− Theo quan điểm của các nhà kinh tế học cổ điển trước Marx “cái phần trội lên nằm trong giá bán so với chi phí sản xuất là lợi nhuận”− Karl Marx cho rằng: “giá trị thặng dư hay cái phần
Trang 1Trong bối cảnh nền kinh tế đang khó khăn như hiện nay việc nâng cao lợi nhuận càng có ý nghĩa quan trọng hơn đối với nền kinh tế nói chung và các doanh nghiệp ngành xây lắp nói riêng Sau một thời gian tìm hiểu thực tế tại công ty Cổ phần tư vấn xây dựng và phát triển điện, em nhận thấy điểm nổi bật ở tình hình tài chính của công ty là mặc dù lợi nhuận của công ty trong các năm qua đều dương nhưng còn khá là thấp từ đó làm cho hiệu quả kinh doanh của công ty là không cao.
Trang 2Xuất phát từ những vấn đề cấp thiết trên và tình hình thực tế tại công ty cổ phần tư vấn xây dựng và phát triển điện cùng với sự giúp đỡ của giáo viên hướng dẫn Tiến Sĩ Nguyễn Thị Hà và các anh chị phòng Kế toán – Tài chính của công
ty, em đã quyết định chọn đề tài: “ Lợi nhuận và các giải pháp chủ yếu phấn đấu tăng lợi nhuận tại công ty cổ phần tư vấn xây dựng và phát triển điện - FTD”.
- Mục tiêu của đề tài: Kiến nghị các giải pháp phấn đấu tăng lợi nhuận của công ty cổ phần tư vấn xây dựng và phát triển điện - FTD
- Đối tượng, phạm vi, thời gian nghiên cứu:
• Đối tượng: Lợi nhuận và các giải pháp phấn đấu tăng lợi nhuận
• Phạm vi: Công ty cổ phần tư vấn xây dựng và phát triển điện - FTD
• Thời gian: Tình hình lợi nhuận năm 2011, năm 2012 và giải pháp phấn đấu tăng lợi nhuận cho các năm tiếp theo
- Phương pháp nghiên cứu:
Phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong đề tài bao gồm: phương pháp thống
kê, phương pháp so sánh, phương pháp phân tích tổng hợp qua các khảo sát thực tế
• Nội dung của đề tài gồm 3 chương:
Chương I: Lý luận chung về lợi nhuận và sự cần thiết phấn đấu tăng lợi nhuận của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường.
Chương II: Tình hình thực hiện lợi nhuận tại công ty cổ phần tư vấn xây dựng và phát triển điện – FTD
Trang 3Chương III: Một số ý kiến đề xuất về phương hướng và biện pháp phấn đấu tăng lợi nhuận tại công ty Cổ phần tư vấn xây dựng và phát triển điện - FTD.
Qua thời gian thực tập tại Công ty, với sự giúp đỡ tận tình của cán bộ và lãnh đạo phòng Tài chính – Kế toán và được sự hướng dẫn của cô giáo Tiến sĩ: Nguyễn Thị Hà em đã hoàn thành bài luận văn này Mặc dù đã cố gắng tìm hiểu
và phân tích nhưng do hạn chế về trình độ nhận thức không tránh khỏi những thiếu sót Em rất mong nhận được những ý kiến đóng góp để khóa luận được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn cô giáo hướng dẫn, ban lãnh đạo, phòng Tài chính – Kế toán của công ty cổ phần tư vấn xây dựng và phát triển điện - FTD
Hà Nội, tháng 5 năm 2013
Sinh viên: Nguyễn Thị Ngần
Lớp : K47/11.04
Trang 4− Theo quan điểm của các nhà kinh tế học cổ điển trước Marx “cái phần trội lên nằm trong giá bán so với chi phí sản xuất là lợi nhuận”
− Karl Marx cho rằng: “giá trị thặng dư hay cái phần trội lên trong toàn
bộ giá trị của hàng hoá trong đó lao động thặng dư chính là lao động không được trả công của công nhân đã được vật hoá thì tôi gọi là lợi nhuận”
− Nhà kinh tế học hiện đại P.A.Samuelson và W.D.Nordhaus thì định nghĩa rằng: “Lợi nhuận là một khoản thu nhập dôi ra bằng tổng số thu về trừ đi tổng số đã chi” hoặc cụ thể hơn là “ lợi nhuận được định nghĩa như là khoản chênh lệch giữa tổng thu nhập của một công ty và tổng chi phí”
Trang 5Ngày 12 tháng 6 năm 1999, Luật doanh nghiệp đã được Quốc hội khóa X nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua và có hiệu lực từ ngày 01/01/2000, trong đó nêu rõ: “Doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế có tên riêng,
có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm thực hiện các hoạt động kinh doanh”
Khái niệm trên đã nhấn mạnh doanh nghiệp phải là một tổ chức kinh tế chứ không phải là một tổ chức chính trị hay tổ chức xã hội Doanh nghiệp phải lấy hoạt động sản xuất kinh doanh làm chủ yếu và theo đuổi mục tiêu lợi nhuận Trong điều kiện các doanh nghiệp hạch toán kinh doanh theo cơ chế thị trường như hiện nay, muốn tồn tại và phát triển thì đòi hỏi tất yếu đối với doanh nghiệp
là thu được lợi nhuận
Dưới góc độ của doanh nghiệp, lợi nhuận là kết quả cuối cùng của các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, là khoản tiền chênh lệch giữa doanh thu
và chi phí mà doanh nghiệp bỏ ra để đạt được doanh thu đó từ các hoạt động của doanh nghiệp mang lại
Lợi nhuận = doanh thu – chi phí tạo ra doanh thu.
Trong nền kinh tế thị trường, một trong những mục tiêu hàng đầu của các doanh nghiệp luôn là lợi nhuận, một doanh nghiệp làm ăn hiệu quả trước hết là phải đạt được mức lợi nhuận cao, nó thể hiện kết quả của những tích cực trong việc tăng doanh thu và giảm chi phí của doanh nghiệp, thể hiện việc sử dụng nghìn đồng vốn có hiệu quả
• Nội dung :
Trang 6Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, tùy theo các lĩnh vực đầu tư khác nhau, lợi nhuận cũng được tạo ra từ nhiều hoạt động khác nhau:
- Lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh: là lợi nhuận thu được từ hoạt động kinh
doanh thuần của doanh nghiệp Chỉ tiêu này phản ánh kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trong kỳ báo cáo Chỉ tiêu này được tính toán dựa trên
cơ sở lợi nhuận gộp từ doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ trừ chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp phân bổ cho hàng hóa, dịch vụ đã cung cấp trong kỳ báo cáo
- Lợi nhuận từ hoạt động tài chính: phản ánh hiệu quả hoạt động tài chính của
doanh nghiệp Chỉ tiêu này được tính bằng cách lấy thu nhập hoạt động tài chính trừ đi các chi phí phát sinh từ hoạt động này
- Lợi nhuận khác: là những khoản lợi nhuận doanh nghiệp không dự tính trước
hoặc có dự tính trước những ít có khả năng xảy ra Những khoản lợi nhuận khác
có thể do chủ quan đơn vị hoặc do khách quan đưa tới
Thu nhập bất thường của doanh nghiệp bao gồm:
+ Thu về nhượng bán, thanh lý tài sản cố định
+ Thu tiền phạm vi phạm hợp đồng
+ Thu tiền từ các khoản nợ khó đòi đã xử lý, xóa sổ
+ Thu các khoản nợ không xác đinh được chủ
+ Các khoản thu nhập kinh doanh của những năm trước bị bỏ sót hay lãng quên ghi sổ kế toán năm nay mới phát hiện ra
Trang 7Các khoản thu trên sau khi trừ đi các khoản tổn thất có liên quan sẽ là lợi nhuận bất thường
• Phương pháp xác định lợi nhuận:
- Phương pháp trực tiếp:
Lợi nhuận hoạt động sản xuất kinh doanh :
Lợi nhuận hoạt
Trong đó :
Doanh thu bán hàng và cung Cấp dịch vụ
-Các khoản giảm trừ Doanh thu
- Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ: là khoản mà doanh nghiệp thu được do bán các sản phẩm do doanh nghiệp sản xuất ra, hàng hoá mua vào hoặc cung cấp các dịch vụ cho khách hàng
- Các khoản giảm trừ doanh thu bao gồm: chiết khấu thương mại, giá trị hàng bán bị trả lại, giảm giá hàng bán, thuế gián thu
Giá thành toàn Giá vốn Chi phí Chi phí quản
bộ sản phẩm = hàng + bán + lý doanh
tiêu thụ bán hàng nghiệp
Trang 8+ Chiết khấu thương mại: là khoản mà doanh nghiệp giảm trừ cho người mua theo một tỷ lệ nhất định so với giá ghi trên hoá đơn do việc người mua mua hàng với khối lượng lớn.
