1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Cấu trúc cạnh tranh ngân hàng việt nam

22 461 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 143 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các sản phẩm này đượcnhiều ngân hàng ứng dụng như BIDV, Vietcombank…Điều này không những có lợicho khách hàng trong sử dụng các dịch vụ tài chính tiết kiệm thời gian thanh toán phíbảo hi

Trang 1

Đề tài: Cấu trúc cạnh tranh ngân hàng Việt Nam.

1 Áp dụng mô hình 5 lực lượng cạnh tranh của M.Porter vào phân tích cấu trúc cạnh tranh ngành ngân hàng tại Việt Nam.

Mô hình năm lực lượng cạnh tranh của M.Porter

1.1 Hoạt động bán lẻ của ngành ngân hàng.

Hoạt động bán lẻ của các ngân hàng ngày càng đa dạng: Các dịch vụ bán lẻ củaNHTM Việt Nam ngày càng đa dạng, trở nên đồng đều hơn với việc triển khai củahầu hết các NHTM, tạo cho khách hàng có nhiều cơ hội lựa chọn

- Các sản phẩm của ngân hàng điện tử ngày càng trở nên rộng rãi và phổ biến:Năm 2004 chỉ có 3 NHTM triển khai dịch vụ Internet banking thì đến năm 2008 đã có

25 NHTM chủ yếu là cung cấp thông tin, thanh toán hoá đơn định kỳ, chuyển tiềutrong hệ thống và tơi nay thì hầu hết các ngân hàng đều có, phổ biến rất nhiều cácdịch vụ Mức độ cạnh tranh giữa các ngân hàng ngày càng gay gắt hơn Riêng về dịch

vụ Inernet banking, có thể thấy 2 vấn đề nổi lên: (1) khối NHTMCP nhanh và thựchiện toàn diện hơn các tiện ích của ngân hàng điện tử so với khối NHTMNN; (2) khốiNHTM có yếu tố nước ngoài thực hiện dịch vụ này với các tiện ích và chất lượng

Trang 2

vượt trội so với NHTM Việt Nam (HSBC Việt Nam được Global Finance bình chọn

là ngân hàng có dịch vụ Inernet banking tốt nhất Việt Nam năm 2009)

- Dịch vụ thẻ ngày càng trở nên phổ biến trong các tầng lớp dân cư, các doanhnghiệp với nhiều tiện ích, nhiều loại thẻ tín dụng Việc chuyển từ thẻ từ sang sử dụngthẻ chip là một hướng đi đúng và cần thiết nhằm bảo toàn cho khách hàng, mặc dùcần đến công nghệ, nhân lực và chi phí Theo thống kê của NHNN, hệ thống ngânhàng có gần 9.000 máy ATM, hơn 28.000 điểm chấp nhận thẻ (POS), 9/41 tổ chức đãphát hành và thanh toán bằng thẻ chip với hơn 28.000 thẻ Hiện nay có 13.500 máyPOS và 2.000 máy ATM đã chấp nhận thanh toán bằng thẻ chip Riêng ACB đã pháthành hơn 38.000 thẻ tín dụng quốc tế và 205.000 thẻ thanh toán quốc tế cho đến nay

- Các dịch vụ tín dụng tiêu dùng phát triển mạnh cả về danh mục và doanh số, tất

cả NHTM của Việt Nam đều có sản phẩm cho vay tiêu dùng, đứng đầu là ACB vàTechcombank

