Tiểu luận Tài chính doanh nghiệp BẢN CHẤT TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP Mục tiêu quan trọng nhất để thành công trong việc quản trị tài chính của một doanh nghiệp là phải làm gia tăng được giá trị doanh nghiệp trên thị trường. Để thực hiện điều này các nhà quản trị tài chính của một doanh nghiệp luôn phải đối mặt với ba quyết định tài chính quan trọng: quyết định đầu tư, quyết định tài trợ và quyết định phân phối.
Trang 1Chương 1: Bản Chất Tài Chính Doanh Nghiệp
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM KHOA TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
BẢN CHẤT TÀI CHÍNH
DOANH NGHIỆP
Chương 1:
GV phụ trách:
TS Nguyễn Thị Uyên Uyên
Lớp: Cao Học Ngày - Khóa: 22 Nhóm 1:
1 Bùi Thị Thuỳ Dung
2 Trần Minh Bảo Ngọc
3 Trần Đào Phương Linh
4 Lương Thị Thanh Vương
TP.HCM, ngày 22 tháng 09 năm 2013
Trang 2MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 5
1 Bản chất tài chính doanh nghiệp 6
2 Công ty cổ phần 8
2.1 Công ty cổ phần là gì? 9
2.1 Công ty cổ phần là gì? 9
2.2 Nhà quản trị tài chính 12
2.2 Nhà quản trị tài chính 12
Nhà quản trị tài chính là ai? 12
Nhà quản trị tài chính là ai? 12
Vai trò nhà quản trị tài chính 14
Vai trò nhà quản trị tài chính 14
2.3 Công ty cổ phần - Sự phân định giữa quyền sở hữu và quyền quản lý và những vấn đề gặp phải 16
2.3 Công ty cổ phần - Sự phân định giữa quyền sở hữu và quyền quản lý và những vấn đề gặp phải 16
2.3.1 Sự phân định giữa quyền sở hữu và quyền quản lý 16
2.3.1 Sự phân định giữa quyền sở hữu và quyền quản lý 16
2.3.1.1 Ích lợi của việc phân định quyền sở hữu và quyền quản lý 16
2.3.1.2 Bất lợi của việc phân định quyền sở hữu và quyền quản lý 17
2.3.2 Vấn đề chi phí đại diện 18
2.3.2 Vấn đề chi phí đại diện 18
2.3.2.1 Định nghĩa 18
2.3.3 Các dạng mâu thuẫn giữa quyền sở hữu và quyền quản lý trong công ty cổ phần 20
2.3.3 Các dạng mâu thuẫn giữa quyền sở hữu và quyền quản lý trong công ty cổ phần 20
Trang 2
Trang 3Chương 1: Bản Chất Tài Chính Doanh Nghiệp
2.3.4 Phân loại chi phí đại diện trong công ty cổ phần 22
2.3.4 Phân loại chi phí đại diện trong công ty cổ phần 22
2.3.4.1 Chi phí đại diện do nợ 23
2.3.4.2 Chi phí đại diện do dòng tiền tự do 26
2.3.4.3 Chi phí đại diện của định giá cao vốn cổ phần: 27
3 Thị trường tài chính 30
3.1 Thị trường tài chính: Cơ sở khách quan cho sự ra đời và Điều kiện cần thiết hình thành thị trường tài chính 30
3.1 Thị trường tài chính: Cơ sở khách quan cho sự ra đời và Điều kiện cần thiết hình thành thị trường tài chính 30
3.1.1 Cơ sở khách quan cho sự ra đời thị trường tài chính: 30
3.1.1 Cơ sở khách quan cho sự ra đời thị trường tài chính: 30
3.1.2 Điều kiện cần thiết hình thành thị trường tài chính 31
3.1.2 Điều kiện cần thiết hình thành thị trường tài chính 31
3.2 Công cụ của thị trường tài chính 31
3.2 Công cụ của thị trường tài chính 31
3.3 Cấu trúc thị trường tài chính 32
3.3 Cấu trúc thị trường tài chính 32
3.4 Chức năng của thị trường tài chính 33
3.4 Chức năng của thị trường tài chính 33
3.5 Vai trò của thị trường tài chính 34
3.5 Vai trò của thị trường tài chính 34
4 Phần mở rộng 35
4.1 Các nhân tố tác động đến chi phí đại diện 35
4.1 Các nhân tố tác động đến chi phí đại diện 35
4.1.1 Loại hình doanh nghiệp 35
4.1.1 Loại hình doanh nghiệp 35
Trang 44.1.2 Tài sản 36
4.1.2 Tài sản 36
4.1.3 Tổng nợ 36
4.1.3 Tổng nợ 36
4.1.4 Dòng tiền 36
4.1.4 Dòng tiền 36
4.1.5 Các nhân tố khác 36
4.1.5 Các nhân tố khác 36
4.2 Chi phí đại diện trong công ty cổ phần tại Việt Nam 36
4.2 Chi phí đại diện trong công ty cổ phần tại Việt Nam 36
4.2.1 Thực trạng về người đại diện và chi phí đại diện ở Việt Nam 36
4.2.1 Thực trạng về người đại diện và chi phí đại diện ở Việt Nam 36
4.2.2 Nguyên nhân phát sinh chi phí đại diện 37
4.2.2 Nguyên nhân phát sinh chi phí đại diện 37
4.2.3 Tác động của chi phí đại diện 38
4.2.3 Tác động của chi phí đại diện 38
4.2.4 Kiểm soát chi phí đại diện trong các CTCP Việt Nam 38
4.2.4 Kiểm soát chi phí đại diện trong các CTCP Việt Nam 38
4.2.4.1 Giải pháp quản lý chi phí đại diện (địnhtính) 38
4.2.4.2 Tobin’s Q – Mô hình định lượng chi phí đại diện 39
Tài liệu tham khảo 42
Trang 4
Trang 5Chương 1: Bản Chất Tài Chính Doanh Nghiệp
LỜI MỞ ĐẦU
Mục tiêu quan trọng nhất để thành công trong việc quản trị tài chính của một doanh nghiệp là phải làm gia tăng được giá trị doanh nghiệp trên thị trường Để thực hiện điều này các nhà quản trị tài chính của một doanh nghiệp luôn phải đối mặt với
ba quyết định tài chính quan trọng: quyết định đầu tư, quyết định tài trợ và quyết định phân phối
Một doanh nghiệp có thể hoạt động sản xuất kinh doanh được thì cần phải có vốn và quyền sử dụng nguồn vốn bằng tiền của mình một cách chủ động Tuy nhiên cũng cần phải làm rõ một vấn đề là: Các nguồn vốn được lấy ở đâu? Làm thế nào để
