1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TIỂU LUẬN QUẢN TRỊ NGÂN HÀNG PHÂN TÍCH BÁO CÁO TÀI CHÍNH SACOMBANK 2008 - 2012

20 560 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 776,16 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TIỂU LUẬN QUẢN TRỊ NGÂN HÀNG PHÂN TÍCH BÁO CÁO TÀI CHÍNH SACOMBANK 20082012Tổng tài sản của Sacombank hầu nhƣ tăng qua các năm, trong đó các năm 2009 và 2010 thì tốc độ tăng trƣởng khá mạnh do trong 2 năm này Sacombank có phát hành cổ phiếu để tăng vốn điều lệ. Huy động vốn của Sacombank tăng trƣởng khá ổn định và ở mức khá cao (bình quân 20%năm ).

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỔ CHÍ MINH

VIỆN ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC



TIỂU LUẬN QUẢN TRỊ NGÂN HÀNG

ĐỀ TÀI:

PHÂN TÍCH BÁO CÁO TÀI CHÍNH

SACOMBANK 2008-2012

GIẢNG VIÊN PHỤ TRÁCH: PGS.TS TRƯƠNG QUANG THÔNG NHÓM THỰC HIỆN: NHÓM 7_LỚP CAO HỌC TCDN NGÀY/ K22

1 TRỊNH QUANG CÔNG

2 BÙI THỊ THÙY DƯƠNG

3 MAI THỊ HUỲNH MAI

4 CHUNG NGỌC NGHI

5 NGUYỄN THỊ ÁNH NGỌC

6 ĐẶNG LƯU BÍCH PHƯƠNG

THÁNG 08/2013

Trang 2

Trang 3

MỤC LỤC

I Tổng quan 1

II Phân tích giá trị thị trường của cổ phiếu 3

1 EPS(earnings per share) 3

2 Tỷ lệ chi trả cổ tức(Dividend pay-out ratio) 4

3 Tỷ số giá thị trường trên thu nhập P/E 4

III Phân tích lưu chuyển tiền tệ 5

1 Hoạt động kinh doanh 5

2 Hoạt động đầu tư 5

3 Hoạt động tài chính 7

IV Đo lường các rủi ro trong hoạt động ngân hàng 8

1 Đo lường rủi ro tín dụng 8

2 Đo lường rủi ro thanh khoản 12

3 Đo lường rủi ro lãi suất 14

V Kết luận 15

Trang 4

NHTMCP: Ngân hàng Thương mại cổ phần

TCTD: Tổ chức tín dụng

ACB: Ngân hàng Thương mại cổ phần Á Châu

Vietcombank: Ngân hàng Thương mại cổ phần Ngoại thương

BIDV: Ngân hàng Thương mại cổ phần Đầu tư và phát triển

Sacombank: Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương tín

Eximbank: Ngân hàng Thương mại cổ phần Xuất Nhập khẩu Việt Nam

Trang 5

PHÂN TÍCH BÁO CÁO TÀI CHÍNH SACOMBANK 2008-2012

I Tổng quan

LDR (tỷ lệ cấp tín dụng trên huy động vốn) 89,6% 107,3% 105,3% 98,6% 75,9% NIM (tỷ lệ thu nhập lãi cận biên) 6,4% 5,7% 4,1% 3,7% 5,0% NNIM (tỷ lệ thu nhập ngoài lãi cận biên) 0,35% 0,91% 1,25% 2,90% 5,70%

Tỷ trọng thu nhập lãi thuần/tổng thu nhập 95% 86% 77% 56% 47% Tăng trưởng thu nhập lãi thuần 11,2% 50,2% 68,9% 100,8% -0,5% Tăng trưởng thu nhập ngoài lãi thuần -61,0% -21,7% -35,0% 37,2% 1,4% Tăng trưởng thu nhập thuần từ dịch vụ -34% -9% 10% 84% 191%