- Các sản phẩm liên kết, bán chéo sản phẩm tài chính, được triển khai ngày càngnhiều, ví dụ Bancasurrance (liên kết ngân hàng - bảo hiểm), đem lại khoản thu chongân hàng, phát triển khách hàng, tạo ra tiện ích đa dạng hơn Các sản phẩm này đượcnhiều ngân hàng ứng dụng như BIDV, Vietcombank…Điều này không những có lợicho khách hàng trong sử dụng các dịch vụ tài chính (tiết kiệm thời gian thanh toán phíbảo hiểm, được tư vấn bảo hiểm, thanh toán…) mà còn là mong muốn của các NHTM

và công ty bảo hiểm nhằm thu hút tiền gửi, thu phí bảo hiểm và chi trả qua thẻ ATM.Việc hợp tác giữa Sacombank và PVN trong cho vay tiêu dùng và sản phẩm bảo hiểmnhân thọ, NH ABBank và Prudential Việt Nam (PVN) mở các điểm giao dịch ở HàNội và TP Hồ Chí Minh, HDBank và ACE Life, Standard Chartered Bank - SCB vàPVN… đã cho thấy triển vọng của dịch vụ bán chéo sản phẩm tài chính ở Việt Nam.Riêng Prudential đã thành công với mô hình này với hơn 70 quan hệ hợp tác ở 12quốc gia châu Á

- Dịch vụ bán lẻ của NHTM phát triển dựa nhiều vào ứng dụng hệ thống côngnghệ Ngày càng nhiều NHTM Việt Nam ứng dụng công nghệ hiện đại với chi phí lớn

và diện phủ sóng rộng Công nghệ thông tin trở thành kênh phân phối quan trọng và

Trang 3

không thể thiếu của các DVNH điện tử nói riêng và hoạt động của ngân hàng nóichung Các NHTM lớn như Vietinbank sử dụng hệ thống INCAS, Agribank sử dụng

hệ thống IPCAS… trong toàn hệ thống

- Kênh phân phối truyền thống qua mạng lưới vẫn tiếp tục được mở rộng:Agribank với hơn 2000 chi nhánh, BIDV với 104 chi nhánh cấp 1, sở giao dịch vàhàng trăm phòng giao dịch, Vietinbank với 2 SGD, 130 chi nhánh và trên 700 điểmgiao dịch, Sacombank với 52 chi nhánh và 109 phòng giao dịch, Techcombank với

109 điểm giao dịch, ACB với 84 chi nhánh và phòng giao dịch,…

1.2 Phân tích mô hình 5 lực lượng cạnh tranh tại Việt Nam.

1.2.1 Áp lực cạnh tranh từ nhà cung cấp:

Trong lĩnh vực ngân hàng bán lẻ, nhà cung cấp chính và có khả năng gây ra ảnhhưởng đối với ngân hàng là nhà cung cấp công nghệ Một số nhân tố mà theo đó, nhàcung cấp công nghệ có khả năng gây sức ép với các ngân hàng kinh doanh dịch vụbán lẻ

- Số lượng các nhà cung cấp công nghệ mang tính đặc thù: Với sự phát triển vượtbậc của khoa học công nghệ, các nhà cung cấp công nghệ đặc thù trong lĩnh vực ngânhàng tuykhông phổ biến nhưng ngày càng phát triển Hiện nay, các nhà cung cấp côngnghệ chủyếu từ nước ngoài nhưng thông qua hợp tác và thương mại quốc tế, ngânhàng trong nướccó thể tiếp cận với các nhà cung cấp công nghệ trên toàn thế giới.Nghĩa là điều này cũngkhông gây sức ép đặc biệt nào đối với ngân hàng trong nước

- Khả năng thay thế công nghệ và mức độ quan trọng của một loại công nghệnhất định đối với ngân hàng: Mặc dù công nghệ là vô cùng quan trọng đối với dịch vụbán lẻ của ngân hàng và mang tính đặc thù, nhưng khả năng thay thế là có thể do sựphát triển vượt bậc của khoa học kỹ thuật

- Chi phí chuyển đổi nhà cung cấp liên quan đến các chi phí lớn khác: Mỗi côngnghệ nhất định thường đi kèm với các trang thiết bị, chu trình, kỹ năng, thao tác nhấtđịnh Do đó việc chuyển đổi nhà cung cấp công nghệ sẽ bắt buộc ngân hàng phải bỏthêm rất nhiềukinh phí để thay thế các trang thiết bị kèm theo, chi phí cho chuyên gia,

Trang 4

chi phí cho đào tạovà các chi phí chuyển đổi liên quan khác Đó chính là cơ chế nhàcung cấp gây sức ép lên ngân hàng Thực tế đây chính là một trong những lý do khiếncho khả năng đổi mới, nângcấp dịch vụ bán lẻ của các ngân hàng Việt Nam hạn chế.

