TIỂU LUẬN QUẢN TRỊ NGÂN HÀNG VIỆC THAM GIA VỐN NƯỚC NGOÀI TẠI CÁC NGÂN HÀNG VIỆT NAM Hiện nay ngành tài chính ngân hàng gặp nhiều khó khăn, cũng như các ngân hàng mẹ ở nước ngoài, hoạt động kinh doanh của các tổ chức tín dụng nước ngoài tại Việt Nam tiếp tục chịu ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu. Tuy nhiên, các TCTD nước ngoài tại Việt Nam vẫn hoạt động an toàn, hiệu quả và làm tốt vai trò cầu nối cho các nhà đầu tư nước ngoài đến với thị trường và doanh nghiệp Việt Nam.
Trang 1GV phụ trách: PGS.TS.Trương Quang Thông
Chủ đề bài nghiên cứu:
VIỆC THAM GIA VỐN NƯỚC NGOÀI TẠI CÁC NGÂN HÀNG VIỆT NAM
Trang 2MỤC LỤC
I ĐỘNG CƠ CỦA VIỆC THAM GIA 1
II QUÁ TRÌNH THAM GIA VỐN CỦA CÁC ĐỐI TÁC NƯỚC NGOÀI VÀO CÁC NGÂN HÀNG VIỆT NAM 4
1 Hình thức “Liên doanh”: 4
2 Hình thức “đối tác chiến lược” 6
III VỀ KHÁI NIỆM “ ĐỐI TÁC CHIẾN LƯỢC “ VÀ NGUYÊN NHÂN CỦA CÁC VỤ “ THOÁI VỐN “ 9
1 Nhà đầu tư chiến lược nước ngoài 9
2 Thoái vốn: 14
IV NHỮNG XU HƯỚNG ĐIỀU CHỈNH THỂ CHẾ 16
V KẾT LUẬN 20
TÀI LIỆU THAM KHẢO 21
Trang 3NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN
Trang 4
PHÂN CÔNG NHIỆM VỤ
NỘI DUNG NGƯỜI THUYẾT TRÌNH
Động cơ của việc tham gia Trần Thị Trang
Quá trình tham gia vốn của các đối tác nước
ngoài vào các Ngân hàng Việt Nam
Trương Phú Trí Phan Thị Thanh Kiều Khái niệm đối tác chiến lược và nguyên nhân
các vụ thoái vốn
Hứa Ngọc Lợi Trần Thân Bích Hợp Những xu hướng điều chỉnh thể chế và kết
luận
Võ Thị Thúy Diễm
Trang 5I ĐỘNG CƠ CỦA VIỆC THAM GIA
Hiện nay ngành tài chính ngân hàng gặp nhiều khó khăn, cũng như các ngânhàng mẹ ở nước ngoài, hoạt động kinh doanh của các tổ chức tín dụng nước ngoài tạiViệt Nam tiếp tục chịu ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tếtoàn cầu Tuy nhiên, các TCTD nước ngoài tại Việt Nam vẫn hoạt động an toàn, hiệuquả và làm tốt vai trò cầu nối cho các nhà đầu tư nước ngoài đến với thị trường vàdoanh nghiệp Việt Nam
Kể từ khi Việt Nam mở cửa trong lĩnh vực ngân hàng đến nay, các ngân hàngnước ngoài hoạt động tại Việt Nam luôn là một bộ phận quan trọng trong hệ thống ngânhàng Việt Nam Các ngân hàng nước ngoài có mặt tại thị trường Việt Nam ngay từ đầunhững năm 1990, sau khi hệ thống ngân hàng Việt Nam được phân thành hai cấp, vớihai loại hình: Chi nhánh ngân hàng nước ngoài và ngân hàng liên doanh
Tuy nhiên, Luật Các tổ chức tín dụng sửa đổi năm 2004 đã cho phép thêm mộthình thức hiện diện thương mại mới, đó là ngân hàng 100% vốn nước ngoài Sự xuấthiện thêm loại hình ngân hàng mới này đã làm tăng tính hấp dẫn và phong phú cho thịtrường tài chính Việt Nam, nhưng cũng thêm một thách thức đối với các ngân hàngthương mại trong nước
Thứ nhất, khi phân tích cơ hội đầu tư ở Việt Nam, các nhà đầu tư nước ngoàinhận định còn tiềm ẩn tiềm năng phát triển, nhất là hậu khủng hoảng kinh tế toàn cầu.Khi kinh tế thế giới hồi phục , Việt Nam sẽ là một trong những nước hồi phục đầu tiên