có thể huy động được vốn? Đối với các Công ty cổ phần thì số vốn đầu tư ban đầu được hình thành từ việc đóng góp vốn của các cổ đông dưới hình thức cổ phần Mức vay vốn được quy định theo từng doanh nghiệp Và để tồn tại và phát triển kinh doanh, trong quá trình sản xuất kinh doanh doanh nghiệp vẫn phải tiếp tục đầu tư trung và dài hạn vì vậy doanh nghiệp có thể huy động vốn bên trong doanh nghiệp như vốn tự tài trợ Nếu như nguồn tự tài trợ mà nhu cầu đầu tư dài hạn vẫn không đáp ứng được thì doanh nghiệp phải tìm kiếm nguồn vốn từ bên ngoài Với chức năng tổ chức vốn, tài chính doanh nghiệp không đơn thuần chỉ thực hiện việc huy động vốn
mà còn phải tiến hành phân phối vốn sao cho với số vốn pháp định, vốn tự có và các nguồn vốn huy động, doanh nghiệp có thể sử dụng chúng một cách có hiệu quả Muốn vậy, trong từng thời kỳ kinh doanh doanh nghiệp phải xác định được nhu cầu về vốn
là bao nhiêu và kết cấu như thế nào là hợp lý Sau khi huy động vốn và đã sử dụng nguồn vốn đó sẽ thu được kết quả là việc tiêu thụ sản phẩm hàng hoá của doanh nghiệp Do đó doanh nghiệp tiến hành phân phối kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của mình
Trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp để hoạch định ba quyết định này không thể tránh việc phát sinh vấn đề đại diện Vấn đề đại diện luôn là vấn đề đang rất được quan tâm trong công ty cổ phần, xưa đến nay, do luôn tồn tại các mâu thuẫn
về lợi ích giữa các thành phần trong công ty chẳng hạn như chủ nợ và cổ đông, cổ đông và người đại diện, cổ đông bên trong và bên ngoài Gần đây hàng loạt công ty, tập đoàn hàng đầu phải chịu thua lỗ thất bại với một phần lớn nguyên nhân xuất phát
do sai lầm của người quản lý đã đặt ra một yêu cầu cấp thiết về những nghiên cứu chuyên sâu về vấn đề này Mặc dù đây là một vấn đề không mới trên thế giới, tuy
Trang 6nhiên các lý thuyết nghiên cứu sâu về chi phí đại diện tại Việt Nam hiện vẫn chưa
đủ đáp ứng được yêu cầu hiện nay Vì vậy chúng tôi chọn đề tài này nhằm làm rõ phần nào một số lý thuyết về chi phí đại diện trên thế giới
1 Bản chất tài chính doanh nghiệp
Các nhà quản trị tài chính của một doanh nghiệp luôn phải đối mặt với 3 quyết định quan trọng, đó là:
(1) Quyết định đầu tư
Quyết định đầu tư được phân tích ở các khía cạnh khác nhau, như các tài sản được định giá như thế nào, mối liên hệ giữa tỷ suất sinh lợi và rủi ro hoặc quan trọng
là tiến trình hoạch định ngân sách vốn đầu tư Quyết định đầu tư bắt đầu từ khi doanh nghiệp bắt đầu hoạt động Một cách lý tường, khi đứng giữa các dự án, một doanh nghiệp nên đầu tư vào các dự án mới đến mức mà tại đó tỷ suất sinh lợi của dự án bằng với chi phí sử dụng vốn biên tế Các dự án có thể được phân loại thành các dự án đầu tư mở rộng, các dự án thay thế từ các cơ hội tiết giảm chi phí và các dự án nhằm đáp ứng yêu cầu về mặt pháp lý,…
Các quyết định liên quan đến sự lựa chọn chấp nhận hoặc từ chối duy nhất một
dự án là rất hiếm trong thực tế Tương tác giữa doanh nghiệp và các dự án có thể xuất hiện dưới vô số các hình thức khác nhau, có nhiều trường hợp rất phức tạp và khó khăn khi đưa ra quyết định Có thể liệt kê một số trường hợp như:
- Đầu tư trong trường hợp nguồn vốn bị giới hạn
- Giữa các dự án cũng có thể xảy ra sự tương tác khi chúng loại trừ lẫn nhau,
và phức tạp hơn khi các dự án này không đồng nhất về mặt thời gian Lúc
đó chúng ta rất khó để so sánh nếu không chuyển chi phí hiện tại thanh chi phí hàng năm tương đương, tuy nhiên ta phải tính các chi phí hàng năm này theo giá trị thực và điều chỉnh với các thay đổi công nghệ
- Thời điểm tối ưu để đầu tư cũng là một vấn đề quan trọng trong quyết định này Một dự án nếu thực hiện thời điểm này có thể đạt được NPV cao hơn thời điểm kia Hoặc Quyết định khi nào nên thay thế thiết bị hiện hữu, bởi trên thực tế thì việc thay thế này thường được xem xét ở khía cạnh kinh tế hơn là từ nguyên nhân hư hỏng kỹ thuật Do đó, thời điểm tối ưu để thay thế
là khi nào cần được doanh nghiệp xem xét kỹ lưỡng
(2) Quyết định tài trợ
Trang 6
Trang 7Chương 1: Bản Chất Tài Chính Doanh Nghiệp
Quyết định tài trợ liên quan đến việc huy động nguồn vốn để tài trợ cho quyết định đầu tư, từ đó doanh nghiệp sẽ xác định cấu trúc vốn mục tiêu cho mình Khi hoạch định chiến lược tài trợ, các nhà quản trị tài chính sẽ không hướng vào các nguồn ngắn hạn nhắm vào các nguồn mang tính dài hạn bởi nguồn ngắn hạn thì không có tính ổn định lâu dài
Mỗi doanh nghiệp sẽ tự xác định cấu trúc vốn mục tiêu cho riêng mình, một cấu trúc vốn thoả mãn 3 mục tiêu:
- Tối đa hoá thu nhập cho chủ sở hữu
- Tối thiểu hoá chi phí sử dụng vốn
- Tối thiểu hoá rủi ro (rủi ro là điều mà một doanh nghiệp không thế tránh khỏi, ở đây nói đến việc doanh nghiệp tìm cách để kiểm soát được rủi ro mà họ phải gánh chịu, chấp nhận được những tổn thất thiệt hại nếu rủi ro xảy ra)
Trong quyết định về tài trợ, 2 định đề nổi tiếng của Modigliani và Miller (MM)
đã đưa ra các lập luận một cách tổng quát nhất sự đánh đổi giữa nợ và vốn cổ phần với giá trị doanh nghiệp trong giả định thị trường vốn là hoàn hảo
Tuy nhiên các giả định của MM là về một thị trường vốn hoàn hảo, thị trường này không tồn tại trong thực tế Mặc dù vậy, chúng ta không bác bỏ 2 định đề của
MM mà nới lỏng ra để phân tích sâu hơn về cấu trúc vốn cho một doanh nghiệp Khi