Tăng trưởng lợi nhuận trước thuế -50,6% 8,2% 17,7% 96,0% -29,8% Tăng trưởng lợi nhuận sau thuế -49,8% 4,5% 14,4% 75,0% -31,7%

Tổng tài sản của Sacombank hầu như tăng qua các năm, trong đó các năm

2009 và 2010 thì tốc độ tăng trưởng khá mạnh do trong 2 năm này Sacombank có phát hành cổ phiếu để tăng vốn điều lệ

Huy động vốn của Sacombank tăng trưởng khá ổn định và ở mức khá cao (bình quân 20%/năm )

Nhín chung, xu hướng của tổng tài sản, dư nợ tín dụng, dư huy động vốn là tăng qua các năm Riêng các năm 2011 và 2012 có biến động bất thường là do:

Năm 2011, với Nghị quyết 11/NQ-CP về những giải pháp chủ yếu tập trung kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội đã thắt chặt chính sách tài khoá, cắt giảm chi tiêu công và thực hiện chính sách tiền tế chặt chẽ, thận trọng Vì thế tăng trưởng tín dụng và huy động vốn của Sacombank bị âm làm cho tổng tài sản cũng tăng trưởng âm

Sang năm 2012, đặt biệt là nữa cuối 2012 khi lạm phát có dấu hiệu được kiềm soát tốt, Ngân hàng Nhà nước đã cho phép nới lỏng chính sách tiền tệ, hạ dần

Trang 6

lãi suất để khơi thông dòng vốn vào sản xuất kinh doanh, điều này đã làm góp phần làm cho huy động vốn và dư nợ tín dụng của Sacombank tăng khá mạnh Mặt khác, một lý do khiến cho huy động vốn tăng mạnh trong năm này là do sự bế tắc ở các kênh đầu tư và quan ngại về rủi ro nên lượng tiền tập trung vào gửi Ngân hàng tăng khá mạnh

LDR của Sacombank xấp xỉ 100% qua các năm nên thanh khoản của hệ thống Sacombank luôn được đánh giá tốt

Tỷ trọng thu nhập từ lãi thuần của doanh nghiệp tăng liên tục qua các năm: Năm 2008 thu nhập từ lãi thuần đóng góp chỉ 47% tổng thu nhập hoạt động của doanh nghiệp thì đến năm 2012 tỷ lệ này đã tăng lên đáng kể là 95% chiếm tỷ trọng gần như tuyệt đối trong thu nhập hoạt động của doanh nghiệp Điều này theo đánh giá của nhóm phân tích là không có lợi cho Sacombank trong dài hạn Bỡi vì mặc

dù thu nhập từ lãi thuần luôn chiếm tỷ trọng lớn trong thu nhập của các Ngân hàng tuy nhiên, việc quá lệ thuộc vào nghiệp vụ tín dụng có thể tiềm tàng nhiều rủi ro cho ngân hàng trong bối cảnh nợ xấu đang có xu hướng gia tăng trong bối cảnh hiện nay Có thể nhận thấy nguyên nhân vì sao Sacombank không ngừng gia tăng tỷ trọng thu nhập từ lãi thuần trong tổng thu nhập khi xem xét:

NIM và NNIM biến động theo xu hướng ngược nhau: NIM tăng trưởng

liên tục qua các năm, trong khi NNIM lại giảm đều qua các năm?

NNIM của Sacombank giảm chủ yếu do thu nhập thuần từ hoạt động dịch

vụ giảm (Nguyên nhân: kinh tế suy thoái, khách hàng phải tiết kiệm chi phí, và do

áp lực cạnh tranh giữa các ngân hàng ngày càng lớn,…) và lỗ từ hoạt động kinh doanh chứng khoán (Nguyên nhân: thị trường chứng khoán đi xuống buộc phải trích lập dự phòng giảm giá chứng khoán, trong đó năm 2012, 98% lỗ từ hoạt động kinh doanh chứng khoán của Sacombank là do trích lập dự phòng cho khoản đầu tư trái phiếu của SBS)