vì Việt Nam là một đất nước có tình trạng đô la hóa, vàng hóa cao, tiền ngoài luồngkiểm soát lớn chứng tỏ sức dân rất mạnh nên có cơ hội phát triển rất dễ bùng phát, tạothuận lợi cho những nhà đầu tư bắt đáy thị trường hiệu quả
Thứ hai, theo Nghị định 69/2007/NĐ-CP về việc nhà đầu tư nước ngoài mua
cổ phần của ngân hàng thương mại Việt Nam thì, ngân hàng Việt Nam muốn bán cổphần cho nhà đầu tư nước ngoài phải đáp ứng đủ các điều kiện: Vốn điều lệ tối thiểu đạt1.000 tỷ đồng; có tình hình tài chính lành mạnh, đáp ứng các điều kiện liên quan của
Trang 6Ngân hàng Nhà nước Việt Nam; có bộ máy quản trị, điều hành, hệ thống kiểm tra, kiểmsoát, kiểm toán nội bộ hoạt động có hiệu quả; không bị cơ quan có thẩm quyền xử phạt
do vi phạm các quy định về an toàn trong hoạt động ngân hàng trong thời gian 24 thángđến thời điểm Ngân hàng Nhà nước Việt Nam xem xét
Thứ ba, Việt Nam hiện được đánh giá là quốc gia có dân số trẻ nhưng chỉ cókhoảng 15 triệu người, (tương đương 12% dân số) hiện đang sở hữu một tài khoản tạingân hàng Số liệu thống kê từ NHNN cũng cho thấy tỉ lệ tăng trưởng các sản phẩm thẻngân hàng đạt từ 50 - 200% trong vòng năm năm từ 2006 đến 2010 60% dân số ViệtNam đang ở độ tuổi dưới 30; 25% dân số đang sống ở thành thị, họ cởi mở với các sảnphẩm tài chính và lưu giữ tài sản trong tài khoản cá nhân ngân hàng Lực lượng này sẽlái thị trường ngân hàng và thực tế, các ngân hàng nước ngoài vẫn rất nỗ lực tìm kiếm
cơ hội đầu tư vào Việt Nam
Thứ tư, hầuhết các TCTD nước ngoài đều hoạt động có lãi Cùng một môitrường kinh doanh như nhau, cùng chịu ảnh hưởng của các yếu tố kinh tế vĩ mô nhưnhau, vì sao ngân hàng ngoại lãi nhiều, ngân hàng nội lãi ít? Do hoạt động của các chinhánh Ngân hàng nước ngoài thuần tuý là vì mục tiêu lợi nhuận, không phải thực hiệnviệc cho vay chính sách nên nợ quá hạn rất thấp, dư nợ tăng trưởng lành mạnh Bêncạnh đó, các chi nhánh Ngân hàng nước ngoài còn được ngân hàng mẹ hỗ trợ nhiều mặtnên càng có điều kiện để mở rộng cho vay
Về dịch vụ thanh toán, các chi nhánh Ngân hàng nước ngoài thường đến từnhững nước phát triển, nơi mà hệ thống ngân hàng tài chính cũng đạt đến trình độ pháttriển tương đối cao nên hoạt động của các chi nhánh này tại Việt Nam cũng được thừahưởng những ưu thế đó Điều này được thể hiện rõ qua các loại hình dịch vụ cung cấpcho khách hàng, chất lượng dịch vụ cũng như thái độ phục vụ khách hàng Các chinhánh Ngân hàng nước ngoài thường tiên phong trong việc áp dụng công nghệ hiện đại,giới thiệu sản phẩm dịch vụ mới Do vậy, có thể nói các chi nhánh Ngân hàng nướcngoài thường chiếm ưu thế trong các dịch vụ thanh toán và hoạt động phi tín dụng
Trang 7Dịch vụ ngoại hối và phí là nguồn lợi nhuận chính của ngân hàng nước ngoài.Khi mà ngân hàng nội địa bị ràng buộc bởi hàng loạt các quy định hành chính liên quanđến kinh doanh ngoại tệ, không thể lách luật, thì ngân hàng nước ngoài tỏ ra linh hoạt.