đó, từ một doanh nghiệp 100% vốn cổ phần chuyển sang sử dụng nợ, giá trị doanh nghiêp này có thể tăng lên do được huởng lợi ích từ tấm chắn thuế, và đồng thời cũng gánh chịu thêm một loại chi phí gọi là chi phí đại diện Khi gia tăng nợ thì doanh nghiệp cũng đã gia tăng rủi ro tài chính hay nói cách khác việc sử dụng đòn bẩy do tăng nợ đưa đến một sự gia tăng trong rủi ro tài chính cho doanh nghiệp đó
Ngoài ra khi xem xét về quyết định tài trợ, lý thuyết dánh đổi và lý thuyết trật
tự phân hạng cũng sẽ giúp chúng ta lý giải sự khác biệt trong cấu trúc vốn khi so sánh giữa các doanh nghiệp trong cùng một ngành hoặc các doanh nghiệp giữa các ngành khác nhau trong thực tế
(3) Quyết định phân phối
Giá trị của doanh nghiệp chịu ảnh hưởng của ba quyết định tài chính: đầu tư, tài trợ và phân phối Các quyết định này liên quan rất chặt chẽ với nhau Ví dụ như các đầu tư của một doanh nghiệp sẽ tạo ra mức lợi nhuận và tiềm năng cổ tức tương lai Còn cấu trúc vốn liên quan tới chi phí sử dụng vốn mà từ đó sẽ ảnh hưởng đến việc lựa chọn cơ hội đầu tư bởi khi đó, các chi phí này sẽ hạn chế các cơ hội đầu tư
Trang 8mà doanh nghiệp có thể chấp nhận được Chính sách cổ tức thì ảnh hưởng đến số lượng vốn cổ phần thường trong cấu trúc vốn của một doanh nghiệp (qua lợi nhuận giữ lại), và mở rộng ra, nó ảnh hường đến chi phí sử dụng vốn
Chính sách cổ tức ấn định phân phối lợi nhuận giữ lại tái đầu tư và chi trả cổ tức cho cổ đông Lợi nhuận giữ lại cung cấp cho các nhà đầu tư một nguồn tăng trường lợi nhuận tiềm năng tương lai, trong khi cổ tức thì cung cấp cho các nhà đầu tư này một phân phối ở hiện tại
Có thể liệt kê ra một số các yếu tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn chính sách cổ tức như: các điều khoản giới hạn trong hợp đồng trái phiếu công ty và các thoả thuận tài trợ khác, các ảnh hưởng của thuế, khả năng vay và tiếp cận thị trường vốn, tính ổn định của lợi nhuận, lạm phát, các hạn chế pháp lý ngăn cấm cổ tức làm suy yếu vốn,…
Với các giả định về thị trường vốn hoàn hảo, MM đã lập luận và chứng minh được rằng chính sách cổ tức không tác động đến giá trị doanh nghiệp mà việc thay đổi trong các quyết định cổ tức sẽ phát ra các tín hiệu có hàm chứa nội dung tới các nhà đầu tư Khi nới lỏng các giả định của MM thì thực tế chính sách cổ tức có tác động tới giá trị doanh nghiệp do các nguyên nhân như chi phí giao dịch của cổ đông, thuế thu nhập cá nhân, chi phí phát hành cổ phần mới, chi phí đại diện,…
Có thể liệt kê một số loại chính sách cổ tức như: chính sách giữ lại thụ động, chính sách cổ tức tiền mặt ổn định, chính sách tỷ lệ chi trả không đổi, hay chính sách chi trả cổ tức nhỏ thường xuyên cộng với cổ tức thưởng cuối năm,… Một số doanh nghiệp còn sử dụng cách mua lại cổ phần thay cho chi trả cổ tức tiền mặt
Mục tiêu quan trọng nhất để thành công trong việc quản trị tài chính của một doanh nghiệp là phải làm gia tăng được giá trị doanh nghiệp trên thị trường Vấn đề là thực hiện điều đó như thế nào? Có thể có một số hoạt động tài chính bạn có thể tìm hiểu trong môn học này nhưng trên thực tế các giám đốc tài chính lại không vận dụng đúng như vậy Điều này cho thấy tại sao để hiểu thấu đáo và áp dụng thành công các kiến thực tài chính doanh nghiệp là một việc hết sức khó khăn Mặc dù môn học này
có thể không giúp cho bạn giải quyết được toàn bộ các vấn đề phát sinh trong thực tiễn nhưng nó sẽ cung cấp những nghuyên tắc và kiến thức mà tất cả các quyết định tài chính điều dựa trên đó làm nền tảng Và môn học này cũng sẽ cho bạn thấy cách sử dụng các công cụ cần thiết trong giao dịch thương mại và tài chính như thế nào
2 Công ty cổ phần
Trang 8
Trang 9Chương 1: Bản Chất Tài Chính Doanh Nghiệp
và những ưu, nhược điểm của loại hình công ty cổ phần này ra sao? Phần này sẽ tập trung làm rõ những vấn đề trên
- Công ty cổ phần là doanh nghiệp, trong đó:
• Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần
• Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân
• Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm hữu hạn trong phạm vi số vốn đã đóng góp vào doanh nghiệp Điều này có nghĩa là các cổ đông sẽ không chịu trách nhiệm cá nhân trước các nghĩa vụ tài chính của công ty Chẳng hạn nếu công ty phá sản thì không ai được quyền yêu cầu liên đới các tài sản riêng các cổ đông của nó đối với các nghĩa vụ trả nợ của công
ty Trong trường hợp này các cổ đông chỉ mất phần góp vốn ban đầu của mình mà thôi
• Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác
• Công ty cổ phần có tư cách pháp nhân, tách bạch về mặt luật pháp đối với các cổ đông, do vậy:
Công ty cổ phần được quyền phát hành các loại chứng khoán ra thị trường
Công ty cổ phần có thể thực hiện định giá mua lại một công ty khác và sau
đó thực hiện sáp nhập hai công ty
Đối với Việt Nam, theo điều 77 – Luật Doanh Nghiệp 2005:
“1 Công ty cổ phần là doanh nghiệp, trong đó:
a) Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần;
Trang 10b) Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng cổ đông tối thiểu là
ba và không hạn chế số lượng tối đa;
c) Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp;
d) Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 81 và khoản 5 Điều
84 của Luật này.