Do NNIM dần bị co hẹp nên Sacombank buộc phải “trông cậy” vào hoạt động tín dụng để tối đa hoá lợi nhuận, biểu hiện ở việc dư nợ tín dụng tăng mạnh

Trang 7

PHÂN TÍCH BÁO CÁO TÀI CHÍNH SACOMBANK 2008-2012

các năm qua Điều này đã làm cho tỷ trọng thu nhập từ lãi thuần của doanh nghiệp tăng mạnh qua các năm

NIM của Sacombank tăng liên tục qua các năm trong bối cảnh ngành ngân hàng đang có sự canh tranh rất khốc liệt, đặc biệt lãi suất cũng chịu sự kiểm soát chặt chẽ của Ngân hàng Nhà nước? Lý giải điều này, nhóm phân tích nhận định rằng nguyên nhân là do Sacombank phát triển rất mạnh về mảng tín dụng bán lẻ (có NIM cao hơn mảng bán buôn) và một nguyên nhân khác là từ các phân tích ở trên: Sacombank đẩy mạnh cho vay để bù đắp lợi nhuận, trong quá trình đó buộc phải chấp nhận cho các khách hàng có mức độ rủi ro cao hơn vay và do rủi ro cúa các khách hàng này cao hơn nên họ buộc phải chấp nhận mức lãi suất cao hơn

Hệ quả: nợ xấu tăng trưởng Nợ xấu đã tăng trưởng liên tục trong giai đoạn này ở tốc độ rất cao (bình quân 217%/năm, năm 2012 tăng trên 400%), kéo theo đó chi phí dự phòng cũng tăng trưởng ở mức (bình quân tăng 104%/năm) Tuy nhiên, nếu xét về tỷ lệ nợ xấu thì dường như nợ xấu của Sacombank vẫn trong ngưỡng an toàn (ổn định khoảng 0,6%, riêng năm 2012 là 2,05%) Nhóm phân tích cho rằng nợ xấu của Sacombank vẫn tăng hàng năm nhưng tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ vẫn ổn định ở mức thấp là do Sacombank đã đẩy mạnh tăng trưởng tín dụng Khi mà tăng trưởng tín dụng bị chửng lại từ cuối năm 2011 (do chính sách thắt chặt) và các yếu

tố vĩ mô chuyển biến xấu (lạm phát, lãi suất cao, ảnh hưởng khủng hoảng kinh tế thế giới, …) đã làm cho tỷ lệ nợ xấu năm 2012 tăng đột biến (gấp gần 4 lần mức bình quân các năm trước)

Lợi nhuận của Sacombank cũng đi theo xu hướng đó: tăng mạnh trong thời gian tín dụng tăng trưởng cao và đến năm 2012 sụt giảm một cách đột ngột

II Phân tích giá trị thị trường của cổ phiếu

1 EPS(earnings per share)

Năm 2012 2011 2010 2009 2008 EPS 1,029 2,241 2,373 2,771 1,869 Với những biến động trong năm 2012 đã kéo lợi nhuận trước thuế cả năm của Sacombank trong 2012 xuống còn 1.368 tỷ đồng, bằng phân nửa kết quả đạt

Trang 8

được năm 2011, mà cụ thể là đã giảm tới 50,6% Theo đó, lãi sau thuế cũng giảm còn 1.002 tỷ đồng, giảm 49,8% so với năm 2011

Lợi ích cổ đông theo đó cũng bị ảnh hưởng theo Lãi cơ bản trên cổ phiếu (EPS) bị giảm từ 2.241 đồng/CP năm 2011 còn 1,029 đồng/CP năm vừa rồi, tương ứng đã bị hao hụt mất hơn 54%