Ba nhân tố trên gây sức ép đối với các ngân hàng nước ngoài không mạnh như đối vớicác ngân hàng trong nước do các ngân hàng nước ngoài tiềm lực tài chính mạnh và cónền tảng công nghệ cũng như khả năng tiếp cận công nghệ hiện đại dễ dàng hơn Mức

độ khác biệt của các công nghệ ngân hàng bán lẻ: mức độ khác biệt càng lớn, sứcmạnh của nhà cung cấp càng lớn do khả năng thay thế công nghệ khó khăn hơn

- Mức độ tương quan giữa chi phí cho công nghệ đầu vào và giá bán dịch vụ đầura: Nếu việc sử dụng một công nghệ mà chi phí cho nó ảnh hưởng lớn đến giá bándịch vụ thì sức ép của nhà cung cấp công nghệ với ngân hàng càng lớn

họ hoàn toàn có thể chuyển sang sử dụng thẻ của Ocean Bank nếu họ cảm thấy mức

độ thoả mãn cao hơn và không gặp phải rắc rối nào từ sự chuyển đổi đó Sự liên thôngcủa mạng lưới ngân hàng tự động cũng tạo điều kiện cho khách hàng dễ dàng hơntrong việc chuyển đổi

- Mức độ cần thiết, quan trọng của dịch vụ bán lẻ với khách hàng: Mặc dù thunhập và trình độ dân trí của người dân ngày càng cao đã làm gia tăng nhu cầu đối vớicác dịch vụ bán lẻ của ngân hàng, song vẫn tồn tại những quan điểm, thói quen trongmột bộ phận lớn dân cư, doanh nghiệp khiến cho dịch vụ bán lẻ chưa trở thành nhucầu thiết yếu (ví dụ như thói quen sử dụng tiền mặt trong thanh toán) Trình độ dân

Trang 5

trí chưa đồng đều với mức độ hiện đại của dịch vụ ngân hàng; hạn chế trong tiếpxúc với công nghệ, máy móc hiện đại; tâm lý ngại sử dụng các sản phẩm mới khiếncho ngân hàng tiếp cận khách hàng khó khănhơn Vô hình trung, khách hàng có mộtsức ép nhất định đối với dịch vụ bán lẻ của ngânhàng.- Khách hàng nhạy cảm với giácủa dịch vụ: Chỉ cần sự thay đổi nhỏ hay sự khác biệt nhỏ về giá cả (hiểu rộng ra làlợi ích tài chính của khách hàng) giữa các ngân hàng cũng có thể khiến khách hàngthay đổi quyết định sử dụng dịch vụ Sở dĩ như vậy là do lĩnh vực bán lẻ hướng đếnphục vụ số đông khách hàng, không phải là các sản phẩm xa xỉ Đặc biệt là các sảnphẩm bán lẻ mà giá cả ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích tài chính của khách hàng nhưtín dụng cá nhân, tiền gửi tiết kiệm Các dịch vụ nào khách hàng càng nhạy cảm vớigiá càng thúc đẩy hình thức cạnh tranh bằng giá hay lãi suất giữa các ngân hàng.