2 Công ty cổ phần có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh.
3 Công ty cổ phần có quyền phát hành chứng khoán các loại để huy động vốn.”
- Một công ty cổ phần sau khi thành lập trải qua hai giai đoạn hoạt động:
• Công ty cổ phần nội bộ (The private corporation): Khi một công ty cổ
phần được thành lập, các cổ phần của nó có thể chỉ được nắm giữ bởi một nhóm nhỏ các nhà đầu tư, chẳng hạn như là các nhà quản lý của công ty và một vài người khác cùng chung vốn Trong trường hợp này, các cổ phần của công ty không được mua bán, giao dịch rộng rãi trong công chúng và công ty được gọi là công ty cổ phần nội bộ
• Công ty cổ phần đại chúng (The public corporation): Khi công ty cổ
phần bắt đầu tăng trưởng và thêm nhiều cổ phần được phát hành nhằm gia tăng bổ sung thêm vốn thì những cổ phần của nó sẽ được giao dịch mua bán rộng rãi trên thị trường và lúc này công ty được gọi là công ty
cổ phần đại chúng Hầu hết các công ty nổi tiếng trên thế giới và các công ty lớn đều là những công ty cổ phần đại chúng
- Xét về mặt quản lý, mặc dù các cổ đông là những người nắm quyền sở hữu công ty cổ phần nhưng họ không hẳn sẽ là người trực tiếp quản lý
nó Thay vì tham gia quản lý trực tiếp thì những cổ đông này sẽ bỏ phiếu
để lựa chọn một hội đồng quản trị Một trong số thành viên hội đồng quản trị có thể kiêm nhiệm chức danh quản lý cao nhất là Tổng Giám Đốc hoặc chức danh Tổng Giám Đốc có thể được hội đồng quản trị lựa chọn từ một người bên ngoài không phải là cổ đông của công ty Hội
Trang 10
Trang 11Chương 1: Bản Chất Tài Chính Doanh Nghiệp
đồng quản trị đại diện cho quyền lợi của các cổ đông và bổ nhiệm các chức năng quản lý cao nhất của công ty đồng thời có nhiệm vụ đảm bảo các hoạt động của các nhà quản lý luôn tuân theo đúng muc tiêu tối đa giá trị lợi ích của các chủ sở hữu
- Sự tách biệt giữa quyền sở hữu và quyền quản lý đã mang lại cho loại hình công ty cổ phần một thời gian hoạt động được xem là vĩnh viễn Thậm chí ngay cả khi các nhà quản lý từ nhiệm hoặc bị bãi nhiệm và bị thay thế thì công ty cổ phần vẫn tồn tại Hoặc các cổ đông có thể rút khoản vốn góp của mình ra khỏi công ty bằng cách bán các cổ phần của mình cho những nhà đầu tư khác mà vẫn không làm gián đoạn hoạt động của công ty
Từ những khái niệm trên về công ty cổ phần, ta có thể rút ra những thuận lợi và khó khăn trong hoạch định tài chính của công ty cổ phần
• Thuận lợi
Vì vốn góp được chi thành nhiều phần, công ty cổ phần có khả năng thu hút được rất nhiều nhà đầu tư mà trong đó có thể có những nhà đầu tư chỉ nắm giữ một cổ phần trị giá rất thấp, tương ứng cho một phiếu biểu quyết duy nhất và nhận một tỷ lệ ít ỏi lợi nhuận và cổ tức Cho đến những nhà đầu tư không lồ như các quỹ hưu bổng và các công ty bảo hiểm mà những khoản đầu tư của nó có thể lên đền hàng triệu cổ phần, tương ứng với nó là một con số rất lớn phiều biểu quyết cũng như tỷ lệ chia cổ tức của công ty
Khả năng huy động vốn của công ty cổ phần rất cao vì nó có quyền phát hành các loại chứng khoán ra thị trường, có thể huy động vốn bằng cách phát hành cổ phần mới tới các nhà đầu tư
Do các cổ đông có thể chuyển nhượng vốn dễ dàng nên đối tượng tham gia góp vốn cho công ty cổ phần cũng đa dạng hơn, khả năng công ty huy động vốn cao hơn
Sự tách biệt về quyền sở hữu và quyền quản lý cho phép công ty thuê những nhà quản lý chuyên nghiệp để điều hành công ty hoạt động hiệu quả
• Khó khăn
Việc quản lý một bộ máy theo luật định của một công ty cổ phần và việc thông đạt những thông tin cần thiết của nó đến các cổ đông sẽ phải tốn nhiều thời gian và chi phí
Trang 12 Công ty cổ phần là một pháp nhân tồn tại độc lập với các cổ đông nên các khoản thuế thu nhập mà công ty này và các cổ đông của nó phải nộp cũng sẽ được tách biệt Vì vậy công ty cổ phần phải nộp thuế thu nhập doanh nghiệp đồng thời các cổ đông của nó phải nộp thuế thu nhập cá nhân trên khoản cổ tức mà họ được hưởng từ lợi nhuận sau thuế của công
ty, do đó cổ đông của công ty cổ phần gần như bị đánh thuế hai lần, điều này có thể gây giảm sức hút của công ty cổ phần với các nhà đầu tư
Sự tách biệt về quyền sở hữu và quyền quản lý cũng mang lại nhiều mâu thuẫn mà rõ nhất là vấn đề đại diện, vấn đề này có thể dẫn đến những quyết định đầu tư không hiệu quả và tiêu tốn nhiều chi phí để hội đồng quản trị thực hiện giám sát ban giám đốc
Vì lợi nhuận công ty cần phải được công khai với cổ đông và cũng nhằm thu hút những nhà đầu tư tiềm tàng, công ty cổ phần thường phải tiết lộ những thông tin tài chính quan trọng, những thông tin này có thể bị các đối thủ cạnh tranh khác khai thác
2.2 Nhà quản trị tài chính
Nhà quản trị tài chính là ai?