2 Tỷ lệ chi trả cổ tức(Dividend pay-out ratio)

Tỷ lệ chi trả cổ tức 58.30% 1.94% 71.47% 0.00% 0.02%

Tỷ lệ chi trả cổ tức qua các năm của Sacombank nhìn chung đều ở mức thấp Ngân hàng này luôn muốn giữ lại lợi nhuận và chi trả cổ tức bằng cổ phiếu Năm 2010, STB chia tỷ lệ cổ tức ở mức khá cao 71,41%; nhưng ngay lập tức phát hành lô cổ phiếu bằng mệnh giá để bù vào Năm 2012 cũng đã quyết định chia cổ tức ở mức 58,3%, tuy nhiên điều này sẽ được bù đắp bằng việc phát hành các cổ phiếu cho các cổ đông chiến lược

3 Tỷ số giá thị trường trên thu nhập P/E

Bảng số liệu trên thể hiện chỉ số P/E của cổ phiếu Sacombank trong giai đoạn từ 2008-2012 Ta dễ dàng nhận thấy chỉ số P/E của Sacombank biến động không ổn định qua các năm, từ năm 2007 là 17,01 giảm mạnh về 9,74 năm 2009 và giảm nhẹ trong các năm 2010,2011; sau đó bất ngờ tăng cao trở lại năm 2012 là 20.68 (đây là mức cao nhất trong 05 trở lại đây) Chuỗi sự kiện này dường như diễn

tả sự kỳ vọng của các nhà đầu tư khi cho rằng năm 2011 chính là đáy của Sacombank và tin rằng cổ phiếu Sacombank sẽ tăng trưởng mạnh trong các năm sau

Trang 9

PHÂN TÍCH BÁO CÁO TÀI CHÍNH SACOMBANK 2008-2012

III Phân tích lưu chuyển tiền tệ

Từ bảng cho ta thấy nguồn tạo ra tiền của ngân hàng từ năm 2008-2012.Đặc biệt là trong năm 2011-2012, ngân hàng đều xuất hiện dòng tiền chi ra cho cả ba hoạt động kinh doanh, hoạt động tài trợ và hoạt động tài chính

1 Hoạt động kinh doanh

Nhìn vào biểu đồ cơ cấu dòng tiền cho ta thấy hoạt động kinh doanh là hoạt động tạo ra tiền chính của ngân hàng Sacombank

Từ năm 2008-2010, ngân hàng có dòng tiền dương dồi dào từ hoạt động kinh doanh và hoạt động tài chính, để đáp ứng nhu cầu hoạt động của ngân hàng Tuy nhiên dòng tiền từ hoạt động kinh doanh giảm dần qua các năm và đuợc thay vào đó là sự gia tăng của dòng tiền từ hoạt động tài chính

Mặc dù trong 2 năm 2011-2012, STB đã giảm các khoản cho vay của khách hàng nhưng dòng tiền hoạt động kinh doanh của NH vẫn bị âm Điều nay xuất phát từ việc, trong giai đoạn trước đặc biệt là 2010, STB đã gia tăng các khoản công nợ hoạt động như các khoản nợ chính phủ, NHNN, các khoản tiền gửi, tiền vay của các tổ chức tín dụng, tiền gửi của khách hàng cá nhân, phát hành các giấy

tờ có giá dẫn đến năm 2011-2012, các chi phí lãi và chi phí tương tự tăng cao, STB phải trả các khoản công nợ hoạt động trên chưa kể đến tiền chi trả cho nhân viên và hoạt động quản lý, công vụ đã tăng gấp 1,5 lần năm trước

2 Hoạt động đầu tư

-4,000,000

-2,000,000

0

2,000,000

4,000,000

6,000,000

8,000,000

10,000,000

12,000,000

2008 2009 2010 2011 2012

Cơ cấu dòng tiền của STB

I - Lưu chuyển tiền thuần từ hoạt động kinh doanh

II- Lưu chuyển tiền thuần từ hoạt động đầu tư

III- Lưu chuyển tiền thuần từ hoạt động tài chính

Trang 10

Qua các năm, ngân hàng đều xuất hiện dòng tiền chi ra cho hoạt động đầu

tư, đặc biệt là năm 2011 khoản chi cho hoạt động đầu tư đã tăng gấp 2 lần so

với năm 2010 Tuy nhiên theo Báo cáo lưu chuyển tiền tệ của ngân hàng thì dòng

tiền chi ra chủ yếu để mua sắm tài sản cố định cho ngân hàng Có lẽ chính vì chiến