- Chi phí chuyển đổi khách hàng liên quan đến chi phí của ngân hàng: Việc tậptrung sản phẩm bán lẻ từ phân đoạn thị trường này sang phân đoạn thị trường khácthường làm phátsinh các chi phí liên quan: chi phí nghiên cứu thị trường, chi phí thiết

kế lại sản phẩm, chi phí cho chiến lược marketing, quảng cáo mới,… Nếu mối liênquan này càng chặt chẽchứng tỏ sức mạnh càng lớn của khách hàng Mặc dù vậy, xéttrong điều kiện hiện nay ở Việt Nam, đang có những nhân tố thuận lợi,làm hạn chếbớt sức mạnh của người mua

- Bên cạnh sự nhạy cảm về giá của khách hàng, ngày càng xuất hiện một lượnglớn khách hàng không coi yếu tố giá là quyết định, họ coi trọng hơn vấn đề chất lượngdịch vụ, các tiện ích của dịch vụ Điều này tạo nên tính hấp dẫn cho thị trường bán lẻ

và cũng tạo nênxu hướng cạnh tranh bằng cách tối đa hoá các tiện ích, tăng cường sựkhác biệt và tạo thêmgiá trị gia tăng cho các dịch vụ bán lẻ Đây chính là những “ràngbuộc” để duy trì lòngtrung thành của khách hàng Ví dụ, đối với dịch vụ thẻ, phí pháthành không quan trọng bằng các tiện ích mà khách hàng được hưởng khi sử dụng,được tư vấn cách chi tiêu cũngnhư thái độ ân cần, chu đáo của nhân viên ngân hàng.Hay đối với mỗi biến động tài chínhcủa khách hàng, ngân hàng đều có những tư vấn

Trang 6

kịp thời và thiết kế sản phẩm phù hợp vớiđúng nhu cầu của khách hàng khi đó, sẽcàng khiến cho khách hàng “phụ thuộc” hơn, trungthành hơn với ngân hàng.

- Khối lượng khách hàng lớn và giá trị mỗi giao dịch nhỏ: đặc điểm của sảnphẩm bán lẻ là phục vụ số đông khách hàng, lợi nhuận thu được trên cơ sở số lượnggiao dịch lớn Vì vậy, thị trường đang phát triển với quy mô dân số lớn như Việt Namthì khả năng gia tăng khách hàng là đáng kể Giá trị trung bình mỗi giao dịch của dịch

vụ bán lẻ nhỏ hơn nhiều so với dịch vụ bán buôn nên sự biến động của một số ítkhách hàng không làm biến độngquá nhiều đến doanh thu, lợi nhuận của ngân hàng

- Sự sẵn có của thông tin khách hàng: Công nghệ truyền thông, thông tin hiện đại

và sựsẵn sàng công khai thông tin của khách hàng cá nhân khiến cho việc tiếp cậnkhách hàng gặp phải rắc rối nào từ sự chuyển đổi đó Sự liên thông của mạng lướingân hàng tự động cũng tạo điều kiện cho khách hàng dễ dàng hơn trong việc chuyểnđổi

1.2.3 Đối thủ tiềm ẩn:

Trong một thị trường mà sự gia nhập của các doanh nghiệp mới càng dễ dàng thì

sự cạnh tranh càng gay gắt Lĩnh vực tài chính ngân hàng nói chung, ngân hàng bán lẻnói riêng, việc gia nhập mặc dù phải đảm bảo những điều kiện tương đối nghiêm ngặtcủa Ngân hàng Nhà nước như yêu cầu về vốn, đội ngũ quản lý, hệ thống quản trị rủiro,… nhưng trong điều kiện hội nhập quốc tế với cam kết mở cửa thị trường tài chínhthì việc gia nhập là hoàn toàn có thể Một số yếu tố có thể coi như rào cản đối với việcgia nhập vào lĩnh vực ngân hàng bán lẻ.Các ngân hàng trong nước có thể tận dụng đểbảo vệ mình trước sự gia nhập của các đối thủ mới

- Lòng trung thành của khách hàng với những thương hiệu chính

Thương hiệu được sử dụng như một rào cản với các đối thủ muốn gia nhập thịtrường Ví dụ, khi nhắc đến dịch vụ thẻ thanh toán, Vietcombank (ngân hàng TMCPNgoại Thương Việt Nam) được nhắcđến như một thương hiệu uy tín Những khách

Trang 7

hàng đã sử dụng thẻ của Vietcombank đa phần sẽ không muốn chuyển sang dịch vụcủa ngân hàng khác Đó có thể xem như một rào cản đối với các ngân hàng khác khimuốn thâm nhập vào thị trường thẻ thanh toán, đồngthời, cũng là một lợi thế cạnhtranh cần phát huy và duy trì của Vietcombank Tuy nhiên, trong lĩnh vực ngân hàngbán lẻ, rất ít ngân hàng thương mại trong nước khẳng định được ưu thế và thươnghiệu vững chắc trên thị trường, chưa duy trì được lòng trung thành của khách hàng.