+ Giảm giá hàng bán: Là khoản mà doanh nghiệp giảm trừ cho người mua theo một tỷ lệ nhất định theo giá ghi trên hoá đơn do doanh nghiệp không đảm bảo các điều kiện về hàng hoá như ghi trên hợp đồng
+ Giá trị hàng hoá bị trả lại: phản ánh các khoản tiền hàng đã nhận của khách hàng nay phải trả lại do việc cung cấp hàng hoá, sản phẩm không đúng hợp đồng, không đạt tiêu chuẩn chất lượng và người mua không chịu nhận hàng
+ Các loại thuế gián thu đối với sản phẩm tiêu thụ: thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất nhập khẩu, thuế GTGT theo phương pháp gián tiếp …
- Giá vốn hàng bán: là trị giá vốn của hàng xuất bán được xác định dựa trên đơn giá xuất kho của từng doanh nghiệp
- Chi phí bán hàng: Gồm các chi phí phát sinh trong quá trình tiêu thụ sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ như: tiền lương nhân viên, chi phí vật liệu bao bì, chi phí dụng cụ đo lường, chi phí khấu hao tài sản cố định, chi phí bảo hành sản phẩm, chi phí dịch vụ mua ngoài, chi phí khác bằng tiền
- Chi phí quản lý doanh nghiệp: gồm các chi phí cho việc quản lý kinh doanh, quản lý hành chính và chi phí chung khác có liên quan đến hoạt động của toàn doanh nghiệp: lương nhân viên văn phòng, chi phí vật liệu quản lý, chi phí
đồ dùng văn phòng, chi phí khấu hao tài sản cố định, thuế, phí, lệ phí, chi phí dự phòng, chi phí dịch vụ mua ngoài, chi phí khác bằng tiền
Trang 9Lợi nhuận hoạt động tài chính:
-Chi phí hoạt động tài Chính
-Thuế gián thu (nếu có)
- Doanh thu hoạt động tài chính: là tổng giá trị các lợi ích kinh tế doanh nghiệp thu được từ hoạt động tài chính hoặc kinh doanh về vốn như: các khoản tiền lãi, tiền bản quyền, cổ tức và lợi nhuận được chia,…khi thoả mãn đồng thời hai điều kiện: có khả năng thu được lợi ích từ giao dịch đó và doanh thu được xác định tương đối chắc chắn
- Chi phí hoạt động tài chính: là những chi phí liên quan đến các hoạt động
về vốn, các hoạt động đầu từ tài chính và các nghiệp vụ mang tính chất tài chính của doanh nghiệp như: đầu tư vào công ty liên doanh, liên kết, chi phí cho vay vốn, chi phí liên quan đến mua bán ngoại tệ, chiết khấu thanh toán,……
Lợi nhuận khác: Là chênh lệch giữa thu nhập khác và chi phí khác phát sinh
do các hoạt động như thanh lý, nhượng bán tài sản, thu tiền phạt vi phạm hợp nghìn đồng, nhận quà biếu …
+
Lợi nhuận hoạt động tài chính
+
Lợi nhuận khác
Trang 10- Phương pháp xác định lợi nhuận qua các bước trung gian:
Theo phương pháp này, để xác định được lợi nhuận của doanh nghiệp trước hết ta phải xác đinh được chi tiết các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đó
Từ đó lần lượt lấy doanh thu của tổng hoạt động trừ chi phí bỏ ra để có doanh thu đó ( như giá vốn, chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp, chi phí hoạt động tài chính…) Cuối cùng tổng hợp lợi nhuận của các hoạt động ta sẽ
tính được lợi nhuận thu được trong kỳ của doanh nghiệp Cụ thể:
7 Chi phí quản lý doanh nghiệp
8 Lợi nhuận thuần từ hoạt động sản xuất kinh doanh (= 5-6-7)
9 Thu nhập hoạt động tài chính
10 Chi phí hoạt động tài chính
11 Lợi nhuận hoạt động tài chính (= 9-10)
12 Thu nhập hoạt động khác
13 Chi phí hoạt động khác
14 Lợi nhuận hoạt động khác (= 12-13)
15 Lợi nhuận trước thuế thu nhập doanh nghiệp (= 8+11+14)
Trang 1116 Thuế thu nhập doanh nghiệp (= 15 x thuế suất thuế TNDN)
17 Lợi nhuận ròng (= 15 – 16)
Cách tính này sẽ cho phép người quản lý nắm được quá trình hình thành lợi nhuận và tác động của từng khâu hoạt động đến kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh cuối cùng của doanh nghiệp, đó là lợi nhuận sau thuế thu nhập doanh nghiệp (lợi nhuận dòng) Mặt khác nó còn giúp ta có thể lập Báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh thông qua các chỉ tiêu trên, nhờ đó chúng ta dễ dàng phân tích và so sánh được kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp kỳ trước so với kỳ này, đồng thời biết được sự tác động của từng khâu hoạt động tới
sự tăng giảm lợi nhuận của doanh nghiệp, từ đó giúp ta tìm ra những giải pháp điều chỉnh thích hợp góp phần nâng cao lợi nhuận, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
- Phân tích điểm hòa vốn:
+ Khái niệm điểm hòa vốn: Điểm hòa vốn là điểm mà tại đó mà doanh thu bán hàng đủ trang trải mọi chi phí bỏ ra và doanh nghiệp không lỗ không lãi, là một điểm mà tại đó lợi nhuận của doanh nghiệp bằng không Như vậy trên điểm hòa vốn sẽ có lãi và dưới điểm hòa vốn sẽ bị lỗ Xác đinh điểm hòa vốn trong kinh doanh là điểm khởi đầu để quyết định quy mô sản xuất, tiêu thụ, quy mô vốn đầu tư cho sản xuất kinh doanh để đạt mức lãi mong muốn phù hợp với điều kiện hiện hành cũng như đầu tư mới hoặc đầu tư bổ sung
+ Phương pháp xác định:
Xác định sản lượng hòa vốn:
Trang 12Về mặt toán học, điểm hòa vốn là điểm giao nhau của đường biểu diễn doanh thu với đường biểu diễn chi phí Do đó sản lượng hòa vốn chính là ẩn số của hai phương trình biểu diễn hai đường thẳng đó.