lược kinh doanh chú trọng hoạt động bán lẻ, phát triển hệ khách hàng cá nhân mà

ngân hàng đưa ra, họliên tục đầu tư vào mở rộng mạng lưới các điểm giao dịch, hệ

thống ATM, POS, tập trung nâng cao chất lượng dịch vụ và tính hiệu quả của hệ

thống phân phối để nâng cao tính cạnh tranh của ngân hàng Mặc khác dòng tiền

thu được từ các hoạt động đặc biệt là hoạt động thanh lý tài sản lại không

cao, không đủ bù đắp cho dòng tiền chi ra này

Bảng 1: Lưu chuyển tiền tệ từ hoạt động đầu tư

Xét về hoạt động đầu tư, góp vốn vào các đơn vị khác (mua công ty con, góp vốn liên doanh, liên kết, đầu tư dài hạn khác) nhìn chung cũng mang lại hiệu

quả làm tăng dòng tiền vào của STB

Tiền chi đầu tư, góp vốn vào các đơn vị khác

(mua công ty con, góp vốn liên doanh, liên kết,

đầu tư dài hạn khác)

-16,233 -681,476 -195,321 -150,223

Tiền thu đầu tư, góp vốn vào các đơn vị khác

(bán, thanh lý Công ty con, góp vốn liên doanh,

liên kết, đầu tư dài hạn khác)

151,976 2,028,764 0 260,565 106,770

Trang 11

PHÂN TÍCH BÁO CÁO TÀI CHÍNH SACOMBANK 2008-2012

Lợi nhuận thu được 277,253 1,408,151 -119,818 218,777 162,045

3 Hoạt động tài chính

Bảng 2: Lưu chuyển tiền tệ từ hoạt động tài chính

Từ năm 2008-2010 có dòng tiền vào lớn từ tăng vốn cổ phần từ góp vốn và/hoặc phát hành cổ phiếu Và kết quả là sự thay đổi cơ cấu chủ sở hữu của

Sacombank cùng vụ thay đổi nhân sự cấp cao đình đám trong ngành ngân hàng

Chủ tịch Hội đồng quản trị của Sacombank, ông Đặng Văn Thành đã từ nhiệm vào

tháng 11/2012 và lên thay ông là ông Phạm Hữu Phú, nguyên Phó Chủ tịch HĐQT

Eximbank Đồng thời, cơ cấu nhân sự HĐQT và cơ cấu ban giám đốc cũng có sự

thay đổi rất lớn Về cơ cấu sở hữu của Sacombank được thể hiện theo hình sau:

Năm 2011-2012, dòng tiền hoạt động tài chính bị âm là do STB đã tăng chi trả cổ tức cho các cổ đông rất cao so với giai đoạn trước Nếu năm 2010, STB

không có dòng chi trả cổ tức thì sang năm 2011, dòng tiền chi trả cổ tức rất cao, gấp

5841 lần so với năm 2009, và tương tự năm 2012, dòng tiền chi trả cổ tức gấp 175

lần so với năm 2009, nguyên nhân là do sang năm 2011-2012, STB mới thông qua

tỷ lệ chi trả cổ tức năm 2010-2011 và tiến hành chi trả cổ tức và năm 2010 tỷ lệ chi

Trang 12

trả cổ tức của STB là cao nhất trong giai đoạn này Đồng thời, trong giai đoạn

2008-2012, STB không có dòng tiền chi mua cổ phiếu quỹ thì sang năm 2011-2008-2012, STB

đã mua 1 lượng lớn cổ phiếu quỹ với tổng giá trị là 1.506,878 triệu đồng Mặc dù việc mua lại cổ phiếu quỹ này đã được phêduyệtcủa Hội đồng đầutư tài chính của Ngân hàng số 30/BB–HĐĐTTC ngày 1 tháng 11 năm 2011 nhưng đây cũng một dấu hiệu bất thường của STB

