Vì vậy,cần có những nghiên cứu chẩn đoán bệnh tiên mao trùng trên đàn trâu, bòbằng nhiều phương pháp để xác định thực trạng nhiễm bệnh, từ đó thửnghiệm các phác đồ điều trị thích hợp
Trang 1DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CATT : Card Agglutination Trypanosomiasis TetELISA : Enzym - Linked Immunosobent AssaykADN : Kinettopplast Acid Nucleic DeoxyribosekgTT : Kilogam thể trọng
LATEX : Latex Agglutination Tet
MI : Tiêm truyền chuột bạch
Trang 2DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 4.1 Tỷ lệ nhiễm tiên mao trùng ở trâu tại một số xã thuộc huyện Yên
Sơn, tỉnh Tuyên Quang 36
Bảng 4.2 Tỷ lệ nhiễm tiên mao trùng ở trâu theo lứa tuổi 38
Bảng 4.3: Tỷ lệ nhiễm tiên mao trùng ở trâu theo tính biệt 39
Bảng 4.4 Tỷ lệ nhiễm tiên mao trùng ở trâu theo các tháng trong năm 40
Bảng 4.5: Thời gian sạch T evansi trong chuột khi sử dụng thuốc Trypamidium samorin 41
Bảng 4.6: Thời gian sạch T evansi trong chuột khi sử dụng thuốc Trypanosoma 43
Bảng 4.7: Thời gian sạch T evansi trong chuột khi sử dụng thuốc Phar - Trypazen 44
Bảng 4.8 Thời gian sạch T evansi trong chuột khi sử dụng thuốc Berenil 46
Bảng 4.9: Thử nghiệm phác đồ điều trị bệnh tiên mao trùng cho trâu trên diện hẹp 48
Bảng 4.10 Thử nghiệm phác đồ điều trị bệnh tiên mao trùng trên diện rộng 49 Bảng 4.11: Đánh giá kết quả ứng dụng biện pháp phòng chống bệnh 51
tiên mao trùng cho trâu ở huyện Yên Sơn - tỉnh Tuyên Quang 51
Trang 3MỤC LỤC
trang
Phần 1: MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.3 Ý nghĩa của đề tài 2
1.3.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học 2
1.3.2 Ý nghĩa trong thực tiễn 2
Phần 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 Cơ sở khoa học của đề tài 3
2.1.1 Những hiểu biết về bệnh tiên mao trùng ký sinh ở trâu, bò 3
2.1.2 Dịch tễ học bệnh tiên mao trùng 8
2.1.3 Đặc điểm bệnh lý và lâm sàng của bệnh 11
2.1.4 Những phương pháp chẩn đoán bệnh tiên mao trùng 15
2.1.5 Phòng trị bệnh tiên mao trùng cho trâu, bò 23
2.2 Tình hình nghiên cứu về tiên mao trùng 27
2.2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 27
2.2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước 28
Phần 3: ĐỐI TƯỢNG, VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 30
3.1 Đối tượng và vật liệu nghiên cứu 30
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 30
3.1.2 Động vật thí nghiệm và vật liệu nghiên cứu 30
3.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 31
3.2.1 Địa điểm nghiên cứu 31
3.2.2 Thời gian nghiên cứu 31
3.3 Nội dung nghiên cứu 31
3.3.1 Ứng dụng Kit CATT xác định tình hình nhiễm bệnh tiên mao trùng ở trâu tại một số xã thuộc huyệnYên Sơn – Tỉnh Tuyên Quang 31
3.3.2 Nghiên cứu phác đồ điều trị bệnh T evansi cho trâu và đề xuất biện pháp phòng chống 32
3.4 Phương pháp nghiên cứu 32
Trang 43.4.1 Phương pháp thu thập mẫu 32
3.4.2 Phương pháp chẩn đoán bệnh tiên mao trùng trên các mẫu máu trâu đã thu thập 33
3.4.3 Một số quy định trong nghiên cứu đặc điểm dịch tễ 34
3.4.4 Xây dựng phác đồ điều trị bệnh tiên mao trùng 34
3.5 Phương pháp xử lý số liệu 35
Phần 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 36
4.1 Ứng dụng Kit chẩn đoán để xác định tình hình nhiễm tiên mao trùng ở trâu tại huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang 36
4.1.1 Tỷ lệ nhiễm tiên mao trùng ở một số xã thuộc huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang 36
4.1.2 Tỷ lệ nhiễm tiên mao trùng ở trâu theo lứa tuổi 38
4.1.3 Tỷ lệ nhiễm tiên mao trùng ở trâu theo tính biệt 39
4.1.4 Tỷ lệ nhiễm tiên mao trùng ở trâu theo các tháng trong năm 40
4.2 Nghiên cứu phác đồ điều trị bệnh T evansi cho trâu và đề xuất biện pháp phòng chống 41
4.2.1 Xác định tính mẫn cảm của T evansi với một số thuốc trị TMT trên chuột bạch 41
4.2.2 Thử nghiệm phác đồ điều trị bệnh tiên mao trùng trên diện hẹp 47
4.2.3 Thử nghiệm phác đồ điều trị bệnh tiên mao trùng cho trâu trên diện rộng 49
4.3.4 Đề xuất và ứng dụng biện pháp phòng chống bệnh hiệu quả 50
Phần 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 53
5.1 Kết luận 53
5.2 Tồn tại 54
5.3 Đề nghị 54
TÀI LIỆU THAM KHẢO 55
Trang 5Phần 1
MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề
Bệnh tiên mao trùng là bệnh ký sinh trùng đường máu phổ biến ở trâu,
bò và nhiều loài động vật khác Trâu bò mắc bệnh cấp tính thường sốt cao 41 41,70C với các triệu chứng thần kinh như ngã quỵ, kêu rống, đi vòng tròn…Trâu, bò bệnh sẽ chết sau 7 - 15 ngày Ở thể mạn tính các triệu chứng lâm sàngnhẹ hơn và bệnh kéo dài 1 - 2 tháng, con vật ngày càng gầy, sốt gián đoạn, dakhô mốc, thiếu máu kéo dài, viêm giác mạc, phù thũng 4 chân… Trường hợpbệnh nặng, con vật đột ngột sốt cao, bụng chướng to rồi lăn ra chết Vì vậy,cần có những nghiên cứu chẩn đoán bệnh tiên mao trùng trên đàn trâu, bòbằng nhiều phương pháp để xác định thực trạng nhiễm bệnh, từ đó thửnghiệm các phác đồ điều trị thích hợp và hiệu quả
-Tuyên Quang là tỉnh có địa hình khá phức tạp, nhiều đồi núi và thunglũng, khí hậu nhiệt đới gió mùa, thời tiết nóng ẩm mưa nhiều là điều kiệnthuận lợi cho ruồi trâu và mòng (vật môi giới truyền bệnh tiên mao trùng)phát triển Chúng hút máu, truyền mầm bệnh tiên mao trùng từ trâu, bò bệnhsang trâu, bò khoẻ làm cho bệnh tiên mao trùng lây lan, gây thiệt hại lớn chongười chăn nuôi
Với sự phát triển của ngành công nghệ sinh học ở nước ta hiện nay, nhiềuphương pháp hiện đại đã được nghiên cứu, ứng dụng sinh học phân tử trongchẩn đoán bệnh ở gia súc, gia cầm.Trong đó, có phương pháp ứng dụng Kit chếtạo theo nguyên lý CATT để chẩn đoán bệnh tiên mao trùng trên gia súc
Xuất phát từ những vấn đề trên, chúng tôi nhận thấy cần thiết phảinghiên cứu về bệnh tiên mao trùng, về biện pháp chẩn đoán nhanh và ứngdụng phác đồ điều trị có hiệu quả, nhằm giúp người chăn nuôi có những hiểubiết cơ bản về cách phòng và trị bệnh, hướng tới mục tiêu cuối cùng là hạnchế tới mức thấp nhất những hậu quả mà bệnh gây ra cho người chăn nuôi Từ
mục đích trên, chúng tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu ứng dụng Kit chẩn đoán và thử nghiệm phác đồ điều trị hiệu quả bệnh tiên mao trùng (Trypanosomiasis) ở trâu tại huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang”.