- Lợi thế chi phí tuyệt đối

Chi phí cố định cao và yêu cầu về vốn đầu tư: Việc đầu tư vào công nghệ, máymóc thiết bị - nền tảng cơ bản để phát triển dịch vụ bán lẻ cùng với các chi phí về hạtầng đi kèm khiến cho việc đầu tư vào lĩnh vực bán lẻ tốn kém chi phí đáng kể chocác ngân hàng Tuy nhiên, điều này chỉ có ý nghĩa là rào cản với các đối thủ là ngânhàng trong nước mới gia nhập, còn đối với các ngân hàng nước ngoài có tiềm lực tàichính mạnh, điều này không thực sự có ý nghĩa

- Khả năng “trả đũa” của các ngân hàng hiện tại:

Đó là các giải pháp nhằm chống lại nguy cơ bị giảm thị phần, giảm lợi nhuận do

sự gia nhập của đối thủ mới (không tính đến các biện pháp “trả đũa” bất hợppháp) như giảm phí, thay đổi lãi suất, tăng cường hoạt độngkhuyến mại, chiêu thức lôikéo khách hàng,… Các ngân hàng thương mại trong nước chưa có nhiều phương thức

đa dạng và thực sự hấp dẫn để lôi kéo khách hàng, tiềm lực tài chính cũng là một vấn

đề hạn chế khiến cho việc giảm phí sản phẩm hay hoạt động khuyến mạikhó theo kịpngân hàng nước ngoài

Trang 8

hàng thương mại trong nước không thể trông chờ vào sự bảo hộ của Nhà nước để nétránh việc cạnh tranh quốc tế.

Ví dụ ngay từ năm 2006, Việt Nam đã gỡ bỏ dần các hạn chế về tỷ lệ tham gia

cổ phần trong ngành ngân hàng của các định chế tài chính nước ngoài theo cam kếttrong Hiệp định thương mại với Hoa Kỳ

Còn theo các cam kết trong khuôn khổ Hiệp định chung về hợp tác thương mạidịch vụ (AFAS) của Hiệp hội các nước ASEAN, Việt Nam phải gỡ bỏ hoàn toàn cácquy định về khống chế tỷ lệ tham gia góp vốn, dịch vụ, giá trị giao dịch của các ngânhàng nước ngoài từ năm 2008

Đã có năm ngân hàng 100% vốn nước ngoài được cấp phép thành lập tại ViệtNam Tuy nhiên khi nhìn vào con số các ngân hàng nước ngoài có văn phòng đại diệntại Việt Nam và các ngân hàng nước ngoài có vốn cổ phần trong các ngân hàngthương mại nội địa, số ngân hàng 100% vốn nước ngoài nhất định sẽ còn tăng lêntrong tương lai

Các ngân hàng nước ngoài là vậy, rào cản cho sự xuất hiện của các ngân hàng cónguồn gốc nội địa đang được nâng cao lên sau khi Chính phủ tạm ngưng cấp phépthành lập ngân hàng mới từ tháng 8-2008 Ngoài các quy định về vốn điều lệ, quãngthời gian phải liên tục có lãi, các ngân hàng mới thành lập còn bị giám sát chặt bởiNgân hàng Nhà nước Tuy nhiên điều đó sẽ không thể ngăn cản những doanh nghiệp,

đủ điều kiện, tham gia vào ngành ngân hàng một khi Chính phủ cho phép thành lậpngân hàng trở lại