Chúng ta sử dụng thuật ngữ Giám đốc tài chính để chỉ những người có trách nhiệm đưa ra những quyết định đầu tư, quyết định tài trợ và quyết định phân phối Trong hầu hết các trường hợp và trong hầu hết các công ty khác nhau, trách nhiệm này được Giám đốc tài chính phân bổ và cùng thực hiện bởi nhiều người
Quản trị tài chính doanh nghiệp là việc lựa chọn và đưa ra các quyết định tài chính, tổ chức thực hiện các quyết định đó nhằm đạt được mục tiêu hoạt động tài chính của doanh nghiệp, đó là tối đa hoá giá trị cho chủ doanh nghiệp hay là tối đa hóa lợi nhuận, không ngừng làm tăng giá trị doanh nghiệp và khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường
Quản trị tài chính là một trong các chức năng cơ bản của quản trị doanh nghiệp Chức năng quản trị tài chính có mối liên hệ mật thiết với các chức năng khác trong doanh nghiệp như: chức năng quản trị sản xuất, chức năng quản trị marketing, chức năng quản trị nguồn nhân lực
Quản trị tài chính doanh nghiệp bao gồm các hoạt động liên quan đến đầu tư, tài trợ và quản trị tài sản theo mục tiêu chung của công ty Vì vậy, chức năng quyết định của quản trị tài chính có thể chia thành ba nhóm: quyết định đầu tư, tài trợ và
Trang 12
Trang 13Chương 1: Bản Chất Tài Chính Doanh Nghiệp
quản trị tài sản, trong đó quyết định đầu tư là quyết định quan trọng nhất trong ba quyết định căn bản theo mục tiêu tạo giá trị cho các cổ đông
Các nhà quản trị cấp cao trong một công ty luôn có liên quan đến những quyết định tài chính bao gồm cả những kỹ sư, những nhà thiết kế sản phẩm mới Vì việc thiết kế những sản phẩm mới sẽ xác định chủng loại sản phẩm thực mà công ty sẽ phải đầu tư Ngay cả những nhà quản trị marketing cũng tham gia vào quyết định đầu tư vì bản thân một chiến lược quảng cáo cũng là một dự án đầu tư quan trọng, nhưng là đầu
tư vào tài sản vô hình và được mong đợi là sẽ bù đắp lại những chi phí đã bỏ ra bằng gia tăng doanh số và lợi nhuận của công ty trong tương lai
Tuy nhiên, có một vài nhà quản trị mà chuyên môn đặc biệt của họ là trong lĩnh vực tài chính Vai trò của họ được thể hiện tổng quát trong hình sau bao gồm: Giám đốc tài chính (CFO), Giám đốc vốn và Kế toán trưởng
Hình: Vai trò của Giám đốc tài chính
• Giám đốc tài chính: điều hành trực tiếp cả hai vị trí giám đốc vốn và kế toán trưởng Bản thân giám đốc tài chính có trách nhiệm chính trong việc hoạch định các chính sách tài chính và các kế hoạch tài chính phục vụ cho các hoạt động của doanh nghiệp Thông thường người phụ trách cao nhất về tài chính của công ty – các CFO – đồng thời cũng có trách nhiệm quản lý điều hành toàn bộ hoạt động chung của một công ty với mức độ vượt hơn
Giám đốc vốn
Bộ phận quản
trị tín dụng
Bộ phận quản trị tiền mặt
Bộ phận
chi tiêu vốn
Bộ phận lập kế hoạch tài chính
Kế toán trưởng
Bộ phận quản lý thuế
TỔNG GIÁM ĐỐC
Giám Đốc Tài Chính
HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ
Trang 14chuyên môn chính về tài chính của họ, và các CFO cũng có thể là thành viên của ban giám đốc
• Giám đốc vốn: có trách nhiệm quản trị dòng tiền của doanh nghiệp, tìm kiếm huy động nguồn vốn mới và duy trì mối quan hệ với các ngân hàng, với các cổ đông cũng như với tất cả các nhà đầu tư khác, những người đang nắm giữ các chứng khoán mà công ty đã phát hành, đảm bảo tối đa hóa giá trị doanh nghiệp
• Kế toán trưởng: chuyên thiết lập các báo cáo tài chính hằng năm, quản lý hệ thống kế toán nội bộ của công ty và theo dõi các khoản thuế phải nộp nhằm đảm bảo rằng tiền luôn được sử dung hiệu quả và tuân thủ các quy định của luật pháp về các giao dịch chứng khoán
Vai trò nhà quản trị tài chính
Để tìm hiểu vai trò của nhà quản trị tài chính chúng ta nhắc lại khái niệm về tài sản thực và tài sản tài chính:
• Tài sản thực (real assets): phần lớn tài sản thực là tài sản hữu hình nhu8 máy móc thiết bị, nhà xưởng và văn phòng làm việc Một số tài sản khác
là các tài sản vô hình như độc quyền về kỹ thuật, uy tín thương hiệu và bằng phát minh sáng chế… tất cả những tài sản này đều có giá trị tương lai của nó
• Tài sản tài chính (financial assets) hay chứng khoán (securities): là các loại giấy tờ có giá công ty có thể phát hành khi cần tạo vốn Các loại giấy tờ có giá này bản thân nó có một giá trị nhất định bởi vì nó được đảm bảo trên các tài sản thực của công tyva2 dòng thu nhập tương lai
mà nó mang lại Các tài sản tài chính không chỉ bao gốm các khoản vay
nợ ngân hàng mà còn bao gồm các cổ phần, trái phiếu và các loại chứng khoán đăc biệt khác
• Các giám đốc tài chính là chiếc cầu nối giữa hoạt động của một doanh nghiệp và thị trường tài chính (financial market), thị trường tài chính là nơi mà ở đó các nhà đầu tư đang nắm giữ các tài sản tài chính được phát hành bởi các công ty Vai trò của giám đốc tài chính được thể hiện trong hình sau cho thấy dòng chảy của tiền mặt đi từ nhà đầu tư đến công ty
và sau đó quay trở lại nhà đầu tư như thế nào
Trang 14
Các hoạt đông của một
công ty (Tất cả
các tài sản
thực)
GIÁM ĐỐC TÀI CHÍNH
(2)
(1)(
4b)
(4a)
Thị trường tài chính (Các nhà đầu
tư nắm giữ các tài sản tài chính)
Trang 15Chương 1: Bản Chất Tài Chính Doanh Nghiệp
Hình: Dòng chảy của tiền mặt
(1) Công ty bán chứng khoán để huy động vốn
(2) Tiền được chi tiêu để mua sắm các tài sản thực sử dụng cho hoạt động kinh doanh