Trang 61.2 Mục tiêu nghiên cứu
- Ứng dụng Kit CATT chẩn đoán bệnh tiên mao trùng ở đàn trâu tạihuyện Yên Sơn - tỉnh Tuyên Quang
- Lựa chọn phác đồ điều trị bệnh tiên mao trùng có hiệu quả, phù hợpvới điều kiện chăn nuôi ở Tuyên Quang
- Xây dựng quy trình phòng, trị bệnh, góp phần hạn chế những thiệt hại
do bệnh tiên mao trùng cho đàn trâu ở huyện Yên Sơn - tỉnh Tuyên Quang
1.3 Ý nghĩa của đề tài
1.3.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học
Đề tài ứng dụng Kit chẩn đoán chế tạo từ kháng nguyên tái tổ hợp (sảnphẩm khoa học công nghệ của đề tài cấp nhà nước) là hướng nghiên cứu mới,ứng dụng công nghệ cao vào thực tiễn sản xuất tại Việt Nam
Kết quả của đề tài là những thông tin khoa học về độ nhạy, độ đặc hiệucủa Kit chẩn đoán và phác đồ điều trị bệnh TMT có hiệu quả cao
1.3.2 Ý nghĩa trong thực tiễn
Kết quả của đề tài là cơ sở khoa học để tiếp tục nghiên cứu sản xuấtkháng nguyên tái tổ hợp phục vụ chế tạo các bộ Kit chẩn đoán bệnh TMT,đồng thời khuyến cáo cán bộ thú y và người chăn nuôi sử dụng Kit chẩn đoánnhanh bệnh tiên mao trùng cho đàn trâu để có biện pháp điều trị kịp thời
Kết quả của đề tài là cơ sở khoa học để khuyến cáo người chăn sử dụngphác đồ điều trị bệnh TMT cho trâu, bò có hiệu quả cao
Trang 7Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Cơ sở khoa học của đề tài
2.1.1 Những hiểu biết về bệnh tiên mao trùng ký sinh ở trâu, bò
2.1.1.1 Phân loại tiên mao trùng ký sinh ở trâu, bò
Theo Leine và cs (1980) ( dẫn theo Lương Văn Huấn và cs, 1997) [5], vị
trí của tiên mao trùng trong hệ thống phân loại nguyên bào (Protozoa) như sau:
Ngành Sarcomastigophora
Phân ngành Mastigophora
Lớp Zoomastigophorasida
Bộ Kinetoplastorida Phân bộ Trypanosomatorida
Họ Trypanosomatidae Donein, 1901 Giống Trypanosoma Gruby, 1843 Giống phụ Megatrypanum Hoare, 1964
Loài Trypanosoma (M) theileria Giống phụ Herpetosoma Donein, 1901
Loài Trypanosoma (H) leisi Giống phụ Schizotrypanum Chagas, 1909
Loài Trypanosoma (S) cruzi Giống phụ Duttonella Chalmers, 1918
Loài Trypanosoma (D) vivax Loài Trvpanosoma (D) uniform Giống phụ Nalmomonas Hoare, 1964
Loài Trypanosoma (N) congolense Loài Trypanosoma (N) siminae Loài Trypanosoma (N) vanhogi Giống phụ Trypanozoon Liihe, 1906
Loài Irypanosoma (T) brucei Loài Trypanosoma (T) gambience Loài Trypanosoma (T) rhodesiense
Trang 8Loài Trypanosoma (T) equiperdum Giống phụ Pycnomonas Hoare, 1964
Loài Trypanosoma (P) suis Giống phụ Trypanosoma Gruby, 1843
Loài Trypanosoma evansi (Steel, 1885)
Trong các loài tiên mao trùng trên, có 7 loài được tổ chức dịch tễ quốc
tế (OIE) thông báo là có khả năng gây bệnh cho người và động vật có vú, đó là:
T brucei, T congolense, T cruzi, T evansi, T gambiense, T siminae, T Vivax 2.1.1.2 Đặc điểm hình thái, cấu tạo của tiên mao trùng
Phạm Sỹ Lăng và Lê Văn Tạo (2002) [11] cho biết: Tiên mao trùng cókích thước nhỏ: 18 – 34 x 2,5 μm, có hình mũi khoan, di động được trong máunhờ một roi tự do xuất phát từ phía sau thân, chạy vòng quanh thân tạo thànhmột màng rung Khi rung động roi tự do vung ra phía trước và màng rungchuyển động giúp cho tiên mao trùng di chuyển rất nhanh trong máu của vậtchủ
Tiên mao trùng T evansi được xếp vào loại đơn hình thái, cơ thể chỉ là
một tế bào, có kích thước nhỏ, chiều dài 18 - 34 μm (trung bình là 25 μm),chiều rộng 1,5 – 2 μm Cơ thể có hình suốt chỉ mảnh hoặc hình thoi, cuối thân
nhọn Nhìn chung, cấu trúc cơ bản của T evansi cũng giống như cấu trúc của các loài tiên mao trùng khác thuộc họ Trypanosomatidae Cấu trúc từ ngoài
vào trong được chia thành 3 phần chính:
- Vỏ: ngoài cùng là lớp vỏ dày 10 - 15 nm, vỏ được chia làm 3 lớp (lớpngoài và lớp trong cùng tiếp giáp với nguyên sinh chất dầy hơn lớp giữa) Lớp
vỏ ngoài cùng được cấu tạo từ các phân tử glycoprotein luôn biến đổi (VanantGlycoprotein Surface -VGS) Tiếp giáp với lớp trong cùng là 9 cặp vi ống xếpsong song dọc theo chiều dài thân tiên mao trùng Chính nhờ sự sắp xếp củacác cặp vi ống nên tiên mao trùng có dạng hình suốt chỉ mảnh (Hoare, 1972[33]; Phạm Sỹ Lăng, 1982 [10]; Nguyễn Quốc Doanh, 1999 [4])
- Nguyên sinh chất: Gồm lớp trong và lớp ngoài Trong nguyên sinh chất
có chứa các nội quan: Ribosome có màu thẫm xen kẽ vùng không bào màusáng, kinetoplast (thể cơ động), mitochrondno, reticulum (lưới nội bào) và
Trang 9mạng lưới golgi.
- Nhân: Nhân tiên mao trùng có chứa ADN, hình bầu dục hoặc hìnhtrứng Nhân thường nằm ở vị trí trung tâm hoặc gần vị trí trung tâm cơ thể.Ngoài nhân, về phía cuối thân còn có thể kinetoplast chứa AND (KADN) Từkinetoplast có một roi chạy vòng quanh thân lên đầu và ra phía ngoài cơ thểthành một roi tự do Roi của tiên mao trùng có lớp vỏ ngoài cùng giống lớp vỏcủa thân Trong roi có 9 cặp vi ống ở xung quanh và một cặp ở trung tâm, xếpsong song dọc chiều dài roi (Hoare, 1972 [33]; Nguyễn Quốc Doanh, 1999 [4])
Hình 2.1: Cấu tạo của Trypanosoma
A - roi trước; B - Các khung tế bào phức tạp tiềm ẩn; C - Nhân; D - Tythể; E - Các kinetoplast (bộ gen ti thể); F - Thể đặc; G - Túi roi; H - Phần thânchính; I - Golgi; J - Lưới nội sinh chất K - Màng nhấp nhô L - Tập tin đínhkèm của roi vào màng nhấp nhô M - Chỗ tiếp xúc roi với thân (Dẫn theoNguyễn Thị Kim Lan, 2011 [7])
2.1.1.3 Cấu trúc kháng nguyên của tiên mao trùng Trypanosoma evansi
Kháng nguyên của T evansi gồm 2 loại: kháng nguyên ổn định
(kháng nguyên không biến đổi) và kháng nguyên biến đổi
Trang 10* Kháng nguyên ổn định (kháng nguyên không biến đổi)
Phần lớn các thành phần kháng nguyên tiên mao trùng không biếnđổi trong quá trình sống ký sinh Bằng phương pháp điện di miễn dịch
huyết thanh thỏ tối miễn dịch với T evansi Người ta đã phát hiện tới 3
thành phần kháng nguyên không biến đổi ở màng nguyên sinh chất tế bào(ISG: Invanant Surface Glycoprotein): ISG 65, ISG 75 và ISG 100 Do cấutrúc không gian ba chiều và đặc tính ưa nước, các loại này không kết hợpvới kháng thể của vật chủ
* Kháng nguyên biến đổi
Về kháng nguyên biến đổi, cần đề cập đến sự biến đổi lớp vỏ bề mặtVSG (Variant Surface Glycoprotein), những quan điểm mới về sự xuất hiệnkháng nguyên biến đổi của tiên mao trùng và cơ chế di truyền của khángnguyên biến đổi
Nhờ kháng thể đặc hiệu được đánh dấu mà Vickerman và Luckins(1969) đã phát hiện ra sự biến đổi của lớp kháng nguyên bề mặt Cross(1975) đã mô tả lớp áo bề mặt của tiên mao trùng có thành phần làglycoprotein bao phủ toàn bộ bề mặt tế bào bằng một lớp phân tử giốngnhau (mỗi tiên mao trùng có 107 phân tử) Lớp áo bề mặt này kích thích cơthể vật chủ tạo ra kháng thể đặc hiệu với từng type kháng nguyên biến đổiVAT (Variable Antigen Type) Chỉ có kháng nguyên biến đổi mới có khảnăng kích thích vật chủ tạo miền dịch chủ động Người ta ước lượng rằng,một con tiên mao trùng có ít nhất vài trăm hoặc vài nghìn VSG, nghĩa là 5 -10% số gen của tiên mao trùng cung cấp cho kháng nguyên bề mặt này
Nhiều tác giả nghiên cứu về miễn dịch học cho rằng, tiên mao trùngbiến đổi kháng nguyên bề mặt để né tránh miễn dịch đặc hiệu của vật chủ.Những quan điểm này là hoàn toàn mới để lý luận về sự xuất hiện khángnguyên biến đổi của tiên mao trùng Như vậy, quan điểm về sự biến đổikháng nguyên lớp vỏ của tiên mao trùng cho đến nay vẫn chưa thống nhất
* Cơ chế di truyền của kháng nguyên biến đổi
Khi kháng thể đặc hiệu kết hợp với phân tử của kháng nguyên bề mặt(VSG), làm tiêu tan tiên mao trùng thì đó cũng là nguyên nhân chính thúc đẩy
Trang 11sự hoạt hoá của gen Kết quả là các phân tử kháng nguyên VSG được thay đổihoàn toàn bằng các phân tử VSG mới Lúc này, kháng thể đặc hiệu lúc trước
đã không còn tác dụng đối với kháng nguyên mới này