- Chi phí chuyển đổi

Một khi các ngân hàng hiện tại đã xây dựng được cho mình một thương hiệu bềnvững, với những sản phẩm, dịch vụ tài chính hiệu quả và khác biệt cộng với một cơ sởkhách hàng đông đảo và trung thành, chi phí chuyển đổi (switching cost) để lôi kéokhách hàng của ngân hàng mới thành lập sẽ cực kỳ cao và do đó họ bắt buộc phải cân

Trang 9

nhắc thật kỹ trước khi quyết định gia nhập thị trường hay không Thực tế trên thịtrường ngành ngân hàng Việt Nam cho thấy chi phí chuyển đổi nhìn chung không cao

do các ngân hàng chưa thật sự tạo được điểm khác biệt về chiến lược sản phẩm, dịchvụ

Một yếu tố có thể làm tăng chi phí chuyển đổi lên một chút và tạo một lợi thếcạnh tranh cho các ngân hàng đang hoạt động là hệ thống phân phối Các ngân hàngthành lập sau này sẽ gặp khá nhiều rắc rối trong việc tìm một địa điểm ưng ý để đặtvăn phòng chính cũng như các chi nhánh văn phòng giao dịch bởi vì các vị trí đẹp vàtiện lợi đều đã bị các ngân hàng đang hoạt động dành mất Tuy vậy, các ngân hàngthành lập sau này vẫn có thể dựa vào lợi thế công nghệ để phát triển hệ thống kinhdoanh của mình thông qua Internet banking hoặc hệ thống ATM

1.2.4 Sản phẩm thay thế

Với sự hấp dẫn của thị trường tài chính cá nhân thì ngày càng có nhiều tổ chức,không chỉ có ngân hàng mà cả các tổ chức phi ngân hàng tham gia cung ứng các dịch vụ bán lẻnhưcông ty bảo hiểm, bưu điện, các quỹ, các công ty tài chính,… Điều này làm giatăng sự sẵn có của các sản phẩm thay thế

Cơ bản mà nói, các sản phẩm và dịch vụ của ngành ngân hàng Việt Nam có thểxếp vào 5 loại:

• Là nơi nhận các khoản tiền (lương, trợ cấp, cấp dưỡng…)

• Là nơi giữ tiền (tiết kiệm…)

• Là nơi thực hiện các chức năng thanh toán

• Là nơi cho vay tiền

• Là nơi hoạt động kiều hối

Đối với khách hàng doanh nghiệp, nguy cơ ngân hàng bị thay thế không cao lắm

do đối tượng khách hàng này cần sự rõ ràng cũng như các chứng từ, hóa đơn trong

Trang 10

các gói sản phẩm và dịch vụ của ngân hàng Nếu có phiền hà xảy ra trong quá trình sửdụng sản phẩm, dịch vụ thì đối tượng khách hàng này thường chuyển sang sử dụngmột ngân hàng khác vì những lý do trên thay vì tìm tới các dịch vụ ngoài ngân hàng.Đối với khách hàng tiêu dùng thì lại khác, thói quen sử dụng tiền mặt khiến chongười tiêu dùng Việt Nam thường giữ tiền mặt tại nhà hoặc nếu có tài khoản thì khi

có tiền lại rút hết ra để sử dụng Các cơ quan Chính phủ và doanh nghiệp trả lươngqua tài khoản ngân hàng nhằm thúc đẩy các phương thức thanh toán không dùng tiềnmặt, góp phần làm minh bạch tài chính cho mỗi người dân Nhưng các địa điểm chấpnhận thanh toán bằng thẻ lại đa số là các nhà hàng, khu mua sắm sang trọng, nhữngnơi không phải người dân nào cũng tới mua sắm

Ngay ở các siêu thị, người tiêu dùng cũng phải chờ đợi nhân viên đi lấy máy đọcthẻ hoặc đi tới một quầy khác khi muốn sử dụng thẻ để thanh toán Chính sự bất tiệnnày cộng với tâm lý chuộng tiền mặt đã khiến người tiêu dùng muốn giữ và sử dụngtiền mặt hơn là thông qua ngân hàng