(3) Nếu công ty kinh doanh hiệu quả thì các tài sản thực sẽ tạo nên dòng tiền gia tăng để hoàn trả vốn đầu tư ban đầu
(4) Tiền hoặc được tái đầu tư trở lại (4a) hoặc được hoàn trả cho các nhà đầu tư, những người đã mua các chứng khoán mà công ty phát hành lúc ban đầu (4b)
Hình trên nhắc chúng ta quay trở lại ba quyết định căn bản đối với một giám đốc tài chính: quyết định đầu tư, quyết định tài trợ và quyết định phân phối
• Thứ nhất, những tài sản thực nào sẽ được công ty đầu tư? Trả lời cho câu hỏi thứ nhất đó là quyết định đầu tư hay quyết định ngân sách vốn của công ty
• Thứ hai, công ty nên sử dụng nguồn tài trợ nào cho dự án đầu tư đã được lựa chọn đó? Trả lời cho câu hỏi thứ hai đó là quyết định tài trợ của công ty
• Thứ ba, kết hợp cả hai quyết định trên sẽ tạo thành chính sách phân phối Nghĩa là công ty sẽ đưa ra quyết định chính sách phân phối như thế nào Ngoài ra, sự kết hợp giữa các quyết định tài chính với nhau chứ không phải xem xét một cách riêng lẻ làm cho các giám đốc tài chính
“mệt” hơn nữa với việc phân tích và lập kế hoạch tài chính
Thị trường tài chính là nơi mà tại đó các công ty có thể gia tăng vốn, và cũng tương ứng như vậy các công ty quốc gia có thể gia tăng vốn trong phạm vi toàn cầu từ các thị trường tài chính quốc tế Các cổ đông của các công ty lớn phân bổ tản mát khắp toàn cầu Các cổ phần của các công ty này được giao dịch trao đổi mua bán trên khắp các múi giờ trên khắp các trung tâm tài chính quốc tế Các luồng vốn đầu tư bằng trái phiếu và các khoản vay nợ ngân hàng có thể được chuyển đồi và mua bán dễ dàng xuyên biên giới các quốc gia Một công ty cổ phần có nhu cầu huy động vốn thì không nhất thiết vay mượn từ ngân hàng địa phương của mình Ngày nay, việc quản trị tiền mặt đã trở thành một yêu cầu phức tạp đối với những công ty mà sản phẩm của nó được
Các hoạt đông của một
công ty (Tất cả
các tài sản
thực)
(4b)
Trang 16tiêu thụ tại nhiều quốc gia trên thế giới Do đó, các giám đốc tài chính cần phải nhìn thấy được các vấn đề ở tầm mức tài chính quốc tế, sự khác nhau trong các hệ thống tài chính và các vấn đề về đầu tư cũng như gia tăng vốn trong phạm vi quốc tế.
2.3 Công ty cổ phần - Sự phân định giữa quyền sở hữu và quyền quản lý và những vấn đề gặp phải
2.3.1 Sự phân định giữa quyền sở hữu và quyền quản lý
2.3.1.1 Ích lợi của việc phân định quyền sở hữu và quyền quản lý
Do tính chất có nhiều chủ sở hữu của công ty Cổ phần nên các cổ đông không thể thực hiện trực tiếp vai trò chủ sở hữu của mình mà phải thông qua tổ chức đại diện làm nhiệm vụ quản lý lãnh đạo công ty đó là: Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị, Giám đốc điều hành và kiểm soát viên Việc phân định giữa quyền sở hữu và quyền quản lý đã có những thuận lợi rõ ràng:
• Các cổ đông trong công ty không được phép rút vốn ra khỏi công ty mà chỉ có thể mua, bán, chuyển nhượng phần vốn góp của mình cho những người khác thông qua thị trường chứng khoán Do vậy sẽ không gây phiền phức đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Có số vốn lớn, công ty Cổ phần sẽ có điều kiện áp dụng những tiến bộ của khoa học công nghệ, nâng cao năng suất lao động, tận dụng hết dược những cơ hội kinh doanh , thích ứng nhanh được với những biến động của thị trường, đem lại hiệu quả kinh doanh cao
• Sự tách biệt giữa quyền sở hữu và việc quản lý còn được thể hiện ở việc giám đốc quản lý công ty có thể không phải là cổ đông của công ty Giám đốc có thể là người đại diện theo pháp luật của công ty cổ phần, là người điều hành các hoạt động kinh doanh hàng ngày của công ty Rõ ràng việc qui định như vậy một mặt thu hút được những người quản lý chuyên nghiệp được công ty thuê làm công tác quản lý, mặt khác tách biệt vai trò chủ sở hữu với chức năng quản lý đã tạo cho công ty cổ phần
có được sự quản lý tập trung cao thông qua cơ chế quản lý hiện đại, lành nghề nên rất phù hợp với điều kiện quản lý các doanh nghiệp có qui mô lớn Khác với doanh nghiệp tư nhân là việc quản lý mang tính chất nội
bộ gia đình, công ty cổ phần có một cơ chế quản lý hợp lý, minh bạch rõ ràng
Trang 16
Trang 17Chương 1: Bản Chất Tài Chính Doanh Nghiệp
2.3.1.2 Bất lợi của việc phân định quyền sở hữu và quyền quản lý
Tuy việc phân định quyền sở hữu và quyền quản lý mang lại những ích lợi nhất định nhưng bản than nó cũng có nhiều vấn đề phiền phức Vần đề này xuất phát từ hai nguyên nhân chính, đó là: khác biệt trong mục tiêu giữa người sở hữu và nhà quản lý;
và khác biệt trong thông tin khi hai đối tượng này có lượng thông tin khác nhau
• Khác biệt trong mục tiêu
Phía các cổ đông thường thiếu quan tâm đúng mức, rất nhiều cổ đông chỉ lo nghĩ đến lãi cổ phần hàng năm và ít hay không quan tâm đến công việc của công ty
Sự quan tâm đến lãi cổ phần này đã làm cho một số ban lãnh đạo chỉ nghĩ đến mục tiêu trước mắt chứ không phải thành đạt lâu dài Cổ đông là người chủ còn các nhà quản lý chuyên nghiệp là ngừơi đại diện cho họ Các cổ đông sẽ yêu cầu các nhà quản