Theo Barry và Tumer (1991) [26], Vanhamme và cs (1995) [43], cácVSG được mã hoá nhờ các gen chuyên biệt Từ kho chứa hàng nghìn đếnkhác nhau, một gen VSG được hoạt hoá một cách chọn lọc, dẫn đến tổng hợp
ra một loại kháng nguyên VSG Mỗi bên VSG mới tạo ra một loại khángnguyên VSG mới Trong bộ gen của tiên mao trùng tồn tại một số lớn genVSG, các gen này sử dụng nhiều cơ chế sắp xếp khác nhau, do vậy tiên maotrùng đã tạo ra nhiều VSG khác nhau ở gia súc bị bệnh mãn tính Cơ chế biếnđổi kháng nguyên theo 2 cách: Cách thứ nhất là, sử dụng lần lượt các điểmbiểu hiện trên (expression side) khác nhau, không có sự sắp xếp của ADN.Các điểm biểu hiện khác nhau sẽ mang các gen VSG khác nhau, sự luân phiênnày dẫn đến sự thay đổi type kháng nguyên Cơ chế này quan sát được chủyếu ở giai đoạn đầu của quá trình cảm nhiễm Có lẽ ở giai đoạn đầu này chưa
có đáp ứng miễn dịch của vật chủ đối với VSG, chính điều này không gây ramột cản trở hoạt hoá tự nhiên của các điểm biểu hiện gen này Cách thứ hai
là, tập hợp lại các đoạn ADN khác nhau để tái tổ hợp gen, mà việc tái tổ hợpnày cho phép thay thế hoàn toàn hoặc từng phần gen; hoặc việc thay thế diễn
ra dựa vào sự chuyển đổi gen chứ không phải dựa vào tái tổ hợp gen Trườnghợp này được diễn giải như sau: Một gen hoạt hoá được thay thế bằng bản saochép của một gen khác Do có sự thay thế một phần của gen nên đã tạo ra loạigen phức hợp và đặc trưng
Trang 12tiên mao trùng giảm xuống, ở đồ thị quá trình này được biểu hiện bằng pha
đi xuống (Descending phase) Tuy nhiên một phần VAT còn lại sẽ biến đổi
và nhân lên tạo thành heterotype mới mà kháng thể lúc trước không còn khảnăng nhận ra nó Cơ chế đáp ứng miễn dịch như trên lại được lặp lại theochu kỳ 10 - 12 ngày một ngày dẫn đến hiện tượng sốt cách nhật 10 - 12 ngày
ở gia súc bị bệnh
2.1.2 Dịch tễ học bệnh tiên mao trùng
2.1.2.1 Phân bố của bệnh tiên mao trùng
Bệnh tiên mao trùng phân bố rất rộng, từ phía Tây sang phía Đôngbán cầu Phía Tây bán cầu thuộc châu Mỹ, phía Đông bán cầu trải dài từchâu Phi cho đến Philippine
Theo Davison (1999) [30] bệnh phổ biến ở trâu, bò, ngựa các nướcnhiệt đới ở châu Phi, châu Á và Nam Mỹ
Ở châu Phi, bệnh trải dài từ Tây sang Đông, phía Bắc qua vùng sa mạcSahara, dọc theo bờ biển Atlantique Địa trung hải
Bệnh tiên mao trùng xảy ra với tên gọi "bệnh Surra” ở Ả rập Saudi,
Yêmen, Sultanate, Ả Rập thống nhất, Thổ Nhĩ Kỳ, Israel, Syrie, Afganistan,Pakistan
Ở châu Á, bệnh xuất hiện ở Trung Á (thuộc Liên Xô cũ), Ấn Độ,Malaysia, bán đảo Đông Dương, Trung Quốc, Indonexia, Philippine
Ở châu Âu, bệnh xuất hiện ở Bungaria (nay đã được thanh toán), hiệnchỉ còn ở vùng Volga và Nam Capcase (Liên Xô cũ)
Ở châu Mỹ, bệnh xuất hiện ở Trung Mỹ, Nam Mỹ, đặc biệt phổ biến ởBrazil, Mexico, Venezuela, Colombia
Châu Úc cũng đã được xác định là có bệnh tiên mao trùng (Reid, 2002[39]; Losos G T., 1972 [35]) cho rằng, bệnh tiên mao trùng phổ biến nhất ởchâu Á và châu Phi, từ Ấn Độ đến Srilanca, Trung Quốc, Indonexia, TháiLan, Lào, Camphuchia, Iran, Philippine
Ở Việt Nam, bệnh tiên mao trùng thấy ở hầu hết các vùng sinh tháikhác nhau: Miền núi, trung du, đồng bằng, ven biển Theo Phạm Sỹ Lăng(1982) [10], bệnh tiên mao trùng có ở tất cả các tỉnh miền Bắc (Bắc Kạn,
Trang 13Lạng Sơn, Tuyên Quang, Thái Nguyên, Ninh Bình, Hà Tây) Trâu, bò nhiễmbệnh với tỷ lệ cao và thay đổi giữa các vùng khác nhau (trâu, bò ở đồng bằngnhiễm tiên mao trùng cao hơn vùng trung du và miền núi, đặc biệt ở trâu, bò
có nguồn gốc từ miền núi chuyển xuống vùng đồng bằng)
2.1.2.2 Vật chủ và vật môi giới truyền bệnh tiên mao trùng
Trong tự nhiên, tiên mao trùng ký sinh ở hầu hết các loài thú nuôi vàthú hoang, thấy nhiều hơn ở trâu, bò, ngựa, trâu bò rừng, hươu, nai, hổ, báo,
sư tử, chó, mèo, lạc đà, voi thỏ, chuột cống, chuột lang, chuột bạch , nhưngkhông ký sinh ở người
Sự lây truyền tiên mao trùng từ trâu, bò ốm sang trâu, bò khoẻ là nhờ
các loài ruồi hút máu (thuộc họ phụ Stomoxydinae) và các loài mòng hút máu (thuộc họ Tabanidae) Ruồi và mòng hút máu của gia súc bị bệnh, sẽ truyền
tiên mao trùng từ vòi hút vào máu con vật khoẻ Sự lây truyền này mang tínhchất cơ học Như vậy, ruồi và mòng hút máu là những vật môi giới truyềnbệnh tiên mao trùng quan trọng
Theo Phan Địch Lân (1974) [12], Phan Địch Lân (1994 - 2004) [13],phần lớn các loài mòng tập trung ở khu vực miền núi và trung du Trong 53loài mòng thì có tới 44 loài phân bố ở vùng rừng núi có độ cao dưới 1.000mét so với mặt nước biển, càng lên cao số loài càng ít dần (độ cao trên 1.000mét chỉ có 26 loài) Ở vùng trung du (rừng thưa, độ cao không quá 500 mét sovới mặt nước biển) có 27 loài; vùng đồi trọc chỉ có 9 - 11 loài; vùng rừng núiven biển phát hiện chỉ có 8 loài Những loài mòng phổ biến ở tất cả các vùng
là: Tabanus rubidus, T striatus, Chrysops dispar, Chrysozoma assamensis.
Những loài mòng chỉ gặp ở vùng núi là: Tabanus flavistriatus, T fumifer, Chrysops vander Miền Bắc nước ta có 4 loài ruồi hút máu, 2 loài phổ biến ở tất cả các vùng là Stomoxys calcitrans và Liperosis exigua; 2 loài chỉ thấy ở những vùng sinh cảnh đặc biệt: loài Bdellolarynx sanguinolentus (chỉ xuất hiện ở vùng có độ cao dưới 1.000 mét), loài Stomoxys indica (chỉ thấy ở
vùng núi Cẩm Thuỷ - Thanh Hoá)
Phan Địch Lân (1994 - 2004) [13] cho biết, kiểm tra ở nhiều địa điểm
thấy hai loài mòng T rubidus và T striatus mang tiên mao trùng với tỷ lệ
Trang 1415,20% và 14,00%; ruồi hút máu Stomoxys calcitrans mang tiên mao trùng với
tỷ lệ 12,50% Ở những vùng đang có bệnh tiên mao trùng, kiểm tra ruồi vàmòng hút máu dễ dàng tìm thấy tiên mao trùng Sau khi theo máu vào vòi hútruồi và mòng, tiên mao trùng vẫn sống đến giờ thứ 53, thời gian hoạt độngmạnh nhất là từ giờ thứ nhất đến giờ thứ 34 trung bình là 24 giờ Sự hoạt độngcủa tiên mao trùng yếu dần từ giờ thứ 35 đến 42 Từ 46 - 53 giờ thì tiên maotrùng ngừng hoạt động
Hình thái tiên mao trùng khi ở trong vòi ruồi, mòng biến đổi theo thờigian: từ 1 - 34 giờ có hình thái, kích thước bình thường; 35 - 45 giờ; tiênmao trùng có hình dạng thay đổi, tăng kích thước chiều rộng và thô dần; 46 -
53 giờ; tiên mao trùng trương to, duỗi thẳng, mất khả năng di động và ngừnghẳn hoạt động
Thực nghiệm đã chứng minh khả năng gây bệnh của tiên mao trùng sau
khi xâm nhập vào mòng Tabanus rubidus như sau: Thời gian từ giờ thứ 1 đến
thứ 5, tiên mao trùng có khả năng gây bệnh và làm chết chuột bạch tương tựnhư khi truyền thẳng máu có tiên mao trùng cho chuột; từ giờ thứ 6 đến thứ 7chỉ còn 30% số chuột thí nghiệm phát bệnh, thời gian gây bệnh kéo dài vàthời gian chết của chuột cũng dài Điều này có thể giải thích là do độc lực củatiên mao trùng giảm dần và số lượng tiên mao trùng còn hoạt lực gây bệnh
cũng giảm dần sau khi chúng xâm nhập vào mòng Tabanus rubidus Kết quả
này phù hợp với nghiên cứu của Phạm Sỹ Lăng (1982) [10] cho rằng, thờigian xâm nhập của tiên mao trùng càng lâu thì tỷ lệ gây bệnh càng giảm, điều
này có thể do giảm số lượng và độc tính của T evansi trong máu của mòng 2.1.2.3 Tuổi vật chủ, mùa mắc bệnh
Trâu, bò và các loài gia súc khác ở mọi lứa tuổi đều nhiễm tiên mao trùng
và đều phát bệnh, có thể dẫn đến tử vong hoặc suy nhược, thiếu máu, giảm sức đềkháng, giảm khả năng sinh đẻ và sức sản xuất
Phan Địch Lân (1994 - 2004) [13] đã tổng hợp kết quả điều tra 3.172 trâu
ở các tỉnh đồng bằng: trâu dưới 3 năm tuổi nhiễm thấp nhất (3,2 - 6,l%), trâu 3 - 5tuổi nhiễm cao hơn (l0,6 - 12,7%), trâu 6 - 8 tuổi nhiễm cao nhất (12,9 - 14,8%),trâu trên 9 năm tuổi tỷ lệ nhiễm giảm thấp hơn trâu 3 - 8 năm tuổi
Trang 15Theo Phan Văn Chinh (2006) [1], tỷ lệ nhiễm tiên mao trùng cao nhất ở
4 - 8 năm tuổi (trâu: 12,71%; bò: 5,77%), thấp nhất là trâu, bò dưới 3 nămtuổi (6,92% và2,31%) Mùa lây lan bệnh thường xảy ra trong các tháng nóng