Ngân hàng nước ngoài quan tâm phát triển nguồn vốn chứ không phải tíndụng Các ngân hàng nước ngoài luôn huy động được một lượng vốn nhàn rỗi rất lớnvới chi phí thấp từ khách hàng của họ Điều này giúp họ có khả năng đáp ứng tốt nhucầu giải ngân cho chính khách hàng của họ
Có thể nói các Ngân hàng nước ngoài đang có một môi trường hoạt độngtương đối thuận lợi và có nhiều triển vọng, sẽ đầu tư và tham gia nhiều hơn vào thịtrường tài chính Việt Nam thông qua các sản phẩm mới, cung cấp dịch vụ ngân hànghiện đại với những thông lệ và chuẩn mực quốc tế, góp phần xây dựng một nền tàichính - ngân hàng phát triển toàn diện, vững mạnh tại Việt Nam
Trang 8II QUÁ TRÌNH THAM GIA VỐN CỦA CÁC ĐỐI TÁC NƯỚC NGOÀI VÀO CÁC NGÂN HÀNG VIỆT NAM
Sự tham gia vốn của các đối tác nước ngoài vào các ngân hàng Việt Nam chủ yếudưới hai hình thức là “Liên doanh” và “Đối tác chiến lược”
1 Hình thức “Liên doanh”:
Sự xuất hiện của các ngân hàng nước ngoài dưới hình thức chi nhánh ngân hàngnước ngoài và ngân hàng liên doanh giữa ngân hàng trong nước với ngân hàng nướcngoài, trong giai đoạn đầu của quá trình mở cửa, là một xu hướng phổ biến, giải quyếtđược những khúc mắc của các nhà đầu tư nước ngoài, từ đó thu hút đầu tư nước ngoài.Hầu hết các nước đang phát triển khi bước vào thời kỳ đầu của quá trình công nghiệphoá, hiện đại hoá; hệ thống ngân hàng còn chưa đủ mạnh, chưa đáp ứng được nhu cầuvốn cho sự phát triển kinh tế Vì thế, cần phải thực hiện hiệu quả việc thu hút vốn đầu tưnước ngoài Ngân hàng liên doanh được thành lập nhằm tạo ra một ngân hàng có sứcmạnh tổng hợp trên cơ sở khắc phục những yếu kém của ngân hàng trong nước, phát huythế mạnh của ngân hàng nước ngoài, góp phần cải thiện môi trường đầu tư và tạo điềukiện cho việc đổi mới hệ thống ngân hàng tại các nước này
Ngân hàng liên doanh là một loại hình ngân hàng mà trong đó có sự tham gia hợptác liên doanh giữa ngân hàng thương mại trong nước với ngân hàng nước ngoài trên cơ
sở góp vốn để hình thành nên một ngân hàng thương mại mới, có tư cách pháp nhân vàhoạt động theo pháp luật của nước sở tại
Ngay từ khi mới thành lập, ngân hàng liên doanh đã khẳng định vai trò của mìnhđối với sự phát triển kinh tế của các nước đang phát triển Trước hết, sự ra đời các ngânhàng liên doanh tạo điều kiện cho việc cải thiện môi trường đầu tư tại các nước đang pháttriển, tạo điều kiện thuận lợi để thu hút vốn đầu tư nước ngoài, tăng cường và mở rộngcác quan hệ thương mại và dịch vụ với nước ngoài Đồng thời, ngân hàng liên doanhcũng tạo ra khả năng tiếp cận, học tập và tranh thủ kỹ thuật nghiệp vụ, công nghệ tiêntiến…của các ngân hàng nước ngoài, từ đó góp phần cải thiện môi trường dịch vụ ngân
