngân hàng cónguy cơ không đáp ứng đủ nhu cầu cấp tín dụng đó ngân hàng có nguy cơ đối mặt với
sự thiếu hụt thanh khoản
Nguyên nhân khách quan về nền kinh tế - tài chính
Khi nền kinh tế - tài chính rơi vào tình trạng khủng hoảng, ngân hàng có nguy cơ đốimặt với hiệu ứng rút tiền dây chuyền lớn dẫn đến ngân hàng mất thanh khoản trầmtrọng
Nguyên nhân thuộc về phía khách hàng
Do khách hàng sử dụng vốn vay sai mục địch, kém hiệu quả
Quản lý vốn không hợp lý dẫn đến mất thanh khoản
Trang 122.Tình Hình Thanh Khoản Hệ Thống Ngân Hàng 2008 – 2012
2.1 Bối cảnh kinh tế trong mối liên hệ với hệ thống tài chính - ngân hàng, giai đoạn 2008 – 2012
2.1.1 Tình hình kinh tế thế giới
Giai đoạn 2008-2012 là thời kỳ kinh tế thế giới bước vào một giai đoạn khó khăn vớinhững thách thức mới nghiêm trọng của cuộc khủng hoảng và suy thoái kinh tế toàncầu
Trong giai đoạn này, nền kinh tế thế giới phải đối mặt với những khó khăn nổi bật sau:Tăng trưởng kinh tế chậm lại Thất nghiệp tăng vọt và thâm hụt tài khóa sâu rộng xuấthiện ở hàng loạt nền kinh tế kể cả các nền kinh tế phát triển
Trong giai đoạn kinh tế khó khăn giai đoạn này, đã có những dấu hiệu cho thấy xuhướng bảo hộ tăng lên vì tình hình tài chính khó khăn không cho phép chi tiêu mạnh ởnhiều nước Các nỗ lực nhằm làm suy yếu tỷ giá hối đoái, hay định giá thấp đồng tiềncủa nhiều quốc gia, đã làm gia tăng thêm căng thẳng xung quanh sự bất cân bằngthương mại toàn cầu
Chính phủ các nước rất khó có thể tìm được nguồn tài trợ trong bối cảnh tình hình châu
Âu và nền kinh tế toàn cầu ngày càng bất ổn hơn Năm 2011, cuộc khủng hoảng nợcông ở châu Âu diễn biến hết sức phức tạp trở thành một mối đe dọa cho sự tồn tại củacác thể chế ở châu Âu
Hơn nữa những biến động chính trị tại khu vực Trung Đông – Bắc Phi vẫn chưa ổnđịnh, những mâu thuẫn giữa các nước phát triển ngày càng gia tăng Những thảm họađộng đất, sóng thần và khủng hoảng hạt nhân ở Nhật Bản, những ảnh hưởng tiêu cựccủa hiện tượng biến đổi khí hậu là những yếu tố khiến cho toàn bộ hệ thống kinh tế thếgiới trở nên bất định hơn với những nguy cơ mới về mất an ninh năng lượng và lươngthực trên toàn cầu
Trang 132.1.2 Tình hình kinh tế trong nước
Kinh tế năm 2007 tăng trưởng 8,5%, cao nhất kể từ năm 1997 Tuy nhiên năm 2008,nền kinh tế Việt Nam chững lại, được cho bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân, trong đó
có khủng hoảng tài chính 2007-2010 Từ năm 2007, nền kinh tế đã có dấu hiệu lạmphát rất cao Tăng trưởng GDP 2008 của Việt Nam chỉ đạt 6,23%, thấp nhất kể từ năm
1999 Các năm 2007-2008, lạm phát tăng tốc và hàng năm đều ở mức 10-20% Năm
2009, tốc độ tăng trưởng GDP tụt xuống còn 5,32%, năm 2010 là 6,78% và năm 2011
là 5,89%
Tháng 5 năm 2009, Chính phủ tung ra gói kích cầu có giá trị 143.000 tỷ đồng, sau đótăng lên 160 nghìn tỷ đồng Gói kích cầu có ảnh hưởng tốt nhất định (kích thích nhucầu tăng, dẫn tới tăng GDP), tuy nhiên cũng để lại nhiều hệ lụy sau này: tạo bong bóngđầu cơ bong bóng chứng khoán và bất động sản, lạm phát tăng cao, thâm hụt ngân sáchnặng dẫn tới nợ nhà nước tăng cao, gây bất ổn định tỷ giá và bất ổn định kinh tế vĩ mô.Ngày 25/11/2009 VND bị phá giá khoảng 5% và đến tháng 12, Chính phủ phải tuyên
bố dừng gói kích cầu
Kinh tế vĩ mô bất ổn định, lạm phát năm 2011 lên tới trên 20% Trong năm 2010,NHNN đã từng ba lần áp dụng biện pháp phá giá đồng tiền VND Ngày 11/2/2011,VND bị phá giá 9,3% Mặc cho các cuộc phá giá liên tục, tình trạng thâm hụt mậu dịchvẫn tiếp diễn
Sang năm 2012, nền kinh tế Việt Nam lâm vào tình thế rất khó khăn, trong đó nổi bật
là nợ xấu ngân hàng và hàng tồn kho tăng cao, thị trường Bất động sản và Chứngkhoán suy thoái, đặc biệt là thị trường bất động sản suy thoái nghiêm trọng Một sốlượng lớn các doanh nghiệp phá sản Tính chung hai năm 2011 và 2012 thì tổng số DNrời khỏi thị trường bằng 20 năm trước đó Và trong số gần 500.000 DN đang hoạt độngthì tỷ lệ thua lỗ cũng rất cao Nợ xấu của toàn nền kinh tế tăng cao và tăng với tốc độnhanh đe doạ sự ổn định của nền kinh tế
Trang 142.2 Đánh giá và phân tích tình hình thanh khoản hệ thống ngân hàng trong giai đoạn 2008 – 2012.