ẩm, mưa nhiều (từ tháng 4 đến tháng 9) Thời gian này điều kiện sinh tháithuận lợi cho các loài ruồi, mòng phát triển, hoạt động mạnh Hút máu súc vật
và truyền tiên mao trùng
Theo Luckins (1988) [37], sự xuất hiện lượng lớn ruồi, mòng trongmùa mưa nóng ẩm luôn có liên quan đến tình hình dịch tễ bệnh tiên mao trùng
ở trâu, bò, dê, lạc đà Từ cuối mùa thu, mùa đông và đầu mùa xuân, trâu bònhiễm tiên mao trùng phải sống trong điều kiện thời tiết lạnh, thiếu thức ănnên sức đề kháng giảm, bệnh thường phát ra vào thời gian này và trâu bò bị
đổ ngã hàng loạt Tiên mao trùng có sức đề kháng yếu, dễ chết khi tiếp xúcvới nước cất, cồn và thuốc sát trùng
2.1.2.4 Cơ chế sinh bệnh tiên mao trùng
Sau khi xâm nhập vào cơ thể vật chủ, T evansi vào máu sinh sản nhiều bằng cách nhân đôi theo chiều dọc cơ thể, số lượng T evansi sản sinh ra độc
tố làm giãn thành mạch gây xuất huyết ở niêm mạc và tăng thẩm thấu gây
hiện tượng thủy thũng T evansi còn tiết độc tố làm hệ thần kinh bị trúng độc,
chức năng điều hòa than nhiệt bị rối loạn, con vật sốt, run rẩy, bại liệt, cứng
chân, lăn lộn điên cuồng trước khi chết T evansi còn ngăn cản chức năng sản
sinh hồng cầu của lách, tủy xương làm cho hồng cầu giảm nhiều, máu nhạtmàu và loãng Mặt khác, khi hồng cầu giảm sút máu thiếu huyết sắc tố khảnăng vận chuyển O2 và CO2 giảm nên axit tích lại trong máu gây hiện tượngtrúng độc axit, khả năng chết càng cao
2.1.3 Đặc điểm bệnh lý và lâm sàng của bệnh
2.1.3.1 Đặc điểm bệnh lý
Khi ruồi trâu, mòng đốt, hút máu và truyền tiên mao trùng vào trâu,
bò, ngựa, tiên mao trùng xâm nhập vào da, gây ra vết viêm trên mặt da Cóthể quan sát được phản ứng viêm ở da của thỏ, cừu, dê và bò gây nhiễm thựcnghiệm tiên mao trùng, kích thước chỗ viêm phụ thuộc vào số lượng tiênmao trùng được tiêm truyền (Ước chừng khoảng 108 tiên mao trùng có thể
Trang 16gây viêm da - ở vị trí tiêm truyền), một số lượng lớn tiên mao trùng pháttriển ở tại chỗ viêm này
Vào máu, tiên mao trùng nhân lên theo cấp số nhân ở trong máu, trongbạch huyết và ở trong các mô khác của cơ thể vật chủ theo cách phân chiatheo chiều dọc Số lượng tiên mao trùng trong máu không phải lúc nào cũngnhư nhau Mật độ tiên mao trùng thay đổi theo ngày Biểu đồ sóng tiên maotrùng cho thấy, xen kẽ giữa những sóng tiên mao trùng mạnh là những đợtsóng yếu Mỗi đợt sóng tiên mao trùng bắt đầu bằng sự tăng số lượng tiênmao trùng trong máu, sau đó giảm và khó phát hiện thấy tiên mao trùng Mỗiđợt tiên mao trùng tăng lên trong máu là biểu hiện sự xuất hiện một quần thểtiên mao trùng có tính kháng nguyên bề mặt mới, quần thể này có thể tiếp tụcsinh sản và tồn tại một thời gian cho đến khi cơ thể xuất hiện kháng thể đặchiệu với chúng
Tiên mao trùng phát triển nhanh trong máu, tiêu thụ Glucose và cácchất đạm, chất béo và khoáng chất trong máu ký chủ bằng phương thức thẩmthấu qua bề mặt cơ thể để duy trì hoạt động và sinh sản Ở súc vật bị bệnh,trong 1 ml máu có thể có 10.000 - 30.000 tiên mao trùng Với số lượng nhiềunhư vậy, tiên mao trùng chiếm đoạt dinh dưỡng nhiều, làm cho súc vật bệnhgây còm, thiếu máu và mất dần khả năng sản xuất sữa, thịt, mất dần khả năng sinhsản và giảm sức đề kháng với các bệnh khác
Sống trong máu vật chủ, tiên mao trùng còn tạo ra độc tố
Trypanotoxin, độc tố này gồm: độc tố do tiên mao trùng tiết ra qua màng
thân trong quá trình sống và độc tố do xác chết của tiên mao trùng phânhuỷ trong máu sau 15 - 30 ngày Độc tố của tiên mao trùng tác động lên hệthần kinh trung ương làm rối loạn trung khu điều hoà thân nhiệt, gây sốtcao và gián đoạn (lúc sốt, lúc hết sốt xen kẽ nhau) Khi sốt thường có rốiloạn về thần kinh (kêu rống, run rẩy, ngã vật xuống) Độc tố cũng phá huỷhồng cầu, ức chế cơ quan tạo máu làm cho vật chủ thiếu máu và suy nhượcdần Độc tố còn tác động tới bộ máy tiêu hoá, gây rối loạn tiêu hoá, làmcon vật ỉa chảy Hội chứng tiêu chảy thường xảy ra khi xuất hiện tiên maotrùng trong máu con vật bệnh
Trang 17Khi tăng lên với số lượng lớn trong máu, tiên mao trùng còn làm tắccác mao mạch, làm tăng tính thấm thành mạch, dần dần tạo ra các ổ thuỷthũng chất keo vàng dưới da.
2.1.3.2 Triệu chứng lâm sàng của bệnh tiên mao trùng ở trâu, bò
Bệnh tiên mao trùng thường biểu hiện ở hai thể là thể cấp tính và thể mãntính, tuy nhiên trong thực tế thường gặp ở dạng mãn tính là chủ yếu
+ Thể cấp tính: con vật vẫn béo tốt, đang đi làm đột nhiên bị ngã hoặckhông thể đi làm được nữa, sốt rất cao ở trâu, bò là 3905 - 4105, ở ngựa là 410C –
420C, con vật thở mạnh Lúc này nếu lấy máu kiểm tra sẽ phát hiện ra tiên maotrùng Trong lúc sốt và sau cơn sốt con vật có hiện tượng bỏ ăn, miệng cắn chặt,nước miếng chảy ra liên tiếp, đầu rủ xuống, nước mắt và nhử mắt chảy rất nhiều,phân nhão có lẫn máu Sau cơn sốt con vật gầy đi rất nhiều, nếu không can thiệpkịp thì con vật co giật, giẫy dụa và chết sau khoảng một vài giờ
+ Thể mãn tính: triệu chứng ở trâu, bò nhiễm T evansi thường không rõ
ràng, chúng có hiện tượng chung là gầy yếu và chỉ đến khi thời tiết rét, thức ănthiếu thốn, với lao tác nặng nhọc làm giảm sức đề kháng thì bệnh mới biểu hiệnlâm sàng rõ hơn Lúc này con vật có biểu hiện sốt cách nhật, lông xù xì, mắt cónhử, giác mạc viêm, hay chảy nước mắt, vùng bụng và chân sau bị phù thũng.Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (2011) [8] cho biết: trâu, bò bị bệnh ở thể mãntính thường kéo dài, liệt hai chân sau, dần dần suy nhược rồi chết
Nhưng trên thực tế có rất ít gia súc có biểu hiện đầy đủ các triệu chứng lâmsàng, do vậy trong quá trình chẩn đoán ta có thể căn cứ vào các biểu hiện triệuchứng lâm sàng sau:
- Sốt cao và gián đoạn: Sau 14 - 30 ngày bị ruồi, mòng hút máutruyền tiên mao trùng, trâu bò thường đột ngột lên cơn sốt (40 - 41,70C)kéo dài 2 - 4 ngày rồi giảm, thời gian sau nhiệt độ lại tăng lên Thời giangián đoạn giữa hai cơn sốt dài hay ngắn tuỳ theo thể trọng con vật Khi sốt,kiểm tra máu thường thấy tiên mao trùng
- Hội chứng thần kinh: Ở một số trâu, bò khi lên cơn sốt còn thể hiện hộichứng thần kinh như điên loạn, mắt đỏ ngầu, húc đầu vào tường, chạy vòng quanhkêu rống lên Trường hợp nhẹ thấy run rẩy từng cơn, mắt trợn ngược rồi đổ ngã
Trang 18vật xuống, sùi bọt mép giống như trâu bị cảm nắng Sau 20 - 30 phút con vật lạiđứng dậy đi lại được Những trâu bò mắc bệnh có triệu chứng lâm sàng như trênthường là mắc bệnh ở thể cấp tính Trâu, bò bị bệnh mạn tính thường kéo dài, cơthể suy yếu, liệt hai chân sau, nằm tư thế quỳ và không đi lại được Mặc dù nằmliệt nhưng vẫn ăn và nhai lại cho đến khi sắp chết
- Phù thũng dưới da: Phù thũng thường thấy ở vùng thấp của cơ thể như ởbốn chân (từ khớp khuỷu trở xuống), phần yếm, ngực, bộ phận sinh dục
- Viêm giác mạc và kết mạc mắt: Triệu chứng này thấy ở hầu hết trâu,
bò bệnh Mắt có dử trắng hay vàng, chảy liên tục, nếu nặng thì mắt sưng đỏngầu Khi khỏi bệnh, mắt có màng trắng (củi nhãn) kẻo che kín giác mạc
- Hội chứng tiêu hoá: Một số trâu, bò bệnh bị ỉa chảy nặng, phân lỏng,màu vàng, sau chuyển màu xám, có lẫn bọt và chất nhầy Các đợt ỉa chảy tiếptheo những cơn sốt cách quãng Ỉa chảy trong bệnh tiên mao trùng thường daidẳng và con vật vẫn ăn được
- Gầy yếu, suy nhược: Ở thể bệnh cấp tính trâu, bò gầy sút nhanh, chỉ sau
7 - 14 ngày từ khi phát bệnh con vật đã gầy rộc, mắt trũng sâu Nếu bệnh kéodài thì con vật gầy xơ xác, lông dựng ngược, da khô nhăn nheo, niêm mạcmắt nhợt nhạt, lông dễ rụng, dần dần suy nhược cơ thể nặng, mất khả năngcày kéo và sinh sản Nếu gặp điều kiện bất lợi như thiếu ăn, rét mướt thì trâu,
bò dễ chết Trong thực tế, có khoảng 3% trâu bệnh ở thể ẩn vẫn béo khoẻ, làmviệc bình thường khi được chăm sóc nuôi dưỡng tốt
Tình trạng thiếu máu thể hiện rõ trong bệnh do T evansi gây ra.