Tổng doanh thu tiêu thụ sản phẩm :Y2 = gQ
Tại điểm hòa vốn tổng doanh thu = tổng chi phí ( Y1 = Y2)
⇒ Qg = F + VQ ⇒ Q (g - V) = F
⇒ Sản lượng hòa vốn : Q = F/(g - V)
Xác đinh doanh thu hòa vốn :
Doanh thu hòa vốn được xác định theo công thức sau :
Doanh thu hòa vốn = gQ = g*F/(g - V) = F/ (1- V/g)
Tỉ lệ 1- V/g được gọi là tỉ lệ lãi trên biến phí
Q được coi là sản lượng hòa vốn
Trang 13 Xác đinh công suất hòa vốn
Người quản lý cần biết huy động bao nhiêu phần trăm công suất sẽ đạt điểm hòa vốn, mức huy động năng lực sản xuất trên công suất hòa vốn sẽ đưa lại lợi nhuận cho doanh nghiệp, ngược lại nếu mức huy động năng lực sản xuất thấp hơn công suất hòa vốn của doanh nghiệp sẽ bị lỗ
Theo khái niệm điểm hòa vốn ta có tổng doanh thu = tổng chi phí
⇒ gQ = F + VQ ⇒ F = gQ – VQ, tức là tại điểm hòa vốn thì chênh lệch giữa tổng doanh thu với tổng chi phí biến đổi chính là tổng chi phí cố đinh
Vậy khi huy động 100% công suất sản lượng là s thì chênh lệch giữa tổng doanh thu và tổng chi phí biến đổi là (sg - sV) Do đó cần có h% công suất để chênh lệch đó đủ bù đắp chi phí cố định
⇒ F = (sg - sV)/100*h%
⇒ Công suất hòa vốn = h% = F/(sg - sV) * 100
Nghĩa là cứ 1% công suất sẽ ứng với mức chênh lệch là (sg - sV) * 100
Nếu h% > 1 thì doanh nghiệp không đạt được điểm hòa vốn ( lợi nhuận < 0)Nếu h% < 1 thì doanh nghiệp đạt được điểm hòa vốn ( lợi nhuận > 0)
• Xác định thời gian đạt điểm hòa vốn
Nếu gọi thời gian đạt điểm hòa vốn là n thì n được xác định theo công thức sau :
N = 12 tháng * Q/s
Trang 14Với Q : Sản lượng hòa vốn của doanh nghiệp
s : sản lượng đạt được khi huy động 100% công suất
Điều này có nghĩa doanh nghiệp phải dành một khoảng thời gian là n tháng trong năm mới để sản xuất đủ sản lượng hòa vốn
Phân tích điểm hòa vốn sẽ giúp cho các nhà quản trị tài chính xem xét kinh
doanh trong mối quan hệ của nhiều yếu tố tác động tới lợi nhuận, cho phép xác đinh rõ ràng vào thời điểm nào trong kỳ kinh doanh hoặc ở mức sản xuất, tiêu thụ bao nhiêu sản phẩm thì doanh nghiệp không bị lỗ, từ đó có các quyết định chủ động và tích cực trong hoạt động sản xuất kinh doanh
1.1.2 Ý nghĩa của lợi nhuận
- Trước hết, lợi nhuận giữ vai trò quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp Nếu doanh nghiệp làm ăn có lãi với mức lợi nhuận cao thì doanh nghiệp sẽ tồn tại và không ngừng mở rộng sản xuất kinh doanh Ngược lại, khi doanh nghiệp làm ăn thua lỗ, doanh nghiệp sẽ đứng trước bờ vực phá sản
- Thứ hai, lợi nhuận là một chỉ tiêu chất lượng tổng hợp phản ảnh hiệu quả của toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh Lợi nhuận tăng lên là kết quả của việc giảm chi phí, hạ giá thành và tăng cường tiêu thụ
-Thứ ba, lợi nhuận là nguồn tài chính quan trọng đảm bảo cho doanh nghiệp tăng trưởng một cách ổn định vững chắc, là nguồn đảm bảo chi trả cho những rủi ro và đồng thời lợi nhuận cũng là nguồn thu quan trọng của Ngân sách Nhà nước thông qua việc thu thuế thu nhập doanh nghiệp
Trang 15- Thứ tư, lợi nhuận góp phần rất quan trọng trong việc cải thiện, nâng cao đời sống cho người lao động trong doanh nghiệp.
1.1.3 Sự cần thiết phải phấn đấu tăng lợi nhuận trong điều kiện hiện nay
Thông thường, khi đánh giá một doanh nghiệp, các nhà đầu tư, các nhà phân tích, các chủ nợ thường quan tâm đến chỉ tiêu lợi nhuận đầu tiên Lợi nhuận
là một chỉ tiêu tổng quát nhất thể hiện được bộ mặt bên ngoài của một doanh nghiệp Mục tiêu chính của các doanh nghiệp trong giai đoạn hiện nay là hạ giá thành, tăng doanh thu để nhằm được lợi nhuận cao nhất Lợi nhuận có vai trò rất quan trọng do những lý do sau:
1.1.3.1 Vai trò của lợi nhuận đối với doanh nghiệp nói chung
Đối với doanh nghiệp, lợi nhuận là nhân tố quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp
Khi thành lập một doanh nghiệp, mong muốn của các chủ sở hữu luôn làm
là ăn có lãi, thu được kết quả cao nhất để có tiền, có tài sản trang trải chi tiêu cho bản thân, gia đình và làm những việc mình mong muốn Kết quả đó thể hiện ở lợi nhuận mà họ thu được Lợi nhuận chính là sản phẩm cuối cùng của một quá trình sản xuất kinh doanh dài và khó khăn Lợi nhuận cao thể hiện thành quả mà doanh nghiệp thu được
Chưa tính đến việc kinh doanh thực sự có lãi, trước hết một doanh nghiệp phải đạt được mức lợi nhuận dương, nghĩa là không bị lỗ thì doanh nghiệp mới
có nguồn kinh phí để trang trải cho rất nhiều các khoản chi tiêu, mới đứng vững trên thị trường Một doanh nghiệp làm ăn thua lỗ, lợi nhuận âm sẽ có khả năng dẫn đến phá sản
Trang 16Phần lợi nhuận còn lại sau khi bù đắp tất cả chi phí sẽ là nguồn tích luỹ cơ bản để doanh nghiệp tái sản xuất, đầu tư mở rộng và đáp ứng các nhu cầu chi dùng khác Tái đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh bằng lợi nhuận sẽ là một nguồn vốn chính đối với tất cả các doanh nghiệp Đối với doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế ngoài quốc doanh, nguồn tích luỹ chủ yếu là từ lợi nhuận thu được.