Trang 9hàng trong nước Bên cạnh đó, ngân hàng liên doanh còn đóng góp vai trò với tư cách làmột loại hình liên doanh của đầu tư trực tiếp nước ngoài Mục đích của việc liên doanhnhằm giải quyết các nhu cầu đòi hỏi của quá trình phát triển kinh tế đất nước là vốn, khoahọc công nghệ hiện đại, kinh nghiệm quản lý tiên tiến…đều có thể đạt được trong ngânhàng liên doanh Ngoài ra, ngân hàng liên doanh còn là một trong những yếu tố quantrọng thúc đẩy sự hình thành, phát triển thị trường tiền tệ và thị trường tài chính tại cácnước đang phát triển.
Và từ khi gia nhập WTO (11/1/2007), dòng vốn nước ngoài đổ vào Việt Nam dướimọi hình thức – FDI, FII, ODA Đối với thị trường tài chính, những cam kết mở cửa thịtrường cũng được triển khai thực hiện với tốc độ cao và phạm vi rộng Với môi trườngkinh doanh thông thoáng, minh bạch hơn, thị trường rộng lớn gấp nhiều lần, tăng trưởngkinh tế được duy trì ở mức cao, mức sống dân cư được cải thiện mạnh mẽ đã tạo ra nhucầu to lớn về dịch vụ tài chính ngân hàng Đây chính là giai đoạn mà số lượng ngân hàngliên doanh đạt mức cao nhất (5 ngân hàng) trong suốt 11 năm phát triển từ khi bắt đầuxuất hiện loại hình ngân hàng liên doanh
Các ngân hàng liên doanh tại Việt Nam:
- Ngân hàng Indovina (IVB): là ngân hàng liên doanh đầu tiên được thành lập tạiViệt Nam Ngân hàng IVB ra đời trên cơ sở liên doanh giữa ngân hàng Công thương ViệtNam và ngân hàng Summa Handel Bank Inđônêxia với giấy phép đầu tư số 135/GPĐTcủa Uỷ ban Nhà nước về hợp tác và đầu tư (SCCI) cấp ngày 21/11/1990 và đã khaitrương hoạt động từ ngày 21/01/1991 Tuy nhiên, sau khi ban hành Nghị định 189/HĐBTngày 15/6/1991 và thực hiện theo Pháp lệnh Ngân hàng năm 1990 thì ngân hàng liêndoanh IVB đã được Ngân hàng Nhà nước cấp lại giấy phép hoạt động số 08/NH-GP ngày29/10/1992 Đây là ngân hàng liên doanh giữa hai bên trong đó phần vốn góp của mỗibên ngân hàng là 50% trong tổng số 10 triệu USD vốn điều lệ của ngân hàng liên doanh
Trang 10- VID Public Bank: được thành lập ngày 30/9/1991 với tỷ lệ vốn góp 50:50 giữaBIDV và ngân hàng Public Bank Berhad (Malaysia), ngân hàng chính thức hoạt động từtháng 5/1992.