Theo Davison (1999) [30], số lượng hồng cầu và hàm lượng huyết sắc tốgiảm, số lượng bạch cầu tăng, thành phần bạch cầu thay đổi: bạch cầulymphô, bạch cầu ái toan tăng nhưng bạch cầu trung tính giảm, proteintổng số và Albumin giảm rõ rệt
2.1.3.3 Bệnh tích của bệnh tiên mao trùng
Trong quá trình ký sinh, T evansi đã tiết ra độc tố Trypanosoma Độc
tố này theo máu đi khắp cơ thể, tác động lên nội quan của vật bệnh, đặc biệt là
bộ máy tuần hoàn và gây ra một số bệnh tích đặc biệt Ở gia súc mắc bệnh,khi chết mổ khám thường thấy một số bệnh tích sau: Chủ yếu là các tế bào
Trang 19gan bị hoại tử, bạch cầu đơn nhân thấm qua phế quản, tế bào ống thận bị hoại
tử và bong ra Các hạch lâm ba bị sưng, niêm mạc nhợt nhạt
Theo Nguyễn Thị Kim Lan (2011) [7] trâu, bò bị bệnh tiên maotrùng khi chết gầy xơ xác, mổ khám thấy có những biến đổi bệnh tích đạithể rõ rệt ở hệ tuần hoàn và hô hấp: Tim nhão, xoang bao tim tích nướcvàng; phổi xung huyết và tụ máu từng đám nhỏ; gan sưng to, nhạt màu;lách sưng, mềm nhũn và nhạt màu; hạch lâm ba sưng và có tụ máu tronghạch; cơ nhão, màu nhợt nhạt, nhát cắt rỉ nước; xoang ngực và xoang bụngtích dịch màu vàng nhạt; có những đám keo nhầy vàng dưới vùng da thuỷthũng
2.1.4 Những phương pháp chẩn đoán bệnh tiên mao trùng
2.1.4.1 Chẩn đoán lâm sàng
Các biểu hiện lâm sàng đặc trưng của bệnh tiên mao trùng ở trâu, bò,ngựa không phải lúc nào cũng phát hiện được Rất nhiều gia súc mang bệnhnhưng khó phát hiện các triệu chứng đặc trưng, nhất là đối với những gia súcmắc bệnh tiên mao trùng mãn tính Đối với gia súc mắc bệnh ở thể cấp tính,các biểu hiện bệnh đặc trưng là sốt cao, bỏ ăn, có triệu chứng thần kinh (điênloạn) và chết nhanh Trâu bị bệnh mãn tính có thể thấy triệu chứng: sốt giánđoạn, gầy còm, thiếu máu kéo dài, viêm giác mạc, phù thũng ở bụng và chânsau, chết do kiệt sức (Phạm Sỹ Lăng, 1982 [10] ), chứng sẩy thai có thể thấy ởtrâu, bò bị bệnh tiên mao trùng (Nguyễn Đăng Khải, 1995 [6])
Theo Damayanti R và cs (1994) [29]: Trâu bệnh có những biểu hiệngầy yếu, kém vận động, bỏ ăn Khối lượng cơ thể giảm rõ rệt
Phạm Sỹ Lăng và Lê Văn Tạo (2002) [11] cho biết: trâu, bò bị thiếumáu và suy nhược suốt trong quá trình bị bệnh Hồng cầu giảm thấp chỉ còn 3triệu/1mm3 (trâu, bò khỏe: 5 - 6 triệu/1mm3)
Một số trâu, bò bệnh bị viêm kết mạc và giác mạc mắt: mắt đỏ, niêmmạc sưng đỏ, chảy dử liên tục, kéo màng trắng ở giác mạc
Khoảng 30% trâu, bò bệnh bị viêm ruột ỉa chảy kéo dài sau những cơnsốt Hầu hết trâu, bò bệnh bị suy nhược, mất dần khả năng sinh sản và giảmsản lượng sữa 30 – 50%; chết do kiệt sức
Trang 202.1.4.2 Chẩn đoán thí nghiệm
Có nhiều phương pháp chẩn đoán tiên mao trùng trong phòng thínghiệm, mục đích là phát hiện tiên mao trùng trong máu gia súc Tùy từngtrường hợp bệnh, tuỳ điều kiện mà có thể làm cùng lúc một số phương pháphoặc lựa chọn một phương pháp phù hợp và có độ chính xác cao
* Phương pháp phát hiện tiên mao trùng trực tiếp:
Muốn phát hiện tiên mao trùng trực tiếp, có thể áp dụng những phươngpháp sau:
- Phương pháp xem tươi (Direct smear)
Khi bệnh súc sốt, T evansi thường xuất hiện trong mao quản ngoại vi;
vì vậy, nên lấy máu vùng ngoại vi để xem tươi Cho 1 giọt máu nhỏ lên phiếnkính đã có sẵn 1 giọt Natri citrat 3,8%; dùng góc của la men khuấy đều, đậy lamen lên để máu dàn theo la men thành một lớp mỏng Soi dưới kính hiển vi(độ phóng đại 10 x 10 và 10 x 20) để phát hiện tiên mao trùng sống
- Phương pháp nhuộm Giemsa tiêu bản máu khô (Romanovsky)
+ Phương pháp giọt dầy: Đặt 1 giọt máu to vào giữa phiến kính, dùngmột góc của đầu một phiến kính khác ria tròn giọt máu với đường kínhkhoảng 1 - 1,25 cm Để khô tự nhiên trong khoảng 1 giờ, rồi cố định bằng cồn
Methanol, nhuộm Giemsa [1 giọt Giemsa + 1 ml dung dịch PBS (Phosphat
Buffered Saline) pH = 7,2] trong 25 phút Rửa tiêu bản dưới vòi nước chảymạnh, để khô rồi soi dưới kính hiển vi (độ phóng đại 10 x 100 hoặc 10 x 90)
Phương pháp này có nhược điểm là dễ làm tổn thương tiên mao trùng,
do đó khó phân biệt được các loài khác nhau trong trường hợp nhiễm nhiềuloài tiên mao trùng cùng một lúc
+ Phương pháp giọt mỏng: Đặt 1 giọt máu cách 1 đầu phiến kính 2 cm,dùng la men ria máu thành một lớp mỏng Để khô, cố định bằng cồn
Methanol trong 2 phút Nhuộm Giemsa trong 25 phút (l giọt Giemsa + 1 ml
dung dịch PBS pH = 7,2) Rửa tiêu bản dưới vòi nước chảy mạnh, để khô, soidưới kính hiển vi (độ phóng đại 10 x 100 hoặc 10 x 90)
Ưu điểm của phương pháp giọt mỏng là có thể phân biệt được hình tháicác loài tiên mao trùng khác nhau
Trang 21+ Phương pháp làm tan hồng cầu: dung dịch SDS (Sodium DodecylSulfat) là chất làm tan hồng cầu Nhờ dung dịch SDS, tiên mao trùng dễ dàngđược phát hiện trong máu Dung dịch SDS rất độc nên tránh tiếp xúc với da
và tránh hút bằng pipet Dung dịch SDS dễ bảo quản ở nhiệt độ thường trongnhiều tháng (Van Meirvenne, 1989)
- Phương pháp tập trung tiên mao trùng:
Người ta đã sử dụng phương pháp ly tâm tập trung tiên mao trùng bằngống Haematocrit hoặc tách tiên mao trùng bằng gen DEAE - cellulose
Phương pháp ly tâm tập trung bằng ống Haematocrit (WOO, 1971):cho máu động vật nghi mắc bệnh vào ống Haematocrit, một đầu ống được bịtkín bằng chất dẻo matit, một đầu ống để hở Ly âm với tốc độ 14.000vòng/phút trong 5 phút Sau đó kiểm tra sự tập trung của tiên mao trùng tại vịtrí tiếp giáp giữa huyết tương và hồng cầu (độ phóng đại 10 x 10)
Phương pháp này đơn giản, phát hiện tiên mao trùng tốt hơn phươngpháp xem tươi và nhuộm Giemsa Song, tỷ lệ phát hiện chưa cao
Với ống Haematocrit trên, có thể thực hiện phương pháp Darkground:dùng cưa y tế cắt ống ở vị trí tiên mao trùng tập trung (ranh giới giữa huyếttương và hồng cầu), nhỏ 1 giọt huyết tương lên phiến kính, đậy la men vàkiểm tra dưới kính hiển vi (độ phóng đại 10 x 40)
- Phương pháp tiêm truyền động vật thí nghiệm:
Đây là phương pháp phổ biến, hiệu quả, chính xác và thường được ứngdụng nhiều để chẩn đoán bệnh tiên mao trùng ở Việt Nam Phương pháp này
có ưu điểm là chính xác, do trực tiếp phát hiện thấy tiên mao trùng sau khinhân chúng lên trong động vật thí nghiệm mẫn cảm Song, nhược điểm củaphương pháp tiêm truyền động vật thí nghiệm là khi cần chẩn đoánnhanh, với số lượng nhiều và thời gian ngắn thì phương pháp này không thểđáp ứng được (Đoàn Văn Phúc và cs, (1981) [18])
Laha R và Sasmal N K (2009) [36] sử dụng phương pháp tiêm truyền
chuột thí nghiệm để xác định tỷ lệ nhiễm T evansi trên trâu, bò và ngựa ở khu
vực phía Đông của Ấn Độ Các tác giả đã phát hiện 18,4% số bò; 15,6% số
trâu và 46,9% số ngựa nhiễm T evansi.