2.2.1 Thống kê mô tả và đánh giá tổng quan tình hình thanh khoản ngân hàng
Vấn đề gia tăng vốn điều lệ để đảm bảo được tỷ lệ an toàn tối thiểu của Ngân hàngthương mại (NHTM) Đối với một Ngân hàng ở quy mô trung bình trong khu vựcĐông Nam Á thì vốn điều lệ là 1 tỷ USD tương đương 20.000 tỷ đồng, có nghĩa gấp 7lần vốn điều lệ bắt buộc với các Ngân hàng Việt Nam hiện tại Cụ thể, trong 10 Ngânhàng lớn nhất Đông Nam Á, vốn điều lệ thấp nhất của các ngân hàng này là BankMandiri của Indonesia với vốn sở hữu là 5,09 tỷ USD vốn điều lệ, các Ngân hàng khácnhư Maybank của Malaysia ở mức 9,74 tỷ USD, Thailand’s Bangkok Bank ở mức 6,81
tỷ USD, các Ngân hàng này được xếp hạng các chỉ số thanh khoản ở mức tốt Vậy nếu
so sánh với các Ngân hàng trung bình trong khu vực, thì Ngân hàng có vốn điều lệ lớnnhất ở Việt Nam hiện tại chỉ ở khoảng hơn 1 tỷ USD, là quá nhỏ bé so với các ngânhàng trong khu vực Ngoài ra, các Ngân hàng rơi vào tình trạng không đáp ứng đượcviệc yêu cầu tăng vốn điều lệ của NHNN phải tiến hành tái cơ cấu và sáp nhập để đápứng được yêu cầu về vốn điều lệ cũng gây ra một mối lo ngại Điều này đưa đến kếtluận rằng tăng trưởng trong vốn điều lệ của các Ngân hàng Việt Nam chưa đủ để đảmbảo tăng trưởng huy động và tín dụng an toàn, đảm bảo thanh khoản và phục vụ choviệc tăng trưởng bền vững của các Ngân hàng
Trang 152012 Trước đó, một sự sụt giảm mạnh 1.71% từ năm 2008 (10,37%) về mức thấp nhấtvào năm 2009, đây là thời điểm gắn liền với những khó khăn trong hoạt động ngànhngân hàng từ ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính thế giới.