Ngoài hình thức gửi tiết kiệm ở ngân hàng, người tiêu dùng Việt Nam còn cókhá nhiều lựa chọn khác như giữ ngoại tệ, đầu tư vào chứng khoán, các hình thức bảohiểm, đầu tư vào kim loại quý (vàng, kim cương…) hoặc đầu tư vào nhà đất Đó làchưa kể các hình thức không hợp pháp như “chơi hụi” Không phải lúc nào lãi suấtngân hàng cũng hấp dẫn người tiêu dùng

1.2.5 Cạnh tranh nội bộ ngành

Lĩnh vực ngân hàng bán lẻ tại Việt Nam hiện nay đang tồn tại sự ganh đua quyếtliệt dưới nhiều hình thức Một số nhân tố thể hiện mức độ cạnh tranh giữa các ngânhàng hiện tại:

- Ngày càng xuất hiện nhiều ngân hàng tham gia vào thị trường bán lẻ, coi bán lẻ

là định hướng phát triển

Trang 11

- Sản phẩm, dịch vụ của các ngân hàng không quá khác biệt do tính chất chuẩnhoá của các sản phẩm bán lẻ Đồng lược cạnh tranh của các ngân hàng thương mại.Dịch vụ ngân hàng bán lẻ tại Việt Nam thời, hiện nay các ngân hàng đều cung cấpgần như đầy đủmột danh mục các sản phẩm tài chính cá nhân nhằm đáp ứng nhu cầu

đa dạng của khách hàng

- Tương ứng với sự đa dạng của các loại dịch vụ, hình thức cạnh tranh trong lĩnhvực ngân hàng bán lẻ cũng rất đa dạng Bên cạnh việc cạnh tranh bằng giá, các ngânhàng tìm nhiều phương thức để cạnh tranh với đối thủ như tạo sự khác biệt chosản phẩm, phát triển các dịch vụ gia tăng kèm theo, đổi mới, cải tiến công nghệ,đẩy mạnh quảng cáo, cải tiến phương thức bán hàng, chú trọng quản trị thông tinkhách hàng… Biện pháp cạnh tranh bằng giá không được đánh giá cao trong chiếnmới đang ở giai đoạn bắt đầu tăng trưởng Vì vậy, mặc dù thừa nhận mức độ cạnhtranh gay gắt, chúng ta vẫn nhận thấy tiềm năng, cơ hội phát triển lâu dài cho tronglĩnh vực này

Trong năm 2008, McKinsey dự báo doanh số của lĩnh vực ngân hàng bán lẻ ởViệt Nam có thể tăng trưởng đến 25% trong vòng 5-10 năm tới, đưa Việt Nam trởthành một trong những thị trường ngân hàng bán lẻ có tốc độ cao nhất châu Á (*).Tuy khủng hoảng kinh tế làm cho tốc độ tăng trưởng chậm lại, tác động xấu tới ngànhngân hàng nhưng thị trường Việt Nam chưa được khai phá hết, tiềm năng còn rất lớn.Ảnh hưởng tạm thời của cuộc khủng hoảng kinh tế sẽ khiến cho các ngân hàng gặpkhó khăn trong việc tìm kiếm khách hàng mới, dẫn đến việc cường độ cạnh tranh sẽtăng lên Nhưng khi khủng hoảng kinh tế qua đi, với một thị trường tiềm năng còn lớnnhư Việt Nam, các ngân hàng sẽ tập trung khai phá thị trường, tìm kiếm khách hàngmới, dẫn đến cường độ cạnh tranh có thể giảm đi

Cường độ canh tranh của các ngân hàng càng tăng cao khi có sự xuất hiện củanhóm ngân hàng 100% vốn nước ngoài Ngân hàng nước ngoài thường sẵn có mộtphân khúc khách hàng riêng, đa số là doanh nghiệp từ nước họ Họ đã phục vụ những

Ngày đăng: 17/11/2014, 22:21

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w