Trang 22* Phương pháp chẩn đoán huyết thanh học:
Bằng phương pháp huyết thanh học, có thể phát hiện kháng thể hoặckháng nguyên tiên mao trùng Đây là các phương pháp huyết thanh học đặc hiệu
- Các phương pháp phát hiện kháng thể kháng tiên mao trùng
Khi tiên mao trùng ký sinh, cơ thể vật chủ sinh ra kháng thể đặc hiệuchống lại tiên mao trùng Những phương pháp sau cho phép phát hiện khángthể kháng tiên mao trùng trong máu vật chủ:
+ Phương pháp ngưng kết trên phiến kính (SAT: Slice AgglutinationTest): hoà tan 1 giọt huyết thanh gia súc nghi mắc bệnh vào 1 giọt nước muốisinh lý trên phiến kính, sau đó cho 1 giọt máu chuột bạch có nhiều tiên maotrùng vào, trộn đều, đậy la men và soi dưới kính hiển vi (độ phóng đại 10 x 20hoặc 10 x 40) Nếu thấy ngưng kết hình hoa cúc là (+) và ngược lại là (-).Phương pháp này đơn giản, dễ làm và có thể áp dụng trên diện rộng
+ Phương pháp LATEX (Latex Agglutination Test)
LATEX là phương pháp được dùng để phát hiện kháng thể lưu động cótrong máu của gia súc mắc bệnh tiên mao trùng
Nguyên lý của phương pháp LATEX: khi kháng nguyên bề mặt T evansi gắn lên các hạt latex kết hợp với kháng thể đặc hiệu kháng tiên mao
trùng ở trên bản nhựa, thì sẽ xảy ra phản ứng ngưng kết giữa kháng nguyênvới kháng thể Hiện tượng ngưng kết có thể quan sát được bằng mắtthường, và được giải thích là do kháng nguyên bề mặt tiên mao trùng đượcgắn lên các hạt latex là loại kháng nguyên hữu hình, có nhiều điểm quyếtđịnh tính kháng nguyên bề mặt (epitop surface) Còn kháng thể đặc hiệukháng tiên mao trùng lại có nhiều điểm thụ thể (receptor) tương ứng, đặchiệu với các điểm quyếtđịnh của kháng nguyên Do đó, khi kháng nguyêntiên mao trùng gặp kháng thể đặc hiệu kháng tiên mao trùng, sẽ có hiệntượng một phân tử kháng thể đặc hiệu liên kết với nhiều phân tử khángnguyên và ngược lại Kết quả là các hạt latex cùng với kháng nguyên chụmlại, tạo thành đám ngưng kết có thể quan sát bằng mắt thường Khángnguyên dùng cho phản ứng là kháng nguyên bề mặt được tinh chế từ chủng
T evansi không nhuộm màu.
Trang 23Phương pháp này có thể ứng dụng trong kiểm tra dịch tễ và có thể ứngdụng ở cơ sở Tuy nhiên tỷ lệ phát hiện bệnh không cao do phương pháp nàycho kết quả dương tính cả khi con vật khỏi bệnh nhưng vẫn còn kháng thể tồntại trong huyết thanh; mặt khác, đối với những súc vật mới nhiễm bệnh TMTtrong huyết thanh chưa có kháng thể nên khi kiểm tra bằng phương phápLATEX sẽ cho kết quả âm tính
+ Phương pháp CATT (Card Agglutination Test for Trypanosomiasis)Đây là phương pháp ngưng kết trực tiếp giữa kháng nguyên và khángthể trên bản nhựa, được dùng để phát hiện kháng thể lưu động trong máuđộng vật nhiễm bệnh
Nguyên lý: kháng nguyên TMT đã được nhuộm màu kết hợp với khángthể tạo thành những đám kết tủa li ti màu xanh
Cách tiến hành: dùng ống hút 2,5 ml dung dịch buffer cho vào lọ khángnguyên chuẩn đã được nhuộm màu (CATT reagent), lắc đều Cho vào lọkháng nguyên đối chứng (đối chứng dương, đối chứng âm) mỗi lọ 0,5 mldung dịch buffer, lắc đều Dùng micropipette pha loãng huyết thanh theo tỷ lệcần chẩn đoán (1/8) Cho các mẫu huyết thanh cần chẩn đoán đã được phaloãng lần lượt vào các vòng tròn của bản CATT, cho kháng nguyên đối chứngvào hai vòng tròn khác của bản, mỗi loại 1 giọt (tương đương 45µl) Sau đócho vào tất cả các vòng tròn trên bản CATT 1 giọt kháng nguyên chuẩn Dùngque nhựa trộn đều Cuối cùng cho lên máy lắc 5 phút (60 - 70 lần/ phút) và đánhgiá kết quả
+ Phương pháp kháng thể huỳnh quang gián tiếp IFAT (IndirectFluorescent Antibody Test)
Phản ứng này là phản ứng huyết thanh học đặc hiệu có độ nhạy cao, đượcứng dụng rộng rãi trong phòng thí nghiệm và thực địa Ngoài việc được dùng làmphản ứng chuẩn để so sánh với các phương pháp huyết thanh khác, phương phápIFAT còn được dùng trong nghiên cứu các dòng kháng nguyên, phát hiện khángthể (Luckins, 1988 [37]; Davison, 1999 [30])
Trong phương pháp IFAT, huyết thanh dương chuẩn được lấy từ trâu bòmắc bệnh tiên mao trùng, huyết thanh âm chuẩn được lấy từ trâu bò khoẻ mạnh,huyết thanh cần chẩn đoán là huyết thanh lấy từ gia súc nghi mắc bệnh
Trang 24Ứng dụng phương pháp này ở Việt Nam, Lương Tố Thu và cs (1994)[22] đã chế tạo conjugate huỳnh quang trên thỏ kháng IgG của bò để chẩnđoán bệnh tiên mao trùng Độ pha loãng của conjugate tự chế sử dụng chophản ứng là 1/8 và huyết thanh chuẩn pha loãng ớ 1/40 Theo Lương Tố Thu
và Lê Ngọc Mỹ (1996) [24], độ nhạy của phương pháp IFAT là 71,25
Để tinh chế kháng nguyên T evansi dùng trong phản ứng miễn dịch
huỳnh quang gián tiếp để chẩn đoán bệnh tiên mao trùng ở trâu bò, Vương
Thị Lan Phương (2004) [20] đã nghiên cứu kháng nguyên bề mặt T evansi
phân lập từ trâu, bò ở 6 tỉnh phía Bắc Việt Nam và cho biết: đã thu được 6mẫu tiên mao trùng từ 6 tỉnh, tiến hành phân dòng, phân VAT (VariableAntigenic Type) và thu được 26 VAT thuộc 6 kho kháng nguyên khácnhau Bằng phản ứng dung giải miễn dịch và phương pháp thấm miễn dịch,
tác giả đã xác định được sự thay đổi kháng nguyên bề mặt của T evansi: đa
số các VAT của các kho kháng nguyên khác nhau là khác nhau, chỉ có 8VAT/26 VAI có hiệu giá kháng thể đơn giá đặc hiệu, có phản ứng chéo vớicác VAT của các kho kháng nguyên khác Các VAT trội xuất hiện sớmtrong 4 tuần lễ đầu nhiễm bệnh, có tính kháng nguyên mạnh có thể nghiêncứu ứng dụng chế kháng nguyên chẩn đoán Từ đó, tác giả đã tinh chếkháng nguyên theo phương pháp tách tiên mao trùng để dùng trong phảnứng miễn dịch huỳnh quang gián tiếp, chẩn đoán bệnh tiên mao trùng cho
độ nhạy và độ đặc hiệu cao
+ Phương pháp ELISA (Enzym Linked Immunosorbent Assay)
Phương pháp ELISA là một trong những phương pháp hiện đại nhấtđược ứng dụng để chẩn đoán bệnh tiên mao trùng
Nguyên lý: dùng kháng thể hoặc kháng thể kháng Globulin (kháng khángthể) có mang một enzym (phosphatase hoặc Peroxydase) được gắn trên mảnh Fc,cho kết hợp trực tiếp hoặc gián tiếp với kháng nguyên Sau đó, cho cơ chất sinhmàu vào, cơ chất sẽ kết hợp với enzym và bị enzym phân huỷ tạo nên màu Sosánh với màu của quang phổ kế sẽ định lượng được mức độ của phản ứng
Phương pháp ELISA hiện đang được sử dụng rộng rãi ở các nước trên thếgiới Ở Việt Nam, Lê Ngọc Mỹ (1994) [16] đã bước đầu chế kháng nguyên tiên
Trang 25mao trùng và ứng dụng để chẩn đoán bệnh tiên mao trùng ở nước ta.