lý làm sao để gia tăng giá trị công ty, với nhiệm kỳ hữu hạn, ban lãnh đạo có thể chỉ muốn bảo toàn hay tăng lãi cổ phần để nâng cao uy tín của bản thân mình nên các nhà quản lý có thể đầu tư vào nhiều dự án với rủi ro cao nhằm mang lại lợi nhuận cao, nhưng bên cạnh đó các nhà quản lý có thể rút lui khỏi những công việc nặng nhọc này hoặc có thể thu vén cho cá nhân để làm giàu Vấn đề mâu thuẫn trong mục tiêu giữa nhà quản lý và các cổ đông như trên có thể dẫn đến phát sinh chi phí đại diện trong các công ty cổ phần Các chi phí đại diện xuất hiện khi: (1) Các nhà quản lý không cố gắng thực hiện nhiệm vụ tối đa hóa giá trị công ty, (2) Các cổ đông sẽ gánh chịu phí tổn để kiểm soát ban quản lý và do đó ảnh hưởng đến công việc của họ
Ngoài ra chi phí đại diện còn xuất hiện khi có sự mâu thuẩn giữa cổ đông và chủ nợ, hay giữa cổ đông bên trong và bên ngoài công ty…
• Bất cân xứng thông tin
Vấn đề người chủ - người đại diện có thể dễ dàng giải quyết nếu mọi người cùng nhận được những thông tin ngang bằng nhau Nhưng đây là điều hiếm có trong lĩnh vực tài chính Lợi thế thuộc về những người có thông tin, điều đó không còn xa
lạ trong nền kinh tế, nhất là trên thị trường chứng khoán Nhà quản lý có những thông tin mà nhà đầu tư không thể có hoặc không muốn có do chi phí để thu thập các thông tin đó là quá cao Ví dụ, nhà quản lý có thể biết được mức độ nỗ lực của mình trong khi nhà đầu tư không biết được; nhà quản lý nhờ trực tiếp điều hành nên có được những thông tin nội bộ mà nhà đầu tư không biết được hoặc biết nhưng không
Trang 18hiểu được đầy đủ Trong dài hạn những hành vi của nhà quản lý sẽ bị phát giác Khi
đó nhà quản lý sẽ phải gánh chịu những thiệt hại như mất uy tín, mất việc, phải bồi thường cho nhà đầu tư… Việc các doanh nghiệp cố tình che dấu thông tin, làm đẹp báo cáo tài chính là điều không phải hiếm Vụ gian lận trên thế giới điển hình nhất liên quan đến công ty năng lượng Enron Trước khi vụ gian lận được phanh phui giá
cổ phiếu của Enron đạt đến 60 USD/CP nhưng chỉ trong một khoảng thời gian rất ngắn đã mất tới 99% giá trị (hiện tại đã phá sản) Nhà đầu tư đã bị chính các lãnh đạo của Enron lừa dối, dẫn đến bị thua lỗ nặng nề
2.3.2 Vấn đề chi phí đại diện
đề đại diện phát sinh do các thỏa thuận hợp đồng không thể hoàn hảo cho tất cả các hoạt động mà một đại diện thực hiện, những quyết định của người đại diện ảnh hưởng đến chính bản thân anh ta và cả người chủ Nảy sinh từ vấn đề này là làm sao thuyết phục người đại diện hành động vì lợi ích tốt nhất của người chủ Jensen và Meckling cho rằng các nhà quản lý gánh chịu toàn bộ chi phí cho không theo đuổi các mục tiêu riêng của họ nhưng họ chỉ dành được một tỷ lệ rất nhỏ về lợi ích Từ đó hai ông cho rằng tính không hiệu quả do mối quan hệ hợp đồng không hoàn hảo này được thu hẹp khi có các cơ chế động viên nhà quản trị tăng cường đưa ra các quyết định tối đa hóa giá trị Như bất kỳ chi phí nào khác, vấn đề đại diện sẽ bị các thị trường tài chính theo dõi và được phán ánh vào trong giá cổ phần của công ty Chi phí đại diện chủ yếu được thể hiện qua các chi phí sau:
• Chi phí giám sát
Là những chi phí mà người chủ phải bỏ ra để đánh giá, theo dõi và giám sát hành vi của người đại diện để bảo vệ lợi ích của người chủ sỡ hữu vốn, tránh hiện tượng bất cân xứng thông tin do có sự phân định giữa quyền sở hữu và quyền quản lý tạo ra
Trang 18
Trang 19Chương 1: Bản Chất Tài Chính Doanh Nghiệp
Chi phí giám sát bao gồm cả chi phí kiểm toán, chi phí của các hợp đồng thù lao cho các nhà quản lý cấp cao và chi phí khuyến khích nhà quản trị Ban đầu những chi phí này là do người chủ chi trả, nhưng Fama và Jensen cho rằng cuối cùng thì các đại diện phải gánh chịu chi phí này vì thù lao của họ sẽ bị cắt giảm để trang trải cho các chi phí đó Việc giám sát hiệu quả sẽ hạn chế bớt một vài nhóm hoắc một số cá nhân hành động trái với lợi ích người chủ Những người đảm trách công việc giám sát này phải có chuyên môn cần thiết và có động cơ giám sát quản trị một cách đầy đủ đồng thời phải cung cấp các chỉ dẫn đáng tin cậy cho việc giám sát quản trị của công ty
• Chi phí ràng buộc
Trên cơ sở cho rằng cuối cùng những người đại diện là người phải gánh chịu chi phí giám sát, nên họ sẽ điều khoản để cho thấy rằng họ đang hành động vì lợi ích tốt nhất của người chủ Chi phí cho việc thiết lập các điều khoản này được gọi là chi phí ràng buộc quyền lợi giữa người chủ và người đại diện Người đại diện gánh chịu chi phí để cam kết rằng bản thân họ không xâm phạm đến lợi ích của người chủ
Những chi phí này không phải luôn thuộc lĩnh vực tài chính Chúng có thể bao gồm cả chi phí phơi bày các thông tin cho người chủ, nhưng ban quản trị là người có lợi vì họ là người chuẩn bị những thông tin này Họ là những người nắm bắt được thông tin trước khi thông tin được công bố cho các cổ đông, người chủ của công ty Các đại diện sẽ thôi gánh chịu chi phí ràng buộc nếu sụt giảm biên tế trong chi phí giám sát bằng với gia tăng biên tế trong chi phí ràng buộc
• Chi phí phụ trội
Mặc dù đã giám sát và ràng buộc hợp đồng, lợi ích của các nhà quản lý và của
cổ đông vẫn không thể được giàn xếp hoàn toàn Vì thế vẫn tồn tại các thiệt hại xuất phát từ mâu thuẫn về lợi ích Những thiệt hại này được gọi là mất mát phụ trội Mất mát phụ trội phát sinh vì chi phí của việc đòi hỏi một cách đầy đủ các giao kèo giữa người chủ và người đại diện dẫn đến chi phí quá lớn, vượt quá lợi ích của nó Vì không thể quan sát tiền nghiệm các hành động quản trị, cho nên để giao kèo đầy đủ tất