Theo như các số liệu được công bố này, rõ ràng, hệ thống ngân hàng Việt Nam giaiđoạn 2010-2012 có mức “an toàn thanh khoản” vượt qua tiêu chuẩn cả Basel III, vànhững con số này nói lên rằng hầu hết ngân hàng đều đảm bảo thanh toán tốt các khoản
nợ có thời hạn cũng như có khả năng đối mặt với các rủi ro khác như rủi ro tín dụng vàrủi ro vận hành Biểu đồ sau cho thấy diễn biến thay đổi tỷ lệ an toàn vốn của 4 ngânhàng có tài sản lớn nhất qua các năm 2008-2012
Trang 16Tỷ lệ an toàn vốn của 4 ngân hàng lớn nhất Việt Nam (2008-12)
Hình 2.2: Tỷ lệ an toàn vốn của 4 ngân hàng lớn nhất Việt Nam (2008 -2012)
Trong nhóm tứ khổng lồ này, cá biệt có ngân hàng Agribank khi 4 năm liền từ
2008-2011 có tỷ lệ an toàn vốn thấp hơn mức yêu cầu tối thiểu Là ngân hàng có tài sản lớnnhất Việt Nam (với hơn 590 nghìn tỷ đồng tính đến cuối năm 2012) và là ngân hàng có
dư nợ cao nhất hệ thống, Agribank cũng là ngân hàng có nợ xấu lớn nhất trong số cácNHTM Nhà nước Theo số liệu sổ sách thì nợ xấu của Agribank tại thời điểm31/12/2012 là 5,8%, xấp xỉ 28.000 tỷ đồng – chiếm hơn 10% tổng nợ xấu của toàn hệthống Tỷ lệ nợ xấu này cũng cao gấp hơn 2 lần so với tỷ lệ nợ xấu của BIDV vàVietcombank trong khi gấp tới 4 lần so với của Vietinbank Nợ xấu những năm trước
đó của Agribank cũng cao hơn nhiều, có thời điểm lên đến 8%, đó là một trong nhữngnguyên nhân khiến hệ số CAR của Agribank giảm thấp, thấp nhất là 5.45% năm 2009– giảm đến 1.25% so với năm 2008 trước đó – thấp hơn rất nhiều với mức yêu cầu tốithiểu 8%
Nhìn chung, hầu hết các ngân hàng Việt Nam trong giai đoạn này đều đáp ứng tốt mức
an toàn vốn tối thiểu theo tiêu chuẩn Thông tư 13/2010/TT-NHNN Tuy nhiên, đây là
Trang 17những con số này được đưa ra trong các báo cáo thường niên với số liệu sẵn có củangân hàng và hệ số CAR ở đây được tính theo chuẩn mực kế toán Việt Nam; nếu tínhtheo chuẩn mực kế toán quốc tế thì tỷ lệ an toàn vốn CAR của các NHTM Việt Nam cómột sự sai lệch khá xa, theo đánh giá thì sai lệch này có thể từ 2-3% Rõ ràng đây làmột hạn chế khi chúng ta muốn đánh giá năng lực tài chính (đảm bảo về thanh khoản)của các ngân hàng nếu chỉ dựa vào tỷ lệ an toàn vốn CAR.
2.2.1.2 Chỉ số H1 và H2
Hình 2.3: Chỉ số H1 và H2
Đối với chỉ số H1 và H2, tiêu chuẩn chung là lớn hơn 5%, nhìn chung các ngân hàngđiều thực hiện được việc này trong giai đoạn từ 2008 đến 2012 Các Ngân hàng đềuduy trì được hai chỉ số này từ mức 7% trở lên Riêng với chỉ số H2 của các ngân hàng
VN trung bình trong giai đoạn 2008 – 2012 là 7%, cá biệt có một số Ngân hàng lớn ởViệt Nam như Argibank chỉ ở mức 4% trong năm 2008-2009, tăng đến 5% năm 2010
và 6% năm 2011 và đạt mức 7% năm 2012, các Ngân hàng quốc doanh khác nhưBIDV, Vietinbank, Vietcombank cũng rơi vào tình trạng tương tự với H2 chỉ ở mức từ5-6% như bảng số liệu phía dưới Nếu so sánh chỉ số này của các Ngân hàng quốc
Trang 18doanh lớn ở Việt Nam với chỉ số tương đương là Equity/Asset trung bình khoảng 8%của 100 Ngân hàng lớn nhất ở Mỹ thì phải chăng quy mô vốn tự có Agribank, mộtngân hàng quốc doanh lớn của Việt Nam, là quá thấp so với quy mô hoạt động và tăngtrưởng tổng tài sản Điều này thể hiện tốc độ tăng trưởng vốn tự có của các Ngân hàngViệt Nam quá thấp so với tốc độ huy động nguồn vốn, việc này gây ra rủi ro cho Ngânhàng cũng như của hệ thống.