- Các phương pháp phát hiện kháng nguyên tiên mao trùng:
+ Phương pháp ELISA kháng nguyên (Ag - ELISA)
Đây là phương pháp sử dụng phản ứng ELISA kháng nguyên để pháthiện kháng nguyên lưu động trong máu của gia súc nhiễm bệnh Phản ứngdựa trên kháng thể đơn dòng đặc hiệu với tiên mao trùng Lê Ngọc Mỹ và cs(1994) [16] đã bước đầu ứng dụng phương pháp này để chẩn đoán bệnh tiênmao trùng ở Việt Nam Tuy nhiên, theo cơ quan năng lượng nguyên tử thếgiới (IAEA) (1997), phương pháp ELISA kháng nguyên có độ nhậy kém hơn
so với các phương pháp phát hiện tiên mao trùng cổ điển Vì vậy, phươngpháp này đã không được phổ biến trong thời gian hiện tại và tương lai (IAEA
đã không sản xuất đĩa Ag - ELISA cho nhiều nước trên thế giới)
+ Phản ứng Suratex
Phản ứng Suratex là phản ứng ngưng kết giữa các hạt latex được gắnkháng thể đơn dong với kháng nguyên lưu động trong máu động vật nhiễm tiênmao trùng Phản ứng này hiện đang được thử nghiệm và đánh giá ở thực địa
+ Phương pháp phát hiện ADN của tiên mao trùng bằng phản ứng PCR(Polymerase Chain Reaction):
PCR là phương pháp hiện đại nhất, mới được đưa vào ứng dụng để chẩnđoán bệnh tiên mao trùng trong những năm gần đầy
Nguyên lý: dựa vào phản ứng chuỗi Polymerase để xác định sự có mặt genAND của tiên mao trùng trong máu động vật nhiễm bệnh
Phương pháp PCR có độ nhậy và độ đặc hiệu rất cao Tuy nhiên,phương pháp này đòi hỏi phải có trình độ kỹ thuật cao, trang thiết bị hiệnđại nên hiện nay mới đang được thử nghiệm tại một số phòng thí nghiệmhiện đại
2.1.4.3 Độ nhạy và độ đặc hiệu của các phương pháp chẩn đoán tiên mao trùng
* Khái niệm độ nhạy và độ đặc hiệu
- Độ nhạy:
Trang 26Độ nhạy của một phương pháp là tỷ lệ những trường hợp thực sự cóbệnh và có kết quả xét nghiệm dương tính trong toàn bộ các trường hợp cókết quả dương tính Công thức để tính độ nhạy như sau:
Độ nhạy = Số trường hợp dương tính thật + số trường hợp dương tính giảSố trường hợp dương tính thật
Độ nhạy 100% được hiểu là toàn bộ những trường hợp mắc bệnh đềuđược phát hiện
Một mình độ nhạy không cho chúng ta biết toàn bộ về xét nghiệmbởi vì 100% độ nhạy có thể có được một cách thông thường bằng việc gáncho toàn bộ các trường hợp kết quả dương tính Chính vì vậy, chúng ta cầnbiết thêm về độ đặc hiệu của xét nghiệm
- Độ đặc hiệu:
Độ đặc hiệu của một phương pháp là tỷ lệ những trường hợp thực sựkhông có bệnh và có kết quả xét nghiệm âm tính trong toàn bộ các trườnghợp có kết quả âm tính Độ đặc hiệu được tính theo công thức sau:
Độ đặc hiệu = Số trường hợp âm tính thật + số trường hợp âm tính giảSố trường hợp âm tính thật
Độ đặc hiệu 100% có nghĩa là toàn bộ những trường hợp không mắcbệnh được xác định
* Độ nhạy và độ đặc hiệu của các phương pháp chẩn đoán tiên mao trùngNgaira J M và cs (2003) [38] đã so sánh độ nhạy và độ đặc hiệucủa phương pháp CATT và phương pháp Suratex trong chẩn đoán tỷ lệ
nhiễm Trypanosoma evansi ở lạc đà tại Kenya Kết quả cho thấy phương pháp CATT phát hiện 321/828 mẫu nhiễm T evansi (chiếm 38,8%) và
phương pháp Suratex phát hiện 169/772 mẫu nhiễm (chiếm 21,9%) Độnhạy của 2 phương pháp được xác định là 68,6% cho CATT và 58,8% choSuratex; độ đặc hiệu của 2 phương pháp đều đạt 100%
Trang 27Singh N và cs (2004) [40] cho biết: từ 7/2002 đến 5/2003 các tácgiả đã lấy mẫu 217 lạc đà (Camelus dromedarius) từ các vùng khác nhau
thuộc Tây Rajastan, Ấn Độ để kiểm tra tình hình nhiễm Trypanosoma evansi Các phương pháp sử dụng trong chẩn đoán gồm phương pháp PCR,
Ag – ELISA, TBS và WBF Các phương pháp chẩn đoán cho kết quả về tỷ
lệ nhiễm T evansi ở lạc đà lần lượt là 17,05%; 9,67%; 4,60%; và 4,14%.
Độ nhạy của phương pháp PCR là 100%; Ag – ELISA là 56,75%; TBS là27,02% và WBF là 24,32% Đồng thời, các tác giả cũng cho biết những lạc
đà nhiễm T evansi có triệu chứng lâm sàng gồm sốt cao, gầy yếu, phù
thũng, thiếu máu, niêm mạc nhợt nhạt
Claes F và cs (2005) [28] đã nghiên cứu độ nhạy và độ đặc hiệu củaphương pháp CFT (complement fixation test), phương pháp HCFT (horsecomplement fixation test) và phương pháp CATT trong chẩn đoán tỷ lệ
nhiễm T evansi ở ngựa tại Cộng hòa Kazakhstan Kết quả cho thấy:
phương pháp CFT có độ nhạy 57,2% (CI 31,5 – 79,5%) và độ đặc hiệu95,8% (CI 89,2 – 98,5%); phương pháp HCFT có độ nhạy 80,6% (CI 44,1– 95,6%) và độ đặc hiệu 99,5% (CI 90,7 – 100%); phương pháp CATT có
độ nhạy 80,2% (Ci 44,5 – 95,2%) và độ đặc hiệu 98,5% (CI 79,5 – 99,9%)
Tỷ lệ huyết thanh dương tính với T evansi ở ngựa là 16,4%.
2.1.5 Phòng trị bệnh tiên mao trùng cho trâu, bò
2.1.5.1 Phòng bệnh
Để phòng ngừa bệnh tiên mao trùng có hiệu quả cao, các nhà khoa học đãđề nghị áp dụng 3 biện pháp sau:
* Diệt tiên mao trùng trên cơ thể ký chủ:
Diệt tiên mao trùng ký sinh ở vật chủ không những ngăn chặn được táchại gây bệnh của chúng mà còn làm cho bệnh mất khả năng lây lan Các biệnpháp cụ thể là:
- Phát hiện gia súc nhiễm tiên mao trùng ở vùng có bệnh và những vùnglân cận, nhốt riêng trong chuồng có lưới để ngăn côn trùng và điều trị triệt đểcho gia súc bệnh
- Ở những vùng không có bệnh thì không nhập gia súc từ vùng có bệnh
Trang 28về Nếu thật cần thiết thì chỉ nhập những gia súc khoẻ (có kết quả kiểm tra âmtính với tiên mao trùng), song vẫn cần nhốt riêng để theo dõi Nếu không bịbệnh mới cho nhập đàn Phát hiện và diệt những loài thú hoang nghi là nguồntàng trữ mầm bệnh, hoặc không chăn thả gia súc trong những khu vực cónhững loài đó sinh sống.
* Diệt côn trùng môi giới truyền bệnh:
Hội nghị lần thứ VI của Uỷ ban khoa học Quốc tế nghiên cứu về tiênmao trùng đã đề ra những biện pháp tiêu diệt côn trùng như sau:
- Diệt côn trùng bằng thay đổi sinh thái:
Thay đổi sinh thái là thay đổi điều kiện sống, làm cho côn trùng khôngsinh sản, không thực hiện được chu kỳ phát triển
Phát quang cây cối ở từng khu vực, không để nước tù đọng, ủ phân để diệttrứng và ấu trùng ruồi, mòng, làm chuồng gia súc có lưới ngăn côn trùng là cácbiện pháp hữu hiệu, tạo ra những điều kiện bất lợi cho đời sống của côn trùng
Tuy nhiên, do côn trùng có khả năng di chuyển khá mạnh nên các biệnpháp trên phải thực hiện đồng thời trên phạm vi rộng mới có hiệu quả
- Diệt côn trùng bằng hoá dược:
Có thể dùng các hoá dược tiêu diệt côn trùng môi giới của tiên maotrùng Các hoá dược đã được dùng là: Endosulfan, Brophos, Dieldrine,Tetracloreinphos…
- Diệt côn trùng bằng phương pháp sinh học:
Các nhà khoa học đã phát hiện được 25 loài ong và côn trùng ký sinhgây hại cho các loài ruồi, mòng môi giới truyền bệnh tiên mao trùng
Một số loài vi khuẩn có thể xâm nhập vào cơ thể ruồi hút máu làmchúng mắc bệnh và chết
Laird (1974) đã phân lập được một số loài vi khuẩn như: Bacillusthuringiensis, B.mathisi để tiêu diệt các loài ruồi hút máu Đây là biện phápdiệt côn trùng có nhiều ưu điểm: không ảnh hưởng đến môi trường Tuynhiên, biện pháp này mới đang ở giai đoạn thử nghiệm
Jordan A N và cs (1974) đã gây đột biến ruồi hút máu bằng một sốhoá chất và tia sáng có bước sóng ngắn, bằng phương pháp di truyền quần
Trang 29thể, đã tạo ra những ruồi đực vô tính rồi thả với ruồi cái trong tự nhiên Kếtquả là làm cho ruồi không sinh sản được Phương pháp này có nhiều khảnăng thành công nhưng rất tốn kém.
Nhìn chung, các biện pháp tiêu diệt côn trùng môi giới có hiệu quảnhất định nhưng cũng còn nhiều hạn chế
* Phòng bệnh cho gia súc bằng hoá dược:
Hội nghị chuyên đề quốc tế về phòng bệnh tiên mao trùng (1978) đãkết luận: Hiện nay, biện pháp sử dụng hoá dược để tiêm phòng rộng rãicho gia súc ở những vùng bệnh tiên mao trùng lưu hành cần phải được tiếptục trong nhiều năm
Từ năm 1934, tổ chức dịch tễ gia súc đã đề nghị sử dụngNovarsenobenzol để tiêm phòng cho toàn đàn ngựa ở những vùng có bệnhtiên mao trùng Hiện nay, thuốc Trypamidium, liều 0,5 mg/kg TT đượckhuyên dùng để phòng bệnh tiên mao trùng cho trâu, bò
Liu, J H và cs (1992) đã nghiên cứu chế tạo vắc xin phòng bệnhtiên mao trùng cho ngựa Kết quả tiêm thử nghiệm vắcxin liều 3 x 105
T.evansi ngựa, sau 30 - 60 - 90 ngày dùng vắcxin, tỷ lệ bảo hộ đạt 100%;
trong khi lô đối chứng chết trong thời gian 3 tháng
Theo Nguyễn Thị Kim Lan (2012) [9] để phòng bệnh tiên mao trùngcần thực hiện các biện pháp tổng hợp sau:
- Ở những vùng có bệnh, vào mùa ruồi trâu và mòng hoạt động, cầnkiểm tra máu cho toàn bộ gia súc Nếu có bệnh hoặc nghi có bệnh thì cầncách ly và điều tri kịp thời
- Khi có bệnh xảy ra, phải báo cáo cho chính quyền và các cơ quanthú y để công bố dịch
- Tiêm phòng bằng thuốc: dùng thuốc Trypamidium; liều 0,5 mg/kg
TT, pha thành dung dịch 1 - 2 % để tiêm phòng tiên mao trùng, vì thuốcthải trừ chậm, có thể tồn tại trong máu tới 4 tháng nên dùng phòng bệnh tốthơn các thuốc khác
2.1.5.2 Điều trị bệnh
Một số loại hoá dược đã được dùng để điều trị bệnh tiên mao trùng cho
Trang 30trâu, bò, ngựa ở nước ta từ những năm 60 đến nay gồm:
- Naganin, liều 10 mg/kg TT
Pha thuốc với dung dịch nước muối sinh lý hoặc nước cất thành dungdịch 10%, tiêm tĩnh mạch
Phan Địch Lân (1974) [12] đã thử nghiệm Naganin và cho biết, thuốc
có tác dụng tốt trong điều trị bệnh do T evansi trên trâu, bò ở nước ta.