- Ngân hàng Shinhanvina: thành lập năm 1993, liên doanh giữa ngân hàngVietcombank và ngân hàng Hàn Quốc với tỷ lệ vốn góp 50:50 Tuy nhiên, ngày11/11/2011, Thống đốc NHNN Việt Nam đã ký quyết định cho phép Vietcombank bántoàn bộ 50% vốn góp tại ShinhanVina Bank
- Ngân hàng Việt Thái: 15/8/1995 là ngân hàng liên doanh giữa 3 đối tác lớn Ngânhàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam, Ngân hàng thương mại Siam củaThái Lan và Tập đoàn Charoen Pokphand (CP) của Thái Lan với tỷ lệ vốn góp 34%, 33%
và 33%
- Ngân hàng Việt Nga (VRB): thành lập vào 19/11/2006, liên doanh giữa BIDV vàVTB (ngân hàng ngoại thương Nga Vneshtorgbank) với tỷ lệ vốn góp 50:50
2 Hình thức “đối tác chiến lược”
Khởi đầu vào năm 2005, Ngân hàng Standard Chartered là ngân hàng nước ngoàiđầu tiên được Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chấp thuận được góp vốnmua cổ phần của tổ chức tín dụng trong nước Vào thời điểm đó, Standard Chartered sởhữu 8,56% vốn điều lệ của ACB với tổng đầu tư vào khoảng 22 triệu USD Cũng tạiACB, 2 đối tác chiến lược là Dragon Financing Holding Ltd và Connaught Investor Ltdtham gia góp vồn vào năm 2007, tỉ lệ cổ phần nắm giữ tại ACB hiện tại lần lượt là 6,81%
và 7,26% Cũng trong năm 2005, ANZ đã bỏ ra 27 triệu USD để sở hữu 9,87% cổ phầncủa Sacombank, trở thành cổ đông nước ngoài thứ 3 của ngân hàng này sau DragonFinancial Holding (Anh Quốc) sở hữu 10% và công ty tài chính quốc tế IFC
Vào năm 2006, với việc tham gia góp vốn của một trong những ngân hàng nổi tiếngthế giới là HSBC vào Techcombank, tỉ lệ mà HSBC nắm giữ lúc đó là 10% tỉ lệ cổ phầncủa Techcombank, sau đó vào năm 2007, HSBC đã nâng tỉ lệ nắm giữ lên 15% và
Trang 11Techcombank cũng là ngân hàng đầu tiên được bán tỉ lệ cổ phần 15% cho một ngân hàngngoại.
Sau đó, với sự ra đời của NĐ 69/2007/NĐ-CP của Chính phủ ngày 20 tháng 4 năm
2007 về việc nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần của ngân hàng thương mại Việt Nam,cùng với giai đoạn Việt Nam gia nhập WTO,… việc tham gia vốn của các đối tác nướcngoài vào các ngân hàng Việt Nam ngày càng nhiều
2/2007: Deutsche Bank trở thành đối tác chiến lược của Habubank khi nắm giữ 10%
cổ phần tại ngân hàng này Sau này khi sáp nhập Habubank với SHB, tỉ lệ mà DeutscheBank nắm giữ hiện chỉ còn 3,43%
11/2007: Sumitomo Mitsui một ngân hàng lớn của Nhật Bản, trở thành đối tác chiếnlược của Eximbank, ngân hàng của Nhật nắm giữ 15% vốn cổ phần tại Eximbank, sự hợptác này giúp Eximbank tiếp cận các nguồn vốn quốc tế, với chi phí hợp lý và tăng cườngthanh khoản cho Eximbank bằng hạn mức cho vay liên ngân hàng, tài trợ thương mại vàbảo lãnh Ngoài ra, SMBC còn hỗ trợ công nghệ hiện đại, giúp Eximbank không ngừnglớn mạnh và phát triển trong thời gian qua