Bên cạnh đó, để thu hút được sự chú ý của các nhà đầu tư, thì doanh nghiệp cũng phải thể hiện tình hình kinh doanh tốt đẹp, có khả năng thu lợi nhuận hay không thì mới thuyết phục người đầu tư bỏ vốn Doanh nghiệp làm ăn phát đạt, lợi nhuận cao và ổn định thì uy tín sẽ được nâng cao, mở rộng được quy
mô và liên kết với những đơn vị khác
1.1.3.2 Vai trò của lợi nhuận đối với người lao động
Để đảm bảo cho việc sản xuất kinh doanh của mình doanh nghiệp không thể không quan tâm đến người lao động bởi người lao động là những người tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Họ có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc gia tăng lợi nhuận Doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh có hiệu quả thì tiền lương của người lao động sẽ cao hơn và ổn định Mặt khác, khi đời sống và tiền lương của người lao động ổn định sẽ làm cho họ lao động hiệu quả hơn, có tâm lý và cho tinh thần trách nhiệm trong công việc Khi doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả, phần lợi nhuận sau thuế có thể lập quỹ trợ cấp mất việc làm, quỹ khen thưởng phúc lợi, các quỹ này có thể trợ giúp người lao động khi gặp khó khăn và khen thưởng khi họ làm việc xuất sắc
Thực tế cũng đã chứng minh, nếu doanh nghiệp nào có chính sách quan tâm đến người lao động thì doanh nghiệp đó sẽ gặp thuận lợi trong hoạt động sản xuất kinh doanh và ngược lại
Trang 171.1.3.3 Vai trò của lợi nhuận đối với nền kinh tế
Trong quá trình sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp cũng phải trích một phần lợi nhuận của mình để làm nghĩa vụ với Nhà nước với hình thức thuế thu nhập doanh nghiệp Đây là nguồn thu quan trọng của Nhà nước để thực hiện vai trò quản lý vĩ mô của mình như: đầu tư vào các ngành mũi nhọn, đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng (đường sá, điện nước, cầu cống, sân bay ),… góp phần nâng cao chất lượng sản xuất, tạo điều kiện cho các ngành kinh tế khác phát triển, thực hiện chức năng quản lý đất nước, giữ vững an ninh, trật tự an toàn xã hội, tăng cường phúc lợi xã hội Từ đó làm cho nền kinh tế ngày càng phát triển
và thu hút được sự chú ý đầu tư của nhà đầu tư nước ngoài
1.1.3.4 Xét riêng về vai trò của lợi nhuận đối với các doanh nghiệp Nhà nước
Trước đây trong cơ chế bao cấp mọi nhu cầu về vốn sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đều được nhà nước bao cấp Nhà nước thường phải đứng ra bù
lỗ cho doanh nghiệp Hậu quả này là do nhà nước giao chỉ tiêu sản xuất và tiêu thụ không xuất phát từ yêu cầu thị trường Rất nhiều doanh nghiệp trong thời kỳ này rơi vào tình trạng “lãi giả lỗ thật” Thực tiễn trong thời kỳ này, lợi nhuận chưa trở thành vấn đề sống còn của doanh nghiệp Do đó, lợi nhuận tích luỹ của toàn bộ nền kinh tế quốc dân còn rất ít, lợi ích toàn xã hội bị hạn chế
Hiện nay, trước yêu cầu cấp thiết của nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp Nhà nướckhông còn được bao cấp mà phải chịu trách nhiệm hoàn toàn
về kết quả của mình Các doanh nghiệp phải tự chủ về tài chính, tự trang trải mọi chi phí cho hoạt động sản xuất kinh doanh bằng chính thu nhập của mình Do đó, doanh nghiệp phải tìm cách giảm chi phí sản xuất, sử dụng kỹ thuật mới, cải tiến công tác tổ chức quản lý chi phí,… để làm cho chi phí cá biệt của doanh nghiệp
Trang 18giảm xuống so với hao phí lao động xã hội Bên cạnh đó, sản phẩm của họ phải được thừa nhận thông qua trao đổi trên thị trường để có thể thu được doanh thu
bù đắp được các khoản chi phí Nếu doanh nghiệp làm ăn thua lỗ sẽ không có điều kiện bù đắp các chi phí sản xuất kinh doanh sẽ dẫn tới thu hẹp sản xuất và mất dần thị trường Nếu tình trạng này kéo dài doanh nghiệp sẽ phá sản Vì vậy, lợi nhuận không những trở thành mục đích tự thân mà còn là động lực trực tiếp đối với mỗi doanh nghiệp
1.2 Tỷ suất lợi nhuận
1.2.1 Khái niệm
Tỷ suất lợi nhuận là tỷ lệ giữa lợi nhuận thu được với khoản đầu tư bỏ ra.Trong phân tích tài chính, người ta thường dùng các chỉ tiêu tỷ suất để phân tích so sánh Các chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận là các chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lời Các tỷ suất này càng cao thì càng chứng tỏ tính hiệu quả của hoạt động kinh doanh
1.2.2 Ý nghĩa của tỷ suất lợi nhuận
Lợi nhuận là một thước đo quan trọng đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, tuy nhiên, có một thực tế là lợi nhuận cao chưa hẳn là doanh nghiệp đó kinh doanh thực sự hiệu quả Nói một cách khác, không thể chỉ nhìn vào chỉ tiêu lợi nhuận để đánh giá do những hạn chế sau:
- Lợi nhuận của doanh nghiệp phụ thuộc rất nhiều vào quy mô doanh nghiệp Thông thường, doanh nghiệp quy mô lớn thường thu được lợi nhuận cao hơn các doanh nghiệp quy mô nhỏ Vì vậy, để đánh giá một cách toàn diện chất lượng hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, ngoài chỉ tiêu lợi
Trang 19nhuận, người ta còn sử dụng chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận, một chỉ tiêu mà bản thân nó bao hàm cả sự so sánh với quy mô kinh doanh, với các yếu tố khác tạo nên lợi nhuận.
- Các nhân tố chủ quan và khách quan như sản lượng tiêu thụ, kết cấu sản phẩm tiêu thụ, giá bán, giá vốn, chi phí bán hàng, doanh thu tài chính, chi phí tài chính,…… có sự bù trừ lẫn nhau
- Do điều kiện kinh doanh khác nhau về nhiều mặt giữa các doanh nghiệp thuộc lĩnh vực kinh doanh khác nhau, việc so sánh lợi nhuận để đánh giá kết quả
sẽ không mang tính khách quan, toàn diện Ngay cả với doanh nghiệp cùng ngành, lợi nhuận cũng rất khác biệt khi doanh nghiệp có thuận lợi hay khó khăn riêng.Các nhà nghiên cứu đã nhận thấy được tính ưu việt của các chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuân, các chỉ tiêu này thường xuyên được sử dụng trong phân tích tài chính
và ít nhiều đã phát huy được tác dụng
1.2.3 Các chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận
- Tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên doanh thu hay hệ số lãi ròng : là quan hệ tỷ
lệ giữa lợi nhuận sau thuế và doanh thu thuần bán hàng trong kỳ của doanh nghiệp
Tỷ suất lợi nhuận Lợi nhuận sau thuế trong kỳ
sau thuế trên =
doanh thu Doanh thu thuần trong kỳ
Trang 20Đây là một chỉ tiêu tổng hợp phản ánh kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Cứ thực hiện 1 đồng doanh thu thuần bán hàng trong kỳ thì doanh nghiệp có thể thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế.