Trang 19của các Ngân hàng Việt Nam trong giai đoạn 2008 – 2012 từ 13 đến 20% Tuy nhiênthành phần tiền gửi có kỳ hạn của các Ngân hàng trong giai đoạn này chiếm tỷ trọngkhá lớn trong thành phần tiền gửi các TCTD, chính khoản tiền gửi có kỳ hạn giữa cácNgân hàng với nhau giúp đưa chỉ số này lên trên 10% Tuy nhiên khi xem xét loại bỏkhoản tiền gửi có kỳ hạn các TCTD khác, chỉ số này ở một số Ngân hàng xuống thấphơn 10% ở Agribank, Techcombank, VIB, ACB, Maritimebank, SHB, MB Bank,Seabank, Vietinbank trong giai đoạn này Điều này chứng tỏ khi có nhu cầu thanhkhoản lớn và đột xuất các Ngân hàng phải vay với mức lãi suất cao trên thị trường liênngân hàng với một lãi suất cao Đây chính là nguyên nhân gây ra tình trạng lãi suất liênngân hàng cao liên tục trong giai đoạn 2008-2009 Bên cạnh đó, khi xem xét chất lượngcủa các khoản tiền gửi tại TCTD khác, chúng ta nhìn thấy dòng tiền gửi có kỳ hạn giữacác Ngân hàng là khá lớn so với tổng tài sản của Ngân hàng đó Một câu hỏi đặt ra làtại sao các Ngân hàng lại đem gửi có kỳ hạn tại các TCTD trong khi lại đi vay với lãisuất qua đêm cao liên tục trên thị trường liên ngân hàng? Câu trả lời chúng ta có thể có
ở đây là việc các ngân hàng đem tiền gửi có kỳ hạn qua lại với nhau để đẩy tổng tài sản
và huy động của cả hai ngân hàng lên, đẩy chỉ số thanh khoản lên trên 10%, trong khi
đó trên thực tế khoản tiền gửi này được cấn trừ giữa hai ngân hàng nên không có tài sảnthực cũng như không có dòng tiền thực để đảm bảo thanh khoản cho cả hai ngân hàngthực hiện giao dịch này Nghiệp vụ này được thực hiện một cách thường xuyên và có
hệ thống trong các Ngân hàng Việt Nam giúp làm đẹp báo cáo tài chính và các chỉ sốcủa Ngân hàng vì vậy ở chỉ số thanh khoản tính toán từ khoản tiền gửi có kỳ hạn tạiTCTD khác không phản ảnh đúng tình trạng thanh khoản của Ngân hàng Việc này xảy
ra do thiếu các quy định chặt chẽ của NHNN về tiền gửi có kỳ hạn giữa các Ngân hàng
và không có sự giám sát và quản lý chặt chẽ từ NHNN Chính vì vậy, thông tư NHNN ban hành vào tháng 9/2012 quy định về việc hạn chế tiền gửi có kỳ hạn giữacác ngân hàng
Trang 2021/QĐ-2.2.1.4 Nhóm chỉ số H4 và H5
Là nhóm chỉ số thể hiện năng lực cho vay và tình trạng phân bổ tài sản có rủi ro củaNgân hàng Đối với chỉ số H4, năng lực cho vay của Ngân hàng cho thấy tỷ lệ dư nợgiải ngân cho vay so với tổng tài sản Chỉ số này cho thấy tỷ lệ tài sản có tính thanhkhoản kém nhất (dư nợ cho vay) so với tổng tài sản Tỷ số này càng cao cho thấy ngânhàng đang chịu mức rủi ro càng cao Mức trung bình dư nợ cho vay trên tổng tài sảncủa hệ thống ngân hàng Việt Nam dao động trong mức 60% và chỉ dao động nhẹ trongthời kỳ thu thập số liệu Rủi ro dễ thấy nhất mà Ngân hàng phải gánh chịu là rủi ro lãisuất khi NHNN thắt chặt chính sách tiền tệ và rủi ro thanh khoản khi có biến cố đòi hỏithanh khoản lớn trong ngắn hạn Điều đáng cảnh báo với hệ thống Ngân hàng ViệtNam là một số Ngân hàng có tổng tài sản lớn lại có chỉ số này khá cao >75%, cụ thểchỉ số trung bình ở Agribank trong 5 năm là 76%, BIDV tỷ số trung bình qua 5 năm là78% và DongABank tỷ số trung bình là 73% Đối với các ngân hàng có tổng tài sảnlớn, có vai trò quyết định trong hệ thống nhưng chỉ số này quá cao dễ dẫn đến nguy cơkhủng hoảng thanh khoản và ảnh hưởng đến toàn hệ thống
Đối với chỉ số H5, là chỉ số dư nợ/tiền gửi khách hàng Chỉ số này đánh giá ngân hàng
đã sử dụng bao nhiêu phần trăm nguồn vốn huy động tiền gửi khách hàng để cung ứngtín dụng Tỷ lệ này càng cao, tính thanh khoản của ngân hàng càng thấp Trên biểu đồ
ta có thể thấy được chỉ số trung bình của các ngân hàng Việt nam ở mức trên dưới100% Điều này có nghĩa gần như toàn bộ số tiền huy động từ khách hàng đều đượcNgân hàng sử dụng để cho vay Chỉ số H5 trung bình của toàn hệ thống trong giai đoạn
2008 -2012 là 97%, tính bình quân ngân hàng huy động được 100 đồng thì cho vay hết
97 đồng Cá biệt, một số ngân hàng có chỉ số này trung bình trong giai đoạn 2008
-2012 cao hơn 105% như Agribank 105%, DongABank 115%, BIDV 122%,VietinBank 110% Như vậy, tài sản “Có” sinh lời là các khoản tín dụng chiếm tỷ trọnglớn trong tổng tài sản, mà cho vay lại là tài sản có mức độ rủi ro cao hơn nhiều loại tàisản khác Như vậy trong hệ thống ngân hàng Việt Nam, có chỉ số này cao thể hiện cơ