- Novarsenobenzol, liều 10 mg/kg TT
Phạm Sỹ Lăng (1982) [10] đã sử dụng Novarsenobenzol 2 lần cáchnhau 2 ngày, thấy hiệu lực thuốc đạt 80%, tỷ lệ an toàn 80 - 82%
- Trypamidium, liều 1 mg/kg TT
Tiêm sâu vào bắp thịt thành 2 - 3 điểm
Đoàn Văn Phúc và cs (1981) [17] đã thử nghiệm Trypamidium điều trịbệnh tiên mao trùng cho trâu, bò và cho biết, tỷ lệ an toàn và khỏi bệnh đềuđạt 100%
- Trypamidium samorin, liều 1 mg/kg TT Tiêm sâu bắp thịt
Nguyễn Quốc Doanh và cs (1996) [2] đã dùng Trypamidium samorinđiều trị bệnh tiên mao trùng cho trâu, bò và xác định, thuốc có hiệu lực và
Trang 312.2 Tình hình nghiên cứu về tiên mao trùng
2.2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Kumar A và cs (1991) [34] cho biết: Trypanosomiasis là một bệnh ký
sinh trùng, phổ biến ở cả người và động vật, gây ra bởi ký sinh trùng đơn bào
Trypanosoma spp
Chen Qijun (1992) [27] cho biết: T evansi gây bệnh cho hầu hết các
loài động vật như trâu, bò, ngựa, la, chó… ở Trung Quốc
Diall O và cs (1993) [31] đã nghiên cứu về dịch tễ học bệnh do
Trypanosoma sp gây ra ở lạc đà tại Mali Kết quả điều tra cho thấy: trong
305 mẫu kiểm tra tại Tây Sahel có 29 mẫu dương tính; chiếm tỷ lệ 9,5%.Trong 627 mẫu kiểm tra tại Tombouctou và Gao có 28 mẫu dương trính;chiếm tỷ lệ 4,5% Tỷ lệ nhiễm theo đàn là 55% ở Tây Sahel, 68% ởTombouctou và Gao; ở một số đàn tỷ lệ nhiễm vượt quá 50%
Theo Aquino LP và cs (1999) [25]: chó nhiễm T evansi có triệu
chứng sốt gián đoạn, niêm mạc nhợt nhạt, phù nề, con vật gầy yếu và cóthể sờ thấy các hạch bạch huyết sưng to
Tamarit A và cs (2010) [41] cho biết: Một đợt bùng phát bệnh do
Trypanosoma evansi xảy ra ở Trung Tây Ban Nha được phát hiện Các ổ
dịch xảy ra ở trang trại ngựa, lừa và lạc đà Bằng phương pháp soi tươi đã
xác định được 76% lạc đà, 35% lừa và 2% ngựa nhiễm T evansi Các loài động vật đã được cách ly và điều trị bằng Cymelarsan với liều 0,5 mg/kg Sau
thời gian điều trị, kiểm tra lại máu của số động vật này đều cho kết quả âm tính
với T evansi
Haridy F M và cs (2011) [32] đã lựa chọn ngẫu nhiên 300 con lạc đà(200 lạc đà đực 4 - 6 tuổi và 100 lạc đà cái 10 - 15 năm tuổi) để xác định tỷ lệ
nhiễm bệnh do Trypanosoma evansi Các phương pháp chẩn đoán gồm chẩn
đoán lâm sàng, nhuộm giemsa tiêu bản máu và ELISA Phương pháp nhuộm
giemsa phát hiện 6,0% lạc đà đực và 9,0% lạc đà cái nhiễm T evansi.
Phương pháp ELISA phát hiện 8,0% lạc đà đực và 24,0% lạc đà cái nhiễm
T evansi Kết quả cho thấy phương pháp chẩn đoán ELISA có độ nhạy và độ
đặc hiệu cao hơn phương pháp nhuộm giemsa
Trang 32Tonin A A và cs (2011) [42] đã tiến hành nghiên cứu để đánh giáviệc sử dụng diminazene aceturate kết hợp với selenite natri và vitamin E
trong điều trị bệnh do Trypanosoma evansi Các tác giả sử dụng 72 chuột
cái chia thành 9 nhóm với mỗi nhóm 8 chuột (A, B, C, D, E, F, G, H và I).Nhóm A là nhóm không bị nhiễm bệnh, nhóm B - I được gây nhiễm vớiliều 0,2 x 106 T evansi/chuột Hàng ngày kiểm tra máu chuột bằng phương
pháp nhuộm giemsa Nhóm B không được điều trị, các nhóm còn lại được
sử dụng thuốc vào ngày thứ 3 sau gây nhiễm như sau: nhóm C được điều trịvới diminazene aceturate; nhóm D với sodium selenite; nhóm E vớivitamin E; nhóm F với diminazene aceturate và sodium selenite; nhóm Gvới diminazene aceturate và vitamin E; nhóm H với diminazene aceturate,sodium selenite và vitamin E; nhóm I với selenite natri và vitamin E Kếtquả cho thấy: Tuổi thọ của chuột ở nhóm điều trị với diminazene aceturatekết hợp với sodium selenite (nhóm F và H) tăng; trong khi nhóm C và Gkhông có sự khác biệt rõ rệt, do đó, vitamin E không làm tăng hiệu quả
điều trị T evansi khi kết hợp với diminazene aceturate Hiệu quả điều trị
bệnh ở các nhóm như sau: nhóm C là 37,5%; nhóm F là 87,7%; nhóm G là37,7% và nhóm H là 75% Các phác đồ điều trị khác không có hiệu quả
điều trị bệnh do T evansi.
2.2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước
Hồ Văn Nam (1963) [17] và Trịnh Văn Thịnh (1982) [23] cho biết:Trâu bị bệnh cấp tính có triệu chứng sốt cao, bỏ ăn, điên loạn, chết nhanh.Trâu nhiễm bệnh thể mãn tính thường sốt gián đoạn, gầy còm, thiếu máu kéodài, viêm giác mạc, phù thũng ở bụng, liệt chân sau, chết do kiệt sức Đối vớibệnh tiên mao trùng bò, những biểu hiện lâm sàng gần giống như ở trâu, ítthấy các trường hợp cấp tính, con vật có triệu chứng sốt gián đoạn, chậmchạp, hạch lâm ba trước đùi sưng, một số con thủy thũng ở vùng hàm, vùng
cổ nhưng không đau, gần chết thì bại liệt
Lê Ngọc Mỹ (1994) [16] đã điều tra tình hình nhiễm tiên mao trùng
ở trâu bò Việt Nam Kết quả cho thấy, trâu bò nhiễm tiên mao trùng với tỷ
Trang 33lệ cao (21,27%), trong đó trâu bò nuôi ở các tỉnh miền núi phía Bắc nhiễm
T evansi cao hơn ở đồng bằng
Phan Lục và Nguyễn Văn Thọ (1995) [14] cho biết: tỷ lệ nhiễm tiênmao trùng của bò ở một số địa phương miền Bắc là 5,9%
Theo Hà Viết Lượng (1998) [15], tỷ lệ bò nhiễm tiên mao trùng ởcác tỉnh miền Trung là 8,99%
Nguyễn Đăng Khải (1995) [6] đã tổng hợp báo cáo của các chi cụcthú y các tỉnh miền bắc và cho biết số trâu, bò bị thiệt hại do bệnh tiênmao trùng như sau: Từ năm 1960 - 1965 số gia súc mắc bệnh là 1776,chết 520 con; từ năm 1979 - 1983 số gia súc ốm là 4629, chết 3243 con;
từ năm 1984 - 1988 số gia súc ốm là 4028, chết 3710 con; bình quân sốtrâu bò hàng năm trong thời gian này ở miền Bắc là 1871362 trâu và
894453 bò
Vương Thị Lan Phương (2004) [20] đã tiến hành nghiên cứu về kháng
nguyên bề mặt T evansi phân lập từ miền Bắc Việt Nam để chẩn đoán bệnh
tiên mao trùng bằng phương pháp kháng thể huỳnh quang gián tiếp
Nguyễn Quốc Doanh (1999) [3] đã nghiên cứu về một số đặc điểm
sinh học của T evansi, bệnh học do chúng gây ra và quy trình bảo quản và
sử dụng giống T evansi để chẩn đoán bệnh tiên mao trùng.
Lê Đức Quyết (1995) [21] cho biết: trâu ở một số tỉnh miền Nam và TâyNguyên nhiễm tiên mao trùng là 22,12%; bò là 6,6% - 10,3%
Trang 34Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, VẬT LIỆU, NỘI DUNG
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Đối tượng và vật liệu nghiên cứu
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu
- Trâu của một số xã thuộc huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang
- Kit chẩn đoán bệnh tiên mao trùng chế tạo theo nguyên lý CATT
3.1.2 Động vật thí nghiệm và vật liệu nghiên cứu
* Động vật:
- Trâu ở các địa phương của huyện Yên Sơn
- Chuột bạch: 18 – 20 g/con, khỏe mạnh
* Kit chế tạo theo nguyên lý CATT chẩn đoán bệnh tiên mao trùng
* Hoá chất nghiên cứu:
- Thuốc nhuộm giemsa
- Dầu bạch dương
* Thuốc để nghiên cứu phác đồ điều trị bệnh tiên mao trùng cho trâu