- Tỷ suất lợi nhuận vốn kinh doanh: Là quan hệ tỷ lệ giữa lợi nhuận tiêu thụ
với vốn kinh doanh bình quân trong kỳ
Tỷ suất sinh lời Lợi nhuận trước lãi vay và thuế
kinh tế của =
tài sản VKD bình quân
Chỉ tiêu này phản ảnh khả năng sinh lời của tài sản mà không tính đến ảnh hưởng của thuế thu nhập doanh nghiệp và nguồn gốc vốn kinh doanh
Tỷ suất lợi nhuận Lợi nhuận trước thuế
trước thuế trên =
vốn kinh doanh VKD bình quân sử dụng trong kỳ
Chỉ tiêu này thể hiện mỗi đồng vốn kinh doanh trong kỳ có khả năng sinh lời ra bao nhiêu đồng lợi nhuận sau khi đã trả lãi tiền vay
Tỷ suất lợi nhuận Lợi nhuận sau thuế
sau thuế trên vốn =
kinh doanh VKD bình quân sử dụng trong kỳ
Chỉ tiêu này phản ánh mỗi đồng vốn sử dụng trong kỳ tạo ra bao nhiêu
Trang 21- Tỷ suất lợi nhuận giá thành: Là quan hệ tỷ lệ giữa lợi nhuận tiêu thụ
(trước thuế hoặc sau thuế) so với giá thành toàn bộ sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ tiêu thụ trong kỳ
Tỷ suất Lợi nhuận trước( sau) thuế
lợi nhuận =
Giá thành Giá thành toàn bộ sản phẩm tiêu thụ
Tỷ suất lợi nhuận giá thành cho biết hiệu quả của việc bỏ chi phí để sản xuất và tiêu thụ sản xuất trong kỳ Cụ thể, trong kỳ cứ bỏ 1 đồng chi phí giá thành thì doanh nghiệp sẽ thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận trước thuế hoặc sau thuế
- Tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu: Là tỷ lệ giữa lợi nhuận sau thuế và số
vốn chủ sở hữu tham gia kinh doanh trong kỳ
Đây là một chỉ tiêu mà các nhà đầu tư rất quan tâm Hệ số này đo lường mức lợi nhuận thu được trên mỗi đồng vốn của chủ sở hữu trong kỳ
Công thức xác định:
Tỷ suất lợi nhuận
vốn chủ sở hữu
Vốn chủ sở hữu bình quân sử dụng trong kỳ
Chỉ tiêu này thể hiện một đồng vốn chủ sở hữu bình quân sử dụng trong
kỳ tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế cho chủ sở hữu Chỉ tiêu này cao hay
Trang 22thấp phụ thuộc vào hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh hay phụ thuộc vào trình độ
sử dụng vốn và trình độ tổ chức nguồn vốn của doanh nghiệp
Mối quan hệ giữa tỷ suất sinh lời kinh tế của tài sản và tỷ suất sinh lời vốn chủ sở hữu thể hiện qua công thức sau:
(ROA i) (1 t)E
DROA
ROE: là tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu
ROAE: là tỷ suất sinh lời kinh tế của tài sản
D: là vốn vay
E: là vốn chủ sở hữu
i: là lãi suất vay vốn
t: là thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp
Qua công thức trên cho thấy: (1- t) là một hằng số, do vậy tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu phụ thuộc vào tỷ suất sinh lời kinh tế của tài sản (ROAE), lãi suất vay vốn và mức độ hệ số nợ trên vốn chủ sở hữu
Ngoài ra, đây là công ty cổ phần nên cần quan tâm đến một số chỉ tiêu khác:
Thu nhập trên một cổ phần
Trang 23(DIV) = thường
Số cổ phần thường đang lưu hành
Thu nhập trên
một cổ phần
= Tổng lợi nhuận sau thuế – cổ tức trả cho cổ đông ưu đãi
Tổng số cổ phần thường đang lưu hành
Cổ tức 1 cổ phần (DIV): phản ánh mỗi cổ phần thường nhận được bao nhiêu đồng cổ tức trong năm
Hệ số giá trên thu nhập (P/E):
Hệ số giá trên thu nhập (P/E)
1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến lợi nhuận
Lợi nhuận của doanh nghiệp chịu ảnh hưởng của rất nhiều các nhân tố, trong đó có các nhân tố chủ quan về phía doanh nghiệp và cả các nhân tố khách quan do môi trường kinh doanh tác động đến Để có thể đưa ra được các biện pháp gia tăng lợi nhuận hợp lý nhất thì cần phải quan tâm nghiên cứu tác động của từng nhân tố đến lợi nhuận
1.3.1 Các nhân tố chủ quan
Trang 241.3.1.1 Khối lượng và chất lượng sản phẩm tiêu thụ
Chúng ta biết rằng, một trong những cách dễ thấy nhất để tăng doanh thu
đó là tăng khối lượng và chất lượng sản phẩm tiêu thụ Trong điều kiện giá bán đơn vị sản phẩm không đổi mà khối lượng sản phẩm tiêu thụ càng lớn thì khả năng thu được doanh thu càng cao Tuy nhiên, không phải doanh nghiệp cứ tăng tối đa khối lượng sản phẩm sản xuất thì đạt được doanh thu lớn nhất mà điều này chỉ xảy ra khi tất cả sản phẩm đó được thị trường chấp nhận toàn bộ
Như đã phân tích, khối lượng sản phẩm tiêu thụ có ảnh hưởng rất lớn đến doanh thu và lợi nhuận của doanh nghiệp Song luôn đi đôi vấn đề số lượng còn phải là vấn đề chất lượng sản phẩm tiêu thụ
Những năm gần đây, đời sống của người dân ngày càng được cải thiện, nhu cầu của xã hội ngày một nâng cao đòi hỏi sản phẩm của doanh nghiệp không chỉ đáp ứng đủ về số lượng mà còn phải tốt về chất lượng Nếu sản phẩm có chất lượng cao, mẫu mã đẹp, phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng thì sẽ dễ dàng được họ lựa chọn so với các sản phẩm cùng loại trên thị trường
Trong điều kiện các nhân tố khác đều ổn định thì chất lượng cao, doanh nghiệp có thể nâng cao giá bán mà vẫn tiêu thụ tốt sẽ làm cho doanh thu cao nghìn đồng thời lợi nhuận thu được sẽ tăng lên Nâng cao chất lượng sản phẩm còn tạo điều kiện tiêu thụ sản phẩm dễ dàng, nhanh chóng thu được tiền bán hàng Có thể nói chất lượng chính là vũ khí sắc bén, mang tính chiến lược lâu dài giúp doanh nghiệp có thể đứng vững trên thị trường cạnh tranh ngày càng quyết liệt
Trang 25Tóm lại, khối lượng và chất lượng sản phẩm tiêu thụ là hai nhân tố quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến doanh thu và lợi nhuận của doanh nghiệp mà bất
cứ doanh nghiệp nào cũng cần phải có sự quan tâm đúng mức
1.3.1.2 Kết cấu mặt hàng tiêu thụ
Mỗi doanh nghiệp có thể sản xuất nhiều loại sản phẩm khác nhau có lợi nhuận gộp đơn vị (lgi) khác nhau Trong đó lợi nhuận gộp đơn vị là lợi nhuận thu được của một đơn vị sản phẩm sau khi tiêu thụ được trên thị trường và được tính như sau:
lg i = g i – gv i
Với gi : là giá bán một đơn vị sản phẩm
gvi: là giá vốn của một đơn vị sản phẩm
Do đó trong trường hợp nếu doanh nghiệp tăng tỷ trọng sản xuất và tiêu thụ mặt hàng có lg cao, giảm tỷ trọng những mặt hàng có lg thấp thì khi đó mặt
dù tổng sản phẩm sản xuất và tiêu thụ không đổi nhưng tổng lợi nhuận gộp từ bán hàng và cung cấp dịch vụ sẽ tăng lên và ngược lại Từ đó sẽ tác động đến lợi nhuận nói chung của doanh nghiệp
Trang 26Mặt khác nếu dư thừa lao động thì sẽ dẫn đến lãng phí, làm tăng chi phí nhân công, giảm lợi nhuận
Thứ hai là việc bố trí lao động có phù hợp giữa năng lực của người lao động với yêu cầu của công việc hay không Nếu doanh nghiệp thực hiện tốt được vấn đề này sẽ đảm bảo cho hoạt động sản xuất kinh doanh thông suốt và hiệu quả, từ đó làm tăng lợi nhuận
1.3.1.4 Trình độ quản lý sản xuất và tài chính
Việc tổ chức quản lý sản xuất ảnh hưởng trực tiếp đến chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Quản lý tốt, chi phí sẽ ở mức hợp lý, đủ để đảm bảo cho hoạt động sản xuất kinh doanh diễn ra bình thường, tránh tình trạng lãng phí làm tăng giá thành sản xuất, giảm lợi nhuận của doanh nghiệp
Việc quản lý sử dụng vốn cũng là một nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến lợi nhuận của doanh nghiệp Vốn đầu tư trong tất cả các khâu: khâu dự trữ vật tư, khâu sản xuất, cho tới khâu tiêu thụ sản phẩm hợp lý sẽ làm tăng hiệu quả sử dụng vốn, nâng cao chất lượng hoạt động sản xuất kinh doanh, tăng cao lợi nhuận Ngược lại, nếu phân bố vốn không hợp lý có thể dẫn đến tình trạng ứ đọng vốn ở khâu này nhưng thiếu vốn hoạt động ở khâu khác làm giảm hiệu quả sản xuất kinh doanh, giảm lợi nhuận
1.3.1.5 Tổ chức tiêu thụ sản phẩm
Đây cũng là một khâu quan trọng ảnh hưởng đến kết quả doanh thu tiêu thụ của doanh nghiệp Trong công tác này nổi lên ba vấn đề cần xem xét là: tổ chức quảng cáo giới thiệu sản phẩm, hình thức bán hàng và phương thức thanh toán
* Về việc quảng cáo giới thiệu sản phẩm
Trang 27Hình ảnh về sản phẩm và doanh nghiệp có được biết đến rộng rãi trên thị trường hay không phụ thuộc nhiều vào công tác quảng cáo Vì vậy, nếu có phương thức quảng cáo hiệu quả sản phẩm sẽ mở rộng được thị trường tiêu thụ, tăng doanh thu và ngược lại.