Vào năm 2008, rất nhiều ngân hàng trong nước đã tìm cho mình được những đối tácchiến lược nước ngoài, đặc biệt là những ngân hàng ở tầm trung: MayBank (Ngân hàngMalaysia) nắm giữ 15% cổ phần của Ngân hàng An Bình và trở thành đối tác chiến lượctại ngân hàng này; Seabank cũng tìm được Societe Generate khi ngân hàng ngoại nắmgiữ 20% vốn cổ phần, hay Common Wealth trở thành đối tác chiến lược tại VIB với việc
sở hữu 20% vốn cổ phần, hay BNP trở thành đối tác chiến lược tại ngân hàng PhươngĐông với việc nắm giữ 10% cổ phần tại ngân hàng này… việc các ngân hàng ở tầm trungtìm được các đối tác chiến lược tin cậy ở nước ngoài góp phần không nhỏ vào sự pháttriển của các ngân hàng trên trong thời gian qua
Năm 2011, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam, một trong những NHTMCP lớn tạiViệt Nam cũng đã tìm được Mizuho (một ngân hàng của Nhật) làm đối tác chiến lượccho mình, với việc nắm giữ 15% vốn cổ phần tại VCB, tổng giá trị 11.800 tỉ đồng, với
Trang 12giá 34.000đ/ cổ phiếu Sau khi hoàn tất việc bán cho Mizuho, vốn điều lệ của VCB tăng
từ 19.698 tỉ đồng lên 23.174 tỉ đồng
Năm 2012, Bank of Tokyo với việc mua cổ phiếu CTG với giá 24.000đ/cổ phiếu,giá trị hợp đồng là 15.465 tỉ đồng, tương đương 743 triệu USD Mỹ, ngân hàng này đã trởthành đối tác chiến lược tại Vietinbank khi nắm giữ 19,73% cổ phần của Vietinbank Vớihợp đồng này, Vietinbank trở thành ngân hàng có vốn điều lệ lớn nhất trong khốiNHTMCP hiện nay Trước đó, vào tháng 3/2011, Vietinbank cũng đã kết thúc việc chàobán hơn 165,58 triệu cổ phần cho IFC, giá phát hành là 21.000 đ/cp
Tỷ lệ nắm giữ của một số NH nước ngoài tại các NHTM trong nước
NH trong nước NH nước ngoài nắm giữ Tỷ lệ nắm giữ hiện tại
29,07%
Trang 13Nguồn: Cafef.vn
III VỀ KHÁI NIỆM “ ĐỐI TÁC CHIẾN LƯỢC “ VÀ
NGUYÊN NHÂN CỦA CÁC VỤ “ THOÁI VỐN “
1 Nhà đầu tư chiến lược nước ngoài
a Khái niệm
Theo nghị định 69/2007/NĐ-CP giải thích thì "Nhà đầu tư chiến lược nước ngoài"
là tổ chức tín dụng nước ngoài có uy tín, có năng lực tài chính và khả năng hỗ trợ ngânhàng Việt Nam trong phát triển sản phẩm, dịch vụ ngân hàng, nâng cao năng lực quản trị,điều hành và áp dụng công nghệ hiện đại; có lợi ích chiến lược phù hợp với chiến lượcphát triển của ngân hàng Việt Nam, đáp ứng các tiêu chí cụ thể do ngân hàng Việt Namquy định
b Tiêu chí lựa chọn nhà đầu tư chiến lược nước ngoài
Đối với các ngân hàng thương mại, Ngân hàng Nhà nước ban hành Thông tư số10/2011/TT-NHNN quy định về các tiêu chí lựa chọn cổ đông chiến lược khi cổ phầnhóa
Theo đó, các tiêu chí chủ yếu mà cổ đông chiến lược nước ngoài phải đáp ứng gồm có:
- Là tổ chức tín dụng nước ngoài hoặc tổ chức tài chính nước ngoài, có tổng tàisản tối thiểu tương đương 20 (hai mươi) tỷ đô la Mỹ vào năm trước năm đăng ký thamgia cổ đông chiến lược;
- Có trên 05 (năm) năm kinh nghiệm hoạt động quốc tế;
- Được các tổ chức xếp hạng tín nhiệm độc lập quốc tế (Moody’s, Standard &Poor, Fitch Rating …) xếp hạng ở mức có khả năng thực hiện các cam kết tài chính và