cả mọi tình huống là không thiết thực Kết quả là một mức tối ưu hoặc mất mát phụ trội có thể đại diện cho một sự đánh đổi giữa việc ràng buộc quản trị thái quá và việc
áp đặt cơ chế hợp đồng được thiết kế nhằm giảm các vấn đề đại diện
Trang 202.3.3 Các dạng mâu thuẫn giữa quyền sở hữu và quyền quản lý trong công ty cổ phần
Mâu thuẫn giữa cổ đông và người đại diện
Trong công ty cổ phần, đây được xem là loại mâu thuẫn cơ bản nhất do sự tách biệt giữa sở hữu và quản lý trong mô hình doanh nghiệp hiện đại Chủ sở hữu của các công ty cổ phần ngày nay có xu hướng sẽ thuê một giám đốc đại diện cho mình điều hành công ty, người giám đốc điều hành này sẽ phải đáp ứng các yêu cầu mà các ông chủ đề ra như: được đào tạo một cách chuyên nghiệp, có năng lực điều hành công ty với mục tiêu tối đa hóa lợi ích cho các ông chủ, có đạo đức nghề nghiệp để không trục lợi cho bản thân,…
Ngược lại, hợp đồng đại diện này sẽ mang lại cho các giám đốc – người làm thuê những lợi ích không nhỏ, họ được quyền ra quyết định và thực hiện các hoạt động mà được cho là sẽ đem lại lợi ích cho các cổ đông, họ được hưởng lương và các khoản lợi tức khác từ công việc quản trị công ty, họ có cơ hội nâng cao uy tín quản trị của mình khi công ty hoạt động hiệu quả, từ đó nâng cao vị thế của mình trong thị trường lao động,… Khi bỏ tiền ra thuê người đại diện điều hành công ty, các cổ đông – chủ sở hữu – của công ty mong muốn mọi hoạt động của người đại diện đều nhằm mục đích tối đa hoá giá trị tài sản của công ty, nâng cao thị giá của cổ phiếu, gia tăng cổ tức Trong khi đó, người đại diện – người điều hành – của công ty lại
có những lợi ích cá nhân riêng biệt, họ có thể trực tiếp quyết định hay ngụy tạo ra các
lý do khiến cho các ông chủ không thực hiện đầu tư vào những dự án có tỷ suất sinh lợi cao vì tâm lý e ngại rủi ro, hoặc quyết định đầu tư vào những dự án không đem lại lợi nhuận tối ưu cho công ty nhưng lại đem lại lợi nhuận cho ví riêng của họ, hay thậm chí với những thông tin và quyền lực có được từ việc điều hành công ty, họ có thể giúp ví tiền của thân nhân họ nhiều thêm mà không cần quan tâm đến lợi nhuận hay những hậu quả mà công ty sẽ phải gánh chịu Những mâu thuẫn về lợi ích của 2 chủ thể này cho ta thấy rất rõ sự tồn tại của vấn đề đại diện trong công ty cổ phần
Mâu thuẫn giữa các cổ đông và chủ nợ
Bên cạnh mâu thuẫn đại diện giữa cổ đông và người quản lý, mâu thuẫn đại diện thứ hai liên quan đến công ty cổ phần là giữa chủ nợ và các cổ đông Lúc này, các cổ đông lại đóng vai trò người đại diện đối với các chủ nợ Những chủ nợ cho công ty vay với mục đích là để chủ sở hữu công ty (cổ đông) đại diện họ đầu tư và
Trang 20
Trang 21Chương 1: Bản Chất Tài Chính Doanh Nghiệp
đem lại lợi ích cho cả hai Quyết định cho vay này dựa trên cơ sở đáp ứng được một
số yêu cầu từ phía công ty, đại diện là các cổ đông như: mức độ hiệu quả trong hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty, tỷ suất sinh lợi của dự án đầu tư, khả năng gia tăng lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty trong tương lai, khả năng trả nợ,… Ngược lại, các cổ đông vay tiền để có thể thực hiện đầu tư vào các dự án nhằm mang lại lợi ích tối đa cho công ty mình Khi quyết định cho vay, các chủ nợ của công ty quan tâm đến phần thu nhập của họ dưới dạng lãi suất cho vay cũng như tài sản của công ty trong trường hợp phá sản Trong khi đó, các cổ đông lại nắm quyền kiểm soát những quyết định điều hành ảnh hưởng đến tỷ suất sinh lợi của dòng tiền và những rủi ro liên quan (thông qua người điều hành doanh nghiệp) Các chủ nợ cho doanh nghiệp vay tiền với lãi suất cho vay phụ thuộc vào mức độ rủi ro của tài sản, tỷ lệ nợ trên vốn cổ phần trong cấu trúc vốn của doanh nghiệp, cũng như những kì vọng về những thay đổi trong mức độ rủi ro của 2 biến này Còn các
cổ đông, thông qua các nhà điều hành, mong muốn doanh nghiệp mình thực hiện các
dự án có độ rủi ro cao hơn nhằm đạt tỉ suất sinh lợi cao hơn Nếu dự án đầu tư vốn đầy rủi ro này thành công, tất cả lợi nhuận sẽ thuộc về các cổ đông của công ty, bởi vì lợi nhuận của người cho vay là cố định ở mức lãi suất tương ứng rủi ro thấp ban đầu Tuy nhiên, nếu dự án thất bại, các chủ nợ buộc phải chia sẻ những thiệt hại, bị trì hoãn việc chi trả nợ gốc và lãi suất, hoặc thậm chí mất cả số tiền đã cho vay
Sự tư lợi
Lý thuyết đại diện đề cập đến vấn đề nhạy cảm của các công ty – sự tư lợi Chính sự tư lợi là nguyên nhân của tình trạng những mục tiêu cá nhân của các nhà điều hành của một công ty mâu thuẫn với mục tiêu tối đa hoá tài sản cổ đông của các ông chủ Khi các cổ đông uỷ quyền cho các nhà điều hành quản trị tài sản của công
ty, lợi ích cá nhân hay sự tư lợi sẽ khiến cho mâu thuẫn về lợi ích luôn tồn tại giữa hai nhóm này
Lý thuyết đại diện cho rằng, khi thị trường lao động và thị trường vốn là không hoàn hảo, người đại diện (gồm các nhà điều hành và các cổ đông) sẽ tìm cách tối đa lợi ích cá nhân của họ với chi phí do ông chủ (gồm các cổ đông và các chủ nợ) gánh chịu Những người làm thuê này có khả năng làm việc vì lợi ích bản thân hơn là vì lợi ích cao nhất của doanh nghiệp là do tình trạng bất cân xứng thông tin (chẳng hạn người điều hành biết rõ hơn các cổ đông là liệu họ có khả năng đạt được