* Về hình thức bán hàng:
Ngày nay, các doanh nghiệp hiện có một loạt các hình thức bán hàng rất
đa dạng và phong phú như: bán buôn, bán lẻ, bán tại kho, giao hàng tại nhà, bán hàng qua mạng…Việc kết hợp linh hoạt các hình thức bán hàng sẽ thúc đẩy quá trình tiêu thụ nhanh chóng, hiệu quả, tăng khối lượng sản phẩm tiêu thụ, tăng doanh thu
* Về phương thức thanh toán.
Cùng với sự phát triển cao của nền kinh tế là sự đa dạng hóa các phương thức thanh toán Với một khối lượng hàng hóa tiêu thụ lớn như hiện nay doanh nghiệp không chỉ thanh toán bằng tiền mặt mà còn áp dụng nhiều hình thức thanh toán khác như séc, ngân phiếu, chuyển khoản… Điều đó rất tiện lợi cho khách hàng trong thanh toán và mở ra cho họ nhiều sự lựa chọn Ngược lại, nếu doanh nghiệp cứng nhắc về phương thức sẽ dẫn tới hạn chế về số lượng khách hàng, làm giảm doanh thu, giảm lợi nhuận
Ngoài ra, để khuyến khích khách hàng mua khối lượng lớn doanh nghiệp còn áp dụng hình thức giảm giá hàng bán, hay chiết khấu cho khách hàng thanh toán trước thời hạn Nhờ đó tạo nên một cơ chế thanh toán mềm dẻo linh hoạt, khuyến khích khách hàng tăng số lượng mua vào để thúc đẩy doanh số bán ra, tăng doanh thu và lợi nhuận cho doanh nghiệp
Trang 281.3.2 Các nhân tố khách quan
1.3.2.2 Vòng đời sản phẩm
Mỗi sản phẩm đều có vòng đời trải qua 4 giai đoạn xuất hiện, tăng trưởng,
bão hoà và suy thoái Ở mỗi giai đoạn lợi nhuận mà sản phẩm mang lại cho
doanh nghiệp là khác nhau, lợi nhuận cao ở giai đoạn tăng trưởng, và thấp ở hai giai đoạn xuất hiện, suy thoái
1.3.2.3 Khoa học công nghệ
Khoa học công nghệ là yếu tố hết sức quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả sản xuất Quy trình công nghệ sản xuất của doanh nghiệp hiện đại, theo kịp tiến bộ khoa học công nghệ là yếu tố quyết định đến năng suất, chất lượng sản phẩm, tiết kiệm chi phí hạ giá thành sản xuất, nâng cao lợi nhuận cho doanh nghiệp Nếu không chú trọng đến nhân tố này thì với tốc độ phát triển khoa học
kỹ thuật như hiện nay sản phẩm của doanh nghiệp sẽ rơi vào tình trạng lạc hậu, mất chất lượng, không theo kịp với yêu cầu ngày càng cao của khách hàng Đó không chỉ là nguy cơ làm mất thị trường giảm lợi nhuận trước mắt mà còn có thể gây ra sự thua lỗ phá sản trong doanh nghiệp về mặt lâu dài
1.3.2.4 Nhân tố giá bán
Trường hợp các nhân tố khác không đổi thì việc thay đổi giá bán có ảnh hưởng trực tiếp đến doanh thu, lợi nhuận Việc thay đổi giá bán một phần quan trọng do quan hệ cung cầu trên thị trường quyết định Dựa trên giá cả thị trường doanh nghiệp xác định giá cả, giá cả phải bù đắp chi phí đã tiêu hao và tạo nên lợi nhuận thỏa đáng để thực hiện tái sản xuất mở rộng
Trên đây là một số nhân tố chủ yếu tác động đến lợi nhuận của doanh nghiệp Các doanh nghiệp cần phải nghiên cứu kỹ tác động của từng nhân tố đến
Trang 29lợi nhuận doanh nghiệp mình, xem đó là nhân tố tích cực hay tiêu cực, mức độ ảnh hưởng ra sao để có thể đưa ra những giải pháp hiệu quả nhất để gia tăng lợi nhuận.
1.4.Các giải pháp chủ yếu nhằm tăng lợi nhuận của doanh nghiệp
Đối với mỗi doanh nghiệp, tuỳ thuộc vào đặc điểm và điều kiện kinh doanh cụ thể của mình mà tìm ra giải pháp thích hợp để tăng lợi nhuận Nhìn chung để tăng lợi nhuận trong các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh hiện nay có một số giải pháp chủ yếu sau:
1.4.1 Về mặt tiêu thụ
1.4.1.1 Tăng số lượng và chất lượng sản phẩm tiêu thụ
Ta thấy: Doanh thu = Giá bán*sản lượng
Do vậy, một vấn đề luôn được đặt ra đối với các doanh nghiệp đó là làm thế nào để luôn luôn tìm kiếm, mở rộng được thị phần của mình để không ngừng nâng cao sản lượng tiêu thụ, giảm bớt tối đa sản phẩm tồn kho Muốn vậy, doanh nghiệp cần phải:
+ Đầu tư đổi mới dây chuyền công nghệ và nghiên cứu sản phẩm để nâng cao chất lượng sản phẩm tiêu thụ Chất lượng chính là sự thuyết phục tốt nhất để khách hàng đến với sản phẩm và trung thành với sản phẩm
+ Tích cực tăng năng suất lao động bằng dây chuyền máy móc hiện đại, bằng việc kích thích người lao động làm việc hăng say và có hiệu quả
+ Nghiên cứu kỹ thị trường trước khi bắt tay vào sản xuất sản phẩm, lựa chọn phương thức quảng bá sản phẩm phù hợp nhất với doanh nghiệp để vừa tạo được sự chú ý quan tâm của khách hàng vừa tiết kiệm được chi phí
Trang 30+ Đa dạng hóa sản phẩm cũng như các hình thức bán hàng, có chính sách
ưu đãi đối với khách hàng đúng thời điểm cũng là một trong những việc làm cần thiết và có hiệu quả về mặt tiêu thụ
1.4.1.2 Lựa chọn kết cấu sản phẩm hợp lý
Trên cơ sở phân tích, tìm hiểu về các mặt hàng đã tiêu thụ hoặc các mặt hàng mới sản xuất để có sự sắp xếp hợp lý về tỷ trọng sao cho tổng doanh thu được cao nhất Thông thường, các sản phẩm có hệ số lãi gộp đơn vị cao thì sẽ được ưu tiên sản xuất nhiều hơn Tuy nhiên, cần có sự kết hợp với phân tích về nhu cầu của thị trường đối với các sản phẩm vì có những sản phẩm thời kỳ này thì đạt mức tiêu thụ lớn nhưng đến thời kỳ sau lại giảm xuống
1.4.1.3 Chính sách giá cả hợp lý
Bất cứ một doanh nghiệp nào cũng muốn có mức giá cả cao nhất để đạt được lợi nhuận cao Cũng như vậy, khi cạnh tranh về giá trở nên gay gắt thì các doanh nghiệp đồng loạt giảm giá bán, tuy vậy, giá bán còn phụ thuộc vào giá thành sản xuất Do đó, có một chính sách giá cả hợp lý vào đúng thời điểm là điều rất quan trọng Chính sách giá cả cần được dự kiến cho cả một thời kỳ dài không nên nhìn nhận trong ngắn hạn
1.4.2 Về mặt chi phí
1.4.2.1 Hạ giá thành sản phẩm
Về chi phí nguyên vật liệu:
Trang 31Việc tiết kiệm tiêu hao nguyên vật liệu là một vấn đề hết sức quan trọng trong công tác quản lý chi phí vì nó là phần chi phí chiếm tỷ trọng lớn trong tổng giá thành.