Tiền và các khoản tương đương tiền

Nhìn chung, tiền và các khoản tương đương tiền tại thời điểm cuối kỳ của Sacombank tương đối thấp so với các ngân hàng thương mại cổ phần Cho thấy Sacombank chỉ giữ lại một lượng tiền nhỏ để đảm bảo duy trì hoạt động của ngân hàng, nhằm mục tiêu không phát sinh dòng tiền dư thừa tại ngân hàng

IV Đo lường các rủi ro trong hoạt động ngân hàng

1 Đo lường rủi ro tín dụng

0

10,000,000

20,000,000

30,000,000

40,000,000

50,000,000

60,000,000

70,000,000

2008 2009 2010 2011 2012

Tiền và các khoản tương đương tiền

STB EIM ACB MBB

Trang 13

PHÂN TÍCH BÁO CÁO TÀI CHÍNH SACOMBANK 2008-2012

Số liệu của ngân hàng trong báo cáo tài chính qua các năm, nhìn chung, tỷ lệ

nợ xấu chiếm tỷ lệ tương đối ổn định trong tổng dư nợ từ 2008-2011, trung bình khoảng 0,6% Sacombank và ACB là hai ngân hàng có tỷ lệ nợ xấu thấp nhất so với các ngân hàng thương mại cổ phần khác.Đồng thời cũng thấp hơn rất nhiều so với ngân hàng nhà nước, đặc biệt là so với Vietcombank, BIDV.Điều này phần nào thể hiện khả năng vượt trội của Sacombank trong việc kiểm soát các khoản nợ xấu, ứng phó với tình hình kinh tế khó khăn, lạm phát trong nước tăng cao

Tuy nhiên, sang năm 2012, trong khi hầu hết các ngân hàng nhà nước có tỷ

lệ nợ xấu tổng dư nợ cao như VCB, BIDV và CTG là một trong những ngân hàng

có tỷ lệ nợ xấu trong tổng dư nợ cao nhất trong giai đoạn trước đang trong nổ lực hạn chế nợ xấu thì tỷ lệ nợ xấu trong tổng dư nợ của Sacombanklại gia tăng đột biến chiếm tỷ lệ 2% trong tổng dư nợ, chiếm 14,4% tổng vốn chủ sở hữu, tăng gấp 2,5 lần so với các năm trước chỉ khoảng dưới 0,6% Đây điều là kết quả của chính sách

mở rộng tín dụng của Sacombank trong năm Mặc dù tỷ lệ nợ xấu vẫn nằm trong ngưỡng an toàn là dưới 3% theo thông lệ quốc tế, và vẫn còn thấp hơn so với các ngân hàng như VCB, BIDV, ACB Nhưng sự gia tăng đột biến tỷ lệ nợ xấu ở Sacombank cần phải xem xét kỹ lưỡng

0.0%

1.0%

2.0%

3.0%

4.0%

5.0%

2012 2011 2010 2009 2008

Tỷ lệ nợ xấu/Tổng dư nơ

STB EIB ACB MBB VCB Vietinbank BIV

Ngày đăng: 17/11/2014, 21:15

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Lưu chuyển tiền tệ từ hoạt động đầu tư - TIỂU LUẬN QUẢN TRỊ NGÂN HÀNG PHÂN TÍCH BÁO CÁO TÀI CHÍNH SACOMBANK 2008 - 2012
Bảng 1 Lưu chuyển tiền tệ từ hoạt động đầu tư (Trang 10)
Bảng 2: Lưu chuyển tiền tệ từ hoạt động tài chính - TIỂU LUẬN QUẢN TRỊ NGÂN HÀNG PHÂN TÍCH BÁO CÁO TÀI CHÍNH SACOMBANK 2008 - 2012
Bảng 2 Lưu chuyển tiền tệ từ hoạt động tài chính (Trang 11)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w