- Doanh nghiệp cần căn cứ vào kế hoạch sản xuất để có kế hoạch thu mua chi trả NVL hợp lý về cả số lượng, chủng loại, chất lượng để đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh được liên tục Đặc biệt, cần thường xuyên dự báo tình hình giá cả nguyên vật liệu để có kế hoạch dự trữ hợp lý
- Làm tốt công tác quản lý nguyên vật liệu: quản lý chặt chẽ từ khâu thu mua vận chuyển, bảo quản đến khi sản xuất Muốn nâng cao chất lượng bảo quản nguyên vật liệu, Doanh nghiệp cần giao trách nhiệm cho từng khâu, từng người, xây dựng và kiểm tra định mức tiêu hao nguyên vật liệu đối với từng loại sản phẩm
- Áp dụng công nghệ mới, sử dụng vật liệu thay thế trên cơ sở đảm bảo chất lượng sản phẩm, khuyến khích thay thế, sử dụng vật liệu trong nước thay thế cho vật liệu nhập ngoại
- Liên tục kiểm tra quá trình sản xuất ngăn chặn kịp thời các hiện tượng mất mát sử dụng lãng phí nguyên vật liệu, giảm tỷ lệ phế phẩm, từ đó làm giảm chi phí vật tư
Về chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sản xuất chung:
Cắt giảm nhân lực ở những khâu không cần thiết, trả lương phù hợp với khả năng trình độ người lao động, kiểm soát chặt chẽ các chi phí ngoài như: tiền
đi công tác, nghỉ phép, tạm ứng,…Không ngừng nâng cao năng suất lao động là một cách tốt nhất để tiết kiệm chi phí, hạ giá thành sản phẩm
Trang 32Các chi phí chung cần được chú ý từ khâu tổ chức sản xuất để tiết kiệm chi phí tối đa, đặc biệt là việc bố trí nhà xưởng, nhà hành chính.
1.4.2.2 Chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp
Trên thực tế, có rất nhiều doanh nghiệp hiện nay có mức chi phí bán hàng
và chi phí quản lý doanh nghiệp rất cao trong khi doanh thu tương ứng lại không cao Để tiết kiệm các chi phí này thì các doanh nghiệp cần phải lập kế hoạch cho các loại chi phí này Nghìn đồng thời, kiểm soát chặt chẽ việc chi tiêu, có sự lựa chọn kỹ đối với các nhà cung cấp, nâng cao ý thức của cán bộ công nhân viên trong việc tiết kiệm các chi phí này
1.4.3 Về hiệu quả sử dụng vốn
- Xác định một cách chính xác nhu cầu vốn cần thiết tối thiểu cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, hạn chế tới mức thấp nhất tình trạng thiếu vốn gây gián đoạn hoạt động sản xuất kinh doanh hoặc phải đi vay vốn ngoài kế hoạch với lãi suất cao
- Lựa chọn các hình thức thu hút vốn tích cực, tổ chức khai thác triệt để nguồn vốn bên trong của doanh nghiệp vừa đáp ứng kịp thời vốn cho nhu cầu sản xuất kinh doanh một cách chủ động, vừa giảm được một khoản chi phí sử dụng vốn cho doanh nghiệp
- Trước khi định đầu tư, doanh nghiệp cần cân nhắc kỹ lưỡng từng nguồn tài trợ vốn đầu tư, phương án đầu tư có hiệu quả cao nhất, quy trình công nghệ sản xuất, tình hình cung cấp nguyên liệu và thị trường sản phẩm để đảm bảo chi phí sử dụng vốn là ít nhất, kết cấu tài sản và nguồn vốn hợp lý nhất, hạn chế ảnh
Trang 33hưởng của hao mòn vô hình, đảm bảo về nguồn nguyên liệu, đảm bảo về chất lượng sản phẩm sản xuất ra được thị trường chấp thuận.
- Làm tốt công tác thanh toán công nợ, chủ động phòng ngừa rủi ro trong kinh doanh Doanh nghiệp cần chủ động trong công tác thanh toán tiền hàng, hạn chế tình trạng bán hàng không thu được tiền, vốn bị chiếm dụng
- Tăng cường công tác kiểm tra đối với việc sử dụng tiền vốn trong tất cả các khâu từ dự trữ sản xuất, tiêu thụ sản phẩm, đầu tư mua sắm TSCĐ
- Đảm bảo kết cấu tài sản cố định hợp lý theo xu hướng tăng tài sản cố định trực tiếp sản xuất, sử dụng biện pháp khấu hao thích hợp nhằm hạn chế ảnh hưởng của hao mòn vô hình làm thất thoát vốn kinh doanh
Trên đây là một số phương hướng biện pháp chủ yếu để phấn đấu tăng lợi nhuận của doanh nghiệp Tuy nhiên trong việc phấn đấu tăng lợi nhuận các doanh nghiệp không nên vì chạy theo lợi nhuận tối đa mà không quan tâm đến lợi ích chung của toàn xã hội Các doanh nghiệp cũng cần phải lưu ý rằng không
có một biện pháp chung nào có thể áp dụng cho tất cả các doanh nghiệp, mỗi doanh nghiệp cần căn cứ vào đặc điểm tình hình sản xuất, đặc thù của mình và trên cơ sở các phương hướng biện pháp chung mà lựa chọn cho mình những giải pháp hữu hiệu nhất
CHƯƠNG 2:
THỰC TRẠNG THỰC HIỆN LỢI NHUẬN Ở CÔNG TY CỔ PHẦN TƯ
VẤN XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN ĐIỆN
Trang 342.1 Quá trình hình thành và phát triển Công ty cổ phần tư vấn xây dựng
và phát triển điện
2.1.1 Thông tin về công ty Cổ phần tư vấn xây dựng và phát triển điện
Tên tiếng Việt Công ty cổ phần tư vấn xây dựng và phát triển điện Tên giao dịch quốc tế FTD
Ngày thành lập 24 tháng 05 năm 2007 tại Quảng Nam
Số đăng ký kinh doanh 330307286
Trụ sở đăng ký kinh
doanh
Số 3 – đường 18/8 TP Hội An – tỉnh Quảng Nam
Văn phòng Hà Nội Số 33/292 đường Kim Giang – Hoàng Mai – Hà Nội
- Đầu tư công trình thủy điện vừa và nhỏ
- Thi công Xây dựng các công trình thủy điện, thủy điện, công nghiệp, dân dụng, thủy lợi, giao thông
Trang 35- San lấp mặt bằng.
- Kinh doanh thiết bị máy móc, vật tư thiết bị điện
- Lập dự án đầu tư các công trình điện năng (đường dây, điện chiếu sáng đô thị, tín hiệu giao thông)
- Thiết kế công trình điện năng (đường dây, chiếu sáng đô thị, tín hiệu giao thông)
- Giám sát thi công công trình điện năng lượng và tín hiệu giao thông
- Kinh doanh vật liệu xây dựng, cho thuê máy móc thiết bị
2.1.2.2 Các hợp đồng công ty đã và đang thi công
- Hợp đống số: 16/HĐKT và Phụ lục 1 đến Phụ lục 17 về việc thi công hầm lò,
đổ bê tông, phun vảy, thuê máy mỏ Nickel Bản Phúc – Bắc Yên – Sơn La Ngày ký: 23/07/2007 ( tiến độ 12 tháng) Giá trị HĐ: 87.000.000 nghìn VNĐ Chủ đầu tư: Công ty TNHH mỏ Nickel Bản Phúc
- Hợp đồng số 07/2007/HĐXD/S3 – FTD về việc thi công Đập tràn tầm phục, hệ thống điện chiếu sáng, gia cố máy cống hộp nhà máy thủy điện Khe Diên – Nông Sơn – Quảng Nam Ngày ký: 07/07/2007 (Tiến độ 3 tháng) Giá trị HĐ: 1200.000 nghìn VNĐ Chủ đầu tư: Công ty cổ phần Sơn Ba
- Hợp đồng số 09 ngày 30/10/2008 về việc thi công và đường ống áp lực Nhà máy thủy điện Suối sập 3 – Phù Yên – Sơn La Ngày ký: 30/10/2008 Giá trị HĐ: 138.504.350.492 nghìn VNĐ Chủ đầu tư: Công ty CP Đầu tư phát triển Bắc Minh
Trang 36- Hợp đồng số 27/09/HĐXD/S3 – FTD gia cố mái kênh dẫn nước – Công trình thủy điện Krong H Năng Ngày ký:24/7/2010 (tiến độ 1 tháng) Giá trị HĐ: 6.017.000 nghìn VNĐ Chủ đầu tư: Công ty CP Sông Ba.
-Hợp đồng số 02/2010/ HĐ – XD ngày 02/03/2010 về việc thi công Hầm dẫn nước và tháp điều áp Nhà máy thủy điện Tà Cọ - Suối Cộp – Sơn La Ngày ký: 02/03/2010 Giá trị HĐ: 183.483.000 nghìn VNĐ Chủ đầu tư: Công ty CP Đầu
tư phát triển Bắc Minh
- Hợp đồng 03/2010/HĐ – XD ngày 21/03/2010 về việc thi công hầm dẫn nước
và tháp điều áp nhà máy thủy điện Ngòi Hút ii, Mù Cang Chải, Sơn La Ngày ký: 21/03/2010 Giá trị HĐ: 169.873.826.000 nghìn VNĐ Chủ đầu tư: Công ty
`
Chủ tịch HĐQTkiêm giám đốc công ty
Xưởng TVTK khảo sát
Phòng phát triển dự án
Trang 37Chức năng các bộ phận trong công ty:
Hội đồng quản trị: là cơ quan quản lý công ty, chịu trách nhiệm
điều hành và huy động vốn để phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Hội đồng quản trị có toàn quyền nhân danh công ty để quyết định mọi vấn đề liên quan đến lợi ích, quyền lợi của công ty, trừ những vấn đề thuộc thẩm quyền của đại hội đồng cổ đông Hội nghìn đồng quản trị gồm: Chủ tịch hội nghìn đồng quản trị, Các uỷ viên hội nghìn đồng quản trị
Chủ tịch hội đồng quản trị: Người đại diện cho người lao động
trong Công ty, chịu trách nhiệm trước cổ đông về toàn bộ hoạt động của công ty
để đề ra các quyết định kịp thời giúp cho sự phát triển của công ty, trừ những vấn
đề thuộc thẩm quyền của ĐHĐ cổ đông
Giám đốc điều hành: là người điều hành hoạt động hàng ngày của
công ty và chịu trách nhiệm trước hội đồng quản trị về việc thực hiện các quyền
và nhiệm vụ được giao
PGĐ kế hoạch
Trang 38 Các phó giám đốc: là người giúp cho Giám đốc một hoặc một số
lĩnh vực hoạt động của công ty theo sự phân công của Giám đốc, chịu trách nhiệm trước Giám đốc và Pháp luật về nhiệm vụ được Giám đốc giao cho
Phòng kế toán – tài chính: Chịu trách nhiệm hạch toán, kiểm tra,
giám sát tình hình tài chính của công ty, đảm bảo theo chế độ kế toán của Nhà Nước Bên cạnh đó còn có nhiệm vụ tổng hợp quá trình SXKD thông qua công tác quản lý vật tư, hàng hóa, tài sản, tiền vốn, quyết toán tài chính hàng quý, hàng năm Phản ánh và giải quyết kịp thời, đầy đủ, chính xác, trung thực, khách quan trong hoạt động SXKD
Phòng kỹ thuật tổng hợp: Đây là bộ phận kiểm tra chất lượng các
sản phẩm trước khi đưa vào sản xuất hay tiêu thụ Ngoài ra, còn chịu trách nhiệm nghiên cứu để nâng cao chất lượng của sản phẩm, khắc phục những sai xót trong quá trình sản xuất sản phẩm nhằm tiết kiệm chi phí sản xuất
Phòng tổ chức : Làm công tác tổ chức - hành chính trong Công ty,
tham mưu cho lãnh đạo xắp xếp bộ máy sản xuất kinh doanh, bố trí nhân sự phù hợp với sản xuất kinh doanh Lập kế hoạch đào tạo, nâng lương nâng bậc cho cán bộ công nhân viên Giải quyết các chế độ cho người lao động theo qui định Tổng hợp thi đua khen thưởng trong Công ty
Phòng phát triển dự án: Đưa ra các phương thức tiếp cận các dự án
thích hợp để đảm bảo đi đúng định hướng phát triển của công ty
2.1.3.2 Về nhân sự
Với đội ngũ cán bộ trẻ, có trình độ, có kinh nghiệm và mô hình công ty gọn nhẹ luôn phát huy được tính sáng tạo trong sản xuất kinh doanh, không ngừng phát triển cả về số lượng, chất lượng đáp ứng được nhu cầu phát triển của xã hội
và hòa nhập trên trường quốc tế chính là mục đích phát triển cảu công ty FTD
Trang 3904 Thợ hàn, Cơ khí, Sửa chữa 50
2.1.4 Đặc điểm tổ chức kinh doanh của công ty
2.1.4.1 Thiết bị thi công của công ty
Với mục tiêu hiện đại hóa các trang thiết bị, đáp ứng được nhu cầu phát triển của công ty cũng như có khả năng, năng lực tham gia các dự án lớn và cần đòi hỏi về tiêu chuẩn kỹ thuật cũng như tiến độ thi công Công ty luôn chú trọng việc đầu tư trang thiết bị công nghệ hiện đại để phục vụ các dự án như: Đầu tư
Trang 40dự án thủy điện nhỏ, khai thác mỏ, công trình thủy điện, thi công công trình xây dựng đường giao thông và công nghiệp.
+ Máy khoan Bomek 104
+ Khoan cầm néo anke mái Taly
+ Máy khoan hở Furukawa thi công mặt bằng giếng đứng
+ Máy phun vảy được trưng bày bán cho khách hàng đặt tại văn phòng Hà Nội+ Phun vảy mái Taly
+ Máy đào Komatsu 320C
+ Máy phát điện PERKIN PKA 550
+ Máy cào đá 110m3/h của Đức áp dụng cho thi công hầm
2.1.4.2 Thị trường đầu vào và đầu ra
- Đầu ra: Thị trường nước ngoài và thị trường trong nước Cung cấp, lắp đặt các sản phẩm của công ty Đối với cả hàng hoá nhập khẩu hàng hoá mua trong nước chúng tôi sẽ cung cấp đầy đủ mọi giấy tờ chứng minh nguồn gốc và xuất
xứ của sản phẩm
- Đầu vào: Đặc điểm của ngành xây dựng là không có nơi sản xuất cố định, sản xuất mang tính mùa vụ Vì vậy mà các công ty xây dựng thượng nhập ngay nguyên liệu tại chân công trình, khối lượng nguyên vật liệu lưu kho tương đối thấp, ngoài ra công ty có quan hệ tốt với nhà cung cấp nên nguyên vật liệu lưu